MỤC
LỤC
Giới
Thiệu Mở Đầu
Lời
Mở Đầu
PHẦN
1
Chương
Một Ra Đời
Chương
Hai Thời Niên Thiếu
Chương
Ba Ác Hạnh
PHẦN
2
Chương
Một Tìm Cầu Pháp
Chương
Hai Những Thử Thách
Chương
Ba Những Quán Đảnh và Giáo Huấn
Chương
Bốn Thiền Định
Chương
Năm Thiền Định
Chương
Sáu Thiền Định
Chương
Bảy Thiền Định
Chương
Tám Những Chốn Ẩn Tu
Chương
Chín Niết Bàn
Phụ
Chú
Kết
Từ
Chú
Thích của Dịch Giả
GIỚI
THIỆU MỞ ĐẦU
Lobsang
P. Lhalungpa
Tôi
còn nhớ kinh nghiệm thời nhỏ khi nghe cuộc đời của Milarepa
trong hình thức những chuyện dân gian ở miền nam Tây Tạng,
tỉnh quê nhà của Marpa. Sự ngưỡng vọng sâu xa khởi lên
trong tôi về ý muốn của ngài hiến dâng toàn bộ cuộc đời
mình để giúp đỡ mẹ ngài và quyết tâm bất tử về sau
để cứu vớt con tàu sắp đắm của số phận riêng ngài,
con tàu mà sau đó đã mang vô số người an toàn vượt qua
biển cả sanh tử.
Với
người Tây Tạng và những Phật tử những vùng cao nguyên
Á Châu và Hy Mã Lạp Sơn, thì Mila, mặc dầu ngài sống vào
thế kỷ thứ mười hai, không phải là một huyền thoại mà
là một hình dáng sống động – hiện thân của sự tuyệt
vời tối thượng cũng như là người cha của những vị thầy
giác ngộ. Trong mười ba thế kỷ lịch sử Phật giáo Tây
Tạng, chưa bao giờ có một con người như vậy, người không
những gây cảm hứng cho lớp thượng lưu trí thức và những
người có uy tín về tâm linh, mà còn làm say mê trí tưởng
tượng của dân chúng bình thường.
Đối
với những người trong chúng ta đọc cuộc đời và những
bài ca của ngài như sự mô tả chân thật của giải thoát,
và những người cũng đã nhận sự trao truyền bí mật những
giáo lý cao cấp mà ngài đã đóng góp rất nhiều, Milarepa
có ý nghĩa lớn lao trong đời sống chúng ta. Kinh nghiệm giác
ngộ được thầm lặng lập lại trong một dòng hầu như không
đứt đoạn trong truyền thống cho đến ngày nay, dù có trải
rộng ra nhiều phần khác của thế giới hiện đại.
Khắp
cả Tây Tạng Milarepa được tôn kính rộng rãi. Những hình
tượng của Milarepa, bằng tượng hay hình vẽ, được thờ
trong các chùa và trong nhà. Những người kể chuyện lang thang
hát lên cuộc đời của Milarepa, minh họa câu chuyện của
họ bằng những cuộn giấy vẽ tranh. Cả sự kể chuyện và
những bài ca đều giản dị, đầy những đặc ngữ dân gian,
những ẩn dụ đời thường, và những thành ngữ khôi hài.
Những repa – những người mặc áo vải – hát những bài
ca của Milarepa khi họ lang thang qua những làng khắp đất nước.
Những vở nhạc kịch dân gian mô tả những biến cố chính
của cuộc đời ngài. Những đặc trưng mảnh khảnh, hiền
lành và màu da xanh nhợt trong những bức thanka và tranh vẽ
ngược lại một cách lạ lùng với sự bền bỉ rắn chắc
phi thường về thể xác và sự trung thành kiên cố với Chân
Lý của ngài.
Trong
một số phương diện quan trọng, tiểu sử của Milarepa giống
cuộc đời của đức Phật, mười hai biến cố chính của
đời đức Phật tương đương với mười hai chương của
cuộc đời Milarepa. Cả hai vị Thầy đã viện đến những
hành động từ bỏ và khổ hạnh cùng cực có tính bi kịch
như những nâng đỡ, hỗ trợ cho sự tìm cầu của các ngài,
dù vì những lý do khác nhau và dưới những hoàn cảnh trái
ngược nhau. Mục tiêu của đức Phật là tìm kiếm một đường
lối mới mẻ, thực tiễn để loại bỏ những khốn khổ
của nhân loại và những nguyên nhân tạo nghiệp của họ.
Còn mục tiêu của Milarepa, ít ra là lúc ban đầu, là cứu
thoát chính mình khỏi sự sợ hãi những hậu quả tự nhiên
của những tội lỗi của ngài.
Ngoài
sự việc “bậc vĩ đại nhất của các vị thánh (Phật giáo)”,
Milarepa giữ một vị trí trung tâm trong lịch sử Phật giáo
ở Tây Tạng. Cho đến thế kỷ thứ chín, ảnh hưởng của
Phật giáo đối với pháp phù thủy của những tôn giáo cổ
thời trước đó là không ổn định. Với Milarepa sự đu đưa
đó bắt đầu hướng hẳn về sự chứng ngộ năng lực bên
trong qua thiền định. Kagyupa, Dòng Khẩu Truyền đã duy trì
một cách trung thành truyền thống thiền định này cho đến
ngày hôm nay. Nyingmapa, Dòng Bí Truyền Cổ, cũng nhấn mạnh
sự thực hành thiền định.
Mặt
khác, có những vị thầy xem một nền tảng trí thức trong
sự tu hành Phật giáo là cần thiết. Một vị như vậy là
đại Sakya Pandita, một trong những nhà sáng lập phái Sakya,
Dòng Đất Trắng. Và ba trăm năm sau Milarepa, ngài Tsong-khapa
không gì sánh đã cho Phật giáo Tây Tạng một chiều sâu và
sức năng động trí thức mới khi ngài nâng những nghiên cứu
Phật giáo đến một chiều sâu chưa từng có trước đó qua
sự làm hồi sinh kỷ luật tu viện và sự thanh tịnh của
giới luật. Phong trào này, được biết với tên là Gelukpa,
Dòng của sự Tuyệt Hảo, là dòng của đức Dalai Lama thuộc
vào.
Cuộc
Đời của Milarepa, trên tổng thể, là một tiểu sử chân
thật, một vở kịch trình tự nghi lễ kể lại những biến
cố ý nghĩa trong việc học tập của Mila hơn là những bình
giải của ngài về chúng. Câu chuyện không che dấu biểu lộ
sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý học con người nhưng không
có sự phân tích những cảm nhận của Mila, không có giải
thích những nghịch lý trong đó, chẳng hạn như thái độ
đối xử của Marpa với học trò của mình, nó chỉ được
nói ra cho đến khi chính Marpa làm một tổng kết ngắn, giống
như thường xuất hiện một cách quy ước trong những trang
cuối của một truyện trinh thám.
Sự
chỉ dạy trong Cuộc Đời rất cô đọng. Những bài thuyết
pháp thì ít và hầu hết được giảng trong thể kệ thơ bình
dân, không tinh vi phức tạp. Những đệ tử của Milarepa được
đề cập lần đầu tiên trong một chương ngắn gần cuối
sách, sau khi Đạo sư cho một danh mục những hang động nơi
ngài đã thiền định, người kể tiểu sử ngài nêu một
câu hứa hẹn “Bây giờ tôi sẽ mở rộng một chút về cuộc
đời của Đạo sư.” Nhưng sau đó chỉ là một danh sách
tên những đệ tử chánh, với những chi tiết về nơi Đạo
sư đã gặp gỡ họ. Như thế tính cách và lối văn như kịch
của Cuộc Đời, như một tán thán nỗ lực tâm linh hơn là
một diễn tả về nó, đã được giữ gìn.
Trong
ba chương đầu, câu chuyện nói đến những sự việc xấu
xa nhất của cuộc đời, bày cho thấy con người dễ dàng
làm nạn nhân cho sự ích kỷ, tham lam và khoe khoang và thậm
chí phải lừa đảo và làm những hành động độc ác xấu
xa nhất như thế nào. Sau khi cha mất, Milarepa và gia đình bị
chú thím tước đoạt tất cả tài sản, hành hạ như tôi
tớ, sau đó là việc bỏ nhà ra đi của Mila theo mong muốn
của mẹ, học pháp phù thủy và tiêu diệt những kẻ thù
và mùa màng của dân làng. “Đây là cách thầy đã tích tập
những nghiệp xấu từ sự trả thù những kẻ thù của thầy.”
– Phần Mộât của Cuộc Đời chấm dứt như vậy.
Những
hậu quả luân lý của những tội lỗi dần dần trở nên
rõ ràng trong Milarepa với sự hấp hối nhức lòng và một
sợ hãi thiêu đốt về những hậu quả ngài phải đối mặt
trong những đời tới – quay tròn lòng vòng hơn nữa trong
những hành động hủy hoại, chấm dứt một cách không tránh
khỏi trong sự hoại diệt những cơ hội trốn thoát của ngài.
Sự thiếu thốn một định chế luật pháp của công lý xã
hội càng có vẻ tỏ rõ sự chắc chắn rằng Milarepa sẽ không
và sẽ không thể trốn thoát những hậu quả của nghiệp
từø những hành động chống lại đạo lý. Với cùng một
quyết tâm không lay chuyển như khi ngài tìm kiếm những bí
mật của huyền thuật hắc đạo, bây giờ ngài bắt đầu
cuộc tìm kiếm con đường giác ngộ và giải thoát.
Suốt
trong Cuộc Đời, lời dạy về luật nhân quả nghiệp báo
được Milarepa trình bày cho những học trò của mình theo đúng
cách này, như một ý tưởng mà hành giả phải bắt đầu
với nó, và nó có ý nghĩa ở nhiều cấp độ khác nhau của
đường đạo. Với Milarepa nó biểu trưng sự thức tỉnh lần
đầu tiên của ngài đối với cảm thức về một trật tự
sâu hơn của đời sống, một sự kêu gọi từ cấp độ khác.
Sự kêu gọi này đến với cái mà bản văn gọi là “tôn
giáo”, “Đạo” xuất hiện cùng với một chấn động khủng
khiếp của nhận thức. Suốt một thời gian người ta đã
tuân theo tiếng nói sai lầm, và điều này được thấy và
cảm nhận. Giai đoạn hai của cuộc đời Milarepa bắt đầu
:
Thầy
ngập đầy hối hận cắn rứt vì cái ác thầy đã làm bằng
huyền thuật và những trận mưa đá. Sự mong mỏi của thầy
đối với giáo lý quá ám ảnh đến nỗi thầy quên ăn. Nếu
thầy đi ra, thầy muốn ở lại. Nếu thầy ở nhà, thầy muốn
đi ra. Ban đêm giấc ngủ trốn đâu mất. Thầy tự hỏi không
ngừng và tha thiết bằng phương tiện nào thầy có thể thực
hành giáo pháp chân thật.
Sự
từ bỏ quyết liệt của Milarepa thì trái ngược sâu sắc
với sự từ bỏ bên trong mà Lama Marpa đã lựa chọn. Với
cả hai Marpa và Milarepa cũng như với mọi Phật tử, những
lạc thú giác quan và những quan tâm của sanh tử chắc chắn
không có lợi lạc chân thật. Trong trường hợp những người
quy ngã một cách mạnh mẽ, sự từ bỏ một đời sống bên
ngoài bình thường có thể là một sự chữa trị chấn động,
một phương tiện quyết liệt để tháo bỏ sự bóp chặt
của chấp ngã và nhờ đó đưa lên trí huệ cao hơn, những
nhìn thấy thấu suốt mới mẻ và rốt ráo đưa vào thực
tại đằng sau những hình tướng. Cuộc đời và sự tìm kiếm
Pháp, dù qua từ bỏ những tiện nghi hay qua phương tiện nào
khác, là không tương hợp với nhau, bao giờ một giải thoát
cá nhân còn được nhắm đến. Ngay cả khổ hạnh rốt cùng
cũng vô dụng và phải chịu xem như một phương tiện cho mục
tiêu cá nhân. Sự từ bỏ của Milarepa nhắm đến đạt được
giải thoát cá nhân và không đến được tinh thần chân thật
của Pháp cho đến khi động cơ bẩm sinh ban đầu được thay
đổi hoàn toàn thành những nguyện vọng cao nhất về sự
cứu thoát trên một mức độ vũ trụ theo con đường của
Bồ tát.
Cuối
cùng chàng trai trẻ Mila gặp Marpa ở quê nhà của ngài. Những
biến cố tạo nên mối tương quan của Mila với Marpa được
mỗi người học trò của truyền thống Phật giáo biết rất
rõ. Trong tất cả văn học thế giới không có sự mô tả
có tính bi kịch nào hơn loại học tập mà một Đạo sư cung
cấp cho học trò của mình như vậy. Không kể cái gì khác
độc giả có thể hay không có thể nhận từ cuốn sách này,
sự miêu tả về “thử thách bằng những cái tháp” sẽ
ở lại với người đọc trọn đời.
Một
tiên tri về điều sẽ xảy ra cho Milarepa, không chỉ trong sự
thành tựu vô song mà còn trong phương diện thực hành là những
chướng ngại đang chờ sẵn, đã đến với Marpa khi ngài đọc
ra những điềm triệu. Sự hiểu biết này quyết định thái
độ ban đầu và nhiều hành động không được giải thích
khác của ngài. Để phát động những biến cố hứa hẹn
tràn đầy những tư tưởng trong sạch và những hành động
nhân từ, dứt khoát cần thiết tạo ra một lực lượng trợ
duyên có ý thức để lái bánh xe của Nghiệp đang giống như
một con thuyền trôi nổi. Cả hai truyền thống thế tục và
thiêng liêng của người Tây Tạng đều nhấn mạnh sự lìa
bỏ những ngọn sóng của sanh tử. Marpa đã hướng dẫn hành
trình định mệnh của Mila theo lối đi được nghiệp của
Mila chỉ ra. Từ đầu cho tới cuối liên hệ trực tiếp của
họ, mỗi khi một biến cố bắt đầu xảy ra, Marpa sẽ ứng
ra một “pha” phụ thêm, mà ý nghĩa của nó chỉ có một
mình ngài biết và không được giải thích cho đến lúc chót.
Ví dụ, Marpa để cái nồi trống không của người đệ tử
mới của ngài đã cúng dường cho ngài vào trong chỗ thờ
và sau khi làm nó rung vang khắp nhà đã nhanh chóng đổ đầy
bơ lỏng vào đó để làm thành một ngọn đèn cúng dường.
Cái nồi trống không nghĩa là thực phẩm ít oi của Mila trong
những lần ẩn cư trong núi ; sự rung thành tiếng là sự nổi
tiếng trong tương lai trải rộng khắp nơi của Mila ; rót đầy
bơ là sự thỏa mãn những nguyện vọng của Mila.
Marpa
đã tuyệt đối rõ ràng trong tâm ngài rằng người thanh niên
độ lượng này mà tâm hồn hoàn toàn hối hận và tan nát
không thể có được sự chuyển hóa mong muốn bằng sự tu
hành bình thường. Như thế, như điều kiện để nhận được
Pháp, Mila được yêu cầu một loạt công việc khắt khe và
chán chường đến cay đắng. Để làm mạnh thêm những thử
thách lớn lao, Marpa đã dùng những chiến thuật mưu mô và
những cách thức có vẻ lừa đảo.
Milarepa
chiến đấu trong những thử thách từ một nhu cầu cho chính
mình. Đứa con mà người mẹ đã tuyên bố là “nó không
có ý chí” đã tự chứng tỏ mình là một đệ tử nhẫn
nhục và bền bỉ phi thường. Chỉ đến khi bị đưa đến
mép bờ của sự tự sát mà những thử thách mới nhanh chóng
chấm dứt và Marpa chấp nhận cho Milarepa giáo pháp. Khi những
thử thách chấm dứt, “những đại tội của ngài được
xóa sạch” và nhu cầu cá nhân đã được chuyển hóa một
cách huyền bí và bây giờ là “cho tất cả chúng sanh”.
Marpa
được tả cho chúng ta (và chúng ta không có lý do gì để
nghi ngờ sự chính xác lịch sử của điều này) như một
nhân vật thế lực, người to lớn, mập mạp, trông có vẻ
hung dữ – về hình thể đúng là sự trái ngược với Milarepa.
Được ca tụng như Vua của những Dịch giả, Marpa đã dùng
tài sản của mình cho những mục tiêu như đi đến Ấn Độ,
nơi ngài nhận lãnh những giáo lý Phật giáo bí truyền từ
Bổn sư của ngài là Naropa, và đem về Tây Tạng nhiều kinh
điển mật thừa quan trọng nhất. Ở Tây Tạng, Marpa làm sống
lại một cách thành công hình thức tu hành không ở trong tu
viện đã khởi đầu ở thế kỷ thứ bảy bởi vua Tây Tạng
Songtsen Gampo và tể tướng học thức của ông là Thonmi Sambhota,
và được đẩy xa hơn vào thế kỷ thứ tám bởi một số
cư sĩ Tây Tạng là đệ tử của đại Guru Padmasambhava.
Marpa
không chỉ là một người học rộng mà còn là một vị thầy
giác ngộ và một nhà tâm lý học thượng hạng, người đã
hòa hợp vai trò của một người hướng dẫn tâm linh dạy
riêng với kiểu sống gia đình. Milarepa xem Marpa như một người
cha thông thái và một người che chở, cũng như người hướng
đạo tối thượng. Về phần vợ của Marpa, Dakmema, sự tận
tụy của bà cho Mila là cao quý mang tính nhân loại và cần
thiết trong từng trường hợp và bà quả thật là người
bạn của Mila, người mẹ và người hướng dẫn tâm linh.
Tiểu sử của bà, nếu tìm thấy, có thể chiếu thêm ánh
sáng vào những phương diện chưa được biết của cuộc đời
Marpa và thậm chí của Milarepa.
Sau
khi từ giã Marpa, cuộc đời khổ hạnh và ẩn cư của Milarepa
trái ngược sâu sắc với cuộc đời xét theo bề ngoài của
Marpa. Khi Milarepa được hỏi tại sao ngài không theo gương
mẫu bề ngoài của Marpa, ngài trả lời rằng đối với ngài
làm như vậy thì cũng giống như một con thỏ cố gắng theo
dấu chân của một con sư tử. Và đoạn cuối của bản văn,
khi một đệ tử hỏi “Chúng con có thể dấn thân vào một
đời sống hoạt động không nếu nó tỏ ra có lợi lạc cho
những người khác ?” Milarepa trả lời, “Nếu không có bám
luyến vào những mục tiêu ích kỷ, con có thể. Nhưng điều
ấy khó khăn.”
Milarepa
biết ngài không phải là Marpa. Cũng tương tự, độc giả
của câu chuyện này, theo cách riêng của họ, sẽ biết mình
không phải là Milarepa. Tuy nhiên Milarepa trở thành, như có
nói, “còn vĩ đại hơn cả thầy mình.”
Để
hiểu Milarepa đã sáng tạo ra cái gì như một môi trường
công việc tâm linh cho những người đi sau ngài, cần phải
xem xét một số mặt căn bản của hai truyền thống Kim Cương
thừa và Đại thừa.
Sự
đáp ứng những nguyện vọng cao hơn của một người cầu
đạo không dựa nhiều vào sự tích tập hiểu biết cho bằng
vào việc vượt qua những chướng ngại tâm thức và đạt
được cái nhìn thấu rõ vào bản thân chân lý. Để cho điều
này, sự hướng dẫn của một vị thầy kinh nghiệm là một
cần thiết thực tiễn. Vai trò của vị thầy trong một con
đường bí truyền của sự tự chuyển hóa qua thiền định
và hành động như Kim Cương thừa còn quan trọng hơn nữa,
bởi vì chỉ sau lễ quán đảnh truyền pháp nhập môn và những
giáo huấn và hướng dẫn soi sáng mà đệ tử mới có thể
đặt mình vào công việc.
Sự
“thành công” của thực hành Pháp khác biệt đáng kể từ
cá nhân này đến cá nhân khác. Mỗi người đáp ứng một
cách khác nhau. Ngay cả tính hiệu quả của lễ nhập môn cũng
tùy thuộc vào sự có mặt hay không những điều kiện thích
đáng. Đôi khi mọi cái nhìn bên trong và thần lực của vị
đạo sư cho nhập môn cũng chưa đủ, bởi vì như chúng ta
nói dù một cái móc mạnh mẽ sẽ không bắt được một vật
nếu không có vòng khuyên trống ở nơi vật ấy. Trường hợp
ngược lại cũng có thể, như đoạn cuối của câu chuyện
Milarepa minh họa. Khi ngài có một thời gian dài và lao động
khá mạo hiểm để đạt đến trạng thái của tâm thức dẫn
đến giác ngộ, nhiều đệ tử của ngài thành tựu sự thoáng
thấy về giác ngộ (sáng tỏ) một cách tức thời khi nghe
những lời nói về trí huệ từ ngài !
Một
đạo sư tâm linh là gì ? Chọn lựa một lama cho riêng cá nhân
chắc chắn là một vấn đề trọng yếu. Trong truyền thống
Tây Tạng, những luận văn đặt ra những diễn tả và hướng
dẫn về những phẩm tính của một vị thầy tâm linh cần
có. Cách thức hiện đại để phán đoán một vị thầy tâm
linh từ những ấn tượng cá nhân ngẫu nhiên không thể là
một cách đáng tin cậy để nghiệm xét những phẩm tính của
vị ấy. Thế hệ lama hiện thời nhanh chóng tiến gần sự
tuyệt chủng bởi vì sự chiếm đóng Tây Tạng. Không chỉ
những học trò và những người cầu Pháp ở Tây phương,
mà ngay cả những người Tây Tạng tỵ nạn cũng không có
nhiều chọn lựa nữa.
Chúng
ta có thể nói rằng một đạo sư có hiểu biết toàn hảo
về Phật pháp và những phương pháp thực hành, và hiện thân
những lý tưởng của giáo lý qua sự chứng đắc cá nhân
và sự phụng sự cho nhân loại. Vị ấy phải là một người
bi mẫn phối hợp hiểu biết về Pháp với kinh nghiệm chứng
ngộ. Vai trò của một vị đạo sư hay vị thầy tâm linh trong
đời sống của người cầu đạo phải là một người bạn
chân thật. Chỉ khi một đạo sư tự thoát khỏi những vọng
tưởng bên trong và là nguồn của trí huệ siêu việt thì
ông hay bà ấy mới có thể thấy biết những hàng rào và
những tiềm năng dấu kín bên trong của những cá nhân và
đáp ứng theo nhu cầu đặc biệt của từng cá nhân. Một
khi những ngăn chướng tâm lý trong người cầu đạo được
triệt hạ qua những phương tiện thiện xảo của lama, sự
chứng ngộ, sáng tỏ sẽ tự hiển bày mà không cần nỗ lực
kiên cường.
Tuy
nhiên sự nhấn mạnh vào vai trò của vị thầy và sự sùng
mộ hiến dâng của học trò cho vị ấy không nên cho phép
giản lược người học trò thành một trạng thái thụ động
của sự trông chờ và phụ thuộc tuyệt đối. Giống như
chính giáo pháp, vị thầy là một phương tiện chứ không
phải là một cứu cánh. Nghĩa của chữ “yong-dzin”, một
chữ đồng nghĩa với vị thầy, gợi ý rằng vị ấy là người
giữ cho những người khác khỏi rơi vào vực thẳm của vọng
tưởng bên trong và nghiệp phá hoại.
Chúng
ta phải nhớ rằng, trước khi chứng ngộ dưới Marpa, ba vị
thầy đã thất bại trong việc hướng dẫn Milarepa trên con
đường. Vị thầy đầu tiên, Rongton Lhaga, thất bại khi trao
cho học trò của mình những giáo lý quá cao cấp với y. Vị
thầy thứ hai là Dakmema, vợ của Marpa, đã trao cho Milarepa
những giáo lý cao của Đại Ấn (Mahamudra), cũng không có sự
đòi hỏi một chuẩn bị đầy đủ. Vị thứ ba là Lama Ngokpa,
một trong những đệ tử chính của Marpa, người mà Dakmema
đã gởi Mila đến khi những thử thách của Mila lên đến
cực điểm mà không có sự chấp thuận của Marpa.
Từ
“thầy” không luôn luôn nghĩa là một con người. Milarepa
nói đến ba loại lama – thứ nhất, một “lama bên ngoài”,
người chỉ con đường qua những biểu tượng ngôn ngữ ;
thứ hai “lama bên trong”, năng lực hiểu rõ giáo lý của
chính mình ; và thứ ba “lama tận trong sâu”, tánh giác tận
trong sâu của chính mình. Trong từ “lama”, chữ “la” nghĩa
là trí huệ siêu việt ; “ma” ám chỉ từ và bi thuộc về
người mẹ. Hai phương diện này hợp nhất trong Tánh Giác
Tối Hậu. Milarepa nhìn thấy Marpa như hiện thân chân thật
của Giác Ngộ và như phương tiện không thể thay thế được
cho sự phát triển của sự thấu hiểu tối thượng của mình
qua đó Milarepa chứng ngộ “lama tận trong sâu” trong chính
ngài.
Nói
chung, sự tu hành Phật giáo Kim Cương thừa mà Milarepa trải
qua tìm cách đáp ứng những yếu tố tâm lý khác nhau trong
những cá nhân khác biệt và dẫn những người mong cầu đến
một tâm thức cao hơn, sự thực hiện trọn vẹn cái tuyệt
diệu nơi con người và cuối cùng là sự sáng tỏ tối hậu.
Đây là một tiến trình chuyển hóa tâm lý. Trong ngôn ngữ
thực hành, mục tiêu là trau dồi, nuôi dưỡng cái tốt đẹp
một cách có ý thức trong những tư tưởng, lời nói và hành
vi và trở thành một “viên ngọc ở giữa loài người.”
Từ
lúc bắt đầu, người ta làm việc để giải thoát mình khỏi
tất cả những mặc cảm mê tín tự tôn hay tự ti đặt nền
trên giới tính, loài giống, màu da hay tín ngưỡng. Một cảm
thức sâu hơn về một toàn thể gia đình nhân loại và tình
bạn phổ quát phải được khai triển như là nền tảng cho
một thái độ đúng đối với những tương quan nhân loại.
Chỉ lúc bấy giờ người cầu đạo mới được dẫn dắt
đến một tiến trình tâm linh hóa. Để khám phá ra bản tính
không lừa dối hay đích thật của mình, mỗi cá nhân được
khuyến khích giải phóng mình khỏi ảnh hưởng nặng nề và
cứng chắc của sự bị điều kiện hóa. Sự tái định hướng
tâm lý này, nó là mục tiêu căn bản của mọi nền văn hóa
chân chính, bao trùm toàn bộ những yếu tố và lực lượng
chúng khiến tạo thành một dòng hiện sinh toàn thể của cá
nhân và thái độ của nó đối với đời sống. Những vọng
tưởng bên trong rất vi tế đến nỗi chúng thường không
thể thấy biết được. Không có sự phát triển chuẩn bị
này về một thái độ lành mạnh đối với những mục tiêu
đời sống, toàn bộ sự tinh tấn tâm linh dễ bị mắc vào
tự ái ích kỷ, và như thế là đã lìa khỏi một sự quan
tâm thực tiễn cho sự tự do thường trực của chính mình.
Với một cấp độ nhỏ nào tâm thức đạt được, nó cần
phải phát triển hơn nữa thành một dụng cụ hiệu quả cho
tiến trình giải phóng phổ quát của tất cả chúng sanh.
Tinh
túy của Đại thừa Phật giáo có thể được thấy trong chỉ
một từ, “Bồ đề tâm”, mà chúng ta thường dịch là “Tâm
Giác Ngộ”. Cái ấy đồng thời là một thái độ làm cho
giác ngộ và là một trạng thái của tỉnh giác, của trí
huệ, mỗi cái vừa là một phương tiện đi đến mục đích
và vừa là chính mục đích. Ở đây thái độ bao hàm hành
động, một cái thấy vô ngã mà một người mang lấy trong
cả sự thực hành bên trong lẫn đời sống bên ngoài. Qua
thái độ này kỷ luật thiền định phối hợp không tách
lìa với sự thực hành hào hiệp cao thượng bên ngoài, và
như thế đưa đến sự thành tựu của tỉnh giác giác ngộ.
Chính qua một tỉnh giác như vậy mà người ta có thể thấy
biết những sự vật như chúng thực sự là và như chúng xuất
hiện trong sai biệt không xung đột, trong khi vẫn liên tục
mở rộng để biểu lộ sự nồng ấm của lòng bi. Tuy nhiên
sự thanh tịnh bẩm sinh như thế không thể đơn giản thấy
biết được hay chứng ngộ được mà không có trước hết
là sự tìm ra những nguyên nhân của những vọng tưởng và
nhiễm ô trong tâm thức con người. Như vậy tiến trình chuyển
hóa tâm thức có hình thức của sự tịnh hóa truyền thống
như là sự loại trừ những vọng tưởng và tích tập đức
hạnh.
Sự
tu hành của Milarepa có thể dùng như một minh họa đáng giá
về vài mặt của sự giáo dục Phật giáo này, tập trung chung
quanh đường lối khám phá cho chính mình bí mật chưa được
biết đến của chân lý. Như trong bất kỳ nỗ lực vĩ đại
nào của con người, không có sự thành tựu đích thực nào
có thể có cho đến khi người ta gặp những thử thách mà
sự huấn luyện ném ra trước mặt và người ta phải vượt
qua với sự rộng mở, khiêm hạ và quyết tâm. Một trí huệ
tỉnh giác sắc bén phải không ngừng chịu đựng sự đánh
giá lại trên cái thực sự là nền tảng của hạnh phúc trường
cửu cho chính mình cũng như cho tất cả những người khác.
Để làm việc cho một mục tiêu như vậy, người ta bắt buộc
phải thức tỉnh với những bất lực, khiếm khuyết của
chính mình, và nhờ đó đem những thách thức của đời sống
vào tiêu điểm.
Chính
sự thấu hiểu khắc nghiệt về những bất lực của mình
đã đem Milarepa đến với Lama Marpa. Sau khi hoàn thành những
thử thách nát lòng mà Marpa đã đặt ra cho mình, Milarepa sớm
gặp phải những loạt thử thách khác, có thể nói là những
khắt khe của sự tu hành. Ngài bắt đầu sự tu hành bằng
cách chấp nhận Tam Bảo là nền tảng con đường giải thoát
: Phật, Pháp và Tăng. Phật, bậc Giác Ngộ, là vị hướng
dẫn tối thượng ; Pháp, Giáo Pháp thiêng liêng, là phương
tiện để đạt được giác ngộ cho chính mình ; và Tăng,
chúng hội những Đệ tử đã Thức Tỉnh, duy trì truyền thống
và nâng đỡ sự tìm kiếm của tất cả những ai đến với
con đường.
Đối
với người sùng đạo bình thường, đạo sư của Pháp được
trông đợi giữ vai trò của Tam Bảo. Nhưng trong truyền thống
Kim Cương thừa, nói một cách thực tiễn, nó có hình thức
khác : vị lama bổn sư đại diện cho nguồn ảnh hưởng tâm
linh, yidam (bổn tôn) là nguồn hiểu biết và những dakini là
nguồn của sự nâng đỡ bao giờ cũng mở bày để trợ giúp
người cầu đạo.
Ý
nghĩa chân thật của sự quy y Tam Bảo chỉ có thể được
thấu hiểu nếu người cầu đạo cam kết với đầy đủ
ý nghĩa, không phải với những hành động hình thức của
sự tôn thờ mà đúng hơn là với một sự cố gắng không
mệt mỏi đối với việc thể hiện trong bản tánh của mình
những phẩm tính được tượng trưng bởi Tam Bảo. Đức Phật
đã nói, “Hỡi những vị tăng hành khất, chỉ các ông là
sự Quy Y cho chính các ông. Có ai khác có thể là một sự
Quy Y như thế ?”
Thật
vậy, con người là chỗ quy y của chính nó khi nào nó thức
tỉnh dậy khỏi những vọng tưởng của đời sống và tìm
thấy một đường lối để khám phá ra cái được gọi là
Phật tánh trong chính nó. Đây là bản tánh nguyên sơ nhất
của sự tỉnh giác hay của tâm thức con người, nó không
tách biệt với tinh túy của giác ngộ. Một người cầu đạo
không cần đợi để chứng ngộ nó trong một thời gian tương
lai nào đó. Y chỉ được yêu cầu giải quyết và hành động
ngay tại đây và bây giờ, vì y có thể và sẽ chứng ngộ
nó trong nội đời này ! Nhưng cảm giác về cái ngã, cái tôi,
không phải cùng một thứ như tâm thức ; nó là một hình
tướng mà tâm thức mang lấy dưới một số điều kiện,
nhân duyên mà trong con người những điều kiện đó nối kết
với những giác quan và cơ cấu phức tạp của những sức
mạnh và nguyên tố tạo thành thân thể con người.
Trong
thiền định con người tìm cách thiết lập một tương quan
giữa cảm thức về cái ngã và tâm thức, tâm thức này là
gốc rễ và nền tảng của cái ngã. Khám phá Phật tánh là
sự bắt đầu và chấm dứt của công việc thiền định.
Tuy nhiên giữa sự bắt đầu và chấm dứt có nhiều cấp
độ. Sự tương quan giữa tâm thức, tư tưởng, tình cảm
và sự phức tạp kỳ diệu và tiềm năng của thân thể con
người trong mọi chức năng của nó là một chủ đề cần
phải thấu hiểu nhiều trước khi một người có thể được
hướng dẫn đúng đắn trên con đường của sự tự chuyển
hóa. Những người hiện đại chúng ta có những khó khăn đặc
biệt ở đây bởi vì chúng ta đã từ bỏ ngôn ngữ huyền
thoại của những truyền thống cổ thời, một ngôn ngữ âm
vang với những cơ cấu sâu xa của tâm thức con người theo
sự điều kiện hóa di truyền của nó. Ngôn ngữ chúng ta thì
khoa học, điều đó muốn nói rằng, nó đặt nền trên kinh
nghiệm giác quan và những tổng quát hóa trừu tượng, mà
những tổng quát hóa này là một chức năng của tâm thức,
tương đối như nhau ở tất cả con người, không bị điều
kiện hóa bởi những sức mạnh bẩm sinh của cảm nhận và
bản năng và do đó không đáp ứng tương thông được với
chân lý và năng lực mà những sức mạnh bẩm sinh này là
những biểu hiện bên ngoài của chúng. Như thế, những từ
như “tỉnh giác” và “tâm thức”, chúng liên kết với
một tổng thể phức tạp những giáo huấn trong truyền thống
Phật giáo cũng như một dải rộng những yếu tố trong cơ
cấu con người, không dễ dàng thấu hiểu với chúng ta trên
nền tảng kinh nghiệm và suy tính hàng ngày. Sự đơn giản
phi thường của con đường thiền định và thái độ giác
ngộ (Bồ đề tâm) của Milarepa là cái trái ngược hoàn toàn
với sự phức tạp của cái mà truyền thống Phật giáo gọi
là “thực tại tương đối” – nghĩa là thế giới của
những hình tướng trong những hình tướng, dù cái bề ngoài
biểu lộ nhất của nó cũng đòi hỏi một tâm thức cực
kỳ sáng suốt để nhìn cho đúng.
Độc
giả của Cuộc Đời bởi thế phải cưỡng chống lại khuynh
hướng đồng hóa danh từ “thiền định” với một loại
tư thế thân thể hay thái độ tâm thức nào đó mà y biết.
Nghĩ đến thiền định như là sự chiến đấu để thức
giác về chính mình thì đúng hơn, nhưng ngay cả điều ấy
cũng chỉ có thể đem người ta đi quá xa trong việc nắm được
bản chất của sự rèn luyện mà Milarepa đã tạo ra. Người
ta có thể ghi nhận một sự rộng mở mà chính bản văn này
tạo ra khi nó được đọc với sự chú ý cần thiết. Có
phải sự nhạy cảm này liên hệ với tỉnh giác ? Câu hỏi
là, cái gì thực sự xảy ra để dẫn đến thiền định ?
Đối diện với một sự không chắc chắn hoàn toàn và cưỡng
lại sự thúc đẩy phải suy đoán hay đi đến những phối
hợp ý nghĩ cho một câu trả lời, độc giả hẳn thấy ra
rằng cái mà Milarepa gọi là thiền định là một chuyển động
trong chính mình, nó vừa có thể thâm nhập được vừa rất
tinh tế và dễ hiểu hơn tưởng tượng bình thường rất
nhiều. Thật vậy, nó không thể tưởng tượng.
“Người
bình thường nào cũng có thể kiên trì như ta đã làm”, Milarepa
nói với những đệ tử như vậy. Những đệ tử này là đệ
tử – họ không phải là độc giả hay ngay cả những tín
đồ trung thành cùng thời với Milarepa. Không thể có đối
với bất kỳ cuốn sách nào, dù là vĩ đại, truyền thông
được toàn bộ không khí của một truyền thống, bao gồm
đủ một ngàn lẻ một sự thúc đẩy mà vị thầy vận dụng
bằng cách tương tác với những cá nhân mà về phần họ
có thể thành công hay thất bại trong việc biểu lộ, diễn
tả ra bên ngoài sự thấu hiểu của họ. Dễ chấp nhận một
cách trí thức rằng một truyền thống là một thế giới,
nhưng không dễ chấp nhận nó có nghĩa là gì, đặc biệt
ở nơi cốt lõi và tâm của một truyền thống, mà trong trường
hợp này là sự thực hành thiền định, được trình bày
với một sức mạnh trực giác như vậy.
Một
truyền thống là một thế giới. Trong thế giới đó, tinh
túy của truyền thống, chuyển động đơn nhất tạo ra nó
từ ban đầu và tiếp tục duy trì nó trong những cuộc đời
của những người theo nó, thấm nhuần và tràn ngập tất
cả mọi hình thức và chi tiết của đời sống và có lẽ
không bao giờ được nói ra một cách công khai. Nhưng một
khi nó được nói ra một cách công khai, và trong một ngôn
ngữ có vẻ quen thuộc (như ngôn ngữ của tâm lý học), thì
chính là một sai lầm khi làm cho một phần nào của nó thích
hợp như là của riêng mình mà không tự hỏi tại sao mọi
hình thức khác kia cũng là thành phần của truyền thống.
Trong
Cuộc Đời của Milarepa chúng ta thực sự làm chứng nhân cho
sự sáng tạo một thế giới tâm linh, một tiếp cận với
toàn thể đời sống. Mọi sự trong Cuộc Đời có một ý
nghĩa từ quan điểm này. Nhưng điều có ý nghĩa thường nằm
giữa những dòng chữ. Thí dụ, khi Milarepa tự nhắc nhở không
xuống làng để có lương thực duy trì sự sống và khi những
toán thợ săn ruồng xét hang động của ngài, chúng ta không
được cho một minh họa về một thái độ mới đối với
những vấn đề của cuộc sống – với tiền bạc, thành
công, tội ác, quyền lực sao ? Đó chẳng phải là một tái
định hướng không thỏa hiệp của tâm thức đem đến cùng
với nó một niềm vui không do ép bức mà niềm vui ấy là
mục tiêu tự nhiên và vĩ đại nhất luôn luôn hấp dẫn con
người ? Những trả lời của những người trộm cướp và
thợ săn họ cảm thấy sự thánh thiện của “cái bị xương”
ốm yếu, lạ lùng mà họ gặp trong hang phản ảnh sự tiếp
xúc có thể có được của mọi thúc dục và tham muốn trong
bản tánh con người với Tâm. Và cái gì là lời chỉ dạy
căn bản trong những đối thoại của Milarepa với người em
gái Peta về tình dục, hôn nhân và hổ thẹn ? Đó là hạnh
phúc và lòng tự trọng thật sự duy nhất có thể có cho con
người nằm trong sự tịnh hóa đến từ thức giác. Dù giản
dị và khó hiểu như thiền định, nó cũng là cái thấy biết
bao trùm nhờ đó người ta có thể đi vào mọi mặt của cuộc
sống như một người tìm kiếm để phát hiện. Chắc chắn,
sự ấm áp của cảm nhận mà bản văn gây ra trong lòng độc
giả sẽ đủ để phản công lại bất kỳ gợi ý nào rằng
khổ hạnh và tự phủ nhận là những lý tưởng khô khan và
khắc nghiệt. Một loại kỷ luật khác được thông tin, trong
đó năng lực thuần túy của mọi hoàn cảnh đời sống có
thể được gom tụ mà không có bạo động, niềm tin mù quáng
hay nhiệt tình không cần thiết.
Thiền
định, được xem như hành vi nền tảng của nỗ lực tâm
linh trong truyền thống Kim Cương thừa như được truyền lại
bởi Milarepa, cũng có thể được xem như sự phát triển có
thể có trong con người một mối liên kết giữa Phật tánh
và tâm thức mê vọng bình thường. Ý tưởng vĩ đại sau
quan niệm này về một liên hệ giữa cái cao nhất và cái
thấp nhất trong bản tánh con người, cái mà chỉ những đạo
sư vĩ đại nhất chứng ngộ được, thì được diễn tả
trong Kim Cương thừa như sự đồng nhất căn bản của niết
bàn và sanh tử : niết bàn là sự thấu hiểu sanh tử !
Về
vai trò thân thể của con người trong sự thiết lập mối
liên hệ này, có đủ những gợi ý trong bản văn để cho
độc giả biết rằng y phải bỏ lại đằng sau mọi quan niệm
quy ước về “những ma quỷ xấu xa của xác thịt” cũng
như những tưởng tượng hiện đại về sự linh thiêng của
sự phóng túng dục lạc. Ra khỏi thời kỳ thiền định mãnh
liệt đầu tiên trong đơn độc, Milarepa kể lại với Marpa,
“Con đã hiểu rằng thân thể vật chất này, làm bằng thịt
và máu cùng với tâm ý thức, được tụ hội lại với nhau
bằng mười hai mắt xích nhân quả – trong đó có ý muốn
(hành) – phát sinh từ vô minh. Thân thể này là bình chứa
được ban phước cho những ai may mắn mong muốn tự do, nhưng
nó cũng dẫn những người tội lỗi đến những cõi thấp.
Con đã hiểu rằng trong thân thể này có sự lựa chọn sống
chết giữa được và mất khổng lồ, liên hệ tới hạnh
phúc hay thống khổ vĩnh viễn trên bờ biên giữa tốt và
xấu...”
Rõ
ràng rằng khi Milarepa theo đuổi sự tìm kiếm tâm linh của
ngài, một sự chuyển hóa nào đó xảy ra trong thân thể ngài
có bản chất vừa là thần diệu vừa hợp với quy luật cao
hơn. Tuy nhiên độc giả không có điểm nào để nghĩ sự
chuyển hóa vật chất này là một cái gì ngoài một kết quả
của công việc thiền định. Nó không hề được trình bày
như một cái gì phải cố gắng để đạt được một cách
trực tiếp, dù cho có vẻ rằng cái chúng ta đang nói đến
ở đây là một tiến trình sáng tạo trong một cơ thể con
người được tâm linh hóa, nó cung cấp năng lực và sự hỗ
trợ phi thường cho công việc cơ bản của thiền định. Nói
cách khác, sự liên kết giữa những bản chất thiêng liêng
và phàm tục của con người được thiết lập trong chính
thân thể, bấy giờ thân thể ấy với một Đại Bồ tát
trở thành hòn đá dẫm chân đến những cấp độ cao hơn
của tâm thức và lòng bi.
Người
ta có thể nói về Milarepa rằng ngài chia tách không khoan nhượng
tánh tỉnh giác khỏi nhiều thứ kết quả có thể có của
tánh tỉnh giác và không bao giờ để cho những người khác
thấy ngài lẫn lộn giữa hai thứ. Trong mối quan hệ này,
người ta có thể nhớ đến câu nói của Jesus, “Ngươi hãy
tìm trước hết vương quốc của Thiên Đàng.”
Sanh
tử, bánh xe quay của sanh ra và chết đi, vòng quay tái hồi
vĩnh cửu của khổ đau và tham muốn, mọc rễ trong mê lầm
và vô minh. Con người tri giác cái hiện tướng bề ngoài như
là thật, cho những nói dối và tưởng tượng kỳ quái là
chân lý. Từ đây hai hiệu quả tạo thành. Một mặt, sự
hiển nhiên tự nhiên của tính tương đối bị điều kiện
hóa bị chối bỏ ; con người không thấy hay không tham dự
một cách sinh động vào đời sống và thế giới chung quanh
nó, đời sống và thế giới đó trong khi không tuyệt đối
có thật, nhưng cũng không phải chỉ là một sáng tạo ra của
sự chủ quan của riêng nó. Thêm nữa, bằng cách gán tính
chất “có thực thể” vào cho thế giới mà nó “thấy”
và cho chính nó, “người thấy” – bằng cách xem cả hai
hiện thể của nó và “đối tượng” của kinh nghiệm chủ
quan của nó là những thực tại cố định, nó gán cho chúng
tính cách “vĩnh cửu”, cái này loại trừ mọi khả tính
của sự tự chuyển hóa. Nhưng chính những mê lầm vọng tưởng
này là điều nó cần nghiên cứu. Hiểu những mê vọng đó
có nghĩa là có được một quán chiếu vào thấu nền tảng
của niết bàn, tức là tính cách của tánh giác bổn nguyên
của mình.
Sự
nghiên cứu học hỏi của vị tăng bắt đầu từ cố gắng
nghe với một chú ý rộng mở những lời giảng về giáo lý,
theo dõi bằng cách đọc những kinh điển thích hợp theo một
cách cho phép người ấy ít nhất đem vào một cái gì trong
những cấp độ khác nhau của ý nghĩa chứa đựng trong những
kinh điển đó. Tuy nhiên, dù hiểu biết như vậy sở đắc
được theo một cách nghiêm túc hơn xa thói tục thông thường,
nó cũng sẽ rơi rụng như một căn nhà bằng những cỗ bài
khi cơn gió nhẹ đầu tiên của sự phê bình hay của khó khăn
đời sống thổi tới. Nhiều hơn thế nữa là cần thiết,
dù chỉ mới bắt đầu. Một sự phân biệt thấu nhập cần
thiết được phát triển qua sự vững chắc của tập trung
và qua một nghiên tầm lý trí tinh tế hơn. Trang bị bằng
sự hiểu biết cần thiết và một tâm thức phê phán sắc
bén, người ta tiến hành với một sự khảo sát thấu đáo
toàn thể giáo lý – không chừa cái gì, dù ngay cả những
lời của Phật – cho đến khi người ta cảm giác và bắt
đầu cảm nhận một sự cố kết và hòa điệu sâu xa bên
dưới trong những điều từ trước có vẻ là những niềm
tin mâu thuẫn nhau trong giáo pháp, những chiến lược thuộc
tâm lý, và những áp dụng thực hành khác nhau.
Truyền
thống Phật giáo nhấn mạnh rằng chỉ nghiên cứu và tra vấn
mà không có sự thực hành và kinh nghiệm tương ứng thì không
tránh khỏi làm lớn thêm mê lầm và tự phụ, dẫn đến sự
hủy hoại tâm linh cho mình và thậm chí góp phần vào sự
suy đồi xã hội. Thảm cảnh của lama pháp thuật và nhà biện
chứng Geshe Tsakpuhwa trong Cuộc Đời rõ ràng chứng tỏ điều
này. Điều tương tự cũng đúng cho những người buông thả
công khai hay âm thầm trong những hình thức khác của sự tự
mãn với mục tiêu chập chờn khi tiến hành một đời sống
tâm linh.
Sự
quan sát trực tiếp trong một trạng thái sẵn sàng chấp thuận
làm bày lộ sự tưởng tượng hoang đường của những đặt
tên gán ghép ý niệm vào thực tại. Bởi thế, bất cứ những
kết luận trí thức nào người học trò đạt được cần
phải được xác định lại và chuyển hóa qua kinh nghiệm
trực tiếp và sự tự quan sát. Điều này đòi hỏi sự chủ
động đầu tiên đích thực mà một con người có thể thực
tập, nếu không nó chỉ là một quân tốt đen của mọi thế
lực và mọi sự điều kiện hóa của thế giới bên ngoài
và bên trong. Nhưng chính vì đó thực sự là hành vi đầu
tiên của tự do trong một đời sống con người hoàn toàn
bị điều kiện hóa, nên nó cực kỳ mong manh dễ vỡ. Tham
hỏi với một đạo sư và với những bản văn thích hợp
là ích lợi trong giai đoạn này. Học trò phải có thể trực
tiếp dõi theo vừa cả ảo tưởng tâm lý và trí tưởng tượng
thói quen vừa cả sự bao la vốn có của bản tánh chân thật
của nó. Chỉ bấy giờ nó mới có thể trực tiếp chứng
ngộ chân lý như là bất nhị, giản đơn, tĩnh lặng, thanh
tịnh và sáng rỡ, và vượt khỏi phạm vi của định nghĩa
và tiến trình tư tưởng. Một sự làm vững chắc kiên cố
và sâu hơn dai dẳng liên tục sự chứng ngộ này về sau sẽ
hoàn thành tiến trình chuyển hóa toàn triệt được biết
như là “năm giai đoạn”. Đây là điều Milarepa đã hoàn
thành.
Trong
Tiểu thừa Phật giáo, sự Giác Ngộ thông thường thì được
đồng hóa với niết bàn, nó có nghĩa là “vượt lên khỏi
khốn khổ”. Niết bàn như thế là một trạng thái tự do
thuộc về chủ thể được đạt đến qua sự tận diệt những
nhiễm ô bẩm sinh như vô minh, tham muốn và giận ghét, chúng
được nhận biết là nguyên nhân độc nhất của những khốn
khổ của con người. Theo Thừa Thanh Văn và Thừa Độc Giác,
niết bàn là sự giải thoát khỏi sự trói buộc của tự
mê lầm và chu kỳ của đời sống.
Tuy
nhiên, trong hầu hết hình thức của truyền thống Đại thừa
và nhất là trong Kim Cương thừa, không thể phát triển một
tâm lý học tâm linh mà không có những giáo lý vũ trụ luận
cần thiết. Sự đương đầu với mức độ và phạm vi khách
quan vô cùng lớn lao hơn của thực tại và chân lý xảy ra
dai dẳng ngay cả đối với những hành giả cao cấp nhất.
Bởi thế truyền thống Đại thừa hoàn toàn rõ ràng trong
sự phân biệt giữa trạng thái niết bàn, như đã diễn tả,
với trạng thái Abi-buddhi, hay Trí Huệ Tối Thượng. Chấp
nhận rằng có nhiều sự chung cùng giữa hai trạng thái được
đề cao này, Con đường Bồ Tát nhìn nhận rằng ở một mức
độ nào đó, sự nhấn mạnh chỉ vào việc hoàn thành giải
thoát cá nhân sẽ thực sự gây cản trở cho sự khai triển
đầy đủ những tiềm năng của con người và làm cho dừng
lại chuyển động hướng đến cái mà chúng ta dịch trong
bản văn này là Giác Ngộ Hoàn Toàn.
Giác
Ngộ Hoàn Toàn hay Viên Mãn có thể được nói đến trong rất
nhiều cách. Trong Milarepa nó được trình bày theo giáo pháp
Ba Thân, Ba Mức Độ của Giác Ngộ : Pháp thân, Báo thân và
Hóa thân.
Pháp
thân, Dharmakaya, nghĩa đen là “Thân của Tất Cả Các Pháp”,
ám chỉ trạng thái tối hậu của sanh tử và niết bàn. Rõ
ràng là ít người có thể thức tỉnh đầy đủ với kho tàng
kỳ diệu này của Chân Lý Tối Hậu. Nó được mô tả là
mở khắp, sáng rỡ, tự bộc lộ chính nó khắp mọi mức
độ của thực tại vũ trụ, gồm cả thế giới vật chất
và những lãnh vực thực tại vi tế. Trong sự biểu lộ về
sau của nó, nó là Báo thân ; trong cái sau nữa, như một hiện
thân trần thế của Thực Tại Tối Thượng, nó là Hóa thân
– Phật hiện diện như một thân thể con người.
Trong
ý niệm Pháp thân người ta tìm thấy một diễn tả phương
trình bằng nhau của Đại thừa giữa tâm thức (trong nghĩa
cao nhất) và thực tại. Nói một cách phân tích, Pháp thân
gồm Tánh Giác Siêu Việt và bản tánh sâu xa nhất của nó
là tánh Không. Tính cách bẩm sinh đơn giản và thanh tịnh
toàn thể của tánh giác là cái thường được xem là niết
bàn, trạng thái trong đó những vết nhơ của mê lầm vọng
tưởng và méo mó được rửa sạch. Ở đây nó không chỉ
là một trạng thái “thuộc về chủ thể” (như trong Tiểu
thừa Phật giáo) mà là một thực tại bản thể luận –
cái thực tại bản thể luận. Không bị điều kiện hóa,
nó được diễn tả là vô sanh, vô trụ và không thể hủy
hoại. Tính cách của nó như vậy là siêu vượt khỏi tư tưởng
diễn dịch và không thể chỉ định cũng không thể phân biệt.
Báo
thân có thể hiểu như sự biểu lộ cao nhất và vi tế nhất
của Pháp thân hay Giác Ngộ trong lãnh vực của thực tại
tương đối, và như thế nó là Lòng Bi trên cấp độ siêu
hình học và vũ trụ. Nó là tinh túy của Tánh Giác tự biểu
lộ chính nó vì lợi lạc của tất cả chúng sanh – cả một
cách chủ thể lẫn khách thể ; cả trong một con người cá
nhân đã chứng ngộ lẫn trong bản tánh sâu thẳm nhất của
thực tại. Trong ý niệm Pháp thân, chúng ta đã thấy Đại
thừa Phật giáo hiểu Giác ngộ như tinh túy của cả tâm con
người và của toàn thể vũ trụ như thế nào ; trong ý niệm
Báo thân, Lòng Bi được thêm vào giác ngộ trên cấp độ
vũ trụ và siêu vũ trụ – hay, để xác định nó trong một
cách khác nhưng tương đương, trong những cấp độ vi tế
nhất, sâu bên trong nhất của tâm.
Phật
Báo thân, Phật siêu vũ trụ, thân vi tế của Phật – ba câu
này có thể cho độc giả một gợi ý nào về điều được
nói ở đây. Những làn sóng của lòng bi mãnh liệt của Báo
thân không ngừng thấm khắp mọi thế giới chứa đựng mọi
cấp độ của chúng sanh để giúp làm nhanh hơn tiến trình
giải thoát của họ bằng cách hủy hoại gốc rễ của nghiệp
gây hại. Sự sai biệt bao la của biểu lộ Báo thân được
minh họa bởi những hình thức tượng trưng như những hóa
thần bổn tôn (yidam) và Năm Đức Phật Chiến thắng. Những
tâm thức đã thức tỉnh có thể tri giác Báo thân và nhận
sự hướng dẫn trực tiếp từ đó. Và ngay những người
bình thường biết được thật tánh của Báo thân có thể
nắm bắt được những thông điệp của nó.
Tuy
nhiên vì Báo thân không thể tri giác được đối với chúng
sanh bình thường ở cấp độ tâm thức bình thường của
họ, Báo thân đáp ứng cho những nhu cầu của họ qua những
biểu lộ trần thế gọi là những hiện thân Hóa thân. Hóa
thân là Phật hiểu theo nghĩa đen – một người sinh ra trong
một thời gian và nơi chốn đặc biệt, hay một đại thánh,
một Bồ tát, một hiện thân của một thực tại cao nhất.
(Quan niệm lama tái sanh hiện thân có những gốc rễ trong phương
diện này của giáo lý Ba Thân.) Nhưng trong một ý nghĩa nền
tảng hơn, Hóa thân là một biểu lộ nào bắt nguồn trên
cấp độ của Tâm giác ngộ trọn vẹn được gởi đến và
có thể tri giác cho những chúng sanh bị giam cầm trong những
ảo tưởng và khổ đau của sanh tử.
Những
giáo lý bí mật của Kim Cương thừa nói đến “ba cấp độ
của Ba Thân” – đời sống hiện sinh làm người, tiến trình
chuyển hóa, và sự chứng ngộ cuối cùng. Trong Kim Cương thừa
mọi cấp độ của tánh giác cần được thực hiện và thống
nhất trong đời sống con người bình thường, “trong một
đời”, như có nói. Từ Sanskrit “vajra”, kim cương, ám chỉ
cái toàn thể không thể phân chia của tánh giác ở tầm mức
vũ trụ và thực tại (chày kim cương) ; yana, thừa, là đường
lối hay chiếc xe, một từ thường để chỉ một chuyển dịch
từ một cấp độ sang một cấp độ khác ; nhưng ở đây
nó bao hàm sự chuyển hóa tức thời của tâm thức con người
thành một trạng thái tâm thức của một cái nhìn thấy tối
thượng và lòng bi vô hạn.
Trong
những giáo lý mật truyền, Ba Thân không giới hạn chỉ vào
chiều kích vũ trụ, mà nó cũng được hiểu là đang hiện
diện, ít nhất trong tiềm năng, ở trong chính cá nhân. Trong
nghĩa này, Pháp thân là tánh tỉnh giác sâu thẳm nhất, trong
sâu nhất của con người, nó bị che dấu dưới những nhơ
bẩn của những méo mó và nhiễm ô ; Báo thân là “hạt nhân”
của những năng lực vi tế tối thượng chúng lưu xuất từ
tánh giác trong sâu nhất này và chúng bình thường ngủ trong
phức cảm tâm sinh lý của tâm thức con người.
Như
thế ngay tâm thức bình thường của con người ở cấp độ
hàng ngày cũng biểu thị cơ cấu Ba Thân. Chẳng hạn, tánh
Không bẩm sinh hay vô tự tánh của tâm thức là Pháp thân
; tánh sáng tỏ và thanh tịnh bẩm sinh là Báo thân, nó trở
thành Hóa thân khi nó biểu lộ và phơi bày không ngăn ngại
trong những tư tưởng của cá nhân.
Giáo
lý Ba Thân và vũ trụ luận Phật giáo này có thể giúp xua
tan một số lầm lẫn về bản tánh của những yidam, daka,
dakini, những thần hộ pháp, tám đạo quân chư thiên và quỷ
thần (thiên long bát bộ) và những biểu tượng tâm linh-vũ
trụ luận khác chúng khá nổi trội trong bản văn này.
Những
đạo sư của truyền thống Kim Cương thừa tri giác vũ trụ
hình tướng và siêu hình tướng như sau :
Vũ
trụ vật chất bao la không cùng là sản phẩm của một sự
thao diễn tương tác không ngừng và sự tương nhập của những
năng lực và vật chất trong những lãnh vực vô cùng không
thể tưởng tượng của hư không. Trong vũ trụ vật chất
không có gì là tĩnh đọng. Mọi sự vật ở trong một trạng
thái năng động thường trực của chuyển động và thay đổi.
Rốt ráo không có những biên giới để thấy hay quan niệm
được trong toàn bộ vũ trụ.
Tương
tự, vũ trụ tâm thức gồm những sức mạnh tâm linh, tâm
sinh lý hay sinh vật học được ám chỉ như sáu cõi của Bánh
Xe của Đời Sống. Những đạo quân của chư thiên, quỷ thần,
rồng v.v..., và niềm tin vào sự hiện hữu của một hệ thống
thần linh tổng quát, phát triển từ tôn giáo Bošn tiền Phật
giáo của Tây Tạng, nó bao gồm một vũ trụ luận hệ thống
cấp bậc tương đương trong nhiều mặt với quan niệm chung
của Phật giáo về sáu cõi sanh tử.
Trong
siêu hình học cao hơn của Phật giáo, những vũ trụ vật
chất và tâm thức được xem là chỉ hiện hữu như những
ý niệm thuần túy. Ý tưởng nền tảng là tất cả mọi hiện
tượng, hoặc vật chất hoặc tâm thức, đều không thật,
chỉ là những sản phẩm của những nguyên nhân và năng lực
thay đổi, tác động lẫn nhau. Như Phật giáo dạy rằng không
có cái “ngã” hay “linh hồn” như một thực thể xác định
trong cá nhân, nó cũng dạy rằng toàn bộ cõi vật chất và
tâm linh không có thực tại độc lập. Qua sự thực thành
lời dạy, qua sự nghiên tầm lý trí, kinh nghiệm thiền định
và sự quán chiếu trực giác có được từ đó sẽ hiển
bày mọi ý niệm của nhị nguyên là hư vọng, thấy được
rằng tất cả chúng sanh – bất kể họ hiện hữu ở đâu
trong hệ thống cấp bậc tâm linh-vũ trụ – chỉ là nhất
thời, những hợp chất bị điều kiện hóa đổi thay của
những dòng năng lực trong vũ trụ. Những cái gọi là chúng
sanh hay thần linh không có sắc tướng không phải là ngoại
trừ, bởi vì chúng cũng có tâm thức và những năng lực.
Nhưng
có một phạm trù của thực tại mà chúng ta có thể gọi
là “siêu vũ trụ”, chứa đựng những bậc hiện hữu và
tác động như những chuyển động nghịch lại với vũ trụ
theo nghĩa hành động của họ chống lại với sự thu hút
vào trong bánh xe của sanh tử của tất cả chúng sanh trong
sáu cõi của vũ trụ tâm thức. Những bậc này là những bậc
Giác Ngộ ở nhiều cấp độ sáng suốt khác nhau – những
Bồ tát, hóa thần bổn tôn (yidam), daka, dakini và những thần
hộ pháp.
Những
yidam là những biểu lộ và hiện thân biểu tượng của Báo
thân. Dù là những năng lực năng động sáng tạo của tâm
thức giác ngộ, họ cũng vẫn phải được hiểu như là những
biểu tượng theo nghĩa họ hiện hữu như một phương tiện
chuyển tải và tiếp thông ở những cấp độ cao nhất của
tánh giác. Evans Wentz gọi họ là “những thần bổn mạng
thủ hộ”. Sự tiếp thông với họ không được tự động
ban cho con người, mà là kết quả hiếm hoi của sự thực
hành mãnh liệt trong kỷ luật của con đường. Điều này
xác nhận nguyên tắc chính yếu của Phật giáo là giải thoát
và giác ngộ phải được tìm cầu mà không phải là được
ban cho. Những hình thức khác nhau của hóa thần bổn tôn kết
hợp với những thực hành quán tưởng và sự chuyển hóa
những năng lực thực ra là những biểu hiện tâm lý trong
công việc thiền định. Những hóa thần bổn tôn tượng trưng
và thực sự đại diện cho tính cách, những phẩm tính, thuộc
tính và thần lực của các bậc Giác Ngộ. Như thế, họ được
tiếp cận bởi hành giả được nhập môn như là một tượng
trưng đại diện của thực tại tối cao, thực tại đó nằm
trong chính hành giả và hướng về đó mà hành giả nỗ lực.
Họ được tri giác không phải như vị Thần Tối Thượng
cũng không phải như những tác nhân siêu nhiên. Đối với
hành giả được nhập môn, ý nghĩa của họ là như một nhắc
nhở về những tiềm năng chưa được khai triển của chính
hành giả đó.
Những
thần hộ pháp được xem là những biểu lộ phụ của Báo
thân. Họ thường được diễn tả như những lưu xuất của
các Bồ tát.
Về
những dakini, những vị giữ một vai trò nổi bật trong Cuộc
Đời, từ dakini có nghĩa đen là “người nữ di chuyển qua
không gian”. Trong nhiều giải thích về từ này, một cái
có lẽ là thích hợp với bản văn của chúng ta là “người
nữ hưởng thọ cõi giới của tánh Không” – nghĩa là, người
đã đạt đến sự sáng tỏ cao cấp. Trong một ý nghĩa, những
dakini (và những daka, những đối cực nam phái của họ) thuộc
về những yidam trong sự việc họ là những biểu lộ của
trạng thái cao nhất của Giác ngộ trong cả con người lẫn
vũ trụ. Nhưng ý nghĩa vẻ đẹp hay sự hung nộ của họ mạnh
mẽ gợi ý rằng một yếu tố tương quan cảm xúc là nền
tảng. Như một nhà quan sát đã nêu ra, “Lama là Phật ở
ngoài mình ; yidam là Phật ở trong mình ; những dakini là Phật
được yêu mến.”
Trên
mức độ siêu vũ trụ của sự chứng ngộ, những sinh thể
này của phạm trù thứ ba được giao phó công việc bảo tồn
kho tàng mênh mông của những giáo lý mật truyền. Trên mức
độ khác, những dakini và daka giúp đỡ thiền giả trong việc
đáp ứng những mục tiêu tâm linh cao cả nhất của thiền
giả, và như thế tượng trưng cho chuyển động nghịch vũ
trụ trong toàn thể vũ trụ. Ở đây, Kim Cương thừa vượt
quan niệm sâu xa của Đại thừa về hợp nhất tối hậu của
sanh tử và niết bàn bằng cách thiết lập như nội tại trong
cơ cấu của vũ trụ những năng lực thực sự giúp đỡ cho
con người trong công việc hòa hợp và thống nhất hai chuyển
động nghịch chiều nhau này trong cõi giới tâm thức của
con người.
Chìa
khóa của thành tựu nằm trong một hành động đơn giản và
lạ lùng của sự thức tỉnh tự nhiên. Đây vốn đã là một
trạng thái tỉnh giác không tách biệt khỏi bản tánh tối
hậu của Giác ngộ, tuy nhiên nó cũng là con đường nhanh chóng
của sự chuyển hóa tức thời, và như thế cho một cái nhìn
bao quát đối với những khả tính vô hạn của kinh nghiệm
và những phương tiện thiện xảo vô tận. Sự chuyển hóa
hướng vào trong ở những cấp độ khác nhau của tâm thức
cuối
cùng thể nhập vào mọi giác quan và công dụng chức năng
của con người, gồm những phản ứng với những hoàn cảnh
ưa thích hay không ưa thích cũng như mọi hoạt động khởi
từ cơ cấu thân xác – “thân, ngữ, tâm”. Với bất cứ
phương pháp thực hành tâm linh nào, người ta chủ yếu cố
gắng khai triển mối quan tâm bẩm sinh đối với sự giải
phóng ở tầm mức vũ trụ khỏi sự khổ, bao giờ cũng mở
rộng phạm vi của từ và bi nhưng cũng đồng thời tỉnh biết
bản tánh chân thật đằng sau mọi thực thể bề ngoài, thấy
được cái nhất thể tiềm ẩn của mọi hình tướng và tánh
không bổn nhiên của chúng. Trong khi làm như thế, người ta
thiết lập một nền tảng vững chắc của kinh nghiệm bên
trong đến độ ngay cả những xúc tình thất vọng, sợ hãi,
tham dục và giận dữ đều chuyển thành những kinh nghiệm
ơn phước nhất và xuất thần nhất về Thực Tại.
Đối
với một người được nhập môn mỗi một biểu tượng truyền
thống gởi gấm vô số cấp độ ý nghĩa, như có chỉ ra trong
một chú thích của bản văn “sáu cách thức và bốn phương
pháp” (Chú thích 11 ở Chương 4) về sự soi sáng giáo pháp
Mật thừa Phật giáo. Những biểu tượng gồm tranh tượng,
đồ hình, những chữ âm thiêng liêng, mạn đà la, lễ trượng
(chày kim cương), chuông, trống, y phục, trang sức, âm nhạc,
múa và những cử động. Thêm vào đó có những biểu tượng
tự nhiên cũng mật truyền theo ý nghĩa của chúng, như âm
thanh, tiếng nói, thân thể con người, những màu sắc, những
nguyên tố tự nhiên (các đại), mặt trời, mặt trăng, bầu
trời, biển, những thú vật, cây cối, chim chóc, không gian
và thật ra, toàn thể vũ trụ.
Chỉ
bằng cách thấu hiểu ý nghĩa thật sự của những biểu tượng
này người ta thành tựu quán chiếu thấu suốt vào thực tại
nằm sau những hiện tượng, và như thế chuyển hóa những
méo mó và những ảo tưởng tâm lý. Qua việc thấy những
sự vật không gì hơn là những biểu tượng hay ý niệm, một
người nhờ vậy thấy rõ giá trị tương đối và ý nghĩa
thực tiễn của chúng trong đời sống và trong những mối
quan hệ của y. Người ta phải thông hiểu rằng tánh Không
và sự vô tự tánh rốt ráo của tất cả những thực thể
tương đối là cái mở ra những khả tính năng động của
chúng trong dòng chảy cách mạng, chống đối lại vũ trụ
của sự giải phóng tâm linh.
Như
trong vũ trụ, cũng thế là bên trong con người : tiến trình
nghiệp là nội tại trong mọi sự. Bởi thế con người bị
điều kiện hóa bởi nhiều sức mạnh – bên trong bởi những
tác nhân tâm lý và bên ngoài bởi những ảnh hưởng vật
lý, môi trường và hoàn cảnh. Trạng thái ban sơ của tánh
giác bổn nguyên bị chìm dưới đầm lầy bùn đen của mọi
thứ điều kiện này, và sự phát triển của số phận con
người vì vậy bị trói buộc vào trong vòng của hiện hữu
sanh tử. Con đường mật truyền được xem là phương tiện
hiệu quả nhất để bẻ gãy vòng lẩn quẩn của những chuyển
động sanh tử này, và để thực hiện sự bộc phát của
thức tỉnh tự nhiên.
Như
thế những thực hành tâm linh là điều chúng ta đã nói đến
trên một mức độ vũ trụ như là những chuyển động nghịch
lại để giúp đỡ con người kiểm soát được những khuynh
hướng bên trong và bên ngoài đang cầm tù nó. Khi hoàn toàn
được thắng cương, chính những khuynh hướng này trở thành
những dụng cụ vô giá để làm sống động lại những nguồn
mạch ẩn dấu của năng lực cao hơn bên trong con người –
“hạt nhân” của những nguyên tố vi tế và Lửa Bên Trong
(Tummo). Tất cả những sức mạnh khác nhau này được hài
hòa bằng những bước tiến bộ của cái thấy toàn hảo và
hơi ấm không ngừng của lòng bi khiến sự tinh tấn kiên trì
đem một người một lúc càng gần hơn với mục tiêu là sự
sáng tỏ cuối cùng rốt ráo.
Về
sự thực hành Lửa Bên Trong (Tummo), độc giả xem Chú thích
5 của Chương 3. Ở đây chỉ cần nói rằng lý thuyết và
thực hành liên quan đến Tummo bao gồm những quan niệm siêu
hình học và tâm lý học sâu thẳm nhất, cũng như những thực
hành khác của yoga cao cấp hơn.
Người
Tây phương cần ý thức rằng nhiều giáo lý Kim Cương thừa
được viết ra trong một ngôn ngữ mật mã. Chìa khóa để
cho sự hiểu thật sự không chỉ nằm trong những giáo huấn
truyền miệng bí mật, mà còn trong việc thực hành với sự
khiêm hạ và kiên trì như bản thân Milarepa làm gương mẫu.
Những
thực hành yoga cao cấp được gom lại trong những chủ đề
khác nhau, như là Sáu Trao Truyền Bí Mật của Naropa, Năm Bước
đến Kết Thúc Trọn Vẹn theo sự Tuyệt Hảo Thống Nhất
của cái Bất Tri, Sáu Chuyển Hóa theo Chiều Kích Siêu Việt
của Thời Gian và v.v... Những nhận xét gay gắt của Milarepa
về việc chỉ nghiên cứu theo lối học giả và đọc sách
không phát xuất từ thành kiến chống đối lại sự nghiên
cứu ý niệm cho bằng từ cái nhìn thấu suốt vào cách thức
sự theo đuổi thiêng liêng của việc nghiên cứu có thể bị
phàm tục hóa để thỏa mãn những tham muốn ích kỷ và những
mục tiêu cá nhân. Dù Milarepa nhận ngài không bao giờ làm
việc theo lối học giả, ngài đã chứng tỏ một hiểu biết
thấu suốt trong chiều sâu siêu hình học và những học thuyết
Phật giáo, đặc biệt là Trung Quán và Đại Ấn.
Khả
năng trình bày những giáo lý phức tạp trong cách đơn giản
và sáng sủa của ngài là đáng ngạc nhiên. Phương cách truyền
thống của ngài – ca hát những bài thơ hay những bài tụng
ca ứng khẩu tức thời – là của riêng ngài. Một cuộc cách
mạng bên trong đã chuyển hóa công việc của tâm thức phê
phán của ngài thành sự trào phúng tâm linh. Những bài ca của
ngài trình bày những tiếp cận khác nhau bên trong truyền thống
và thường phát hiện những mâu thuẫn sống động che dấu
trong những thái độ và cách ứng xử của con người.
Qua
những năm hiến mình cho thiền định và thực hành nơi hoang
vắng núi non, sống như một tảng đá núi, theo đuổi hình
thức khắt khe nhất của khổ hạnh, Milarepa đã hoàn thành
sự sáng tỏ cao nhất có thể đạt được và năng lực tâm
linh khiến ngài có thể hướng dẫn và tạo hình số phận
của vô số đệ tử người và loài chẳng-phải-người. Qua
ngài, phong trào hiện thời để làm sống lại Phật giáo ở
Tây Tạng đã nhận được một số thúc đẩy lớn lao. Như
hàng triệu ngôi sao, những đệ tử đã thức tỉnh, những
lama và thiền giả áo vải thắp sáng xứ sở dù khi Milarepa
đã đi vào cõi giới Pháp thân trùm khắp. Lịch sử của truyền
thống Kagyuš có từ đó với bốn dòng chính và tám dòng phụ
là một thành tựu rực rỡ phi thường.
Những
năng lực kỳ diệu mà Milarepa công khai biểu lộ là sản phẩm
phụ của sự tận hiến tuyệt đối cho thiền định và thực
hành yoga và sự thông thạo về chúng, và đặc biệt là của
sự thành tựu của ngài trong việc hội nhập sự trong suốt
của tánh giác với tất cả những năng lực vi tế của cơ
thể con người qua sự làm cho hoạt động Lửa Bên Trong. Dù
cho với một lý do tốt đẹp, truyền thống thường cấm cả
sự sở đắc và phô diễn những thần lực này, Milarepa đã
dùng chúng như một phương tiện để gởi những thông điệp
tâm linh thân thiết đến những tín đồ cũng như những kẻ
thù của mình. Đó là thần lực vô tận của lòng bi được
duy trì bởi sự phân biện không lầm lẫn và quán thấy tối
thượng, chúng giữ một vai trò trọng yếu trong việc huấn
luyện những tín đồ và phụng sự nhân loại. Sự hiểu biết
siêu nhiên được thành tựu qua những phẩm tính này cho phép
người sở hữu nó thấy biết không ngăn ngại cả sự lưỡng
nan và những tiềm năng ẩn dấu của những người khác, trong
một cách như Marpa và Milarepa chứng tỏ.
Như
thế Milarepa là hiện thân thật sự của cái tối cao mà con
người có thể ngưỡng vọng và đạt đến. Thái độ và
sự tiếp cận của riêng ngài là giống với của đức Phật
một cách gây sửng sốt trong việc gặp gỡ những nhu cầu
khác nhau của những cá nhân. Ngài được tuyên xưng là vị
đạo sư không thể chối cãi của siêu hình học Phật giáo
và là “tối thượng giữa những thiền giả đã thức tỉnh”,
một sự tôn vinh hiếm hoi của những đạo sư của mọi trường
phái Phật giáo Tây Tạng.
Cuối
cùng, bản thân tiểu sử là một hành vi sâu thẳm của lòng
bi. Như đức Dudjom Rinpoche đã nói trong dịp thăm viếng Hiệp
Chủng Quốc vào năm 1976, khi ngài bằng lòng một cách nhân
từ đọc lời giới thiệu mở đầu này, Cuộc Đời của
Milarepa không phải là một sự cổ vũ cho sự thiếu thốn
ở bên ngoài dưới bất kỳ hình thức nào, mà là một thí
dụ chứng tỏ rằng để đạt được giải thoát trong đời
này thì sự nỗ lực dai dẳng là cần thiết.
Bản
văn mà bản dịch hiện đây dựa vào là một bản in hiện
đại ở Ấn Độ do Kalsang Lhundrup ở Varanasi in ấn. Khác với
hầu hết bản in Cuộc Đời, nó được xuất bản mà không
có lời cầu nguyện thường xuất hiện ở cuối bản văn.
“Lời cầu nguyện đến Milarepa” này, bằng thể kệ do Nankha
Gyaltsen viết, ngài là Đại Thiền Giả của Lachi, tóm kết
những đặc trưng của cả Cuộc đời và những Bài Ca. Theo
truyền thống có ba văn bản cùng xuất hiện như là một bộ
nói về cuộc đời và những lời dạy của Milarepa.
Bản
khắc gỗ nguyên thủy của tiểu sử và những bài ca sưu tập
được do Tsang Nyon (1452-1507) kết tập, dưới tên bí truyền
là Dušrtoš Nyulwai Gyenchen. Người kết tập là Tsang Nyon đã
được xác nhận khỏi phải nghi ngờ. Người ta có thể đọc
những đoạn trong tiểu sử của ngài, có tựa đề Cuộc Đời
của Vị Thánh xứ Tsang, do Dr E. Gene Smith xuất bản trong đó
chương thứ mười một đặc biệt đề cập đến những cố
gắng của Tsang Nyon trong việc sưu tập những bản văn và
đặt làm những mộc bản. Người viết tiểu sử của Tsang
Nyon viết (tờ 68, trang 137) : “Tôn giả (Tsang Nyon) nghĩ rằng
dù nhiều ấn bản của tiểu sử và những bài ca thu thập
được đã có, tôi phải làm sống lại bản văn đặc biệt
này căn cứ trên truyền thống truyền miệng...” Cũng hiển
nhiên rằng những mộc bản chắc chắn được khắc giữa
năm 1488 và 1495 ở Lato Shelpuhk. Tờ 73, trang 148 nói đến người
kết tập là “thiền giả tối cao, Tsang Nyon, ngài là tái
sanh của Milarepa.”
Về
nhiều bản in và dịch khác của công trình vĩ đại này, độc
giả có thể xem lời nói đầu của Dr Smith trong cuốn sách
nói ở trên. Một phiên bản khác đáng chú ý được kết
tập bởi mười hai Đại Đệ Tử và bởi Lhatsun Rinchen Namgyal
(1473-1557), ngài là đệ tử của Tsang Nyon. Dù chính tôi chưa
thấy bản in này, tôi được biết chắc rằng nó chứa đựng
thông tin phụ thêm về những chi tiết cuộc đời của Milarepa.
Tôi cũng hiểu rằng giữa những bản khá được biết đến
là bản kết tập bởi Shijey Repa, một vị đồng thời với
Bodong Panchen vĩ đại (1377-1451). Tiểu sử của Situ Chokyi Junnay
nói đến bản này như là “bản chép tay được giữ gìn
ở tu viện Chuwar ở Drin”. Lama Deshung Kunga Tenpai Nyima III thông
báo cho tôi rằng ngài đã thấy bản thứ hai và có lẽ chỉ
là bản in từ bản chép tay này khi nó thuộc quyền sở hữu
của Lama Kaygupa Rinpoche ở Núi Răng Ngựa Trắng. Bản đặc
biệt này nói về những viếng thăm của Milarepa đến Kham
và UŠ, vùng miền đông và trung Tây Tạng sau khi ngài thành
một đạo sư giác ngộ.
Có
một bản dịch ra tiếng Trung Hoa bởi Garma C. C. Chang và cũng
có một bản tiếng Mã Lai, nhưng bản dịch đầu tiên được
biết là ở Mông Cổ năm 1618 và xuất bản năm 1756 ; cũng
có xuất hiện hai bản dịch Mông Cổ khác. Bản dịch tiếng
Pháp, Thi Sĩ Tây Tạng Milarepa của Jacques Bacot, xuất bản tại
Paris năm 1925 và tái bản dưới tên Milarepa : những ác hạnh,
những thử thách và sự Giác Ngộ năm 1971. Bản dịch tiếng
Anh đầu tiên từ Tây Tạng của Kazi Dawa-Samdup xứ Sikkim và
W. Y. Evans Wentz, được xuất bản năm 1928 Đại Thiền Giả
Milarepa, in lần thứ hai 1951. Một bản dịch mới của nhà
sư Phật giáo người Anh, Lobsang Jivaka, được xuất bản năm
1965. Trọn vẹn cuộc đời của Milarepa được in thành những
Tanka (cuộn giấy vẽ tranh) với lời bình giảng Anh ngữ được
Toni Schmid sản xuất và in ở Stockholm năm 1952.
Tôi
rất vui mừng khi ban Dịch Thuật Viễn Tây ở San Francisco yêu
cầu tôi làm một cố vấn trong việc dịch thuật bản dịch
tiếng Pháp đáng chú ý của Bacot, nó trong những mặt quan
trọng thì khác với bản tiếng Anh của W. Y. Evans Wentz. Nhưng
chúng tôi sớm khám phá ra rằng cần đi xa hơn là chỉ dịch
bản Bacot ra tiếng Anh. Một lý do là Bacot đã bỏ hoàn toàn
chương cuối (Niết bàn), trong đó ý nghĩa cuộc đời và giáo
lý của Milarepa được truyền đạt qua một số những sự
việc thần diệu bao quanh cái chết của ngài. Nhưng ngoài điều
này, và một số lỗi lầm nhỏ trong bản dịch của Bacot,
chúng tôi thấy mình đứng trước sự thách thức vui vẻ và
không thể tránh phải có một bản dịch mới hoàn toàn Cuộc
Đời từ nguyên bản Tây Tạng. Cùng với những thành viên
của ban, tôi cảm thấy sự ích lợi lớn lao của một bản
dịch mới có thể đem lại cho mọi người cầu chân lý, nếu
chúng tôi có thể thành công bằng sự giản dị và trực tiếp.
Evans
Wentz thành công trong việc gởi gấm tinh túy của câu chuyện
Milarepa, như hàng ngàn người đã từng xúc động sâu xa bởi
nó qua hơn nửa thế kỷ vừa qua đã chứng minh ; nhưng như
giáo sư John Blofeld, người đã tử tế đọc qua bản dịch
của chúng tôi và có vài gợi ý quan trọng, đã nói, “Là
một lỗi lầm khi cho những bản dịch những cuốn sách trong
những ngôn ngữ Viễn Đông một mùi vị kinh thánh... Trong
khi những ngôn ngữ Cận Đông và Trung Đông là hoa mỹ hơn
tiếng Anh giản dị và thẳng thắn, điều ngược lại là
đúng với những ngôn ngữ loại Trung Hoa, như Thái, Miến Điện
và Tây Tạng.”
Trái
với Evans Wentz, bản dịch Bacot là chính xác và trực tiếp,
và mặc dù có vài mơ hồ và méo mó, chúng tôi đã nhờ vào
nó đáng kể, đặc biệt là những chương đầu. Người bạn
tốt Marco Pallis của tôi, anh hoàn toàn thông thạo ngôn ngữ
Tây Tạng, đã xem bản dịch Bacot là một công trình gây cảm
hứng. Trong cuốn sách của anh, Những Đỉnh Núi và những
Lama, đã nêu lên tính cách bản văn Tây Tạng là “một kiểu
mẫu của sự ngắn gọn ; một văn phong mạnh mẽ và thoát
khỏi sự rườm rà và đối thoại thì sống động cùng cực.”
Và về bản Bacot, anh viết rằng nó, “giữ được hầu hết
những phẩm tính của nguyên bản.”
Dù
ra sao, chúng tôi không dám so sánh bản dịch mới của chúng
tôi với những lao động mở đường của Evans Wentz và Bacot.
Để dịch một bản văn như Cuộc Đời ra một ngôn ngữ Tây
phương hiện đại là một công việc khó khăn hầu như nản
lòng : nó không chỉ đòi hỏi sự thông thạo hai ngôn ngữ
và một hiểu biết sâu xa về truyền thống Phật giáo, mà
cũng còn khả năng hòa giải và đặt thành lời hai quan điểm
về kinh nghiệm và tâm lý học con người rất khác biệt từ
nền tảng đến độ trái ngược nhau. Đồng thời, sự nghiên
cứu sát bản văn là một phần thưởng phong phú cho chúng
tôi đối với cố gắng được bỏ ra, chúng tôi cũng hy vọng
như vậy đối với những người khác.
Bởi
vì bản dịch của chúng tôi nhằm cho độc giả phổ thông
cũng như cho những người đã quen thuộc với những giáo lý
phương Đông, chúng tôi đã tối thiểu hóa sự dùng từ Sanskrit
và Tây Tạng, trừ những chữ như “karma” (nghiệp) đã trở
nên phần của bộ tự vựng sống của Tây phương. Mặt khác,
chúng tôi ý thức sự nguy hiểm khi mượn những từ Do Thái-Thiên
Chúa hay thuật ngữ triết học và khoa học Tây phương. Về
cách đọc những tên Tây Tạng, chúng tôi nhớ đến độc
giả phổ thông hơn là đưa vào hệ thống quy ước có tính
học giả trong cách phát âm và chuyển tự.
Phù
hợp với mục đích của bản dịch này, chúng tôi đồng ý
không có nhiều chú thích, mà chỉ nhiều chỗ trong sách với
những độc giả không quen với truyền thống cần được
thông tin phụ thêm. Một số chú thích được lấy trực tiếp
từ bản dịch của Bacot và được chỉ ra bằng chữ JB.
Tôi
muốn được cám ơn bạn tôi, Giáo sư David Seyfort Ruegg, vì
lòng tốt lớn lao của ông trong việc xem xét bản dịch lần
chót và cho những gợi ý cực kỳ quý giá và sự khuyến khích.
Tôi
biết ơn bạn tôi, James Eban, về bản sao Tây Tạng cuốn tiểu
sử để tôi có thể so sánh nó với bản in khắc gỗ của
tôi, đã quá cũ và sờn rách.
Cuối
cùng, là sự cảm kích của tôi đối với John Pentland, Dierdre
DeGay Fortman, Giáo sư Jacob Needleman, và tất cả ban dịch thuật
Viễn Tây đã quan tâm đến tôi với sự nồng nhiệt, thân
thiện và chăm sóc trong suốt nhiều lần thăm viếng kéo dài
của tôi đến thành phố San Francisco.
CUỘC
ĐỜI CỦA MILAREPA
Tiểu
Sử của Đại Đạo Sư Milarepa
Thiền
giả Một Đời Thành Phật
Chỉ
ra Con Đường Giải Thoát và Toàn Giác
LỜI
MỞ ĐẦU
Kính
lễ Lama của con.
Từ
ban đầu, trong Pháp thân(1) tuyệt bóng vô minh của ngài,
Hai
biểu lộ rực rỡ của ngài, mặt trời mặt trăng,
Thoát
khỏi hành tinh Rahu(2) ma quỷ,
Đã
chiếu rọi những hoạt động của lòng bi và trí huệ vinh
quang vô tận.
Bao
trùm toàn bộ cõi giới của tri thức,
Ngài
đã trừ sạch mọi vô minh tối tăm về Pháp trong những chúng
sanh,
Không
chỉ trong những ai ở trên đường Đạo, mà còn trong những
ai thuộc đủ mọi tính khí mọi dòng tâm thức,
Tất
cả những ai qua mọi loại sanh rớt vào thời gian sanh tử.
Ngài
đem đến an lạc cho tất cả chúng sanh, quá khứ và hiện
tại,
Cắt
đứt con đường bám luyến giác quan do năm uẩn(3) dẫn dắt,
Tạo
thành từ những hành động tai hại dưới ảnh hưởng của
năm độc,
Và
ngài dẫn họ xa lìa khỏi con đường sanh tử ấy.
Hơn
nữa, ngài dẫn dắt những chúng sanh ấy đến con đường
của Giác Ngộ Viên Mãn,
Đến
tám thuộc tính hoàn thiện(4) chỉ trong đời này.
Ngài,
người chứng đắc mười năng lực siêu việt,(5)
Ngài,
người nổi danh như là Mila,
Chỗ
quy y vinh quang của chúng sanh khắp nơi trong vũ trụ.
Con
xin đảnh lễ trước ngài.
Đại
dương bi mẫn của tâm thức ngài
Đã
khởi lên hằng hằng cơn sóng của hành động trải bày vì
lợi lạc của chúng sanh.
Và
tràn ngập tâm thức con, một dấu chân thú trống rỗng, bằng
những suối lạch của tánh giác bổn nguyên,
Mang
theo châu ngọc của đức tin và những đức hạnh khác,
Nhờ
đó giải trừ cho con khỏi sự nghèo nàn tâm linh,
Và
sức nóng cháy xém của nhiễm ô bên trong.
Con
đầy tràn niềm vui,
Như
niềm vui của một người đàn ông mê đắm gặp một người
đàn bà trang điểm đẹp đẽ uy nghi ở một nơi hoang vắng.
Dầu
y tôn thờ những giới điều của sự trinh bạch,
Trước
mặt sự rực rỡ của nàng thậm chí y không thể muốn rời
nàng một bước.
Như
một vẻ đẹp tuyệt vời được trang hoàng bằng châu ngọc
của lòng bi mẫn,
Khi
câu chuyện về sự giải thoát của Đạo sư đến tai của
kẻ cầu đạo may mắn này,
Con
tràn đầy niềm vui.
Giờ
đây con chia xẻ buổi tiệc của câu chuyện kỳ diệu và vinh
quang này để đem đến niềm vui và nụ cười cho tất cả.
Trong
nước thơm của sùng mộ và tinh tấn
Con
rửa sạch vết bẩn che đậy viên ngọc cuộc đời của Đạo
sư ;
Và
đặt viên ngọc này trên ngọn cờ của Phật pháp,
Con
dâng cúng sự tôn thờ của mình.
Nguyện
lama của con và những dakini(6) ban phước cho con.
Và
như thế, vào thời kỳ đầu, trong xứ sở Tây Tạng đầy
tuyết trắng, Đạo sư đã ghê sợ bản chất khổ đau của
sanh tử thiêu đốt thế gian như một ngọn lửa hừng.
Không
tham muốn gì trong đó, ngay cả hạnh phúc cõi trời của Phạm
Thiên và Đế Thích, ngài xúc động sâu xa bởi lý tưởng
và những phẩm tính như hoa sen của giải thoát và của Giác
Ngộ viên mãn.
Ngài
có trí huệ và đại bi, niềm tin và kiên trì bền chí đến
độ ngài sẵn sàng hy sinh cả đời sống mình vì Pháp không
chút sợ hãi hay ngập ngừng.
Vào
thời kỳ giữa, ngài được lama linh thánh dẫn dắt.
Đã
nếm cam lồ của Pháp tuôn ra từ miệng lama của mình, trong
núi non cô quạnh ngài đã tự giải thoát khỏi sự nô lệ
của nhiễm ô, và những mầm chồi của sự thức tỉnh mọc
lên trong ngài.
Bằng
quyết tâm mãnh liệt buông bỏ những mục đích thế gian và
bằng cách giương cao ngọn cờ thiền định qua gương mẫu
tối thượng là những nỗ lực không ngừng của mình, ngài
khơi dậy trong tâm thức của những đệ tử sự khao khát
con đường giải thoát, vượt khỏi bám luyến thế gian hay
giải đãi hôn trầm.
Được
hướng dẫn bởi yidam(7) của mình và những dakini, ngài đạt
được sự tự toàn thiện của Pháp bằng cách chiến thắng
mọi chướng ngại đối với thực hành, và bằng cách nâng
cao sự tiến bộ tâm linh và mở rộng những kinh nghiệm của
thức tỉnh.
Sự
tôn thờ của ngài đối với những đạo sư của dòng hoàn
hảo đến độ ngài được giao phó những giáo lý bí mật
khẩu truyền của những bậc Đạo Sư Bi Mẫn, kế thừa vô
số dòng truyền và có những dấu hiệu của sự ban phước
gia hộ không gì sánh.
Ngài
đã phát sanh nơi mình Bồ đề tâm mãnh liệt và sâu rộng
đến nỗi khi nghe đến ngài hay chỉ nghe đến tên ngài thì
những chúng sanh không hướng về Pháp đều xúc động rơi
nước mắt vì lòng tin, khiến lông tóc trên thân họ đều
rung động và đem đến một chuyển hóa cho toàn bộ tri giác
của họ đến nỗi hạt giống Giác Ngộ được gieo vào lòng
họ ; như thế họ được che chở khỏi những sợ hãi của
sanh tử và của những cõi thấp.
Đã
đạt đến một giai đoạn quyết định khi những người hỗ
trợ đã thức tỉnh(8) trên con đường Kim Cương thừa,(9)
những dakini phối ngẫu đã giác ngộ giúp đỡ ngài chứng
ngộ tánh Giác tối thượng bằng cách làm khởi lên niềm
vui đại lạc trong thân thể ngài.
Cuối
cùng, đã làm tan biến hoàn toàn hai thứ nhiễm ô vào pháp
giới tánh Không và đã thoát khỏi mọi cái cần phải trừ
diệt, Đạo sư đạt đến tánh Giác chân thật vượt khỏi
nhị nguyên, và hoàn thiện mọi đức hạnh như trí huệ và
đại bi, để thành một vị Phật nhờ những nỗ lực của
chính mình.
Như
viên ngọc chót đỉnh của ngọn cờ chiến thắng, ngài đã
trở thành Đạo sư tối thượng, được mọi hệ thống tôn
giáo, Phật giáo và không phải Phật giáo, công nhận là kiểu
mẫu không thể bàn cãi của Giác Ngộ.
Ngài
đã thành tựu nhanh chóng kinh nghiệm tối cao của Giác Ngộ
qua sự làm chủ con đương Kim Cương thừa.
Ngọn
cờ công hạnh của ngài phất phới khắp mười phương cõi,
để cho chư daka và dakini tán thán sự vĩ đại của ngài ở
khắp mọi nơi.
Lạc
đi xuống chảy qua thân ngài cho đến đầu những ngón chân,
và lạc đi lên đạt đến đỉnh đầu, đem ngài đến cái
Lạc tối hậu của quả.
Qua
tiến trình này những nút thắt thô và tế được cởi thoát,
mở thông ba kinh mạch và bốn trung tâm năng lực. Như thế
ngài đã làm linh hoạt trọn vẹn kinh mạch trung ương.
Nhờ
sự thành tựu này, những bài ca của chân lý bất hoại chảy
tràn tự nhiên từ miệng ngài một dòng không dứt, làm hiển
lộ thực nghĩa của mười hai bộ Kinh và của bốn loại Tantra.(10)
Ngài
thấy biết tất cả mọi sự là Pháp thân, vượt khỏi nhị
nguyên mê vọng của tâm thức.
Ngài
tinh thông khoa học bên trong về những hiện tượng của tâm
thức đến nỗi ngài thấy vũ trụ bên ngoài như là một cuốn
sách thiêng liêng.
Năng
lực trí huệ và đại bi của ngài lớn lao không thể nghĩ
bàn đến nỗi ngài có thể thức tỉnh cho loài thú và nhờ
đó dẫn chúng đến giải thoát.
Đã
siêu vượt sự lấy hay bỏ của Tám Phản Ứng Thế Gian(11)
và thoát khỏi nhu cầu làm vừa lòng những người khác, ngài
an trụ trong quang minh thanh tĩnh, là đối tượng cho sự thờ
phụng của tất cả trời người.
Qua
nỗ lực tối thượng trong thiền định về con đường thậm
thâm, ngài đã trở thành một Đạo sư không gì sánh mà ngay
cả những Bồ tát(12) được ân sủng tương tự cũng tôn
thờ.
Với
tiếng gầm của sư tử về tính vô ngã mà ngài đã chứng
ngộ, ngài, con sư tử màu trắng tuyết, phóng không ngăn ngại
trên những núi tuyết giữa không gian của pháp giới vô cùng,
đè bẹp con hươu của những giả định sai lầm.
Bên
trong, ngài đã thành tựu năng lực thiền định để chuyển
hóa mọi năng lực tâm sinh lý đến độ bên ngoài ngài kiểm
soát được những sức mạnh đối nghịch của bốn đại,
thắng cương chúng cho sự lợi lạc tâm linh.
Vì
quyền lực siêu việt tối thượng trên tâm thức và năng
lực vi tế, ngài có thể bay qua bầu trời như một con chim
ưng, di chuyển, đi đứng, nghỉ ngơi khi ở trong không khí.
Qua
sự biến hình kỳ diệu của thân thể mình, đảm đương
vô số hình thể theo ý muốn, và từ thân phát sinh lửa cháy
hực và những thác nước, ngài trừ tuyệt tà kiến của những
người tà đạo và đưa họ đến chứng đắc nhờ cái thấy
hoàn hảo, thiền định và hành động chánh hạnh.
Đặt
nền trên bốn quán đảnh, sự thực hành chuyển hóa Kim Cương
thừa của ngài đạt đến hoàn thiện rốt ráo, khiến những
daka và dakini vân tập trong hai mươi bốn trung tâm năng lực
của thân kim cương của ngài.(13)
Ngài
là Heruka,(14) chủ trì chúng hội của những daka và dakini ấy.
Với
tâm vô úy và tự tin không lay chuyển, ngài thống trị Thiên
Long Bát Bộ,(15) khiến họ phụng sự ngài trong việc hoàn
thành Từ Bi Hỷ Xả.
Ngài
là một người thợ thủ công bậc thầy thấy biết tánh Không
và quang minh nền tảng của mọi sự vật.
Ngài
là người thầy thuốc chữa lành căn bệnh kinh niên của năm
độc bằng phương dược của năm phương diện của tánh Giác.
Ngài
là bậc thầy của âm thanh, người hiểu tánh bất nhị nền
tảng của âm thanh và tánh Không, và là người diễn dịch
ý nghĩa của những dấu hiệu tiên tri, tốt và xấu, được
phát hiện bởi những âm thanh bên trong và bên ngoài của thiên
nhiên.
Ngài
thấy biết rõ ràng mọi sự ẩn kín, cả ở trong tâm thức
con người lẫn bên ngoài nó.
Ngài
là nhà siêu hình học bậc thầy, người biết bằng tri giác
trực tiếp rằng mọi hiện tượng đều vô tự tánh.
Ngài
là Đạo sư thực học, người hiểu tất cả mọi hiện tượng
bên ngoài chính là những hiện tượng bên trong của thế giới
tâm thức, khám phá bản thân tự tâm là tánh Giác sáng rỡ,
không sanh và trống không.
Qua
thần lực nội tại trong sự thấy biết không chướng ngại
tánh Không và quang minh này của mọi sự, ngài đã đạt được
tự do trong Ba Thân(16) không thể phân chia.
Ngài
đã thành tựu khả năng thăm viếng trong một khoảnh khắc
tất cả vô số không thể nghĩ bàn cõi Phật bằng thần lực
diệu kỳ của mình.
Đó
là những hành động kỳ diệu từ sự giác ngộ của ngài
đã được chư Phật và chư Bồ tát nói trong khi hoằng pháp,
và như thế Đạo sư hoàn thành nhiệm vụ của mình trong những
cõi Phật.
Xuất
hiện trong những hình thức thích hợp trước chúng sanh sáu
cõi, ngài gieo những hạt giống giác ngộ bằng cách chỉ ra
cho họ Con Đường với những thí dụ và bài pháp tương ưng
với ý định của Phật, nhờ đó hướng dẫn họ đến sự
trưởng thành trong giải thoát.
Trong
chỉ một đời và một thân ngài đã đạt đến trạng thái
giác ngộ của Phật Kim Cương Trì (Vajradhara)(17) trong Bốn
Phương Diện Giác Ngộ(18) và Năm Trí Như Lai.(19)
Ngài
là bậc thánh trí nhất trong các bậc thánh trí, người đã
giải thoát cho vô số chúng sanh khỏi những khổ đau của
sanh tử và giúp đỡ họ đạt đến Thành Phố của Tự Do
Vô Thượng với bốn đức Thường Lạc Ngã Tịnh.
Khắp
nơi danh hiệu của Mila Zhepa Dorje vinh quang chói lọi như mặt
trời mặt trăng.
Những
công hạnh kỳ diệu lạ lùng ngài đã thực hiện vì lợi
lạc cho những đệ tử chính của ngài thì thật không thể
nghĩ bàn.
Tất
cả đây là một tóm lược về sự vĩ đại của cuộc đời
giải thoát của Milarepa.
Dù
những hành động ngài đã thực hiện cho lợi lạc của chúng
sanh thì không thể diễn tả và vượt khỏi tưởng tượng
của chúng ta.
Như
vậy, câu chuyện của Đạo sư gồm có hai phần, minh họa
cuộc sống thế gian của ngài và sự hoàn thành nhanh chóng
Giác Ngộ Tối Thượng của ngài.