Thời
điểm xây dựng: 1645 - 1695 (với nhiều bổ sung sau này)
Địa
điểm: Lhasa, Tây Tạng
Cung
điện Potala được xem là một biểu tượng của chính thể
Tây Tạng vào thời điểm khi quốc gia vừa thống nhất dưới
sự cai trị của các đức Đạt Lai Lạt Ma phật giáo, đã
thực hiện chức năng ấy ở mức thán phục và tạo ra hình
ảnh biểu tượng thị giác tinh túy của Tây Tạng đối với
người ngoài và hình ảnh này được thể hiện qua nhiều
nhóm khác nhau trong yêu sách đòi quyền kiểm soát đối với
Tây Tạng. Đồng thời, cung điện còn giúp chúng ta liên tưởng
nguồn gốc Ấn Độ của Phật giáo Tây Tạng, trong thực tế
được sự hậu thuẫn của Mông Cổ để làm cho việc thi
công trở thành khả thi, và trang hoàng kiến trúc kiểu Trung
Hoa.
Ảnh
chụp của Hugh Richardson,
người
đại diện cho chính phủ Anh ở Tây Tạng, chụp vào thập
niên 1940.
Một
lá cờ hiệu có hình Đức Phật bay phất phới trên tòa nhà
trong một lễ hội.
Đặt
theo tên của một cung điện huyền bí ở Nam Ấn Độ của
Đức Phật bảo trợ Tây Tạng Avalokiteshvara, cung điện Potala
được xây dựng trên địa điểm được cho là một cung điện
nhỏ của nhà sáng lập Tây Tạng vào thế kỷ thứ VII, Đức
vua Songtsen Gampo, chính là người nghĩ ra dự án xây dựng Potala,
đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 (khoảng 1642-1682) được nhắc
đến như một sự hóa thân của Avalokiteshvara. Vì thế tính
liên tục và sự phục hưng của nhà nước Tây Tạng sau các
thời kỳ chia cắt đã được tái khẳng định có chủ ý.
Cung
điện Potala chạy dọc theo đỉnh một dãy núi thấp nhìn xuống
thành phố Lhasa ở hướng Nam, cũng là một bộ phận của
khu đất có hướng bao hình chữ nhật nằm ở chân núi. Phần
trung tâm của khu đất có 2 thành phần chính: Bạch cung ở
phía Đông và Hồng cung ở phía Tây.
Sau
khi được Gushri Khan - vua Mông Cổ làm lễ nhậm chức cho đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 trong tư cách nhà cai trị Tây Tạng
năm 1642, đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5 xây dựng Bạch cung từ
năm 1645 đến 1648 và chọn nơi đây làm nơi ở chính thức
của mình. Nhiếp chính sau cùng của ông, Sangye Gyasho, xây dựng
Hồng cung từ năm 1690 đến 1694 để hợp nhất lăng mộ của
đức Đạt Lai Lạt Ma.
Bất
chấp sự phát triển của Lhasa trong những thập niên gần
đây,
cùng
với sự phát triển nhanh chóng của các công trình theo phong
cách hiện đại, cung điện Potala vẫn còn nổi bật trong cảnh
quan thành phố.
Cả
Bạch lẫn Hồng cung sau cùng là sự phát triển thiết kế
tu viện Ấn Độ cổ đại. Phòng họp ở tầng 1 hình chữ
nhật được bao quanh bằng những phòng nhìn vào bên trong,
bên trên chồng thêm từ 2 tầng hay nhiều hơn với các phòng
nhỏ khác, chứa một dải đất bằng tạo bậc phía trong,
lộ thiên, làm hành lang phía trên phòng lớn. Các khoảng không
gian bên trong hầu hết là nhà nguyện, phòng tu viện, căn hộ
sinh hoạt của các đức Đạt Lai Lạt Ma hay am hài cốt của
họ.
Mộ
của đức Đạt Lai Lạt Ma tứ 13 (khoảng 1895 - 1933) tạo ra
sự phát triển theo kiểu Tây phương cho đến Hồng cung xây
dựng từ năm 1934 và 1936. Các công trình ngoại vi chẳng hạn
như những khu nhà sinh hoạt trong tu viện ở đầu phía Tây,
nhà khoa và công sự bên ngoài có vẻ trở ngược lại thế
kỷ 17, mặc dù nhiều sự bổ sung không đáng kể đã tiến
hành qua nhiều năm. Lối vào qua cổng hẹp, có thể phòng thủ
sau khi bước qua nhiều được hốc có bậc thang mà độ nghiêng
thoai thoải của chúng rất thuận tiện cho ngựa thồ hàng
hóa.
Bất
chấp một số lần bị bao vây trong thời gian ngắn, và nguy
cơ thường xuyên xảy ra động đất và hỏa hoạn, thiệt
hại do Cách mạng văn hóa, cung điện Potala chưa hề bị tàn
phá nghiêm trọng và nói chung thường được duy tu hợp lý.
Thi
công
Sơ
đồ cung điện Potala
1.
Tháp trung tâm
2.
Tháp ở góc
3.
Chiếu nghỉ phía dưới của đường góc phía Nam
4.
Công trình dành cho thangkas
5.
Nơi ở của tăng nữ
6.
Tháp tròn phía Tây
7.
Am hài cốt của Đạt Lai Lạt Ma thứ 13.
8.
Sân ngoài của Hồng cung
9.
Tiền sảnh của Hồng cung
10.
Hồng cung
11.
Nhà nguyện
12.
Thành lũy trên đường phía Bắc
13.
Công trình trên cột chống phía Bắc 14. Am hài cốt của Đạt
Lai Lạt Ma thứ 5
15.
Am hài cốt của Đạt Lai Lạt Ma thứ 7
16.
Am hài cốt của Đạt Lai Lạt Ma thứ 8
17.
Am hài cốt của Đạt Lai Lạt Ma thứ 9
18.
Bạch cung
19.
Sân ngoài của Bạch cung
20.
Trường đào tạo chức sắc tôn giáo
21.
Thành lũy phía Nam
22.
Đường dốc dẫn đến lối vào phía Nam
23.
Đường dốc dẫn đến lối vào phía Tây
24.
Pháo đài phía Tây
25.
Tháp tròn.
Đỉnh
đồi có vẻ san bằng thành dải đất bằng tạo bậc bằng
cách cắt và lấp đầy, một kỹ thuật Tây Tạng chuẩn, tường
ngoài của công trình đi xuống bên dưới dải đất bằng
ở nhiều cao trình khác nhau tạo cảm giác dãy núi đang lớn
dần lên. Trong công nghệ và cách sử dụng vật liệu, cung
điện Potala nói chung không khác mấy với ngôi nhà ở vùng
nông thôn Tây Tạng - không phải ngạc nhiên số lượng nhân
công khổng lồ chỉ có thể chiêu mộ từ số nông dân địa
phương.
Kỹ
thuật kết cấu là một trong những vách tường khối xây
chịu tải đồ sộ bên ngoài - trong trường hợp đá đẽo
thô trát vữa bùn - để đặt các dầm trần nhà bằng gỗ
chắc chắn, đến lượt dầm gỗ này làm gối cho các dầm
gỗ đỡ sàn tạ lên tường. Bên trong dầm được gối bằng
cột gỗ qua các gối tựa dài. Vì thế khối xây ở bên ngoài
nhường chỗ cho phần lớn gỗ súc ở bên trong. Một khác
biệt không quan trọng với cấu trúc nhà ở nông thôn là trong
các tháp nhỏ phòng thủ ở các đầu phía Đông và phía Tây,
với các tường cong chứ không phải tường thẳng. Phần lớn
đá được vận chuyển từ các địa điểm ở thượng lưu
Đông Bắc Lhasa, bằng phu khuân vác và thuyền thúng, trong khi
bùn phần lớn đào ngay ở phía dưới địa điểm, để lại
nhiều hố sau này cải tạo thành hồ trang trí.
Mặt
tiền Bạch cung điển hình cho kiến trúc tôn giáo Tây Tạng,
tường
dốc hướng về bên trong, sự tương phản màu sắc sống động
và tập trung trang trí hướng về phần đỉnh.
Lớp
vỏ tường bên trong và ngoài đều xây bằng các lớp đá
nằm ngang, thông thường sâu khoảng 25cm, và dài 30-50cm, ngăn
cách bằng các lớp mỏng gồm nhiều đá nhỏ, hơi phẳng hơn
lèn chặt bằng bùn hình thành lớp lót bằng phẳng để xây
các lớp đá lên trên. Ở các phần tường phía dưới và
công sự phụ phòng thủ, lớp đá chính tường có hình dạng
rất gồ ghề và các lớp chèn chiếm một tỷ lệ lớn hơn
so với tổng số các lớp. Ở những nơi các lớp đá chính
bị bao quanh hoàn toàn bằng các lớp đá chèn, kỹ thuật này
gọi là kiểu "lót tả".
Điển
hình trong kiến trúc Tây Tạng là dốc hướng về bên trong
hay độ nghiêng 6-9 độ của tường ngoài tính từ chiều thẳng
đứng, thường lớn hơn một chút trong phần cắt ngang phía
dưới xây thô hơn. Điều này nhất thiết phải tạo độ
nghiêng các lớp chèn thật cẩn thận hướng về các góc.
Giữa lớp vỏ bên trong và ngoài, tường dày đến 5m được
chèn đầy đất, đá học và các nhánh liễu bện chéo với
nhau. Đối với việc sử dụng đồng nấu chảy trong chân
móng có thể chỉ là quy ước trong văn học.
Mái
phủ kim loại theo kiểu Trung Hoa đỡ các hình chạm đầu mái
có
xuất xứ Ấn Độ. Mái hiên cấu trúc che mát cửa ra vào và
cửa sổ và phần tường chắn có trang trí.
Dốc
nghiêng của tường hướng vào bên trong nhìn bề ngoài được
đối trọng bằng các cột của cửa sổ khung gỗ, giống như
chẽ ra ở tầng thấp nhất và đôi lúc nới rộng ra đến
các ban công ở các tầng phía trên. Lanh tô của chúng bị
bịt lại bằng các mút dầm đỡ sàn nhô ra và mái che bằng
bùn. Mái phẳng liên kết với tường chắn, theo chiều thẳng
đứng hơn là trát vữa, trong lớp mặt bên ngoài là một tập
hợp gồm rất nhiều cây liễu hay bụi cây thánh liễu, các
đầu mút hướng ra ngoài đều sơn đỏ. Đây là một phiên
bản hóa thạch gồm rất nhiều chất đốt hay cỏ khô vẫn
còn chất đống vòng quanh mái nhà nông thôn Tây Tạng. Tường
trang trí bằng lớp sơn vôi hay màu đất son màu đỏ, thường
xuyên được làm mới bằng cách đổ nước từ phía trên
xuống. Kết cấu gồ ghề của bề mặt ngoài ở các khu nhà
ở kề nhau làm tăng cảm giác quê mùa, chất phác của công
trình.
Kết
cấu gỗ bên trong và bề mặt tường đều nặng nề với
trang trí chạm khắc và sơn. Điểm quan trọng nhất trong khu
phức hợp được đánh dấu ở cao trình cao nhất bằng những
mái nhà nhỏ mạ vàng theo kiểu Trung Hoa của thợ thủ công
Trung Hoa và các trang trí mạng vàng có xuất xứ Ấn Độ của
thợ thủ công Nepal, một điểm khác biệt với kiểu nhà nông
thôn.
Số
liệu thực tế:
Số
tầng: 13
Chiều
cao: 117m
Vật
liệu: đá, gỗ, bùn
Cao
trình: 3.700m
H.T
(Theo Kiến trúc thế giới hiện đại)