CHƯƠNG
HAI
NHỮNG
THỬ THÁCH
Thầy
đi khắp cả thung lũng để khất thực. Nhờ cách đó thầy
gom góp được hai mươi mốt giạ lúa mạch. Với mười bốn
giạ thầy mua một cái nồi nấu bốn tay cầm, không bị rỉ
sét, ngoài trong đều phẳng phiu. Với một giạ thầy mua thịt
và bia, số còn lại thầy đổ vào cái bao lớn. Rồi để
cái nồi lên trên hết, thầy về chỗ ở của lama.
Run
rẩy vì mệt, thầy đặt cái bao nặng xuống làm sàn phòng
hơi rung rinh. Lama đang ăn bữa, giật mình ngừng ăn.
“Anh
thanh niên này, anh nhiều sinh lực lắm ! Bộ anh muốn chôn
vùi chúng tôi dưới đống đổ nát với thứ huyền thuật
của anh chắc ? Đồ ghê tởm ! Đem cái bao ra !”
Và
ngài đá bay cái bao ra ngoài. Khi kéo lê cái bao, thầy chỉ
thầm nghĩ mà không có ý nghĩ xấu nào, “Ngài Lama này thật
nóng nảy. Ta phải canh chừng thái độ và cách phục vụ của
ta.” Trở lại và lễ lạy, thầy dâng cúng ngài cái nồi
nấu trống không. Ngài cầm nó trong hai tay, giữ nó một lúc,
đôi mắt suy tư. Nước mắt chảy từ mắt ngài, và ngài nói,
“Món cúng dường của ngươi là điềm lành. Ta dâng cúng
nó cho Đại Đạo sư Naropa.”
Marpa
dựng đứng nó lên trong tư thế dâng cúng. Ngài lắc những
tay cầm để xem âm thanh, nó kêu leng keng và đem nó vào trong
phòng thờ của ngài. Ngài rót bơ từ những cây đèn thờ
vào nó cho đầy. Vào lúc đó thầy chìm ngập xúc động và
cháy rực mong muốn cầu đạo. Rồi thầy lại khẩn khoản
xin lama chỉ dạy cho thầy.
Ngài
trả lời, “Nhiều đệ tử thuần thành đến với ta từ
miền UŠ và Tsang. Nhưng những người dân ở Yadrok Taklung và
ở Ling thường tấn công cướp bóc họ, lấy lương thực
và đồ cúng dường của họ. Hãy chôn vùi hai vùng đó trong
mưa đá. Đây là việc đạo. Sau đó ta sẽ chỉ dạy cho ngươi.”
Thầy
gởi cho hai vùng đó một trận mưa đá dữ dội. Rồi thầy
xin lama dạy cho thầy. Lama trả lời, “Sao ? Với mấy cục
mưa đá mà ngươi đã làm, ta phải cho ngươi một giáo pháp
ta đã đem về từ Ấn Độ với bao nhiêu khó khăn lớn lao
à ? Ngươi muốn sự chỉ dạy của ta... Thế thì tốt lắm,
những người vùng núi ở Đèo Lhodrak thường tấn công các
đệ tử của ta từ Nyal Loro đến. Bọn họ cười vào mặt
ta. Ngươi, ngươi tự gọi mình là một đại phù thủy, hãy
ném những chú thuật trên đám dân núi ấy, và nếu ngươi
chứng tỏ pháp thuật của ngươi, ta sẽ cho ngươi giáo pháp
của Naropa để đạt Giác Ngộ trong một đời này và trong
một thân này.”
Sau
đó, thầy tung ra những chú thuật, khiến đám dân sơn cước
đánh lẫn nhau và nhiều người hung hăng trong bọn họ bị
chết vì kiếm. Thấy thế, lama bảo, “Quả thật ngươi là
một đại phù thủy.” Từ đó, ngài gọi thầy là Đại Phù
Thủy.
Thầy
hỏi về giáo pháp Giác Ngộ. Nhưng ngài trả lời, “Ha ! Chẳng
lẽ ta phải đi Ấn Độ suýt mất mạng để đánh đổi lấy
nhiều tội ác của ngươi ư ? Ngươi nói ngươi muốn những
giáo pháp ấy. Ngươi có biết rằng những giáo pháp ấy là
hơi thở sống của những dakini và vì chúng mà ta đã từ
bỏ của cải, dâng cúng cơ man vàng bạc. Ta hy vọng là ngươi
chỉ đùa ! Nếu là ai khác thì họ đã giết ngươi vì đòi
hỏi đó rồi ! Bây giờ ngươi hãy phục hồi mùa màng trong
vùng Yadrok và cứu sống lại những người dân sơn cước
; sau đó ta sẽ dạy cho ngươi. Nhưng nếu không thể làm điều
đó thì chớ bao giờ trở lại.”
Lama
la mắng thầy khắc nghiệt như vậy. Chìm đắm trong đau buồn,
thầy khóc và sư mẫu an ủi thầy.
Ngày
hôm sau đích thân lama đến và nói với thầy, “Đêm qua ta
rất nặng nề với con, nhưng chớ tuyệt vọng. Hãy kiên nhẫn.
Giáo pháp là công việc rất chậm chạp. Con có nghị lực
để làm việc, thế thì hãy xây dựng một cái tháp mà ta
sẽ cho con trai ta là Darma Doday (Thanh Niên của Kinh Điển).
Khi con làm xong ta sẽ dạy cho con và ta sẽ cung cấp cơm áo
cho con tu học.”
“Nếu
lỡ trong thời gian đó, con chết mà không có đạo, thì con
sẽ ra sao ?”
“Ta
bảo đảm con không chết trong thời gian đó. Giáo pháp của
ta có thể nói ra trong vài lời. Nếu con có thể thiền định
kiên trì theo những giáo huấn của ta, con sẽ chứng tỏ con
có thể đạt Giác Ngộ trong hiện đời hay không. Trong dòng
tu của ta, một năng lực giác ngộ được nối truyền, nó
không giống với những tông phái khác.”
Sau
những lời an ủi ấy, thầy tràn ngập niềm vui.
Rồi
thầy nói, “Thầy có muốn nói cho con sơ đồ cái tháp không
?”
Tất
cả anh em chú bác bên phía ngài Marpa có một lời thề là
không xây dựng bất cứ công trình kiên cố nào. Nhưng Marpa
không thề. Bây giờ khi nghĩ đến việc xây tháp, ngài đồng
thời tìm ra một cách để đánh lừa những bà con của ngài
và một cách để cho thầy sám hối những ác hạnh của thầy.
Và
ngài nói với thầy, “Con hãy xây một cái tháp như thế này
trên đỉnh phía đông của ngọn núi.”
Và
thầy bắt đầu xây một cái tháp tròn.
Khi
đã hoàn thành phân nửa, lama đến và nói, “Hôm trước,
thầy chưa xem xét kỹ vấn đề. Hãy giật sập nó xuống và
đem đất đá về chỗ cũ.”
Thầy
làm y vậy. Lần sau đó, một hôm lama giả bộ uống nhiều
và đưa thầy đến đỉnh núi phía tây rồi nói với thầy,
“Hãy làm một cái tháp tương tự cái này.”
Và
thầy làm một cái tháp hình bán nguyệt. Vừa mới được
một nửa, lama trở lại và nói, “Cũng còn chưa đúng. Hãy
giật sập nó xuống và mang đất đá về lại chỗ con đã
lấy chúng.”
Lần
này thầy và bổn sư đến đỉnh núi phía bắc và ngài nói
với thầy, “Đại Phù Thủy, hôm trước ta đã uống và không
đưa cho ông mệnh lệnh đúng. Hãy xây một cái tháp thật
chắc ở đây.”
Thầy
trả lời, “Giật sập cái tháp đã xây nửa chừng làm cho
con khốn khổ và cũng tốn kém cho Thầy. Xin ngài suy nghĩ cẩn
thận trước đã.”
Lama
trả lời, “Hôm nay ta không uống đâu. Ta đã nghĩ về nó
rất cẩn thận. Cái tháp này sẽ gọi là Tháp của Thiền
giả Mật thừa. Nó phải là hình tam giác. Hãy xây dựng nó.
Nó sẽ không bị phá sập.”
Thầy
bắt đầu xây cái tháp tam giác. Khoảng một phần ba tháp
được hoàn thành thì lama đến và nói, “Đại Phù Thủy,
ông làm cái tháp này cho ai ? Ai chỉ bảo cho ông làm ?”
“Chính
lama ra lệnh làm tháp này cho con trai của ngài.”
“Ta
không nhớ đã ra lệnh cho ông như thế. Nếu ông đúng, ta
phải là điên. Chẳng lẽ ta đã mất trí ?”
“Thưa
thầy, con nhớ rõ ràng đã nghi ngại sẽ xảy ra như thế này
và đã kính cẩn xin thầy suy nghĩ cẩn thận. Thầy trả lời
đã suy nghĩ đầy đủ và tháp này sẽ không bị phá hủy.”
“Vậy
thì ai làm chứng cho ông ? Có lẽ ông định nhốt chúng tôi
vào cái tháp tam giác của ông, y như một tam giác huyền thuật,
và trút chú thuật lên chúng tôi ; chúng tôi có cướp đoạt
gia sản của ông đâu, chúng tôi có ăn tài sản của cha ông
đâu. Nếu không phải thế và nếu ông muốn cầu đạo, thì
chỉ nội cái hình dáng của tháp này đã mất lòng những
vị thần của vùng đất. Hãy đi và đem đất này và những
hòn đá này trở lại chỗ cũ. Sau đó, nếu còn muốn giáo
pháp, ta sẽ cho ông, còn ông không muốn làm việc đó, hãy
rời bỏ nơi đây.”
Khi
nói ngài rất giận dữ.
Rất
đau khổ và vẫn khát khao cầu đạo, thầy vâng lời. Thầy
mang trở lại đất, rồi những tảng đá của cái tháp tam
giác về chỗ cũ. Bấy giờ thầy có một vết thương trên
vai, thầy nghĩ, “Nếu mình bày lộ nó cho lama thấy, ngài
chỉ sỉ vả mình. Nếu mình bày lộ nó cho sư mẫu, mình lại
tỏ ra cho bà biết công việc quá nặng nhọc. Và không bày
lộ nó cho sư mẫu, thầy khóc năn nỉ sư mẫu giúp thầy có
được giáo pháp. Sư mẫu đến trước lama và nói với ngài,
“Công việc vô ích xây dựng những cái tháp ấy chỉ đem
lại khổ đau cho Đại Phù Thủy. Xin hãy bi mẫn với nó mà
ban cho nó giáo pháp.”
Lama
trả lời, “Hãy chuẩn bị cho nó một bữa ăn ngon và đem
nó vào với tôi.”
Sư
mẫu dọn bữa ăn và đem thầy đến trước lama. Ngài nói,
“Đại Phù Thủy, chớ nói láo về chuyện mà ta không làm.
Bởi vì con muốn giáo pháp, ta sẽ cho con."
Ngài
ban cho thầy một giải thích về Ba Quy Y và giới luật căn
bản. Và ngài tiếp, “Đây là giới luật tổng quát cho bất
kỳ ai. Nhưng nếu con muốn giáo pháp bí mật, đây là điều
phải làm.”
Và
ngài kể cho tôi câu chuyện giải thoát của Naropa và cách
thức Tổ đã chịu đựng những thử thách kinh khủng.
“Đối
với con, cách ấy chắc là khó khăn.”
Khi
ngài nói những lời này, niềm tin của thầy tăng lên mãnh
liệt đến độ thầy chảy nước mắt. Thầy thệ nguyện
sẽ làm bất cứ điều gì lama đòi hỏi nơi thầy.
Sau
đó vài ngày, lama bảo thầy đi dạo chơi với ngài. Hai người
đến khu đất mà những anh em chú bác đã bảo vệ.
Lama
nói với thầy, “Hãy xây dựng ở chỗ này một tháp vuông
màu trắng cao chín tầng với một sân thượng và một tháp
nhọn, thành ra mười tầng. Nó sẽ không bao giờ bị phá hủy.
Khi con làm xong, ta sẽ ban cho con giáo pháp bí mật. Bấy giờ
con có thể rút vào thiền định và trong lúc ẩn cư ta sẽ
cung cấp thực phẩm cho con.”
Thầy
nói, “Thế thì có nên để sư mẫu làm chứng cho những lời
hứa này không ?”
“Rất
tốt.”
Rồi
ngài vạch trên đất vị trí những bức tường. Thầy mời
sư mẫu đến, và trước sự hiện diện của hai người, thầy
nói, “Con đã xây ba cái tháp và đã phá hủy chúng. Lần
thứ nhất lama nói là chưa suy nghĩ kỹ. Lần thứ hai ngài
nói là ngài đã uống bia. Lần thứ ba ngài tự hỏi ngài có
điên hay mất trí và không nhớ gì cả. Khi con nhắc ngài về
những giáo huấn để trao cho con, ngài hỏi con ai là người
làm chứng cho con và ngài còn la mắng con thậm tệ. Bây giờ
con mời sư mẫu đến nghe những lời hứa mới này, xin sư
mẫu làm chứng cho con.”
Sư
mẫu trả lời, “Ta vui mừng làm một người chứng. Nhưng
sẽ khó khăn giữ cho lời chứng của ta vì lama rất độc
đoán. Trước hết, lama xây lên mà không có lý do và phá đi
mà không có lý do. Hơn nữa, khu đất này không chỉ thuộc
về riêng chúng ta ; nó cũng thuộc về những anh em chú bác.
Đó sẽ là một nguyên nhân để tranh cãi. Dầu ta nói gì,
cha sẽ không nghe.”
Lama
nói với vợ mình, “Bà chỉ làm chứng thôi. Về phần tôi,
tôi sẽ làm theo lời hứa. Đại Phù Thủy, nếu ngươi không
có niềm tin và nếu ngươi không dám cam kết, thì hãy đi đi.”
Thế
rồi thầy đặt nền móng cho một cái tháp vuông. Khi thầy
xây tường, những đệ tử Ngokton họ Shung, Tshurtošn họ Došl
và Mertošn họ Tsangrong đang chơi, họ lăn một hòn đá lớn
đến chỗ thầy và đặt nó làm viên đá góc.
Khi
thầy đã xây cả hai mặt tường tầng hai trên cửa lớn,
lama đến và cẩn thận xem xét mọi thứ. Chỉ ngón tay vào
tảng đá lớn do ba đệ tử lăn đến, ngài bảo, “Đại
Phù Thủy, tảng đá này đến từ đâu ?”
Thầy
trả lời, “Bạch thầy, do ba đại đệ tử vui chơi mang lại
ạ.”
“Tốt,
ông phải không được lấy đá của họ để xây. Thế nên
hãy lấy nó ra và mang nó về chỗ cũ.”
“Thầy
đã hứa là cái tháp này không bị hủy hoại cơ mà ?”
“Rất
đúng. Nhưng ông không được dùng những đệ tử đang thực
hành hai giai đoạn cao cấp của ta như người phục vụ cho
ông. Chớ có hủy hoại cái gì cả, mà chỉ đem hòn đá đi
và đặt nó vào chỗ cũ.”
Rồi
thầy phá đi công trình từ đỉnh và mang hòn đá về lại
chỗ của nó.
Thầy
vừa làm xong, lama tới và nói, “Bây giờ, ông hãy tự mình
lấy lại đem tảng đá về và đặt nó làm tảng đá góc.”
Thầy
lăn nó trở lại. Một mình, thầy phải ráng hết sức cho
bằng ba người đệ tử. Bởi vì thầy đã tự mình mang nó
đi và đem trở lại, thầy đặt tên cho tảng đá là Hòn Đá
Khổng Lồ của Tôi.
Khi
thầy đang đặt nền móng cho tháp trên đỉnh núi, những anh
em chú bác nói với nhau, “Marpa đang xây một cái tháp trên
Núi Lời Thề Long Trọng. Chúng ta phải giữ gìn đất của
chúng ta.”
Vài
người nói, “Marpa điên rồi. Ông ta có một gã mới vào
tu từ Latošš đến, rất mạnh mẽ, hắn xây những cái tháp
mà không có kế hoạch rõ ràng trên mỗi đỉnh đồi. Khi xây
nửa chừng, hắn phá hủy rồi đem đất đá trở lại chỗ
cũ. Hắn sẽ phá hủy cái tháp này như những cái trước thôi.
Nếu hắn không giật sập nó, bấy giờ chúng ta sẽ ngăn cản
không cho hắn tiếp tục. Chúng ta hãy chờ xem hắn sắp làm
gì.”
Không
phá hủy nó, thầy vẫn tiếp tục xây tháp. Khi thầy làm đến
tầng thứ bảy, thầy có một vết thương trên lưng. Những
anh em chú bác nói, “Lần này hắn không giật sập nó. Việc
phá hủy những cái tháp trước chỉ là một mưu mô che dấu
ý định xây dựng cái tháp này. Chúng ta phải hủy hoại nó
thôi.”
Họ
chuẩn bị gây chiến. Bấy giờ lama triệu tập những hồn
ma làm quân sĩ, mặc áo giáp, dàn họ ra khắp nơi trong lẫn
ngoài tháp. Những người kia nói, “Marpa lấy đâu ra những
người lính này ?”
Sợ
hãi, họ không dám tấn công, mà mỗi người thầm đảnh lễ
và tôn kính ngài, và họ trở thành những thí chủ và đệ
tử của Marpa.
Vào
thời gian đó, sư huynh Đại Metošn vùng Tsangrong đến thỉnh
cầu lễ quán đảnh Bổn tôn Chakrasamvara.(1)
Sư
mẫu nói với thầy, “Bây giờ hãy cố gắng mọi cách để
được nhận giáo pháp.”
Trong
lòng, thầy nghĩ, “Đến bây giờ mình đã xây xong tháp này
mà không có một người nào khác đem giúp một viên đá –
dù chỉ bằng cái đầu dê – một rổ đất, một xô nước
hay một máng hồ, vậy mình cũng đi dự quán đảnh.”
Rồi
sau khi chào lama, thầy ngồi xuống với những người khác.
Lama gọi thầy, “Đại Phù Thủy, ông có lễ vật gì dâng
ta ?”
Thầy
trả lời, “Con đã tôn kính Thầy bằng cách xây cái tháp
cho con Thầy. Thầy có hứa là ban cho con quán đảnh và giáo
huấn. Bởi thế con đến đây.”
“Ông
đã làm một cái tháp nhỏ thậm chí không dày bằng cánh tay
ta. Nó không đáng gì với Pháp mà ta đã khó nhọc lớn lao
mang suốt con đường từ Ấn Độ về. Nếu ông có cái gì
giá trị đối với giáo pháp của ta, hãy đem nó cho ta. Còn
nếu không thì chớ có ở đây, giữa những người thọ pháp
bí mật.”
Nói
thế, lama tát tai thầy, nắm tóc thầy quẳng ra ngoài. Thầy
muốn chết và khóc suốt đêm. Sư mẫu đến an ủi thầy.
“Lama
luôn luôn nói rằng những giáo pháp ngài mang từ Ấn Độ
về là để cho sự tốt đẹp của tất cả chúng sanh. Dù
một con chó tự trình diện với ngài, ngài sẽ dạy Pháp cho
nó, và hồi hướng những công đức chỉ dạy cho lợi lạc
cho tất cả. Tại sao ngài từ chối con, ta không biết được.
Dù mọi sự có ra sao, con chớ có những tư tưởng xấu về
sự việc ấy.”
Khích
lệ thầy xong, bà đi. Sáng hôm sau đích thân lama đến. “Đại
Phù Thủy, chớ tiếp tục làm tháp nữa. Hãy xây một phòng
thờ ở nền tháp có lối đi có mái với mười hai cột trụ.
Làm xong ta sẽ ban cho ngươi giáo pháp bí mật.”
Thầy
đặt nền móng và xây lối đi có mái. Sư mẫu luôn luôn đem
cho thầy những thức ăn đúng mùa và nhiều bia đến nỗi
thầy cũng thành người uống hơi nhiều. Bà đầy lòng tốt
và luôn luôn khích lệ thầy.
Khi
thầy gần hoàn thành, Tshurtošn Ouangnye xứ Došl đến xin quán
đảnh Guhyasamaja.(2)
Sư
mẫu nói với thầy, “Bây giờ, con của ta, con cần nhận
lễ quán đảnh.”
Và
sư mẫu cho thầy một thau bơ, một xấp vải, và một nồi
đồng nhỏ để dâng cúng cho lama.
Có
những lễ vật, thầy nhập với những người khác. Lama hỏi
thầy, “Đại Phù Thủy, ngươi đem đến lễ vật gì mà tự
xếp vào hàng này ?”
“Bạch
Thầy, thau bơ này, xấp vải này và nồi đồng này.”
“Những
thứ này đã được người khác cho ta. Chớ có cho ta những
đồ của ta ! Nếu ngươi có cái gì của riêng ngươi để
dâng, thì hãy đi lấy về. Còn nếu không, thì chớ có ở
đây.”
Và
đứng dậy, ngài chửi mắng, đá thầy và quẳng thầy ra ngoài.
Thầy
muốn chìm mất trong đất cho rồi.
Có
phải sự trừng phạt này là vì những tội sát nhân mình
đã phạm và vì sự phá hủy nhiều mùa màng bởi mưa đá
không ? Hay lama đã biết rằng mình không bao giờ có thể thực
hành Pháp ? Hay vì thiếu từ bi mà ngài không chỉ dạy cho
mình ? Có thể là gì đi nữa, thì ích gì cái thân thể con
người này mà không có đạo, nó chỉ tích tập thêm nhiễm
ô ? Hay ta nên tự tử cho rồi !
Vào
lúc ấy sư mẫu đem đến cho thầy một phần bánh cúng. Bà
an ủi thầy rất nhiều và bỏ đi. Nhưng thầy không muốn
ăn, và khóc suốt cả đêm.
Sáng
hôm sau, lama đến và nói, “Bây giờ hãy hoàn thành lối đi
có mái và cái tháp. Sau đó ta sẽ cho ngươi quán đảnh nhập
môn và giáo huấn.
Rồi
thầy hoàn thành cái tháp và gần hoàn tất hành lang có mái.
Lúc đó thầy có những vết thương trên lưng. Mủ và máu
chảy từ ba vết thương đó. Thầy đưa lưng đầy vết thương
máu mủ cho sư mẫu xem. Thầy van xin bà cứu thầy, thỉnh cầu
lama chỉ dạy cho thầy và nhắc ngài những lời ngài hứa
vào lúc đặt nền móng cho cái tháp. Sư mẫu lo lắng nhìn
vào những vết thương của thầy, và nước mắt chảy trên
mặt bà.
“Ta
đi nói với lama đây.”
Và
đến trước lama, bà nói, “Lama Rinpoche, công việc Đại Phù
Thủy làm đã lột da nó và tay chân đứt nát. Trên lưng nó
ba vết thương chảy máu và mủ. Tôi đã từng nghe và thậm
chí cả thấy những con ngựa và lừa với những vết thương
trên lưng, nhưng tôi chưa bao giờ thấy cũng chưa bao giờ nghe
những vết thương như vậy trên lưng con người. Tôi thấy
xấu hổ nếu có người khác thấy hay nghe một chuyện như
vậy. Tôi càng xấu hổ hơn khi biết rằng việc đó lại do
một đại lama như ngài gây ra. Vì nó thật sự xứng đáng
để bi mẫn, hãy ban cho nó giáo huấn. Ngài đã nói lúc đầu
rằng ngài sẽ cho nó giáo pháp khi nó xây tháp xong.”
Lama
trả lời, “Đó đúng là điều tôi đã nói. Tôi nói rằng
tôi sẽ cho nó giáo pháp của tôi khi nó xây xong tháp mười
tầng. Mười tầng chỗ nào ?”
“Nó
đã xây còn hơn mười tầng. Nó đã tạo ra một lối đi thấp
hơn có mái.”
“Chớ
nói nhiều. Nếu nó xây xong mười tầng tôi sẽ dạy nó. Nó
thực có những vết thương ư ?”
“Không
chỉ những vết thương mà hầu như không còn lưng nữa mà
chỉ là những vết thương. Nhưng ngài có quá nhiều quyền
lực để làm bất cứ điều gì ngài thích.”
Nói
thế xong, với sự buồn rầu lớn lao, bà vội vã đến chỗ
thầy. “Tốt rồi, con nên đến cùng với ta.”
Trên
đường đi, thầy nghĩ, “Phải chăng thầy sắp dạy mình
?”
Lama
nói với thầy, “Đại Phù Thủy, đưa ta xem lưng ngươi.”
Thầy
đưa cho ngài xem và sau khi xem xét nó cẩn thận, ngài nói,
“Đạo sư Naropa của ta đã chịu hai mươi bốn sự khổ hạnh,
mười hai thử thách lớn và mười hai thử thách nhỏ, tất
cả đều vượt quá những thử thách của ngươi. Về phần
ta, không hề có một ý nghĩ cho đời sống hay tài sản của
mình, ta dâng cúng cả hai cho Đạo sư Naropa. Thế nên nếu
ngươi tìm cầu giáo pháp, hãy khiêm tốn và tiếp tục việc
làm trên cái tháp.”
Thầy
thầm nghĩ rằng ngài quả có lý.
Từ
cái áo của thầy, ngài làm một tấm đệm để che cho những
vết thương của thầy. Ngài nói, “Vì ngươi làm việc chuyên
chở như ngựa và lừa, hãy dùng tấm đệm này để đắp
những vết thương của ngươi và tiếp tục khiêng vác đất
và đá.”
Thầy
trả lời, “Làm sao tấm đệm chữa lành những vết thương
trên lưng con được ?”
“Tấm
đệm là để giữ cho bụi đất khỏi dính vào những vết
thương của ngươi.”
Nghĩ
đó là một mệnh lệnh, thầy mang đất cũng như hồ trong
một thùng chứa ở trước thân, lama thấy thầy và nghĩ, “Sự
tuân thủ mọi sự ra lệnh này là phi thường.” Và ngài âm
thầm chảy nước mắt.
Những
vết thương của thầy trở nên bị nhiễm độc và thầy bị
bệnh. Thầy nói điều này với sư mẫu. Bà hỏi giùm thầy
có được nhập môn không hay ít ra được cho phép nghỉ để
chữa lành những vết thương.
Lama
trả lời, “Chừng nào tháp còn chưa xong, nó không thể có
cái gì cả. Nếu nó có thể làm việc, hãy để nó làm cái
gì có thể làm ; còn nếu không thể, hãy để nó nghỉ ngơi.”
Sư
mẫu nói với thầy, “Chừng nào những vết thương chưa lành,
con hãy nghỉ ngơi.”
Bà
bồi bổ cho thầy bằng thức ăn và đồ uống tốt trong thời
gian ấy. Trong vài ngày thầy cảm thấy sung sướng ngoại trừ
nỗi buồn không có được sự chỉ dạy. Khi những vết thương
của thầy đã lành, lama đến và không nhắc gì về Pháp,
ngài nói, “Đại Phù Thủy, lúc này ông trở lại công việc
xây tháp được rồi đó.”
Thầy
sắp sửa đi làm thì sư mẫu nói với thầy, “Giữa hai chúng
ta, chúng ta hãy có một kế hoạch để cho con có được giáo
pháp.”
Sau
khi thỏa thuận với sư mẫu, thầy gói cuốn sách và vài vật
dụng trên một bao bột nhỏ, như thể thầy sắp bỏ đi. Để
được lama thấy việc này, thầy xin sư mẫu giúp thầy.
Bà
nói lớn, “Nếu con thỉnh cầu lama, ngài sẽ ban cho con giáo
pháp. Hãy ở lại đây bất chấp mọi sự.” Và bà giả bộ
ngăn cản thầy.
Thấy
thế, lama hỏi, “Này bà, hai người đang làm gì thế ?”
Sư
mẫu trả lời, “Đại Phù Thủy nói rằng trước kia nó từ
làng xa đến để học giáo pháp. Thay vì có được giáo pháp,
nó chỉ nhận được những lời lăng mạ và đấm đá. Vì
sợ chết đi mà chưa được chánh pháp, nó đi tìm kiếm một
vị lama khác và mang những đồ dùng theo. Nhờ những lời
lẽ khẩn thiết và hứa hẹn của tôi mà tôi có thể trì
hỗn việc ra đi của nó.”
Lama
nói, “Ta hiểu.” Và ngài rời chỗ ngồi, tát thầy tới
tấp.
“Khi
ngươi đến đây, ngươi đã tức khắc dâng cúng cho ta thân,
ngữ, tâm của ngươi. Vậy mà bây giờ ngươi định đi đâu
? Chắc chắn không thể bỏ đi, bởi vì ngươi thuộc về ta.
Ta có thể cắt ngươi, thân, ngữ, tâm của ngươi, thành ra
trăm mảnh. Mà ngươi có đi thì tại sao ngươi lại lấy bột
của ta hả ?”
Nói
rồi, ngài tiếp tục đánh thầy. Ngài giật bao bột và đem
nó vào trong nhà. Sự thất vọng đau đớn của thầy không
khác gì một bà mẹ đã mất đứa con trai độc nhất. Theo
lời khuyên của sư mẫu, và bởi vì lama quá dữ tợn, thầy
trở vào nhà, run rẩy và bắt đầu khóc.
Sư
mẫu nói với thầy, “Dù chúng ta có cố gắng gì đi nữa,
lama cũng không dạy cho con giáo pháp vào lúc này, nhưng chắc
chắn cuối cùng ngài cũng ban cho con thôi. Còn bây giờ, ta
sẽ chỉ cho con một cái gì đó.”
Bà
ban cho thầy phương pháp thiền định về Dorje Pahgmo (Vajravarahi).(3)
Nó không đem lại cho thầy kinh nghiệm nội tâm nhưng rất
lợi lạc và nó nâng cấp cho tâm thức thầy. Thầy bày tỏ
lòng biết ơn với sư mẫu vì lòng tốt của bà.
Thầy
nghĩ rằng sư mẫu là vợ của lama, chắc bà có thể tịnh
hóa tội lỗi. Vào mùa hè khi bà vắt sữa bò, thầy cầm xô
cho bà. Khi bà rang hạt, thầy cầm chảo giúp bà. Như thế
ở bất cứ chỗ nào thầy cũng phục vụ sư mẫu.
Vào
lúc đó thầy mơ đến việc tìm ra một vị lama khác. Thầy
thầm nghĩ, “Nếu ngài Marpa không có giáo pháp để thành
Phật trong chỉ một đời và trong chỉ một thân, chắc chắn
không vị lama nào khác có thể có được. Cho dù mình không
thành Phật ngay, thì ít nhất mình cũng ngưng được sự tích
tập nghiệp dẫn đến tái sanh vào các cõi thấp. Khi mình
đã chịu đựng vì đạo những thử thách như Naropa, bây giờ
lama sẽ rất vui vẻ tuyên bố rằng mình xứng đáng với giáo
pháp. Rồi mình sẽ thiền định về nó và hy vọng như vậy
sẽ đạt được Giác Ngộ ngay trong đời này.” Nghĩ thế
rồi thầy bắt đầu khiêng đá và đất.
Khi
thầy đang trộn hồ làm lối đi cho mái và phòng thờ, Ngorkton
Chodor xứ Chung và các đệ tử đem nhiều lễ vật đến xin
lễ đại quán đảnh Hevajra.(4)
Sư
mẫu nói với thầy, “Nếu lama không bằng lòng với cái tháp
đã hoàn thành và nếu ngài muốn tài sản, hãy dâng cúng ngài
một lễ vật và ngài chắc chắn sẽ ban cho con lễ quán đảnh
nhập môn.”
Bà
đưa cho thầy một viên ngọc xanh đậm lớn mà bà đã giữ
kín và nói, “Con khẩn cầu ngài trước, và dâng ngài viên
ngọc. Nếu ngài từ chối, mẹ sẽ xin cho con.”
Thầy
dâng cúng nó cho lama, nói rằng, “Con xin thầy cho con giáo
huấn trong dịp này.”
Và
thầy đứng giữa những đệ tử. Lama xem xét viên ngọc bích,
xoay qua xoay lại.
“Đại
Phù Thủy có cái này từ đâu ?”
Thầy
trả lời, “Bạch Thầy, sư mẫu cho con.”
Lama
mỉm cười và nói, “Đi gọi sư mẫu lại đây.”
Khi
sư mẫu đến, lama nói với bà, “Này bà, chúng ta có viên
ngọc bích này từ đâu ?”
Cúi
lạy sát đất, sư mẫu trả lời, “Viên ngọc bích này không
liên quan đến ngài. Khi cha mẹ gả tôi cho ngài, vì thấy ngài
nóng nảy dữ tợn, bấy giờ cha mẹ tôi bí mật cho tôi viên
ngọc này và nói với tôi, “Hãy giữ cái này mà đừng cho
ai biết. Nếu sau này con và chồng con có ly dị, con có thể
cần nó mà sống.” Tôi đã lấy cho đứa con này, tôi rất
thương xót nó. Xin hãy chấp nhận và ban quán đảnh cho Đại
Phù Thủy. Lama Ngokpa (Ngorkton Chodor xứ Shung), ông và những
tín đồ của ông, các người hiểu sự đau buồn của nó
khi bị đuổi khỏi lễ quán đảnh, hãy giúp tôi cầu xin.”
Nói
xong, bà quỳ lạy nhiều lần. Lama trông vẻ đáng sợ đến
độ Ngokpa và các đệ tử của ông không dám thốt lên lời
cầu xin nào. Họ chỉ tỏ bày những cử chỉ tán đồng và
quỳ lạy theo với sư mẫu.
Lama
nói, “Với sự giúp đỡ ân cần của vợ ta, viên ngọc bích
đẹp đẽ này suýt rơi vào tay một người xa lạ.”
Và
đeo vào cổ, ngài tiếp tục, “Này bà, bà không suy nghĩ gì
cả. Nếu ta hoàn toàn là đạo sư của bà, thì ta cũng là
đạo sư của viên ngọc của bà. Đại Phù Thủy, nếu ngươi
có tài vật gì, hãy đưa ra và được truyền pháp nhập môn.
Còn viên ngọc bích này là của ta.”
Nghĩ
rằng sư mẫu với lòng nhiệt thành sẽ thỉnh cầu thêm khi
đã dâng cúng viên ngọc, thầy ở nguyên chỗ. Nhưng lama nổi
giận và bật dậy ! “Ta đã cho ngươi đi rồi, vậy mà ngươi
vẫn đứng đây. Thực vô lễ láo xược !”
Ngài
quẳng thầy té úp mặt xuống đất, thầy tối tăm mặt mũi.
Ngài vật thầy ngã ngửa và thầy nổ đom đóm. Rồi ngài
nắm lấy một cây gậy, nhưng Ngokpa giữ ngài lại. Kinh hãi,
thầy nhảy xuống sân. Dù điều này làm ngài lo âu, ông vẫn
tỏ ra còn giận dữ.
Thầy
không bị gãy tay chân, nhưng tràn ngập đau buồn và muốn
được chết. Bấy giờ sư mẫu đến, đầy nước mắt, nói
với thầy, “Đại Phù Thủy, chớ tuyệt vọng. Không có đệ
tử nào nhiều đức tin hơn hay đáng yêu hơn con. Nếu con muốn
đi đến một lama khác để học Pháp, ta sẽ sửa soạn mọi
thứ cần thiết cho con. Ta sẽ cho con lương thực và vật để
tặng.” Bà an ủi thầy như vậy.
Trước
đó sư mẫu luôn luôn tham dự vào mọi cuộc họp chúng của
lama. Nhưng đêm đó bà đến và khóc với thầy suốt cả đêm.
Sáng
hôm sau, lama gọi thầy lên. Thầy đến với ngài, tự hỏi
hay ngài sẽ dạy thầy. Ngài hỏi, “Ngươi không bất mãn
với việc ta từ chối dạy cho ngươi chứ ? Ngươi có những
ý nghĩ xấu hay không ?”
“Con
tin vào lama, thầy trả lời, và không hề thốt lên một lời
bất bình. Trái lại, con tin rằng con đang tối tăm vì những
tội lỗi của con. Con là tác giả của sự khốn khổ của
chính con.” Thầy khóc. Và ngài nói tiếp, “Ngươi mong đạt
được điều gì nơi ta bằng những giọt nước mắt này ư
? Đi ra ngay !”
Rồi
thầy thầm nghĩ trong một trạng thái khốn khổ đau lòng,
“Ta đã có nhiều đồ dự trữ khi ta phạm vào nhiều tội
lỗi. Nhưng bây giờ thực hành đạo pháp, mình lại chẳng
có gì cả. Nếu mình có một nửa số vàng mà mình đã cho
đi để làm những ác hạnh, thì mình đã có thể nhận lãnh
lễ quán đảnh và giáo pháp bí mật. Giờ đây không có lễ
vật, lama không dạy cho mình. Dù mình có đi lama khác, ngài
cũng đòi hỏi lễ vật. Đạo bị cấm đối với người nghèo.
Không có đạo, một người chỉ là một kẻ tích tập tội
lỗi, như thế thì ta tự tử là tốt hơn. Làm gì bây giờ
? Làm gì bây giờ ? Ta sẽ đi và làm công cho một người giàu
chăng ? Ta sẽ kiếm tiền lương và có lễ vật cho sự học
pháp chăng ? Bởi vì ta đã phóng ra những chú thuật, bây giờ
ta có nên trở về làng ? Mẹ mình chắc vui mừng gặp lại
mình, và mình sẽ có thể kiếm được một số tiền. Hoặc
ta phải kiếm một nơi khác hay tìm ra tiền của.”
Thầy
tự nghĩ, “Nếu mình lấy bột của lama làm lương thực thì
chỉ làm ngài giận thêm nữa.” Thầy lấy mấy cuốn sách
và bỏ đi không nói gì, dù với sư mẫu. Trên đường đi,
thầy nhớ đến lòng tốt của bà, thầy quý chuộng lòng tốt
ấy bao nhiêu.
Khởi
hành từ Drowo Lung được nửa ngày, thầy dừng lại để làm
bữa ăn. Thầy khất thực một ít bột và mượn một cái
nồi. Gom ít củi khô, thầy nấu bữa ăn và dùng hết. Bây
giờ đã quá giữa trưa và thầy nghĩ, “Nửa phần công việc
của mình là để phục vụ lama ; nửa kia là để trả cho
thực phẩm của mình. Sửa soạn chỉ một bữa ăn mà đã
khó khăn đối với mình. Thế mà sư mẫu nấu nướng và phục
vụ thức ăn cho mình mỗi ngày, vậy mà mình chẳng nói với
bà một lời từ giã, quả mình là người xấu ! Mình có nên
trở lại không ?”
Nhưng
thầy không có can đảm trở lại. Khi thầy trả cái nồi,
một ông già nói với thầy, “Anh thanh niên, anh làm việc
được. Hơn là đi khất thực, hãy đi đến nhà người ta
tụng kinh nếu anh biết đọc. Nếu anh không biết đọc, hãy
làm việc như người làm công để có cơm áo. Anh có thể
đọc không ?”
Thầy
trả lời, “Tôi không phải là một người đi xin, và tôi
biết đọc.”
“Tốt,
hãy đi và tụng kinh ở nhà tôi. Tôi sẽ trả công xứng đáng
cho anh.”
Thầy
sung sướng. Và khi ở đó, thầy tụng Tám Ngàn Bài Kệ.(5)
Rồi thầy đọc tiểu sử của Taktugnu (Người Thường Khóc).(6)
Thầy nghĩ, “Taktugnu, ngài cũng không có tiền, đã bán thân
và mạng sống của mình vì đạo. Ngài đã dứt trái tim mình
ra và bán nó, ngài cắt nó thành nhiều mảnh. So với ngài,
ta chẳng cho cái gì cả vì đạo pháp. Có thể Lama Marpa sẽ
ban cho ta giáo pháp. Nếu ngài không ban nó cho ta, sư mẫu đã
hứa giúp ta gặp một đạo sư khác.” Ý nghĩ này cho thầy
can đảm để trở lại, và thầy bắt đầu đi về lại.
Khi
thầy đã bỏ đi, sư mẫu nói với lama, “Kẻ thù không thể
khuất phục được của ngài đã đi rồi. Bây giờ ngài có
sung sướng chưa ?”
“Ai
đi ?”
“Vâng,
có ai khác ngoài Đại Phù Thủy bị ngài trút lên đủ thứ
thống khổ và có ai khác được ngài đối xử như một kẻ
thù ?”
Nghe
những lời này, khuôn mặt lama trở nên u ám và đẫm ướt
nước mắt. “Hỡi chư vị lama của dòng Kagyuš, những dakini
và những hộ pháp, hãy mang trở lại đứa con tiền định
của tôi về đây.”
Cầu
nguyện xong, ngài lấy áo choàng trùm đầu lại và ngồi bất
động.
Vào
lúc ấy thầy đến trước mặt sư mẫu và chào bà. Sung sướng
bà kêu lên, “Con đến đây thật đúng lúc. Có vẻ bây giờ
lama sẽ dạy cho con. Khi ta nói con đã ra đi, ngài kêu lên,
‘Hãy cho tôi lại đứa con tiền định của tôi.’ Rồi ngài
bật khóc. Hình như con đã làm ngài mềm lòng.”
Thầy
thầm nghĩ, “Sư mẫu chỉ làm vơi nhẹ lòng mình. Nếu quả
thật ngài chảy nước mắt, ngài đã nói “Đứa con định
mệnh của ta”, thì mình hoàn toàn hạnh phúc. Còn nếu ngược
lại, ngài chỉ nói, “Hãy đem nó lại cho tôi” theo kiểu
trước kia ngài đã từ chối cho ta quán đảnh và giáo huấn,
thì quả thực mình rất bất hạnh. Mình không có nơi nào
khác để đi. Mình phải khốn khổ ở đây, mà không bao giờ
có được giáo pháp chăng ?”
Sư
mẫu nói với lama, “Đại Phù Thủy đã không bỏ chúng ta.
Nó đã trở về. Nó có thể đến trước mặt ngài không ?”
Lama
trả lời, “Nó đã bỏ rơi chúng ta, nhưng nó không bỏ rơi
chính nó. Nếu bà muốn, hãy để nó đến.”
Thầy
đến trước ngài, và ngài nói, “Đại Phù Thủy, nếu từ
đáy lòng ngươi, ngươi mong muốn đạo pháp với một sự
nôn nóng và không ngừng nghỉ như vậy, ngươi phải dâng hiến
cuộc đời ngươi cho nó. Hãy hoàn thành ba tầng còn lại của
cái tháp và ta sẽ cho ngươi giáo pháp. Nếu không, bởi vì
nuôi ngươi ở không thì hao tốn và nếu mà ngươi có chỗ
nào khác để đi, thì hãy đi ngay bây giờ.”
Thầy
không thể nói được một lời nào, nên thầy đi ra. Thầy
nói với sư mẫu, “Lama vẫn từ chối chưa dạy con. Nếu
chắc chắn rằng ngài ban cho con giáo pháp khi con hoàn tất
cái tháp, con sẽ ở lại. Nhưng nếu khi cái tháp đã xong mà
ngài còn quyết định không dạy cho con, thì con không phải
biết làm gì. Con mong mỏi được gặp lại mẹ của con. Bởi
thế con xin phép về làng. Cầu chúc lama và sư mẫu luôn luôn
mạnh khỏe.”
Thầy
lạy và cầm lấy những cuốn sách, chuẩn bị ra đi.
Sư
mẫu nói, “Con ta, con có lý. Như ta đã hứa với con, ta sẽ
tìm một cách để con được Ngokton dạy cho. Vị ấy là đại
đệ tử của lama và đã được quán đảnh. Hãy nán lại
ít lâu, trong thời gian đó hãy làm việc.
Thầy
vui vẻ ở lại và tiếp tục làm việc.
Bởi
vì đức Naropa có tục lệ lấy ngày mùng mười mỗi tháng
làm đại lễ dâng cúng. Ngài Marpa cũng cử hành vào ngày mùng
mười. Từ một thùng lớn đã để dành, sư mẫu rót ra ba
bình rượu lễ. Một bình rượu mạnh, một bình vừa và một
bình nhẹ. Bà đem loại bia nhẹ làm rượu lễ để cúng. Để
dâng cúng cho lama, bà đưa thứ bia rất mạnh. Sư mẫu và thầy
rót cho ngài. Những nhà sư uống loại bia vừa. Sư mẫu nhấm
chút bia nhẹ trên môi, nhấm nháp rất ít. Thầy cũng làm như
vậy và vì thế rất tỉnh táo. Những nhà sư uống nhiều.
Ngài lama dùng khá nhiều bia và còn được người mời thêm,
ngài ngủ rất say. Khi ấy, sư mẫu lấy những lễ vật –
những hạt ngọc của Naropa và xâu chuỗi bằng hồng ngọc
– ra khỏi phòng ngài. Rồi bà viết một lá thư giả của
ngài. Đóng dấu triện của ngài trên bức thư, bà gói tất
cả vào trong một tấm vải quý, niêm lại với sáp và đưa
nó cho thầy, bảo rằng, “Hãy làm như những cái này do lama
gởi. Hãy đi và dâng cúng cho Lama Ngokpa và thỉnh cầu ngài
dạy cho con.”
Bà
bảo thầy tới Shung, thầy ra đi, đặt mọi hy vọng vào Lama
Ngokpa.
Hai
ngày sau, Lama Marpa nói với sư mẫu, “Bây giờ Đại Phù Thủy
đang làm gì ?”
“Nó
đã lên đường. Tôi không biết gì hơn.”
“Nó
đi đâu ?”
“Nó
nói với tôi rằng dù nó đã làm xong việc trên cái tháp,
ngài vẫn không cho nó giáo huấn mà còn xối xả vào nó những
đánh đập và la mắng. Nó nói nó đi tìm một vị lama khác.
Tôi nghĩ rằng có báo trước cho ngài cũng bằng thừa, vì
ngài không lưu tâm. Rồi ngài sẽ lại đánh nó. Để tránh
việc ấy, tôi không nói gì với ngài. Tôi đã làm mọi sự
để trì hỗn sự ra đi của nó. Nhưng nó không nghe và đã
đi.”
Với
vẻ mặt giận dữ, lama hỏi, “Nó bỏ đi khi nào ?”
“Nó
đi hôm kia.”
Lama
yên lặng suy nghĩ một lát. “Con ta chưa thể đi xa đâu.”
Vào
lúc đó thầy đến núi Kyungding vùng Shung. Lama Ngokpa đang giảng
một bản văn mật truyền có tên là “Hai Phần”(7) cho các
đệ tử của ngài. Bài thuyết pháp của ngài dừng lại khi
đang giảng đến đoạn kinh :
Ta
là Đạo sư của Pháp
Ta
là Thính Chúng.
Ta
là Đạo sư của Pháp giới và là Đối Tượng của
Chứng
Ngộ.
Ta
là cái Tùy Duyên và cái Vô Duyên.
Ta
là Bản Tánh Bổn Nhiên của Phúc Lạc Tự Nhiên.
Khi
ngài đang đọc những lời ấy, thầy đảnh lễ từ xa. Ngài
đáp lại bằng cách dở mũ, và nói, “Đây là cách chào mà
những đệ tử của tôn sư Marpa thường làm. Và những lời
kinh khi ông tới là một điềm triệu tốt lành. Vì người
này sẽ là Đạo sư của mọi Giáo Lý. Hãy đi ra hỏi ông
ta là ai.”
Một
nhà sư đến gặp thầy và do đã biết thầy, nói rằng, “Tại
sao ông đến đây ?”
“Bởi
vì Lama Marpa quá bận, tôi chỉ một mình nên ngài không có
thời giờ dạy cho. Tôi đến đây để thỉnh cầu giáo pháp.
Tôi đem theo những viên ngọc và xâu chuỗi hồng ngọc của
Tổ Naropa như là lễ vật.”
Nhà
sư trở lại nói với thầy của ông và nói, “Đó là Đại
Phù Thủy.” Và ông lập lại lời thầy nói.
Lama
ngập tràn niềm vui. Ngài thốt lên, “Những viên ngọc và
xâu chuỗi của Đại Đạo sư Naropa ở chỗ của ta ! Điều
này hy hữu và kỳ diệu như hoa Ưu Đàm (Udumbara). Chúng ta
phải đi ra đón nhận. Hôm nay chúng ta hãy dừng ở chỗ tốt
lành này trong bài học kinh của chúng ta. Các nhà sư hãy đem
lọng, cờ phướn và não bạt ra nhanh lên và mời Đại Phù
Thủy vào chỗ của ông trong đám rước.”
Vì
thầy vẫn ở chỗ ban đầu khi thầy đảnh lễ vái chào, một
nhà sư đến nói với thầy lời phán truyền ấy. Thầy gọi
chỗ đứng đó là Chaktsal Gang (Bờ Vái Chào).
Thầy
bước lui và rồi nối vào đoàn các nhà sư, tạo thành đám
rước với lọng, cờ phướn và não bạt. Tất cả đi vào
nhà lama. Thầy lạy và đưa ngài bức thơ và những lễ vật.
Chảy nước mắt, lama đưa lễ vật lên trán và nhận sự
ban phước của những lễ vật. Ngài đặt những vật thiêng
liêng này trên bàn thờ ở chỗ cao nhất và đặt những đồ
cúng ở trước chúng.
Rồi
ngài đọc bức thư :
“Gởi
Choku Dorje (Kim Cương của Thực Tại Tối Hậu) : Bởi vì thầy
đã nhập thất và Đại Phù Thủy nôn nóng nên thầy gởi
nó đến con để cầu xin giáo pháp. Hãy ban cho nó quán đảnh
và giáo huấn. Để làm chứng tín cho sự cho phép của ta,
ta gởi cho con những viên ngọc của Naropa.”
Lama
Ngokpa nói, “Vì đây là lệnh của ngài Marpa, ta sẽ dạy cho
ông. Ta đã nghĩ đến việc tìm ông nhưng may thay nhờ hồng
ân của ngài Marpa mà ông đã đến. Nhiều đệ tử đến với
ta từ Kham, Tagpo, Kongpo và từ Yarlung. Nhiều người xấu trong
những làng Yehpo và Yemo xứ Došl thường cướp bóc đồ dự
trữ của họ. Hãy đi và đánh bọn họ bằng mưa đá. Sau
đó ngươi sẽ nhận quán đảnh và giáo huấn.”
Bấy
giờ thầy nghĩ, “Số phận của ta là thực hiện những ác
nghiệp. Mình chỉ có giáo huấn thiêng liêng nếu làm mưa đá,
và vì vậy mà lại lao vào những hành vi tổn hại. Nếu mình
không làm mưa đá, mình sẽ không vâng lời của lama và mình
sẽ không nghe được giáo pháp. Mình không thể tránh việc
tạo ra mưa đá.”
Thu
thập một số vật dụng nghi lễ, thầy truyền năng lực huyền
thuật vào mè và đem chúng theo. Đến tỉnh Došl, thầy sửa
soạn công việc và chuẩn bị kéo mưa đá đến.
Ở
Yehpo thầy ngụ trong một căn nhà của một cụ bà và làm
cho thầy một cái cốc bên cạnh. Cơn bão tụ lại rất nhanh.
Sấm sét vang rền. Mây đen chồng chất, từng lớp từng lớp
và mưa đá bắt đầu rơi xuống.
Cụ
bà kêu lên, “Trời ơi, mưa đá phá sạch lúa màu, ta lấy
gì để ăn ?” Và bà cụ khóc.
Thầy
nghĩ, “Điều mình làm là phạm tội.” Và thầy nói với
bà cụ, “Hãy vẽ hình dáng miếng ruộng của cụ nhanh lên.”
“Nó
như thế này.”
Bà
cụ vẽ một tam giác dài. Thầy bắt ấn(8) trông nom và phủ
một cái chảo lớn lên hình tam giác. Đỉnh của tam giác hơi
dư ra một tí, đã bị tàn phá bởi cơn gió.
Thầy
ra xem xét tận mắt những kết quả. Những ngọn núi lấn
ra sau hai ngôi làng tạo thành những dòng thác. Chỉ có miếng
ruộng của bà cụ còn nguyên vẹn và tươi tốt. Tất cả
những đám khác không còn gì cả. Chóp xa của miếng ruộng
tam giác đã bị lũ cuốn trôi. Thầy bảo đảm với bà cụ
rằng từ nay trở đi miếng ruộng của bà luôn luôn được
che chở và bà khỏi tốn tài sản để bảo vệ nó khỏi mưa
đá. Bà cụ chỉ phải lo cho phần bị lũ cuốn trôi.
Thầy
bỏ đi. Trên đường thầy gặp hai người chăn cừu, một
người già và một đứa nhỏ, đàn cừu của họ đã bị
lũ cuốn trôi.
Thầy
nói với họ, “Tôi là người đã làm ra chuyện này. Từ
nay trở đi chớ có cướp bóc những nhà sư của Lama Ngokpa
nữa. Nếu các ngươi lại cướp bóc họ, các ngươi sẽ bị
mưa đá giáng xuống mỗi lần như vậy.”
Họ
nói lại những lời đe dọa này và hai địa phận ấy đều
tôn kính vị lama. Muốn trở thành những tín đồ thuận thành
của ngài, họ dâng cúng ngài những sự phục vụ của họ.
Ở
một bụi cây, thầy tìm thấy nhiều con chim nhỏ chết. Dọc
đường về, thầy gom những xác chim và chuột. Thầy bỏ đầy
mũ trùm đầu và túi của áo mưa và khi trở về vị lama thầy
chất đống dưới chân ngài.
“Lama
Rinpoche, con tới đây vì thánh pháp nhưng thật ra con chỉ làm
thêm nghiệp tội. Xin hãy từ bi với con, một kẻ đại tội
lỗi.” Nói xong thầy khóc.
Lama
trả lời, “Hỡi đệ Đại Phù Thủy, chớ có sợ. Chúng
ta, những đệ tử của Naropa và Maitrepa,(9) biết mật chú
gọi là “Bắn một phát ná đuổi cả trăm con chim”, nó
cho phép những người đại tội lỗi thành tựu Giác Ngộ
tức thời. Trong tương lai tất cả những chúng sanh hiện giờ
bị mưa đá giết sẽ tái sanh quanh ông và sẽ làm thành một
đám rước khi ông đạt Giác Ngộ viên mãn. Hãy vui mừng là
từ nay chúng không còn sinh vào những cõi thấp nhờ ở ta.
Nếu ông không tin ta, ta sẽ cho ông thấy.”
Sau
khi tập trung giây lát, ngài búng ngón tay và tức thì những
xác chết sống lại. Trong khoảnh khắc một số bay thẳng
lên trời và một số khác bay là là về tổ của chúng. Thầy
nghĩ, “Ta đã thấy một vị Phật thật sự. Như thế thì
tốt biết bao nhiêu, tốt biết bao nhiêu nếu nhiều sinh vật
chết theo kiểu này.”
Rồi
lama ban cho thầy nhập môn vào mạn đà la Hevajra. Sau khi ngài
đã cho thầy giáo pháp này, thầy đi vào một cái hang bỏ
không trên một vách đá, hướng về phía nam, từ nơi đây
có thể thấy được nhà của lama. Thầy nhốt mình trong đó,
chỉ để một lỗ nhỏ qua đó lama có thể dạy cho thầy.
Thầy thiền định không ngơi nghỉ. Nhưng vì thầy đã bỏ
đi không được Marpa cho phép, thầy không có kinh nghiệm bên
trong nào cả.”
Một
hôm lama nói với thầy, “Sư đệ Đại Phù Thủy, ông đã
kinh nghiệm dấu hiệu bên trong nào ?”
“Không,
không có gì cả.”
“Ông
nói gì thế ? Trừ phi dòng dõi tâm linh của ta trở nên hư
thối vì bất hòa, chứ nó có thần lực để đem lại một
thức tỉnh chứng ngộ nhanh chóng. Ông đã đến với ta trong
niềm tin thuần thành. Nhưng nếu ông không được phép của
Lama Marpa cho đi, thì tại sao ngài gởi lễ vật cho ta ? Có
cái gì ở đây nhỉ ? Dầu sao, hãy kiên trì trong việc thiền
định của ông.”
Thầy
nín lặng, đầy sợ hãi. Thầy tự hỏi hay nói hết sự thật
ra. Nhưng không có can đảm để nói, thầy nghĩ, “Dù sao thì
Marpa chắn chắn đã nghe chuyện này.” Và thầy trầm mình
trong thiền định.
Khi
ấy Marpa đã hoàn thành cái tháp của con ngài và ngài gởi
một lá thư cho Ngokpa : “ Bây giờ cái tháp của con thầy
đã đến lúc cần một vòm trang hoàng bằng gỗ, vậy hãy
gởi cho thầy thật nhiều cây gỗ. Khi thầy đặt xong vòm
trang hoàng và tháp nhọn, con hãy đến an vị cho tháp, và cũng
làm lễ đến tuổi của Doday Bušm (con của Marpa). Hãy đem
theo với con một gã ác hạnh nó vốn thuộc về thầy.”
Lama
Ngokpa đến lỗ nhỏ nơi thất của thầy và đưa cho thầy
bức thư, nói, “Đúng như bức thư nói. Kẻ ác hạnh mà bức
thư đề cập không phải được Marpa gởi đến.”
Thầy
trả lời, “Đúng là lệnh không đến từ bản thân lama.
Chính sư mẫu đưa cho con lá thư và những lễ vật rồi gởi
con đến đây.”
“A
ha ! Nếu sự việc như vậy, thì chúng ta không có lý do gì
để làm việc với nhau. Không có sự cho phép của lama, ông
sẽ không thành tựu kết quả nào. Chẳng có gì xảy ra cả.
Ngài nói đem ông trở về. Ông muốn đi hay không ?”
“Con
đi với ngài như một người hầu được không ?”
“Tốt.
Khi ta gởi gỗ để làm vòm trang trí, ta sẽ gởi người theo
để biết ngày làm lễ. Từ đây đến đó, hãy ở trong thất.”
Người
được gởi đi hỏi ngày làm lễ trở về và đến thất thầy
nói qua lỗ nhỏ, “Lễ an vị cái tháp và đúng tuổi của
con trai Marpa đã được bàn thảo chi tiết.”
“Họ
có nói về tôi không ?”
“Sư
mẫu hỏi ông đang làm gì. Tôi bảo với bà ông đang biệt
cư nhập thất. Bà hỏi tôi ông đang làm gì khác ngoài việc
đó. Tôi trả lời rằng ông đang sống trong một chỗ hoang
vắng. Rồi bà nói, ‘Có lẽ nó quên cái này nên bỏ lại
đây. Khi ở với chúng ta nó thường rất thích cái ấy. Hãy
đem cho nó.’ Đây là cái bà đưa cho tôi.
Mở
lỏng dây buộc bụng, anh ta rút ra một cái xúc xắc bằng
đất sét và trao cho thầy. Nghĩ rằng vật này từ tay sư mẫu,
thầy chạm nó vào trán với lòng tôn kính.
Khi
người ấy đi rồi, thầy cảm thấy thích chơi xúc xắc và
thầy chơi. Nhưng thầy nghĩ, “Khi còn ở với sư mẫu, mình
có bao giờ chơi xúc xắc đâu. Có lẽ bây giờ bà không còn
thương mình nhiều. Chính vì cái xúc xắc mà ngày xưa làm
cho tổ tiên mình phải bỏ xứ ra đi.” Và quay vòng nó trên
đầu thầy, thầy ném nó xuống đất. Nó vỡ ra và lộ ra
một cuộn giấy tròn, “Bây giờ lama sẽ nhập môn cho con
và ban giáo pháp. Hãy trở về với Lama Ngokpa.”
Thầy
sung sướng quá đỗi đến độ nhảy nhót, phóng từ vách
này sang vách kia. Rồi Lama Ngokpa đến và nói với thầy, “Đại
Phù Thủy tính tốt, hãy đi ra và sửa soạn đi.”
Thầy
vâng theo. Lama Ngokpa mang theo mọi thứ sưu tầm của ngài, từ
hình tượng, kinh điển, tháp đến vàng ngọc, lụa là quần
áo và mọi vật dụng gia đình, chỉ để lại những quà tặng
của Marpa cho. Ngài ra lệnh cho thầy để lại một con dê già
bị gãy chân không thể theo bầy. Ngài đem đi tất cả những
con vật khác trong chuồng và ngoài đồng cỏ.
Khi
mọi người sửa soạn ra đi, ngài nói với thầy, “Bởi vì
ông đã giúp ta nhiều, hãy lấy tấm lụa và viên ngọc bích
này làm quà dâng cúng cho Lama Marpa. Vợ ngài cũng cho thầy
một bao phó mát để cúng dường cho sư mẫu Dakmema.
Rồi
Lama Ngokpa với vợ, đoàn tùy tùng và thầy đến đáy Thung
Lũng Cây Bu Lô. Ngài Ngokpa nói, “Sư đệ Đại Phù Thủy,
hãy đi trước và nói với sư mẫu rằng chúng ta đang đến.
Hãy xem thử bà có gởi cho chúng ta ít bia được không.”
Thầy
tiến lên trước. Trước tiên thầy gặp sư mẫu. Thầy chào
bà và dâng cúng bà bao phó mát.
“Lama
Ngokpa đang đến”, thầy nói. “Xin hãy đem cho ngài ít bia
để chào đón ngài.”
Sư
mẫu vui vẻ trả lời, “Lama ở trong phòng ngài. Hãy đi và
tự mình thỉnh cầu ngài.”
Thầy
vào nhà. Lama đang ở trên sân thượng thực hiện những sùng
mộ của ngài, mặt ngài quay về hướng đông. Thầy lễ lạy
và dâng ngài tấm vải lụa và ngọc bích. Ngài quay mặt đi
và nhìn về hướng tây. Thầy qua phía đó và lại lễ lạy.
Ngài lại quay về hướng nam.
Thầy
kêu lên, “Ôi Đạo sư, quả là đúng khi Thầy từ chối những
lễ vật của con như một sự trừng phạt. Nhưng Lama Ngokpa
đang đến với bộ hình tượng, kinh điển, tháp, vàng và
ngọc bích, với đàn gia súc và tất cả tài sản của ngài.
Ngài chỉ mong có ai đến đón ngài với một ít bia. Thế nên
con đến để xin Thầy.”
Giận
dữ nổ bùng, lama búng ngón tay và quát lên với một giọng
khủng khiếp, “Từ ba tạng kinh điển ở Ấn Độ ta đã
rút ra được tinh túy của bốn Tantra. Khi ta đem giáo pháp
về, không có người nào đón chào ta, dù chỉ một con chim
nhỏ. Và bởi vì Ngokpa đang đến, đẩy theo một mớ súc vật
suy nhược đằng trước ông ta, ông ta lại muốn rằng ta,
Đại Dịch Giả, phải đi đón ông ta à. Ta sẽ không đi –
và bây giờ hãy cút đi !”
Thầy
đi ra và nói tất cả cho sư mẫu. Bà nói, “Lama trả lời
trong giận dữ. Ngokpa là một con người vĩ đại và cần được
đón tiếp. Chúng ta hãy đi, mẹ và con.”
Thầy
trả lời, “Lama Ngokpa và vợ ngài không chờ đợi ai ra đón
họ. Họ chỉ xin một cái gì để uống, thế nên con sẽ đi
một mình mang ra cho họ.”
Nhưng
sư mẫu đi đón cùng với những vài nhà sư mang theo khá nhiều
bia.
Trong
khi đi, nhiều người vùng Vách Đá Phía Nam đã tụ tập, được
mời vào đại tiệc đến tuổi thành nhân của con trai ngài
lama và an vị cho ngôi nhà. Và Marpa ở giữa đại chúng cất
cao bài tán thán và tạ ơn :
Con
kêu cầu Đạo sư của con, bậc Bi Mẫn ;
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong dòng phái quý báu của con, vô nhiễm với
yếu kém và khuyết tật.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong con đường nhanh chóng của bí truyền,
Không
lỗi lầm hay mê dối.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong Marpa Lotsava,
Giữ
gìn tinh túy của những bí mật này.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong những lama, những yidam và những dakini,
Sở
hữu nguồn ban phước và giúp đỡ cho thực chứng.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong những đứa con tâm linh và đệ tử tụ
hội,
Trong
niềm tin và trong những thệ nguyện của các con.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong những thí chủ xa gần,
Tích
tập phước đức bởi sự rộng lượng bố thí,
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong mọi hoạt động và mọi nỗ lực của
tất cả chúng ta.
Thành
tựu giác ngộ vì lợi lạc của những người khác.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong chư thiên và bán thiên trong thế giới
hữu hình.
Bền
bỉ tin vào những lời nguyện thiêng liêng của họ.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Tuyệt
Hảo tràn đầy trong chư tăng và cư sĩ tụ hội ở đây.
Trong
nguyện vọng cho an lạc của họ.
Nguyện
tất cả được ban phước qua cái Tuyệt Hảo này.
Marpa
tán ca như thế. Tức thời sau đó, Lama Ngokpa dâng cúng ngài
những lễ vật và nói, “Lama Rinpoche, bởi vì thầy đã là
Đạo sư của toàn bộ thân, ngữ, tâm của con, bây giờ con
xin cúng dường mọi tài sản thế gian của con, chỉ trừ một
con dê lông dài, già yếu và gãy chân bị bỏ lại không thể
đi theo. Xin thương xót ban cho chúng con quán đảnh và giáo
huấn thâm sâu và giáo pháp bí mật trong những cuộn kinh.”
Và ngài lễ lạy.
Marpa,
biểu lộ vui mừng, trả lời, “Dù như vậy, sự quán đảnh
nhập môn và những giáo huấn sâu xa của ta là con đường
ngắn nhất của Kim Cương thừa, nó không phải chờ vô số
kiếp, mà trực tiếp đưa đến Giác Ngộ trong đời này. Những
giáo lý được viết trong những cuộn giấy được thầy giữ
gìn canh chừng kỹ lưỡng theo những mệnh lệnh nghiêm mật
của bổn sư của thầy và những dakini. Đó là tại sao sẽ
khó mà đưa cho con những giáo lý này trừ phi con dâng cúng
cho thầy con dê già què quặt ấy, dù nó có tệ đến đâu
đi nữa. Còn những giáo pháp khác, thầy đã dạy hết cho
con rồi.”
Mọi
người có mặt đều bật cười, và Ngokpa trả lời, “Nếu
con dê được đem đến đây và con cúng dường cho Thầy, thì
Thầy sẽ phát lộ giáo pháp bí mật cho con ?”
“Nếu
tự con đem nó đến và cúng dường ta, con sẽ có giáo pháp.”
Sáng
hôm sau, khách đã rút lui, Ngokpa lên đường một mình.
Sư
huynh trở lại với con dê trên lưng và cúng dường nó cho
Marpa, ngài kêu lên vui vẻ, “Ông là một đệ tử đã nhập
môn đúng nghĩa, xứng đáng được gọi là tin vào sự nối
kết thiêng liêng của mình. Thầy có cần gì con dê này. Thầy
chỉ muốn nhấn mạnh sự quan trọng của giáo pháp thầy sắp
cho con.”
Ngài
ban cho sư huynh quán đảnh và giáo huấn như đã hứa.
Những
nhà sư đến từ nơi xa, cùng với một ít người thân sửa
soạn một lễ tiệc cúng. Marpa để một cây gậy dài bên
cạnh chỗ ngồi. Nhìn thẳng vào Ngokpa với đôi mắt dài hẹp
và chỉ ngón tay vào ông, ngài hỏi, “Ngokton Chodor, tại sao
ông ban quán đảnh và giáo huấn cho cái tên tội lỗi xấu
xa là Tin Lành này ?”
Vừa
nói, ngài liếc nhìn cây gậy. Ngokpa sợ hãi và quỳ lạy,
trả lời, “Lama Rinpoche, Thầy đã đích thân viết thư cho
con bảo làm lễ quán đảnh và chỉ dạy cho Đại Phù Thủy,
và Thầy ban cho con những viên ngọc của Naropa và chuỗi hạt
hồng ngọc của Tổ. Như thế con đã làm theo lệnh của Thầy.
Con không có gì đáng trách và con cảm thấy không hổ thẹn
hay hối hận.”
Nói
thế, Ngokpa sợ hãi ngước mắt lên. Giận dữ, Marpa chỉ ngón
tay vào thầy và hỏi, “Ngươi lấy những cái ấy ở đâu
?”
Trái
tim thầy hấp hối như vọt ra ngoài, thầy kinh hoảng nín lặng.
Rồi với giọng run rẩy thầy thú tội rằng sư mẫu đã đưa
chúng cho thầy.
Lama
nhảy tới và khua cây gậy rõ ràng là để đánh sư mẫu.
Đã chăm chú nghe từ nãy đến giờ, bà đứng lên và chạy
mất.
Trú
ẩn trong điện thờ, bà đóng cửa lại. Lama lay cửa, rồi
trở về ngồi xuống. Ngài nói với Ngokpa, “Ngokton Chodor,
con đã làm không có sự cho phép của thầy. Hãy đi ngay lúc
này và đem về đây những viên ngọc và chuỗi hạt hồng
ngọc của Tổ Naropa.”
Rồi
Marpa phủ đầu mình bằng cái áo choàng và ngồi bất động.
Lạy
xong, Ngokpa lập tức đi lấy về những hạt ngọc và xâu chuỗi
của Tổ Naropa. Thầy tiếc là không thoát đi với sư mẫu.
Thầy
thấy muốn khóc, và cố gắng cầm giữ nước mắt, khi Ngokpa
thấy thầy, thầy xin ngài cho đi theo làm người hầu. Ông
trả lời, “Nếu tôi đem ông đi theo không có sự cho phép
của lama, rồi cũng sẽ bị như hôm nay. Vì ngài giận cả
hai chúng ta, hãy ở lại đây cái đã. Nếu sau này ngài đuổi
ông đi, không chấp nhận làm đệ tử nữa, thì lúc ấy ta
sẽ có đủ quyền hạn để giúp cho ông.”
“Vì
những tội lỗi của tôi khiến sư mẫu và sư huynh phải bị
phiền nhiễu, và bởi vì với thân thể hiện tại này tôi
sẽ không nhận được Pháp mà chỉ tích tập thêm tội lỗi,
tôi sẽ tự tử cho rồi. Nguyện tôi được tái sanh với một
thân thể xứng đáng để học đạo !”
Thầy
sắp tự tử thì Ngokpa can ngăn thầy. Và sư huynh khóc và nói,
“Đại Phù Thủy xứng đáng, chớ có làm vậy ! Theo những
giáo lý thâm mật nhất của đức Phật, những khả năng và
giác quan của mỗi người chúng ta đều vốn thiêng liêng.
Nếu chết trước kỳ hạn, ông sẽ phạm tội giết một thần
linh. Bởi thế mà tự tử như vậy là một đại tội. Ngay
cả trong truyền thống hiển giáo của Kinh điển, thì không
có tội lỗi nào lớn hơn việc đoạn dứt đời sống của
mình. Vì ông biết điều ấy, hãy bỏ đi ý tưởng tự sát.
Lama vẫn có thể ban giáo pháp cho ông. Nhưng nếu ngài không
cho, vị lama khác chắc chắn sẽ cho.”
Khi
ông đang nói, một số những nhà sư khác không cầm lòng trước
nỗi bất hạnh của thầy, vào chỗ lama xem đã can thiệp cho
thầy được chưa ; những người khác thì đến an ủi thầy.
Dù vậy, ngập đầy đau buồn, thầy nghĩ, “Trái tim ta có
phải bằng sắt đâu ? Nếu nó không phải như vậy, nó sẽ
bể ra và ta sẽ chết.”
Chính
bởi vì những tội lỗi đã phạm trong thời tuổi trẻ mà
thầy chịu đựng khổ đau khi tìm đạo. Lúc ấy, không có
ai không khóc. Vài người trong đại chúng chịu không nổi
và ngất đi.
Milarepa
nói như thế. Đây là chương thứ hai, nói về Mila được
tịnh hóa những nhiễm ô của tội lỗi và khổ đau trên cả
thân tâm.