PHẦN
HAI
Phần
hai gồm chín chương, chỉ ra như thế nào Milarepa đã đi trên
con đường của mình đến sự an lạc tối thượng của niết
bàn.
Chương
thứ nhất : Sự ghê tởm và hối hận làm cho ngài đi tìm
một lama thực sự toàn hảo.
Chương
thứ hai : Khi đã tìm được vị ấy và phục tùng kỷ
luật của vị ấy, ngài chịu đựng những thử thách khó
tưởng tượng đến độ ngài hoàn toàn tẩy sạch những dơ
bẩn của các ác hạnh và những nhiễm ô của tâm thức.
Chương
thứ ba : Rồi, có được tình thương mến của lama, ngài
nhận được từ lama giáo lý và những phương pháp dẫn đến
Giác Ngộ.
Chương
thứ tư : Thiền định trong sự có mặt trực tiếp của
lama, ngài kinh nghiệm bình minh của sự Thức Tỉnh.
Chương
thứ năm : Sau khi hoàn thành sự thực hành những giáo lý
ấy, ngài tìm kiếm những giáo huấn bí mật như đã được
chỉ bảo trong một giấc mộng. Rồi ngài từ giã lama.
Chương
thứ sáu : Gặp gỡ sự hiển nhiên mới về tính phù phiếm
hư vọng của thế gian, ngài phát nguyện hiến mình cho thiền
định.
Chương
thứ bảy : Để thực hiện những giáo huấn của lama,
ngài từ bỏ tất cả những bám luyến vào cuộc đời thế
gian và trọn vẹn hiến mình cho thiền định và sự khổ hạnh
kịch liệt trong hoang vắng núi non.
Chương
thứ tám : Do thiền định như thế, kinh nghiệm về Thức
Tỉnh đến chỗ viên mãn. Như một kết quả của sự thành
tựu, ngài đem lợi lạc đến cho giáo pháp và cho tất cả
chúng sanh.
Chương
thứ chín : Đã hoàn thành mọi hoạt động của một bậc
Giác Ngộ, ngài tiêu dung thân thể vào Không Gian Trùm Khắp
để làm khởi lên một thúc đẩy tâm linh trong tất cả chúng
sanh.
CHƯƠNG
MỘT
TÌM
CẦU PHÁP
Bấy
giờ Retchung hỏi, “Thưa lama, ngài nói đã làm những thiện
hạnh, và không có những việc làm nào xứng đáng hơn hiến
mình cho Pháp. Thưa Đạo sư, trước tiên thầy gặp giáo lý
như thế nào ?” Và Bậc Tôn Quý tiếp tục như thế này :
Thầy
ngập đầy hối hận cắn rứt vì cái ác thầy đã làm bằng
huyền thuật. Sự mong mỏi giáo pháp của thầy ám ảnh thầy
đến độ thầy quên cả ăn. Nếu thầy đi ra, thầy muốn
ở nhà. Nếu thầy ở nhà, thầy muốn đi ra. Ban đêm giấc
ngủ trốn đâu mất. Thầy không dám thổ lộ sự buồn rầu
và mong cầu giải thoát của thầy với vị lama. Khi thầy hầu
hạ vị lama, thầy tự hỏi không ngừng và tha thiết làm cách
nào thầy có thể thực hành chánh pháp.
Vào
thời gian đó, vị lama vẫn tiếp tục nhận những lương thực
và những thứ cần thiết từ một chủ đất giàu có. Ông
chủ đất này bị một bệnh rất nặng. Vị lama là người
đầu tiên được mời đến chữa bệnh, và ba ngày sau ông
trở về, im lặng và thiểu não. Thầy hỏi ông, “Thưa đạo
sư, tại sao thầy có khuôn mặt im lặng và buồn rầu ?”
Vị
lama trả lời, “Mọi sự đều vô thường. Hôm qua người
thí chủ rất tốt của ta đã chết. Bởi thế vòng sanh tử
làm lòng ta nặng trĩu. Nhưng trên hết là ta đã già rồi.
Và thế mà từ thời trai trẻ răng trắng tinh cho đến tuổi
già tóc bạc, ta đã chỉ làm hại nhiều chúng sanh bằng tà
chú, huyền thuật và mưa đá. Con cũng vậy, dù còn nhỏ, mà
đã tích tập những tội ác của huyền thuật và mưa đá.
Những tội lỗi đó cũng đổ lên đầu ta nữa.”
Thầy
hỏi, “Thầy không có cách nào giúp đỡ những nạn nhân
ấy đạt đến những cõi cao hơn và đạt được giải thoát
sao ?”
Vị
lama trả lời, “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ta
biết một cách lý thuyết làm sao để dẫn dắt họ đến
những cõi cao hơn và đến giải thoát, nhưng khi những duyên
khởi lên khảo hạch sự tu chứng thực sự của ta, ta chỉ
còn nhớ những chữ và ý niệm. Ta không tự tin vào khả năng
của ta có thể giúp đỡ được chúng sanh. Nhưng bây giờ
ta sắp đi thực hành Pháp để có thể gặp gỡ bất kỳ hoàn
cảnh nào sanh khởi. Hoặc là con ở đây hướng dẫn cho các
đệ tử của ta để ta chuyên cần vào việc thực hành đưa
đến những cõi cao hơn và giải thoát, hay con phải tự mình
thực hành Pháp và giúp đỡ chúng ta, tất cả đều thành
tựu những cõi cao hơn và giải thoát. Trong thời gian ấy ta
sẽ cung cấp cho con một lương thực con cần.”
Như
thế là ý nguyện của thầy đã được đáp ứng và thầy
trả lời rằng thầy muốn tự mình thực hành Pháp.
“Tốt
lắm, vậy thì bởi vì con còn trẻ, vì sự nhiệt thành và
niềm tin của con rất lớn lao, con hãy thực hành cái thanh
tịnh nhất của tất cả giáo pháp.”
Và
ông cho thầy một con trâu yak với vải len từ Yarlung.
Rồi
ông nói với thầy, “Trong làng Nar miền Tsangrong, có một
lama tên là Rongton Lhaga (Niềm Vui của chư Thiên). Hiểu biết
của ngài về Đại Toàn Thiện (Dzogchen) đã đưa ngài đến
mục đích. Hãy đi đến đó và có giáo lý ấy được giải
thích cho con và hãy tịnh hóa chính con.”
Theo
lời dạy của vị lama, thầy đến Nar miền Tsangrong và hỏi
thăm.
Người
vợ của lama và vài nhà sư ở đó nói với thầy, “Đây
là tu viện chính, nhưng Lama Rongton Lhaga không có ở đây lúc
này. Ngài đang ở tu viện con trên núi Nyang Thượng.”
“Tốt
lắm, thầy nói, tôi là một sứ giả do Lama Yungton Trošgyel
gởi đến. Hãy giúp tôi tìm ra lama của các ông.”
Thầy
kể cho họ tất cả câu chuyện của thầy. Vợ vị lama nhờ
một nhà sư dẫn thầy đến vị lama, và thầy gặp ngài ở
Rinang vùng Nyang Thượng. Thầy biếu ngài con trâu yak và vải
len.
Sau
khi đảnh lễ, thầy nói, “Người đến với ngài là một
kẻ đại tội lỗi. Xin ban cho con giáo pháp sẽ giải thoát
con khỏi vòng sanh tử luân hồi ngay trong đời này.”
Vị
lama trả lời, “Giáo Pháp Đại Toàn Thiện này,(1) dẫn người
ta toàn thiện ở gốc, toàn thiện ở ngọn và toàn thiện
nơi quả của sự thành tựu. Thiền định về nó ban ngày
bèn là Phật trong một ngày. Thiền định về nó ban đêm bèn
là Phật trong một đêm. Đối với người nào phước đức
với nghiệp tốt, họ chỉ may mắn nghe được nó, không thiền
định về nó, giáo pháp hoan hỷ này chắc chắn là phương
tiện của giải thoát cho họ. Đấy là tại sao ta muốn truyền
nó cho ngươi.”
Và
vị lama ban cho thầy sự nhập môn và giáo huấn.
Bấy
giờ thầy nghĩ, “Trong quá khứ, ta đã đạt được những
kết quả lớn lao về chú thuật trong mười bốn ngày. Bảy
ngày nữa là đủ thành tựu mưa đá. Nhưng đây là một pháp
môn đạt đến giác ngộ còn dễ hơn cả làm mưa đá hay huyền
thuật gây chết chóc. Nếu ta thiền định nó vào ban đêm
ta sẽ được tịnh hóa trong một đêm, nếu ta thiền định
nó vào ban ngày ta sẽ được tịnh hóa trong một ngày. Nhờ
sự gặp gỡ giáo pháp này, ta cũng đã trở thành một trong
những Bồ tát phước đức mà chỉ nghe giáo pháp là đủ
giải thoát, thậm chí không cần thiền định về nó.” Hoan
hỷ vì thắng lợi và suy nghĩ theo cách đó, không cần thiền
định, thầy dùng thì giờ để ngủ. Thế là thầy để đạo
Phật một bên và thân phận con người một bên, và sau vài
ngày, vị lama nói với thầy, “Ban đầu khi lễ ta, con nói
là con đến như một người đại tội lỗi. Điều đó hoàn
toàn đúng. Tự hào về giáo pháp của ta, ta đã nói cho con
quá sớm. Ta không thể dẫn dắt con đến giải thoát. Hãy
đến tu viện Drowo Lung (Thung Lũng Gỗ Bu Lô) trong tỉnh Lhobrak
miền nam. Ở đó có Marpa nổi tiếng, đệ tử trực tiếp
của Đại Đạo Sư Naropa Ấn Độ, vị thánh của dòng Mật
thừa tân phái và là vua của các nhà dịch giả, người không
ai sánh nổi trong ba cõi. Con và ngài đã có những mối liên
kết nghiệp trong quá khứ. Đó là tại sao con phải đi đến
ngài.”
Vừa
mới nghe tên Marpa Dịch Giả thầy đã tràn ngập một hạnh
phúc không thể diễn tả. Trong niềm vui, mỗi một sợi lông
tóc trên thân thể thầy đều rung động. Thầy nức nở với
sự tôn thờ nồng nhiệt. Khóa kín toàn bộ tâm thức thầy
trong chỉ một tư tưởng, thầy ra đi với lương thực và
một cuốn sách. Không xao lãng bằng tư tưởng nào khác, thầy
không ngừng tự hỏi, “Bao giờ ? Bao giờ tôi sẽ diện đối
diện với vị lama ?”
Đêm
trước khi thầy đến Drowo Lung, Marpa thấy Đại Đạo Sư Naropa
trong một giấc mộng. Đức Naropa ban phước cho ngài, đưa
cho ngài một chày kim cương năm ngạnh bằng đá da trời hơi
hoen ố. Cùng lúc Naropa đưa cho ngài một bình bằng vàng chứa
đầy cam lồ và nói với ngài, “Với nước trong bình này
hãy rửa sạch cái dơ bẩn của chày kim cương, rồi treo nó
lên đỉnh ngọn cờ chiến thắng.(2) Điều này sẽ làm hài
lòng chư Phật quá khứ và làm cho tất cả chúng sanh hạnh
phúc, như thế là làm tròn mục đích của con và của những
người khác.”
Rồi
Naropa biến mất. Theo những giáo huấn của Đạo sư mình,
Marpa rửa chày kim cương với nước trong bình, và treo nó lên
đỉnh ngọn cờ chiến thắng. Bấy giờ sự rực rỡ của
chày kim cương này làm ngời sáng toàn thể vũ trụ. Tức thì
chúng sanh trong sáu nẻo, ngạc nhiên vì ánh sáng chiếu tới,
được giải thoát khỏi đau buồn và ngập đầy hạnh phúc.
Họ sẽ lạy và quy hướng về Marpa Tôn Quý và ngọn cờ chiến
thắng của ngài, ngọn cờ này được chư Phật quá khứ thụ
phong.
Ngạc
nhiên về giấc mơ này, Marpa thức dậy. Ngài tràn đầy niềm
vui và thương yêu. Vào lúc đó, vợ ngài đến để dọn cho
ngài thức uống nóng buổi sáng và bà nói, “Ôi, Lama, hồi
hôm tôi có một giấc mơ. Hai người đàn bà nói là họ đến
từ Ugyen phía bắc, mang theo cái tháp đựng xá lợi bằng pha
lê. Tháp này có một số dơ bẩn trên mặt. Và hai người
đàn bà nói, “Naropa bảo lama cử hành lễ chú nguyện thụ
phong cho cái tháp và đặt nó trên đỉnh một ngọn núi.”
Rồi chính ông kêu lên, “Dù Đạo sư Naropa đã ban phước
thụ phong cho cái tháp này, ta phải vâng lời chỉ bảo của
ngài.” Và ông rửa cái tháp bằng nước tẩy tịnh trong cái
bình và thực hiện lễ thụ phong. Sau đó ông đặt nó lên
đỉnh núi, nó phát ra vô số tia sáng chói như mặt trời và
mặt trăng và phóng chiếu ra nhiều phiên bản của chính nó
trên những đỉnh núi. Và hai người đàn bà trông giữ cho
những cái tháp ấy. Đó là giấc mộng của tôi. Nó có nghĩa
gì ?”
Marpa
thầm nghĩ, “Hai giấc mơ này rất tương hợp”, và lòng
ngài tràn đầy niềm vui cực kỳ, nhưng với vợ ngài chỉ
nói, “Tôi không biết ý nghĩa bởi vì những giấc mơ ấy
không có nguồn gốc. Bây giờ tôi sắp đi cày miếng ruộng
gần đường. Hãy sửa soạn giùm.”
Vợ
ngài trả lời, “Nhưng đó là công việc của những người
làm nông. Nếu ông, một đại lama, mà làm việc ấy thì mọi
người sẽ cười chúng ta. Bởi thế, tôi xin ông đừng đi.”
Vị
lama chẳng chú ý đến bà. “Đem cho tôi nhiều bia”, ngài
nói. Và ngài lấy ra một vại đầy, nói thêm, “Tôi sẽ uống
bia này. Hãy đem thêm nữa cho một người khách.”
Ngài
cầm một vại đầy khác, và ra đi. Khi đến cánh đồng, ngài
chôn nó xuống đất và phủ nón lên. Rồi khi đang cày miếng
đất, ngài trông ra đường. Và uống phần bia, ngài chờ đợi.
Trong
thời gian đó thầy đang trên đường. Khởi hành từ phần
thấp xứ Lhobrak (Vách Đá Phía Nam), thầy bắt đầu hỏi mọi
người qua đường Marpa Đại Dịch Giả sống ở đâu. Nhưng
không có ai biết ngài. Khi thầy đến khoảng đèo từ đó
người ta có thể thấy tu viện Drowo Lung, thầy đặt cùng
câu hỏi với một người đang đi qua.
Ông
trả lời, “Chắc chắn có một người tên là Marpa. Nhưng
không có ai là Marpa Đại Dịch Giả.”
Thế
thì Drowo Lung ở đâu ?”
Ông
chỉ nó và tôi hỏi lại, “Ai sống trong Drowo Lung ?”
“Người
tên Marpa sống ở đó.”
“Và
ông ta có tên gì khác không ?”
Có
người gọi ông là Lama Marpa.”
“Vậy
thì đó đúng là chỗ vị lama ấy sống. Và cái đèo này gọi
là gì ?”
“Nó
có tên là Chola Gang (Sống Đất của Đạo).”
Thầy
tiếp tục con đường, và vẫn hỏi tiếp. Có nhiều người
chăn cừu và thầy hỏi họ. Người già nhất trả lời họ
không biết. Trong bọn họ có một đứa nhỏ vẻ mặt đáng
yêu, tóc chải dầu, quần áo tươm tất, nói rằng, “Chắc
anh muốn nói đến cha tôi ? Nếu thế thì cha tôi dùng tất
cả tài sản để mua vàng và đi Ấn Độ. Ông đem về nhiều
sách trang hoàng với đá quý. Thường thường ông không làm
việc, nhưng hôm nay ông đang cày trên đồng.”
Thầy
thầm nghĩ, “Đứa bé này nói có vẻ như là vị lama, nhưng
một đại lama đi cày ruộng ư ?” Và thầy tiếp tục con
đường.
Ở
bên đường, một nhà sư cao lớn, mập mạp, với đôi mắt
lớn và trông có vẻ uy nghiêm, đang cày ruộng. Vừa mới thấy
ông, thầy tràn đầy niềm vui không thể thốt nên lời và
an lạc không thể tưởng. Sửng sốt một chốc lát vì sự
nhìn thấy này, thầy như bất động. Rồi thầy nói, “Thưa
Đạo sư, con có nghe rằng Marpa Dịch Giả, đệ tử nối pháp
của Naropa vinh quang, ở trong vùng này. Nhà vị ấy ở đâu
?” Ông nhìn thầy từ đầu đến chân một hồi lâu. Rồi
ông nói, “Ngươi là ai ?”
Thầy
trả lời, “Con là một người đại tội lỗi và con đến
từ Tsang Thượng. Nghe đại danh của Marpa, con đến cầu xin
giáo pháp của ngài.”
“Tốt
lắm, ta sẽ sắp xếp cho anh gặp Marpa. Trong khi đó, hãy cày
ruộng đi.”
Ông
lấy vại bia từ dưới đất có phủ nón và đưa cho thầy.
Bia này tươi mát và rất ngon.
“Làm
mạnh mẽ lên”, ông nói thêm rồi bỏ đi.
Uống
xong phần bia còn lại, thầy làm việc hăng hái. Sau một lúc
đứa trẻ hồi nãy đã chỉ dẫn cho thầy đến tìm thầy.
Thầy
rất vui mừng khi nó nói, “Anh hãy về nhà và hầu hạ lama.”
Vì
nó nôn nóng giới thiệu thầy với lama, thầy nói, “Anh còn
làm cho xong công việc này đã.” Rồi thầy cày hết phần
còn lại. Vì miếng ruộng ấy là cơ hội cho sự gặp gỡ
của thầy với lama, thầy gọi nó là Tušhngken (Thửa Ruộng
Cơ Hội). Vào mùa hè con đường mòn chạy dọc bờ ruộng,
nhưng về mùa đông nó đi xuyên qua.
Thầy
theo cậu bé về nhà. Cũng nhà sư hồi nãy thầy đã gặp đang
ngồi trên hai tấm đệm phủ thảm với một cái gối sau lưng.
Ngài đã lau mặt nhưng lông mày, mũi, và râu còn dính bụi
và ngài đang dùng bữa ăn.
Thầy
nghĩ, “Đây là nhà sư hồi nãy. Vậy thì vị lama ở đâu
?” Bấy giờ nhà sư nói, “Hẳn nhiên là con không biết ta.
Ta là Marpa. Hãy lạy đi !”
Thầy
vội đảnh lễ dưới chân ngài. “Lama Rinpoche,(3) con là một
kẻ đại tội lỗi từ miền tây Tây Tạng. Con dâng cúng ngài
thân, khẩu, tâm của con. Xin thầy ban cho con thực phẩm, quần
áo và giáo pháp. Xin thầy dạy cho con con đường đưa đến
Giác Ngộ trong hiện đời này.”
Lama
trả lời, “Ta không muốn nghe ba cái chuyện mê sảng của
ngươi về việc ngươi là một kẻ đại tội lỗi. Ta chưa
hề khiến ngươi phạm vào một tội lỗi nào. Vậy thì ngươi
đã phạm tội gì ?”
Bây
giờ thầy phát lồ đầy đủ những tội ác của thầy trong
đời. Lama nói với thầy, “Thế đấy, ngươi đã làm tất
cả các thứ đó. Dù sao, ngươi dâng cúng thân, khẩu, tâm
của ngươi là tốt. Nhưng ta sẽ không cho ngươi thức ăn,
quần áo và cả giáo pháp. Ta sẽ cho ngươi thức ăn, quần
áo nhưng giáo pháp thì ngươi phải cầu ở nơi khác. Hay, nếu
ta cho ngươi giáo pháp, thì hãy tìm ở chỗ khác thực phẩm
và áo quần. Hãy chọn giữa hai cái đó. Nhưng nếu ngươi
chọn Pháp, thì việc ngươi có đạt đến Giác Ngộ trong đời
này hay không, tất cả sẽ chỉ tùy thuộc vào nỗ lực riêng
của ngươi.”
Thầy
trả lời, “Bạch Thầy, con đến với thầy là vì Pháp, cho
nên con sẽ kiếm thức ăn và quần áo ở nơi khác.”
Khi
thầy đặt cuốn sách trong phòng thờ của ngài, ngài nói,
“Hãy đem cuốn sách bẩn thỉu đó đi ; nó làm ô uế những
đồ thờ cúng và bàn thờ của ta.”
Thầy
nghĩ, “Ngài làm như vậy vì cuốn sách của mình có nhuốm
mùi hắc thuật.”
Cẩn
thận, thầy đem nó đi. Thầy ở lại với Marpa thêm vài ngày
nữa. Vợ ngài lama cho thầy những bữa ăn ngon.
Milarepa
nói như thế. Đó là cách ngài gặp Đạo sư của mình. Đây
là chương thứ nhất diễn tả những thiện hạnh của ngài.