CHƯƠNG
BA
ÁC
HẠNH
Bấy
giờ Retchung nói, “Bạch Đạo sư, Ngài nói với chúng con
rằng trước hết Ngài đã làm những hành vi xấu ác. Con xin
hỏi, Thầy đã phạm vào chúng như thế nào ?”
“Thầy
đã tích tập tội lỗi bằng cách đọc chú và gây ra những
trận mưa đá.”
“Bạch
Đạo sư, những trường hợp nào đã đưa Thầy đến việc
đọc chú và gây ra mưa đá ?”
Rồi
Đạo sư tiếp tục :
Khi
học ở Mithogekha, một hôm thầy đi cùng thầy dạy đến dự
tiệc cưới ở một thung lũng thấp vùng Tsa. Uống nhiều bia,
không chỉ phần thầy rót cho ông mà mọi người khác đều
rót cho ông, thầy dạy của thầy bị say. Ông bảo thầy về
trước với những quà tặng ông đã nhận được. Thầy cũng
say. Nghe những người hát, thầy cũng muốn hát và có một
giọng tốt, thầy hát ca suốt dọc đường. Con đường đi
ngang qua nhà thầy và thầy vẫn hát khi đi qua ngoài cửa. Trong
nhà mẹ thầy đang nướng bánh và nghe tiếng thầy. “Cái
gì thế ?” Bà tự nói với mình, “Giọng này nghe như tiếng
con ta. Nhưng làm sao nó có thể vui vẻ đến thế khi chúng
ta quá bi đát như vầy ?” Và không tin vào tai mình, bà nhìn
ra ngoài. Vừa nhận ra thầy, bà kêu lên ngạc nhiên. Tay phải
bà buông cái kẹp xuống ; tay trái buông cái đánh bột xuống
; và để mặc bột cháy, bà cầm một cây gậy và tay kia bốc
một nắm tro. Bà chạy xuống cầu thang bằng những bước
dài ra ngoài, và ném tro vào mặt thầy, quất vài gậy trên
đầu thầy và la lớn, “Bố Mila Ngọn Cờ Trí Huệ ơi ! Ông
đã quên đứa con trai này của ông chưa ? Nó chẳng xứng đáng
gì với ông. Hãy nhìn số phận của mẹ con chúng tôi !”
Rồi bà ngã xỉu.
Vào
lúc đó đứa em thầy chạy đến và nói, “Anh ơi, anh đang
làm gì thế ? Điều gì xảy ra cho mẹ ?” Và tiếng khóc của
nó làm thầy sực tỉnh. Rồi thầy cũng rơi nhiều nước mắt.
Anh em thầy xoa tay bà và kêu tên bà. Sau một chốc bà tỉnh
lại và đứng dậy. Rồi nhìn chăm chú vào thầy bằng cặp
mắt đầm đìa nước mắt, bà nói, “Từ khi chúng ta là những
người bất hạnh nhất trên trái đất, có còn gì đáng để
hát ca ? Khi mẹ nghĩ đến chuyện đó, người mẹ già nua của
con tan tành trong tuyệt vọng và chỉ biết than khóc mà thôi.”
Khi ấy ba mẹ con thầy bắt đầu khóc lớn. Thầy nói với
bà, “Mẹ ơi, mẹ nói đúng. Chớ đau buồn quá lắm. Con sẽ
làm bất cứ điều gì mẹ muốn.”
“Mẹ
muốn con mặc chiếc áo choàng người lớn, cỡi trên một
con ngựa, để cho bàn đạp ngựa xé toạc cổ những kẻ thù
đáng ghét của chúng ta. Nhưng điều đó không thể được
đâu. Nhưng con có thể làm hại chúng bằng những cách âm
thầm. Mẹ muốn rằng, con đi học huyền thuật cùng với loại
chú thuật hủy diệt, trước hết con hủy diệt chú thím kia,
rồi những người làng và những hàng xóm đã đối xử độc
ác với chúng ta. Mẹ muốn con nguyền rủa chúng và con cháu
chúng cho tới đời thứ chín. Bây giờ, hãy xem con có thể
làm điều đó không.”
Thầy
trả lời, “Mẹ ơi, con sẽ cố gắng. Mẹ hãy sửa soạn
lương thực và một món quà cho thầy lama.”
Để
cho thầy học huyền thuật, mẹ thầy bán nửa miếng ruộng
Thảm Lông Thú Nhỏ. Với tiền ấy bà mua một viên ngọc bích
có tên là Sao Lớn Lấp Lánh, một con ngựa trắng được yêu
chuộng trong vùng có tên là Senge Submay (Sư Tử Không Cương),
hai kiện thuốc nhuộm và hai lố đường thô. Như vậy bà
hoàn thành sự chuẩn bị cho chuyến đi của thầy.
Trước
hết thầy đến Gungthang ở vài ngày trong một nhà trọ tên
là Lhundup. Có năm thành viên dễ mến đến, nói rằng họ
từ Ngari Došl và sắp đi đến vùng UŠ và Tsang để học tôn
giáo và huyền thuật. Thầy đề nghị họ cho thầy đi theo
vì thầy cũng muốn học huyền thuật. Họ chấp thuận. Thầy
đưa họ về nhà mẹ thầy ở Gungthang và đối xử với họ
như khách trong vài ngày.
Mẹ
thầy âm thầm dặn với họ rằng, “Đứa con này của bác
ý chí không mạnh mẽ, các cậu là những người đồng hành
của nó, hãy khuyến khích và thúc dục nó trở thành thông
thạo trong huyền thuật. Khi đó bác sẽ đền đáp thân tình
và rộng rãi, chứ không quên ơn các cậu đâu.” Rồi chất
hai bao thuốc nhuộm lên ngựa và đeo ngọc bích vào người
thầy, bọn thầy lên đường.
Khi
những người bạn đồng hành của thầy đang uống ly rượu
tiễn biệt, mẹ thầy lại dặn dò thêm. Khó lìa bỏ thầy,
đứa con trai độc nhất của bà, bà nắm chặt tay thầy và
kéo riêng thầy ra. Mặt đầm đìa nước mắt và giọng nức
nở, bà nói với thầy, “Trên tất cả mọi sự, hãy ghi tâm
khắc cốt sự bất hạnh của mẹ con mình và hãy để cho
những dấu hiệu huyền thuật của con biểu lộ ra trong làng
chúng ta. Rồi hãy trở về. Pháp thuật của những anh kia không
giống chúng ta đâu. Pháp thuật của họ là của những đứa
con nít được nuông chiều, họ muốn có nó chỉ vì thích
thú. Pháp thuật của chúng ta là của người đã chịu thảm
kịch. Bởi thế một ý chí không chịu thua là cần thiết.
Nếu con trở về mà không thi triển được những dấu hiệu
pháp thuật của con trên làng này thì bà mẹ già của con sẽ
tự tử ngay trước mặt con.”
Thầy
hứa điều này và thầy ra đi. Thầy làm mẹ vững lòng bằng
tình thương với mẹ. Thầy cứ nhìn trở lại hoài, và rơi
nhiều nước mắt. Và mẹ của thầy, người thương thầy
đứt ruột, cứ trông theo bọn thầy bằng đôi mắt đầy
nước mắt cho đến khi bọn thầy khuất dạng. Thầy tự hỏi
có nên trở lại với mẹ thầy trong chốc lát. Thầy có cảm
giác rằng thầy sẽ không bao giờ gặp lại bà. Cuối cùng
khi hai bên không thấy nhau nữa, bà trở về làng, khóc sướt
mướt.
Vài
ngày sau, có tin đồn con trai bà Bạch Ngọc đã ra đi để
học huyền thuật.
Theo
con đường đến UŠ và Tsang, bọn thầy đến Yakde trong thung
lũng Tsangrong. Tại đó thầy bán con ngựa và thuốc nhuộm
cho một người rất giàu để lấy vàng cất trong người.
Sau
khi qua sông Tsang Po, bọn thầy hướng đến UŠ. Trong một nơi
tên là Tušhnlok Rakha (Chỗ nhốt cừu của Tušhn) bọn thầy
gặp nhiều vị sư. Thầy hỏi họ có biết một vị thầy
ở vùng UŠ thông thạo huyền thuật, bùa chú và mưa đá. Một
nhà sư trả lời, “Ở Kyorpo, trong vùng Yarlung, có một lama
tên là Yungton Trošgyel (Người Chinh Phục Làm Khiếp Sợ) họ
Nyag. Ông có thần lực lớn lao về bùa, chú và pháp thuật.”
Nhà sư này là đệ tử của ông. Thế là bọn thầy đi tìm
Lama Yungton và đến Kyorpo vùng Yarlung.
Khi
bọn thầy trình diện với lama, những bạn đồng hành với
thầy chỉ dâng cúng những quà tặng tầm thường, còn thầy
thì dâng cúng đủ thứ, vàng và ngọc bích. Và thầy nói,
“Con còn dâng cúng thầy thân, ngữ, tâm của con nữa. Họ
hàng, hàng xóm và một số người trong làng con không thể
chịu nổi hạnh phúc của những người khác. Xin hãy thương
xót và ban cho con loại huyền thuật mạnh mẽ nhất có thể
trút lên làng con. Trong khi học, xin thầy thương mà cho con
thức ăn và đồ mặc.” Vị lama mỉm cười và trả lời,
“Ta sẽ nghĩ đến những điều con nói với ta.” Nhưng ông
không dạy bọn thầy những bí mật thực sự của huyền thuật.
Khoảng
một năm trôi qua, và tất cả những gì ông cho bọn thầy
chỉ là một vài bùa chú để làm trời đất xung khắc và
một hiểu biết hời hợt về những bùa chú và thực hành
cụ thể. Những bạn đồng hành của thầy sửa soạn ra đi.
Vị lama cho mỗi người một bộ quần áo vải mịn may khéo
của Lhasa. Nhưng thầy không thỏa mãn. Những thực hành này
không đủ sức làm phát sinh một hiệu quả nào đối với
làng thầy. Nghĩ rằng mẹ mình sẽ tự tử nếu thầy về
mà không có những chú thuật có hiệu quả, thầy không chịu
đi. Thấy thầy không sửa soạn về nhà, những người bạn
đồng hành hỏi thầy, “Tin Lành, anh không đi về sao ?”
Thầy trả lời, “Tôi chưa học đủ huyền thuật.” Họ
đáp lại, “Những chú thuật này quyền năng cao tột nếu
chúng ta cố gắng thành thạo chúng. Chính ngài lama nói rằng
ngài không có cái nào khác nữa. Chúng tôi không còn nghi ngờ
gì về điều ấy. Bạn cứ chờ đi xem thử ngài lama có cho
bạn thêm cái gì nữa không !” Sau khi cám ơn vị lama và làm
lễ từ giã, họ bỏ đi. Thầy cũng mặc cái áo vị lama cho
và theo họ một nửa ngày. Sau đó bọn thầy chúc nhau sức
khỏe, họ đi về quê hương.
Trên
đường trở lại vị lama, thầy chất đầy phần trước áo
với phân ngựa và lừa, phân bò và phân chó cho miếng ruộng
của vị lama. Đào một cái hố trong miếng ruộng tốt của
vị lama, thầy chôn số phân ấy vào đó. Vị lama đứng trên
sân thượng thấy thầy làm như vậy, nói với vài đệ tử
của ông, “Trong nhiều đệ tử đã đến với ta, không có
ai đáng yêu hơn Tin Lành, và cũng sẽ không có ai giống như
nó. Bằng chứng là sáng nay nó không nói lời từ giã với
ta và bây giờ nó trở lại. Khi nó đến đây lần đầu, nó
nói với ta rằng bà con, hàng xóm và người trong làng nó không
thể chịu nổi hạnh phúc của những người khác. Nó cầu
xin ta cho học huyền thuật và dâng cúng thân, ngữ, tâm của
nó cho ta. Thật là kiên trì ! Nếu câu chuyện nó kể là thật,
thì quả là một điều đáng tiếc nếu không cho nó những
bí mật của huyền thuật.”
Một
trong những vị sư lập lại những lời này cho thầy. Thầy
vui vẻ nghĩ thầm, “Rốt rồi cũng ổn thỏa, mình sẽ được
những bí mật của huyền thuật.” Và thầy đến vị lama.
Ngài nói với thầy, “Tin Lành, tại sao không về nhà ?”
Rồi thầy trao lại bộ áo quần vị lama đã cho thầy. Thầy
đặt đầu mình dưới chân ngài và nói, “Lama quý báu, chúng
con có ba người, mẹ con, em con và con. Chú và thím của con,
một vài người hàng xóm và một số người làng đã trở
thành là kẻ thù của gia đình con. Qua sự bạc đãi chúng
con không đáng để có, họ dồn chúng con vào thảm cảnh.
Con không có sức mạnh để tự bảo vệ mình. Bởi thế tại
sao mẹ của con gởi con đi học huyền thuật. Nếu con trở
về nhà mà không có một dấu hiệu nào xuất xứ từ những
nỗ lực của con, mẹ con sẽ tự tử trước mắt con. Chính
là để bà khỏi tự hủy hoại mà con đã không bỏ đi. Đó
là lý do tại sao con cầu xin thầy những bí mật của huyền
thuật.”
Nói
xong, thầy khóc. Vị lama hỏi, “Những người làng hại bọn
con như thế nào ?” Nức nở, thầy kể cha thầy, Mila Ngọn
Cờ Trí Huệ đã chết như thế nào, và sau cái chết của
ông, chú và thím đã làm ba mẹ con thầy tan nát trong thảm
cảnh như thế nào. Rồi nước mắt rơi từng giọt, vị lama
nói, “Nếu điều con nói là đúng, đây là một hoàn cảnh
thương tâm. Huyền thuật mà ta thực hành sẽ có tác dụng.
Nhưng chúng ta không phải hấp tấp. Để có được huyền
thuật ấy, ta đã dâng cúng những của cải vàng và ngọc
bích từ Ngari Korsum phía tây ; số lượng lớn trà, lụa, áo
quần từ ba vùng núi xứ Kham phía đông ; hàng trăm và hàng
ngàn ngựa, trâu yak và cừu từ Jyayal, Dakpo và Kongpo phía nam.
Nhưng chỉ có con là dâng cúng cho ta thân, ngữ, tâm của mình.
Ta sẽ kiểm chứng điều con đã nói ngay bây giờ.”
Sống
với vị lama lúc ấy là một nhà sư nhanh như ngựa và khỏe
như voi. Vị lama gởi ông đến làng tôi để kiểm chứng câu
chuyện của tôi. Nhà sư nhanh chóng trở về và nói, “Lama
quý báu, Tin Lành đã nói sự thật. Anh ta cần được dạy
cho huyền thuật.”
Vị
lama nói với thầy, “Nếu ta đã dạy liền cho con những huyền
thuật như vậy, ta sợ rằng con với tính bướng bỉnh của
mình sẽ làm ta hối tiếc. Nhưng bây giờ, vì con đã thành
thật, con phải đi đến một vị thầy khác để học thêm.
Ta có một chú thuật từ sự thờ cúng Dza Mặt Màu Hạt Dẻ(1)
mà thần chú Hum(2) của ngài gây nên cái chết trong khi thần
chú Paht(3) gây nên bất tỉnh.
“Trong
vùng Nub Khulung ở Tsangrong có một lama tên là Yošnten Gyatso
(Biển Đức Hạnh) họ Khulung, ông vừa là một đại y sĩ
vừa là một nhà đại huyền thuật. Ta đã cho ông chú thuật
bí mật của ta. Và để đổi lại ông dạy ta làm thế nào
để gọi mưa đá rơi xuống bằng đầu một ngón tay. Sau khi
chỉ ta điều đó, chúng ta trở thành bạn thân và người
hợp tác. Bây giờ, người nào đến ta để học huyền thuật,
ta phải gởi đến cho ông. Người nào đến ông để học
gây ra mưa đá, ông phải gởi đến cho ta. Hãy đi với con
của ta và kiếm ông ấy.”
Con
trai trưởng của vị lama là Darma Ouangchuk (Tuổi Trẻ Thần
Lực). Ngoài lương thực, vị lama cho bọn thầy một vóc vải
mịn và vải len từ Lhasa, một vài quà tặng nhỏ và một
lá thư. Đến Nub Khulung, bọn thầy gặp vị lama trẻ. Mỗi
người dâng cúng vị ấy những quà tặng đã mang theo và lá
thơ từ vị lama. Thầy cẩn thận kể cho ông nghe mọi biến
cố của câu chuyện và khẩn khoản xin ông dạy cho thầy huyền
thuật. Vị lama trả lời, “Bạn tôi là một người bạn
trung thành và lời nói chân thật. Ta sẽ dạy cho con mọi loại
huyền thuật. Để làm việc này hãy dựng một cái cốc bên
gờ núi này, con sẽ không có ai hẻo lánh đến.”
Bọn
thầy xây một cái cốc trên nền đất, làm bằng những xà
chắc đặt cạnh nhau. Bọn thầy bao quanh nó bằng một hàng
rào bằng đá to như con trâu yak, không có lối mở ra để
không có ai có thể nhìn vào cốc hay có cách tấn công nó.
Rồi vị lama cho bọn thầy chú thuật.
Sau
khi thầy luyện chú thuật trong bảy ngày, vị lama đến và
bảo, “Thường thì bảy ngày là đủ, trường hợp này như
vậy là đủ rồi.” Thầy trả lời, “Vì huyền thuật của
con phải tác động trong một khoảng cách xa, con xin thầy cho
tiếp tục thêm bảy ngày nữa.” Vị lama trả lời, “Tốt
lắm, tiếp tục đi.”
Vào
chiều ngày thứ mười bốn, vị lama trở lại và nói, “Đêm
nay sẽ có một dấu hiệu quanh mạn đà la báo hiệu huyền
thuật xảy ra.” Và cũng đêm đó những thần hiện ra, mang
cho thầy cái mà thầy yêu cầu : Những đầu lâu và trái tim
đẫm máu của ba mươi lăm người. Họ nói, “Trong mấy ngày
nay ngươi đã không ngừng kêu gọi chúng ta. Đây là cái mà
ngươi muốn.” Và họ chất những cái đầu quanh mạn đà
la. Sáng hôm sau vị lama trở lại và nói, “Trong những người
phải hủy diệt, có hai người còn sót. Họ có cần hủy diệt
hay tha ?” Đầy vui mừng thầy nói, “Con xin thầy để cho
họ sống để họ biết được sự trả thù và luật pháp
của con.”
Như
thế còn chú và thím không bị hại.
Bọn
thầy dâng cúng các thần một lễ tạ ơn và bọn thầy bỏ
khỏi cốc. Ngày nay cái cốc của bọn thầy vẫn còn ở Khulung.
Khi
ấy thầy lấy làm lạ bùa chú đã ứng nghiệm như thế nào
nơi làng Kya-Nyatsa của thầy.
Có
một buổi tiệc cưới của con trai trưởng của ông chú của
thầy. Những đứa con trai và con dâu của chú đến trước
tiên cùng với những người ghét mẹ con chú, tất cả là
ba mươi lăm người.
Những
khách mời khác thân với gia đình thầy đang vừa đi vừa
nói chuyện trên đường, “Khi ông chủ giả trở thành ông
chủ, thì ông chủ thật bị quẳng cho chó, đúng như tục
ngữ nói và như những người ác tâm này chứng tỏ. Nếu
huyền thuật của Tin Lành không hiệu nghiệm đối với họ,
thì thần lực của các thần hộ pháp cũng phải được cảm
nghiệm thôi.” Họ cùng nhau đi về phía ngôi nhà.
Chú
và thím đã đi ra ngoài để thảo luận sắp xếp bữa ăn
và những lời sắp nói với khách. Vào lúc ấy một người
từng là tớ gái của gia đình thầy hiện đang ở với chú
thím đi ra xách nước. Chị ta không thấy con ngựa nào cả
trong chuồng mà lại thấy đủ thứ bò cạp, nhện, rắn, cóc...
Chị thấy một con bò cạp to bằng con trâu yak đang dùng càng
kẹp những cột nhà giật sập xuống. Thấy thế chị khủng
khiếp bỏ chạy, khó khăn lắm mới ra khỏi sân. Những con
ngựa chồm lên những con lừa và lừa đá lại ngựa, chúng
tông loạn xạ vào những cây cột nhà rồi nhà sập. Dưới
đóng gạch ngói đổ nát, những người con trai, con dâu của
ông chú và những người khách mời khác, tất cả ba mươi
lăm người, đã chết. Trong nhà đầy cả xác người chôn
lấp trong bụi khói.
Nghe
tiếng kêu khóc của mọi người, Peta em thầy, chạy nhanh đến
mẹ, “Mẹ ! Mẹ ! Nhà ông chú sập rồi và nhiều người
chết. Đến mà coi.”
Mẹ
thầy kêu lên vui sướng, đứng dậy chạy ra xem. Bà thấy
ngôi nhà của chú tôi chỉ còn là một đám mây bụi và nghe
tiếng la hét của dân làng. Bà ngạc nhiên sung sướng, cột
một mảnh vải vào một cây gậy dài, hươi lên trong không
khí và kêu lớn, “Vinh quang cho các ngài, các thần, các lama
và Tam Bảo ! Hỡi dân làng và hàng xóm, có phải Mila Ngọn
Cờ Trí Huệ có một đứa con trai không ? Ta, Bạch Ngọc, ăn
mặc rách rưới và tồi tệ, các người có thấy là để
nuôi con ta như thế nào không ? Xưa kia, chú thím đã nói với
mẹ con ta, “Mấy đứa bây, nếu có nhiều người thì hãy
đánh nhau với chúng ta ; còn nếu ít, hãy ném ra chú thuật.”
Chúng ta ít người mà chiến thắng nhờ huyền thuật thì vẫn
hơn chúng ta đông người mà thắng trong đánh nhau. Hãy nghĩ
đến những người nằm trên sàn nhà, hãy nghĩ đến những
kho tàng chôn vùi dưới đó và gia súc trong chuồng. Ta đã
sống đủ để thấy và say sưa trước cảnh tượng này do
con trai ta đem lại. Hãy tưởng tượng hạnh phúc của ta như
thế nào từ nay trở đi !”
Mọi
người trong nhà họ đều nghe tiếng la báo thù của mẹ thầy.
Một số người trong bọn họ nói, “Bà ta có lý.” Những
người khác lại nói, “Bà ta có thể có lý, nhưng sự trả
thù của bà quá độc ác.”
Nghe
được những người ấy bị giết bằng thần lực nào, những
người có thân nhân bị chết họp nhau lại và nói, “Không
chỉ thỏa mãn khi gây ra thảm họa này, bây giờ bà ta còn
vui sướng với nó. Thế là quá lắm rồi. Hãy hành hình bà
ta và moi tim bà ta ra.” Những người già cả thì nói, “Giết
bà có ích gì ? Cái điều xảy ra cho chúng ta là việc làm
của thằng con bà. Các ngươi phải trước hết tìm ra thằng
con bà và giết nó. Sau đó sẽ dễ dàng hơn để giết bà
mẹ.” Nói thế, họ đi đến một đồng ý với nhau.
Ông
chú khi nghe nhận xét này nói rằng, “Giờ đây những đứa
con trai và con dâu của tôi đã chết, tôi cũng chẳng còn sợ
chết nữa.” Và ông ta chạy đi tìm giết mẹ thầy. Nhưng
dân làng giữ ông lại, nói rằng, “Chính vì ông đã không
giữ gìn lời nói mà thảm họa này đổ lên đầu chúng tôi.
Nếu ông giết bà mẹ trước khi giết đứa con, chúng tôi
sẽ chống lại ông.” Họ không cho chú thầy cơ hội để
hành động. Rồi người làng bàn tính âm mưu giết thầy.
Cậu
thầy đến mẹ thầy và nói, “Sau những lời nói và hành
động của em ngày hôm qua, những người làng sẵn sàng giết
em và con trai của em. Tại sao em lại la lớn việc báo thù
của em vậy ? Chú thuật tác hại như thế chưa đủ sao ?”
Và ông khiển trách bà nặng nề. Mẹ thầy trả lời, “Bất
hạnh không trút lên anh. Em hiểu anh muốn nói gì, nhưng cái
cách họ ăn cướp tài sản của gia đình em thì khó mà giữ
im lặng được.” Và không nói thêm gì nữa, bà khóc. Anh
bà nói tiếp, “Đúng vậy. Em có lý. Nhưng những kẻ sát
nhân có thể tới, hãy khóa cửa lại, ở trong nhà.” Nói
xong, ông bỏ đi. Và mẹ thầy, khóa cửa ở trong nhà, bắt
đầu trù tính phải làm gì.
Trong
khi đó, người tớ gái của chú thầy, trước kia giúp việc
trong gia đình thầy, nghe họ bàn tính với nhau. Vì sự quyến
luyến với gia đình thầy, chị không nỡ để cho việc ấy
xảy ra và bí mật nói với mẹ thầy cuộc họp của người
làng đã quyết định như thế nào, khuyên bà hãy chăm lo cho
mạng sống của con bà. Mẹ thầy thầm nghĩ, “Quyết định
này làm u ám niềm vui của ta vào lúc này.” Bà bán nửa miếng
đất Thảm Lông Thú Nhỏ còn lại, được bảy lượng vàng.
Vì không có người lân cận nào bà có thể nhờ đem đến
cho thầy, và không có người đưa thư từ nơi khác đến,
mẹ thầy nghĩ bà sẽ tự mình ra đi để mang cho thầy đồ
dự trữ và khuyên bảo thầy.
Lúc
đó có một thiền giả từ tỉnh UŠ trở về từ một cuộc
hành hương Nepal, đến trước cửa nhà để khất thực, và
mẹ thầy hỏi về ông. Thấy ông có thể làm một người
đưa tin, bà nói với ông, “Hãy ở đây vài ngày, tôi có
một đứa con trai đang ở UŠ và Tsang và tôi cần gởi cho
nó vài tin tức. Xin hãy rộng lượng đem đến cho nó.”
Trong
mấy ngày đó, mẹ thầy tiếp đãi vị ấy trọng hậu. Rồi
thắp lên một ngọn đèn bơ, bà cầu nguyện, “Nếu ý muốn
của con được chấp nhận, nguyện lama của con tôi và những
vị thần che chở khiến cho ngọn đèn cháy lâu không tắt.
Nếu không được chấp nhận, nó sẽ chóng tắt.” Ngọn đèn
cháy suốt một ngày một đêm. Mẹ thầy tin rằng ước nguyện
của bà sẽ được đáp ứng, nói với vị hành hương, “Thưa
thiền giả, để du hành khắp nước, áo quần và giày là
rất quan trọng.” Và bà biếu ông da và chỉ để vá lại
những đôi giày. Tự bà vá lại áo choàng đã sờn rách của
ông. Âm thầm, bà may bảy lượng vàng vào trong áo choàng,
trên đó may một miếng vải đen. Bà thêu trên miếng vải
đó những ngôi sao tượng trưng chòm sao Thất Tinh bằng chỉ
trắng thô để cho bên ngoài không thể thấy. Rồi bà biếu
tặng ông đầy đủ, gởi gắm cho ông lá thư niêm kín bằng
chữ bí mật và để ông ra đi.
Sau
đó mẹ thầy nghĩ, “Vì ta không biết những hàng xóm định
làm gì, ta phải có dáng vẻ đe dọa.” Bà nói với Peta, “Con
hãy nói với mọi người là vị thiền giả đó đã mang một
lá thư của anh con đến.”
Đây
là lá thư mà mẹ thầy viết như thể nó là của thầy :
“Chắc
chắn mẹ và em con đều mạnh khỏe và đã thấy những dấu
hiệu huyền thuật đã xảy ra. Nếu còn những người xóm
giềng nào còn thù hận mẹ, hãy gởi cho con tên của họ và
tên của gia đình họ. Bằng chú thuật, con dễ dàng giết
họ như ném một nắm muối gạo vào khoảng không. Như thế
con sẽ hủy diệt họ cho đến thế hệ thứ chín. Mẹ và
em thân mến, nếu người làng còn xung đột với mẹ và em,
hãy đến đây với con. Con sẽ hủy hoại mọi dấu vết trong
cái làng này. Dù con đang ở trong thất, con dư dả và có đồ
dự trữ dư dùng. Chớ có lo cho con.”
Viết
xong, mẹ thầy xếp lá thư. Bà đưa nó trước tiên cho anh
bà và bạn bè của ông, ông đưa nó cho mọi người xem. Kết
quả là họ đều thay đổi thái độ và bỏ ý định giết
ba mẹ con thầy. Họ trả lại miếng ruộng Tam Giác Phì Nhiêu
từ ông chú thầy về cho mẹ thầy.
***
Khi
ấy vị thiền giả đi tìm kiếm thầy. Biết rằng thầy đang
ở Nub Khulung, ông kiếm ra thầy. Ông đưa cho thầy lá thư
và đứng qua một bên để đọc.
“Mẹ
mong rằng Tin Lành con được khỏe mạnh. Ước mong của bà
mẹ già của con muốn có một đứa con trai thật sự đã được
thành và dòng dõi cha con, Mila Ngọn Cờ Trí Huệ đã được
bảo đảm. Những dấu hiệu huyền thuật của con đã xuất
hiện trong làng và ba mươi lăm người đã bị giết trong ngôi
nhà sụp đổ. Vì điều đó, người dân địa phương có ác
ý với hai mẹ con ở đây, nên con cần phải làm cho họ một
trận mưa đá lớn. Lúc đó thì những ước nguyện cuối cùng
của mẹ già của con sẽ thành hiện thực. Xóm giềng họ
nói rằng họ sẽ tìm ra con và sau khi giết con thì sẽ giết
mẹ. Để mẹ con chúng ta được an toàn, hãy bảo vệ cuộc
đời chúng ta với sự chăm sóc thận trọng nhất. Nếu đồ
dự trữ của con hết, hãy nhìn vào vùng hướng về phía bắc,
trong đám mây đen, có chòm sao Thất Tinh sẽ xuất hiện. Dưới
đó là bảy căn nhà của những người anh em cô cậu của
con. Nơi đó con sẽ tìm thấy mọi đồ dùng con muốn. Hãy
lấy mấy cái đó. Nếu con không hiểu, hãy hỏi không ai khác
ngoài vị thiền giả này sống trong vùng đó.”
Thầy
không hiểu ý nghĩa trong lá thơ. Thầy nhớ quê hương và mẹ.
Vì thầy đang rất cần lương thực, mà không biết bà con
nói trong thơ ở vùng nào, thầy rơi nước mắt. Thầy hỏi
vị thiền giả, “Vì ông biết vùng này, các em con cô cậu
của tôi ở đâu ?” Thiền giả trả lời, “Trong đồng bằng
Ngari.”
“Ông
không biết những vùng khác sao ? Vùng của ông là ở đâu
?”
“Ta
biết nhiều vùng khác, nhưng ta không biết những vùng nào
đứa em cô cậu của chú ở. Ta đến từ tỉnh UŠ.”
“Vậy
hãy ở đây một lát, tôi sẽ về ngay.”
Thầy
đến trình cho vị lama xem lá thơ và nhờ ông giải thích.
Vị lama xem kỹ và nói với thầy, “Này Tin Lành, mẹ của
con đầy thù hận. Dù sao cái chết của bấy nhiêu con người
bà vẫn còn muốn con làm mưa đá. Ai là những anh em cô cậu
của con ở phía bắc ?” Thầy trả lời, “Con chưa hề nghe
về họ. Chỉ có lá thơ này nói về họ. Con đã hỏi vị
thiền giả nhưng ông không biết gì.”
Vợ
vị lama, bà có dấu hiệu của những dakini vĩ đại, đọc
lớn lá thơ và nói với thầy, “Hãy mời vị thiền giả.”
Khi
thiền giả đến, người vợ của vị lama đốt một ngọn
lửa lớn và đưa cho ông bia tuyệt ngon. Rồi lấy cái áo choàng
khỏi lưng thiền giả, bà khoác nó vào và nói, “Đây là
một cái áo choàng tốt để chu du chỗ này chỗ khác.” Bà
đi tới đi lui một lát, rồi lên sân thượng của ngôi nhà.
Ở đó bà lấy vàng ra khỏi áo choàng, may lại miếng vải
như trước và trở lại, khoác cái áo choàng lên lưng thiền
giả.
Sau
khi mời thiền giả bữa ăn tối, bà dẫn ông đến phòng của
ông và nói, “Hãy đi và nói với Tin Lành đến trình diện
ngài lama.” Thầy đến và bà trao cho bảy lượng vàng. Thầy
hỏi, “Số vàng này từ đâu đến ?” Vợ ngài lama trả
lời, “Nó nằm trong áo choàng của thiền giả. Tin Lành ạ,
con có một bà mẹ kỹ lưỡng. Vùng hướng về phía bắc nơi
mặt trời không chiếu sáng nghĩa là cái áo choàng của thiền
giả mà mặt trời không thể xuyên qua. Đám mây đen nghĩa
miếng vải đen vá trên áo. Chòm sao Thất Tinh sẽ xuất hiện
là những ngôi sao thêu bằng chỉ trắng. Và bên dưới, bảy
căn nhà của những người anh em cô cậu của con là bảy lượng
vàng. Nếu con không hiểu, hãy hỏi không ai khác ngoài vị
thiền giả này sống trong vùng đó nghĩa là nếu con không
hiểu, bởi vì vàng nằm trong áo choàng của thiền giả, hãy
chớ có tìm ở đâu khác.”
Vợ
vị lama nói như vậy. Và vị lama nói, “Này mình ! Họ nói
rằng bà rất láu lỉnh. Và quả là rất đúng.” Rồi ông
cười.
Sau
đó thầy đưa cho thiền giả một chỉ vàng, ông ta hài lòng.
Dâng tặng sư mẫu bảy chỉ. Rồi dâng cúng vị lama ba lượng
và nói với ngài, “Thầy thấy bà mẹ già của con còn xin
làm mưa đá. Xin thầy dạy cho con.”
Vị
lama trả lời, “Nếu con muốn làm mưa đá, hãy đi tìm Yungton
Trošgyel (Người Chinh Phục Làm Khiếp Sợ) họ Nyag.” Và ông
cho thầy một lá thơ và vài đồ biếu tặng.
Thầy
rời làng Kyorpo miền Yarlung. Khi đến trình diện vị lama,
thầy để dưới chân ngài ba lượng vàng, bức thơ vàø những
quà tặng. Thầy nói với ngài tại sao thầy muốn làm mưa
đá. Ông hỏi thầy, “Con đã thành công trong việc làm được
huyền thuật chưa ?”
Thầy
trả lời, “Con hoàn toàn thành công, và với huyền thuật
ba mươi lăm người đã bị giết. Bấy giờ có thêm lá thơ
này yêu cầu làm mưa đá. Xin thầy dạy cho con.”
Ông
đáp, “Tốt lắm, được thôi.” Và vị lama cho thầy mật
chú. Thầy đến trong cái cốc cũ của thầy để thực hiện
những nghi lễ.
Bắt
đầu ngày thứ bảy, một đám mây bao phủ cái cốc. Sấm
chớp nổ vang, và có tiếng nói của Dza Mặt Màu Hạt Dẻ.
Điều này làm thầy tin rằng mình có thể cầu mưa đá bằng
đầu ngón tay của mình.
Từ
đó trở đi, vị lama thường hỏi thầy, “Để làm mưa đá,
hiện giờ lúa cao bao nhiêu trong làng của con ?”
Và
thầy trả lời, “Nó đã mọc mầm lên kha khá.”
Và
thời gian sau, “Nó đã đủ cao để che kín con chim câu xanh.”
Rồi,
“Và bây giờ lúa thế nào rồi ?”
Thầy
trả lời, “Lúa mạch bắt đầu cong xuống.”
“Đúng
lúc để làm mưa đá rồi đó.”
Ông
cho một người đưa tin đi với thầy, người này đã từng
ở làng thầy. Giả trang thành những nhà sư du phương, bọn
thầy lên đường.
Năm
ấy lúa ngoài đồng được mùa chưa từng có. Có một luật
lệ trong làng, cấm gặt lúa riêng rẽ tùy thích. Khi bọn thầy
đến, lúa đã chín vàng hôm sau thì gặt. Thầy ở trên vùng
đất cao.
Sau
khi thầy tụng đọc những thần chú, một đám mây nhỏ chỉ
lớn bằng con chim sẻ bay đến. Thầy thất vọng. Thầy kêu
gọi tên những vị thần. Lời cầu xin của thầy căn cứ
trên những đối xử tàn bạo mà người làng đã bắt gia
đình thầy chịu đựng. Thầy ném cái áo choàng và bắt đầu
kêu khóc. Bấy giờ, những đám mây đen khổng lồ thình lình
tụ lại trong bầu trời. Trong phút chốc trận mưa đá rơi
xuống mùa màng và phủ trùm toàn bộ thung lũng, ngập đến
ba viên gạch. Những khe suối mới tạo thành trên núi. Thấy
mùa màng mất sạch, dân làng khóc.
Thình
lình có một trận gió lớn kèm với mưa. Thầy và người
bạn đồng hành lạnh quá, bèn vào trong một cái hang cửa
hướng về phía bắc. Ở đó bọn thầy đốt lửa lên.
Vài
người làng đang đi săn để lấy thịt làm lễ tạ cho vụ
mùa. Họ nói, “Cái thằng Tin Lành này đã gởi cho chúng ta
bất hạnh chứ chẳng có ai khác làm được. Nó đã tàn sát
bao nhiêu người ! Bây giờ với tài nghệ của nó, chúng ta
không còn thấy một chút gì cái mùa màng đẹp tốt của chúng
ta nữa. Nếu nó rơi vào tay chúng ta, chúng ta sẽ dứt trái
tim còn đập của nó ra. Và mỗi người chúng ta sẽ ăn một
miếng thịt, uống một giọt máu của nó.”
Họ
nói thế bởi vì vết thương trong lòng họ thì không thể
chữa lành. Khi nói chuyện với nhau như vậy, vừa đi xuống
núi, họ đi ngang cái hang. Một người già nói, “Im nào !
Im nào ! Nói nhỏ thôi ! Khói từ hang ra. Ai thế ?”
“Chắc
là thằng Tin Lành. Nó không thấy chúng ta. Nếu bọn đàn ông
trong làng chúng ta không giết nó sớm, chắc chắn nó sẽ tàn
phá cả vùng.” Nói thế họ trở lui.
Bạn
đồng hành của thầy nói với thầy, “Hãy rời đây trước
tôi. Tôi sẽ giả bộ tôi là bạn. Tôi sẽ nói với họ khi
rời khỏi đây rằng việc này là sự trả thù của tôi. Chúng
ta sẽ gặp lại bốn ngày sau ở quán Dingri về hướng tây.
Tự
biết sức mạnh của mình, anh ta ở lại một mình không sợ
hãi. Lúc đó, thầy mong được thấy mẹ một lần nữa, nhưng
vì sợ những kẻ thù, thầy thoát nhanh và chạy đến Nyanang.
Bị chó cắn vào chân, thầy không thể đến đúng hẹn.
Bạn
đồng hành của thầy, dù bị những người làng vây quanh,
cũng phá được vòng vây và chạy thoát. Họ càng rượt đến
gần anh, anh càng chạy nhanh hơn nhưng khi họ tụt lại anh
lại buông lỏng bước chân. Họ bắn tên về phía anh, và
anh ta ném lại những viên đá lớn.
Anh
la lên cho họ nghe, “Ta sẽ đặt một lời nguyền trên bất
kỳ ai dám chống lại ta. Ta đã giết chết bao nhiêu người
để báo thù. Và bây giờ cả vụ mùa đẹp đẽ đã biến
mất. Đây chẳng phải là việc báo thù của ta sao ? Thế đấy,
nếu các người không tử tế với mẹ và em của ta, ta sẽ
đặt một lời nguyền lên toàn bộ vùng này từ chỗ cao nhất
đến chỗ thấp nhất của thung lũng. Những người chưa bị
giết sẽ thấy dòng họ của họ bị hủy diệt cho đến đời
thứ chín. Nếu sự chết chóc tiêu điều không đánh vào vùng
này, thì đó sẽ là lỗi của tao. Hãy đợi mà xem ! Hãy đợi
mà xem !
Nói
thế, anh bỏ đi. Và kinh hãi, họ bắt đầu đổ lỗi cho nhau,
“Đây hoàn toàn do lỗi của anh, đây hoàn toàn là do anh.”
Họ
cãi nhau trong khi trở về làng.
Bạn
đồng hành của thầy đến Dingri trước thầy. Anh hỏi chủ
quán có ai giống một thiền giả đến đây chưa. Chủ quán
trả lời, “Ông chưa tới. Nhưng tất cả những người tự
nhận là thiền giả các anh đều rất thích uống. Trong làng
bên có một quán bia. Hãy đến đó. Nếu anh không có chén,
tôi có thể cho anh mượn.” Và anh mượn của ông ta một
chén gỗ sâu và xám như mặt của Thần Chết Yama.
Đem
cái chén theo, anh vào quán và thầy ngồi ở sau chót đám khách,
anh đến ngồi bên cạnh thầy. Anh nói, “Tại sao không đến
chỗ hẹn vào hôm qua ?”
“Hôm
qua tôi đi khất thực. Một con chó cắn vào chân tôi và tôi
không thể đi nhanh. Nhưng chẳng có gì phải lo cả.”
Ra
khỏi quán bia, bọn thầy đến Kyorpo vùng Yarlung.
Vị
lama nói với bọn thầy, “Tốt, cả hai người đã thành công
!”
“Không
có ai đến đây trước chúng con. Ai đã nói cho thầy chuyện
ấy ?”
Vị
lama trả lời, “Các thần đã đến, mặt họ sáng như trăng
rằm. Ta đã cảm tạ họ.”
Nói
xong, vị lama tỏ ra hài lòng.
Đây
là cách thầy đã tích tập những ác hạnh từ sự trả thù
những kẻ thù của thầy.
Đạo
sư nói như thế. Đây là chương thứ ba, sự tiêu diệt những
kẻ thù. Đó là công việc của Milarepa trong thế gian.