|
c
Phật
Lịch 2531 - 1987
CON ÐƯỜNG
TU TẮT - PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ
Trích
trong Tây-Qui Trực-Chỉ và Lão-Nhơn Đắc-Ngộ
Đôi Liễn
Ấn-Quang Pháp-Sư
Soạn
Giả: Cư Sĩ Thiện-Tâm
Tại
Sao Tu Theo Tịnh Độ Gọi Là Tu Tắt
Đức Phật
Thích Ca đặt ra 84.000 pháp môn tu mà độ chúng sanh tùy theo
căn cơ. Nếu chỉ do sức mình tu hành không nhờ nguyện lực
của Phật như những người tham thiền hay luyện đơn hoặc
tụng kinh niệm Phật mà không cầu vãng sanh về Cực lạc,
chỉ mong đàn áp vọng tưởng quí vị khởi sự tu ít nhứt
vài kiếp mới đắc được quả Tu Đà Hoàn. Ủắc được
quả này cũng còn phải luân hồi, nhưng có thể thôi chớ
không chắc nhớ lại kiếp tu trước của mình. Tiếp tục
tu nữa, ít nhứt vài kiếp mới đắc quả A La Hán mới hoàn
toàn giải thoát khỏi phải luân hồi rơi vào cuộc đời sanh,
lão, bệnh, tử này. Nếu muốn luân hồi độ chúng sanh, thì
tùy ý mình. đức Phật Thích Ca khi xuống thế quên kiếp trước
mình còn phải có người nhắc.
Nếu do tự
lực (chỉ do sức mình) kiếp này tu, kiếp sau có chắc mình
nhớ lại để mà tu nữa hay bị say đắm cảnh trần này:
tửu sắc, tài khí bủa giăng mà quên rồi bị đọa khó được
thân người. được làm người, ai nói pháp cho nghe, có nghe
cũng khó tin.
Sự tích
sau đây chứng minh: Hoàng Đế Khương Hy bên Tàu, sanh ra có
mười chữ nơi vai ỏõ Việt Nam Quang Minh Tự, Sa Môn Tỳ Kheo
Tăngõõ. Đến khi có một vị lễ bộ thượng thơ người
Việt Nam là Nguyễn Cương đi sứ hai lần sang Tàu, vua hỏi
ra mới biết rằng có một vị Tỳ Kheo là Nguyễn Hoàng trụ
trì tại chùa Quang Minh, ở tại làng Hậu Bổn huyện Gia Lộc
tỉnh Hải Dương nước Việt Nam. Trước khi chết bảo đệ
tử ghi mười chữ son trên vai rồi làm lễ trà tỳ. Vị Hoàng
Đế này có tiếp tục tu nữa không?
Nếu tu tịnh
độ nhờ sức nguyện Phật Di Đà giúp, mình mới bắt đầu
tu chỉ trong ít tháng, nhiều năm càng tốt. Lâm chung Phật
rước về Tây phương làm dân Phật tu thêm nữa. biết mình
không chết nữa tu lần lên cho có quả vị gọi là ngôi bất
thối. Không sớm thì muộn cũng đến quả Phật. Nhờ hoàn
cảnh mình làm bạn với người lành, khỏi lo ăn lo mặc. Chim
rừng thuyết pháp nên dễ tu tiến. Nếu tự lực có khi hằng
trăm kiếp chưa giải thoát nổi. Ngài Ấn Quang Pháp Sư nói
ỏõHai đời không bị đọa rất hiếm cóõõ. Nếu bị đọa
không biết chừng nào thoát khỏi nẻo luân hồi.
Phép
Tu Tịnh Độ
Sớm mai hoặc
đầu hôm mỗi ngày, thắp đèn hương trên bàn Phật, rót 5
chén nước lạnh tụng trước bàn Phật nhựt khóa sau đây,
đứng ngồi quì tùy theo mình mạnh yếu, gấp thời bái xá.
Còn như đi lỡ đường hoặc ở nhà không thờ Phật Di Đà,
day mặt về hướng Tây niệm thầm mà xá cũng đặng. Lòng
thành dù không phải ngày chay cũng lạy tụng.
NHỰT KHÓA
Đệ tử
(thiện nam, tín nữ) Họ tên
Pháp danh
(không có thì thôi) tu tịnh độ cầu vãng sanh Cực lạc (xá
cặm hương bái)
Nam Mô Ta
Bà Thế Giới Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (đọc
3 lần 3 lạy)
Nam Mô Thập
Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Chư Phật (1 lạy)
Nam Mô Thập
Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Tôn Pháp (1 lạy)
Nam Mô Thập
Phương Tận Hư Không Giới Nhất Thiết Hiền Thánh Tăng (1
lạy)
Nam Mô Tây
Phương Cực Lạc Thế Giới Tam Thập Lục Vạn ức, Nhứt Thập
Nhứt Vạn, Cửu Thiên Ngũ Bá, Đồng Danh Đồng Hiệu, Đại
Từ Đại Bi, Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật (lạy 10 lạy,
gấp niệm 3 lần 3 lạy)
Nam Mô Quan
Thế Âm Bồ Tát (3 lần 3 lạy)
Nam Mô Đại
Thế Chí Bồ Tát (3 lần 3 lạy)
Nam Mô Thanh
Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần 3 lạy)
Chúng Sanh
Vô Biên Thệ Nguyện Độ (Xá nguyện độ hết chúng sanh)
Phiền Não
Vô Tận Thệ Nguyện Đoạn (Xá nguyện trừ hết phiền não)
Pháp Môn
Vô Lượng Thệ Nguyện Học (Xá nguyện học vô lượng pháp
môn)
Phật Đạo
Vô Lượng Thệ Nguyện Thành (Xá thề nguyện tu tới thành
Phật)
Nam Mô A Di
Đa Bà Dạ, Đa Tha Dà Đa Dạ, Đa Điệc Dạ Tha, A Di Rị Đô
Bà Tì, A Di Rị Đa, Tất Đam Bà Tì, A Di Rị Đa, Tì Ca Lan Đế,
A Di Rị Đa Tì Ca Lan Đa, Dà Di Nị, Dà Dà Na, Chỉ Đa Ca Lệ
Ta Bà Ha.
(Tối niệm
108 lần càng quí, niệm nội 59 chữ vãng sanh từ Nam Mô A Di
Đà..tới Ta Bà Ha). Thần chú vãng sanh, hưỡn niệm nhiều,
gấp niệm ít, để tối niệm nhiều mà đếm.
NHỰT KHÓA
THẬP NIỆM
(Ai gấp
việc ban mai niệm bấy nhiêu đây)
Đệ tử
(thiện-nam, tín-nữ) họ tên pháp danh tu Tịnh-Độ thập-niệm
pháp môn cầu vãng-sanh Cực-lạc.
Nam mô Ta
bà Thế Giới Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lạy)
Nam Mô Tây-Phương
Cực-Lạc Thế-Giới, Tam Thập Lục Vạn ức, Nhứt Thập Nhứt
Vạn Cửu Thiên Ngũ Bá Đồng Danh Đồng Hiệu, Đại-Từ Đại-Bi
Tiếp Dẫn Dạo-Sư A Di-Đà Phật (1 lần 1 lạy-10 lần 10 lạy)
Nam Mô Quan-Thế-Âm
Bồ-Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại-Thế-Chí
Bồ-Tát (1 lạy)
Nam Mô Thanh
Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-Tát (1 lạy)
Nam Mô Đại
Thánh Địa Tạng Vương Bồ-Tát (1 lạy)
Niệm ỏNam
Mô A-Di-Đà Phậtõ 10 hơi, mỗi hơi đặng mấy câu cũng được.
Có thuộc lòng 16 câu hồi hướng càng tốt.
Kẻ gấp
việc hay kẻ dốt dùng phép Thập niệm nầy; hoặc mỗi sớm
mai, thắp hương niệm 5 hiệu Phật mà lạy; rồi niệm mười
hơi Di-Đà, lạy rồi ra cũng đủ. Tối nên lạy vậy. Ráng
học vãng-sanh niệm đủ 30 vạn biến thời có Di-Đà ứng
điềm bảo-hộ.
Phật muốn
độ tận chúng sanh nên dạy tu Tịnh độ dễ quá. Tuổi còn
nhỏ hoặc kẻ ăn chay trường chưa nổi thời ăn hai ngày,
lần sáu đến mười ngày, trong một tháng mà tập lần lên
trường trai. Ngày nào ăn chay niệm Phật hoặc niệm vãng sanh
được đếm. Ngày ăn mặn cũng niệm mà xả. Tuy ngày ăn mặn
nhưng ăn tam tịnh nhục: khô mắm thịt chợ. Dầu tôm cá sống
cũng không cho sát sanh trong nhà. Gà vịt cũng vậy, vật chi
khỏi giết trong nhà thời khỏi sát sanh. Còn thịt chó, trâu
hay bò cày cũng phải cữ tuyệt vì hai thú đó có công lớn
với đời. Nếu ăn, Phật không rước. Nếu mua đồ chợ làm
saün mắc hơn, vì ham rẻ mà chịu tội thời coi tiền bạc
trọng hơn phần hồn, lâm chung Phật không rước, uổng công
tu. Dù của nhiều thác khó đem theo. Luật cữ sát sanh nghiêm
cấm như vậy, vì loài tứ sanh và con chi biết bò, bay, máy,
cựa cũng có chủng tử Phật. Phật cũng độ lên tu cho thành
Phật, không cho giết nó, ăn nó mà bổ mình; mạnh hiếp kẻ
yếu. Vì lòng từ bi thương xót như vậy nên Ngài buộc trường
trai.
Nếu biết
thấu hai chữ tánh mạng, thời trường trai dễ như chơi. Chỉ
đẹp miệng xác phàm vài năm, lúc lâm chung Phật không rước
uổng biết dường nào.
Ở thành
thị dễ cữ sát sanh. Muốn ăn thịt cá ra chợ mua khỏi phải
giết con chi trong nhà. Trái lại ở thôn quê khó cữ sát sanh
vì phần đông nuôi gà vịt hay bắt cá tôm tép cho đỡ tốn
tiền nhưng dễ phóng sanh (bằng cách lấy đất sét bao trứng
cá đừng cho dính múi, bỏ xuống ao hồ; hay cứu kiến khi
nạn lụt ngập). Nếu sát sanh, những oan hồn tụ tập trong
nhà chờ báo oán.
Nhứt là
cơn có bịnh phải ăn chay trường. Nếu ăn chay không nổi
nên nhịn đói chớ đừng ăn mặn. Cần niệm Di Đà cho lắm.
Nếu số phần tới, thời lúc ngặt mình đừng nhớ việc
chi hết; bảo người nhà đỡ ngồi dậy, day mặt về phía
mặt trời lặn, niệm vài chục câu ỏNam Mô A Di Đà Phậtõ
cho lớn rồi niệm thầm. Nếu tới số thấy Phật Di Đà qua
rước chẳng sai. Nếu chưa tới số, thiệt mạnh chắc chắn,
ăn trường trai không đặng, cứ trở lại lục hoặc thập
trai như xưa. Tới bệnh lại cũng ăn trường như vậy. Nội
nhà lập nguyện giữ phép mà tu. Nếu ai có bịnh, cũng biết
dự phòng ăn trường cho đến mãn phần, thời Di Đà rước
hẳn.
Nhứt là
dặn người nhà, lúc ngặt mình, người bịnh niệm Phật,
nội nhà niệm tiếp, cấm khộng cho kêu khóc. Nếu kêu khóc,
thời Phật Di Đà trở về không rước, rất uổng công tu.
Có việc chi cần thì trối trước, đừng để lúc đó làm
rộn cho người bịnh, loạn tâm xao lãng sự niệm Phật, khó
vãng sanh. Cách này là độ tận chúng sanh, không bỏ sót ai
hết. Tu Tịnh độ như vậy, muôn người lâm chung vãng sanh
đủ muôn người, không phải khó như tham thiền hay luyện
đơn (tu tiên).
Chớ người
tu tịnh độ trường trai 24 tháng, niệm Di Đà đủ 30 vạn
câu, người giỏi nữa niệm thêm 30 biến vãng sanh, thời có
Phật ở trên đầu phò hộ. Quả vị cao, tòa sen lớn, giữ
theo công-quá-cách chừa dữ làm lành. Mỗi tháng nhớ ngày
giờ sám hối cầu nguyện. Mỗi ban mai tụng nhựt khóa hoặc
thập niệm lúc không rảnh. Thời lâm chung biết ngày giờ
Phật sẽ rước mình. Nếu ai làm phước bố thí nhiều, thời
không bịnh hoạn, ngồi chắp tay day mặt về hướng Tây mà
xuất hồn. Ai có công khuyên độ nhiều người về Cực lạc
trước, khi Phật rước hồn, nghe tiếng nhạc hoặc có mùi
thơm lạ. Nếu phước lớn, thấy hào quang chiếu sáng. Như
vậy làm cho đời thấy nhãn tiền tin chắc tu theo.
Chừng vãng
sanh về Tây phương, học đủ lục thông (6 phép thần thông)
làm Phật La Hán, xin phép Phật đi độ ông bà và cha mẹ về
Cực lạc để báo ân như Phật La Hán Mục Kiền Liên đi cứu
bà mẹ là Thanh Đề vậy.
Nếu ai may
còn ông bà cha mẹ, thời lạy mà giảng tu tịnh độ. Mình
ráng nuôi cơm chay cho cha mẹ tu thành trước quí hơn. Mình
nguyện niệm phụ, tu phụ cho chắc thành. Nếu ông bà cha mẹ
yếu sức vì già cả, đến lâm chung Phật rước ông bà cha
mẹ nhãn tiền có điềm linh hiển. ông bà cha mẹ ngồi tòa
sen trước mà đợi mình, thời khỏi lo tuần tự tụng kinh
siêu độ mà tốn nhiều tiền. Nên để số tiền ấy ấn
tống kinh hay bố thí cho kẻ nghèo và hồi hướng công đức
ấy vãng sanh Cực lạc.
Nếu rủi
cha mẹ đã mãn phần trước, mình muốn báo hiếu cho mau thời
chọn ngày sám hối lập nguyện niệm Phật thế cho cha 30 vạn
câu, cho mẹ 30 vạn câu và nguyện phóng sanh bao nhiêu mạng,
thí kinh bao nhiêu, bố thí mấy chục đồng, phải làm tất
số mà cầu vong hồn cha mẹ tên họ chi, siêu thăng về Cực
lạc. Niệm đến khi nào Phật ứng mộng mới thôi. Nếu giàu
có muốn tụng kinh niệm Phật cầu cho cha mẹ mình cũng phải
niệm thế, ít nhiều mới cảm động; chớ ỷ có tiền mướn
tụng niệm thôi thì vong hồn chỉ đầu thai hưởng phước
chớ không siêu thăng đặng. Còn sự nguyện thí kinh, phóng
sanh, bố thí tùy theo giàu nghèo mà nguyện. Trong kinh Hồi dương
lời vua Nhứt Điện Tần Quảng Vương phán rằng: ỏNhà nghèo
bố thí một đồng sánh bằng nhà giàu bố thí ngàn đồng.õ
Tùy theo sức mà làm, đừng sợ bố thí ít không siêu, phải
vay cho mắc nợ tới chết trả không nổi phạm khoảng du đạo
Phật không rước. Nếu có nhiều tiền nên bố thí nhiều.
Nếu ông
bà cha mẹ tuổi đã quá cao hay bệnh già quá yếu, năng lực
của thân và tâm đều kém yếu, mình lạy mà giảng tu tịnh
độ và dung phương pháp trợ lực sau đây:
Tất cả
con cháu trong nhà nhất là chính mình nên thay phiên nhau ở
bên ông bà cao tiếng niệm Phật, mỗi phiên độ nửa giờ.
Mỗi ngày cứ luân phiên nhau như thế, đừng để cho tiếng
niệm hở dứt. Ông hay bà có thể niệm theo càng tốt, bằng
không chỉ khuyên người nhiếp tâm nghe kỹ, cũng như niệm
thì cũng được thường không rời Phật. Những người trợ
niệm chẳng mấy gì phí sức mà lại gieo được nhân lành
giải thoát về sau. Nếu có tiền, mua một máy ghi âm thu bài
giảng về thế giới Cực lạc trước đây, 48 điều nguyện
của Phật Di Đà hoặc bài giảng nghĩa kinh Di Đà trong cuốn
Lão Nhơn Đắc Độ và tiếng niệm Phật cho rõ ràng để phát
hằng ngày liên tục cho ông bà nghe thì cũng có thể vãng sanh
về Cực lạc. Nên nhớ lúc ông hay bà ngặt, mình cứ niệm
NAM MÔ A DI ĐA À PHẬT mà thôi. Phương pháp trên đây cũng
có thể áp dụng cho ngườI bệnh yếu gần chết.
NÊN NIỆM
THÁNH HIỆU QUAN THẾ ÂM BỔ TÁT
Bồ Tát Quan
Thế Âm có nhân duyên rất lớn với chúng sanh cõi Ta Bà này.
Tuy thường hầu cận Đức Phật A Di Đà nhưng vì thệ nguyện
rộng sâu và lòng từ bi, Ngài hiện thân khắp nơi tìm tiếng
cứu khổ. Chúng sanh nào gặp những tai nạn lâm nguy như: đao
binh, nước lửa, đói kém, cào cào, ôn dịch, khô hạn, cướp
bóc, oan gia, thú giữ rắn độc, ác quỉ, yêu mị, kẻ tiểu
nhơn ám hại, bệnh khổ, v.v...nếu chí thành khẩn thiết niệm
danh hiệu ngài thì nhứt định sẽ được sức từ bi ủng
hộ của Ngài tránh tai qua nạn khỏi.
Trong Phẩm
Phổ Môn nói: ỏChúng sanh nào nhiều dâm dục, giận hờn,
ngu si, nếu thường niệm cung kính Ngài sẽ được xa lìa các
nghiệp ấy.õ Phải dùng hết tâm lực đừng nghi ngờ thì
cầu việc gì cũng được.
Người tu
tịnh độ ngoài việc hôm sớm lễ Phật A Di Đà nên niệm
thêm Bạch Y Thần Chú và lễ niệm Đại Sĩ sẽ được gia
bị trong âm thầm, có thể đổi họa làm phước, gặp rủi
ro hóa may mà chính mình không biết.
Người đàn
bà khi sắp sanh thường bị đau khổ, có khi vài ngày sanh không
được hoặc chết vì sản nạn. Có người tuy sanh được
nhưng lại bị huyết băng và nhiều bịnh nguy hiểm, đứa
con sinh ra thì bị các chứng kinh phong v.v.. cho nên người đàn
bà lúc sanh nên chí thành khẩn niệm ỏNAM MÔ QUAN THẾ ÂM
BỔ TÁTõ. Khi niệm cần phải to tiếng, không nên niệm thầm
vì niệm thầm do tâm lực kém nên sức cảm ứng cũng kém.
Đang dùng sức sanh đứa bé ra, nếu niệm thầm thì nín ép
hơi phải mang bịnh. Nếu chí thành khẩn thiết mà niệm quyết
không có sự đau đớn, khó sanh, huyết băng, đứa con sẽ
khỏi bị kinh phong hoặc bị các chứng bịnh nguy hiểm khác.
Dù gặp trường hợp khó sanh có nguy hiểm đến tánh mạng,
sản phụ cùng những kẻ hộ sanh cũng phải đồng to tiếng
niệm Quan Âm. Người quyến thuộc tuy ở nơi khác đều phải
vì sản phụ niệm giúp. Như thế trong giây phút sản phụ
liền được yên ổn mà sanh. Có nhiều bà lão niệm Phật,
xem sanh sản là việc đáng sợ, cho đến dâu con mình sanh không
dám qua săn sóc huống chi là bảo niệm Quan Âm; Bồ Tát không
sự khổ nào chẳng cứu vớt, không tai nạn nào chẳng giúp
đỡ xót thương, đâu có lý đối với hạng sản phụ mà
bỏ sót. Lúc sanh sản tuy lõa lồ không sạch nhưng đó là
việc dĩ nhiên. Trong cảnh ngộ không thể tỏ bày sự cung
kính, chỉ chí thành nơi tâm. Nếu ở trường hợp làm được
mà không làm thì thật là có tội. Lúc sanh sản khó, nên niệm
Ngài, chẳng những không tội lỗi mà khiến cho mẹ con sản
phụ gieo trồng căn lành. Người đàn bà khó sanh, khi có thai
nên chí thành niệm danh hiệu ngài, cầu nguyện hằng ngày
cũng được như ý muốn.
Vào khoảng
năm 1929, có một viên trung úy hải quân ngườI Pháp tên Robert
Taie. Ông này có vợ người Việt Nam. Một hôm ông đi tàu
biển gặp một trận bão tố không hy vọng thoát chết, ông
sực nhớ lại bà mẹ vợ và vợ ông đạo Phật thường khuyên
ông niệm danh hiệu Đức Quan Thế Âm lúc nguy biến. Trong lúc
thập tử nhứt sanh, ông ngồi xếp bằng nhắm mắt lại, niệm
danh hiệu ngài. Sau đó nửa giờ, ông mở mắt ra, thấy chiếc
tàu trôi giạt, khuất sau một hòn đảo nhỏ. Thuyền trưởng
và mọi người trên tàu hết sức vui mừng, cho là phép mầu
nhiệm và thấy cử chỉ ông trung úy lấy làm ngạc nhiên.
Ông bèn thuật lại cho mọi người nghe và đề nghị với
viên thuyền trưởng lập một chùa để nhớ ơn Ngài cứu
độ. Chùa này dựng trước thành Ô Ma pháo thủ gọI là chùa
Quan Thế Âm hiện nay vẫn còn.
Bài
Vấn Đáp Cho Khỏi Nghi
Hỏi: Có
kẻ tu lâu, gần lâm chung ngã mặn thôi tu, kế chết Phật
rước chăng?
Đáp: Kẻ
ấy như người đến bến đò, chờ lâu ngã lòng đi chơi,
đò qua sông không hay, làm sao Phật rước đặng? Nhưng vị
này lúc bịnh ráng nguyện lại, trường trai theo phép, niệm
Phật gia bội ít ngày Phật rước mau lắm. cũng như người
đến bến đò đã lâu, bỏ đi chơi nay kịp chuyến đò. Quí
vị ngã mặn đã lâu, vì nghi ngại tu không kịp để thác
như để hụt đò. Uổng quá! Tiếc thay!
Hỏi: những
vị nào hồi tâm muộn quá, đôi ngày kế thác có đặng vãng
sanh không?
Đáp: Quí
vị lúc gần lâm chung, có thiện căn mới được. Song phải
phát nguyện, xuất của bố thí tức thời, hoặc dặn con bố
thí thế cho mình. Nghèo thời dặn con trường trai trong ba năm
tang. Niệm Phật tụng kinh Di Đà cho mình. Đại nguyện như
vậy, lòng phải chí thành niệm Phật nửa ngày hoặc ít giờ,
Phật cũng rước về làm dân tu thêm cho khỏi phải luân hồi.
Hỏi: Ai ăn
người nấy no, con tu thế cho cha mẹ đặng sao?
Đáp: Sao
không, vì máu thịt cha mẹ chia ra tuy thác như sống, trối
tu như vậy thời thành, song e con cháu không chịu tu thời vong
hồn tu thêm tại Tây phương, lâu ngày cũng có quả vị. Quí
vị lúc lâm chung có Phật rước thời đặng thành.
Hỏi: Người
phàm nhiều kiếp đến nay, làm tội dữ vô số, gần chết
niệm Phật mười câu sao mà đặng vãng sanh dễ như vậy?
Đáp: Người
ấy đời nay không tu sớm mà kiếp trước có công tu nhơn
tích đức mộ đạo Phật, nay lỡ mê trần nên không tỉnh
ngộ. Nếu kiếp trước không tu thời nay chết như thế thường,
đâu có may gặp người biết phép Tịnh độ chỉ điểm lúc
lâm chung, niệm Phật hết lòng cho Phật rước. Người không
có thiện căn dầu hết lòng chỉ điểm cũng không tin mà niệm
Phật có đâu ăn năn đắc ngộ mà sám hối tội lỗi xưa,
bỏ hết các việc vọng tưởng ỏquyết một đường qua Cực
lạc, không mơ ngõ khácõ lòng chí thiết không xao lãng như
vậy, niệm Phật một câu bằng ngàn câu: mười câu bằng
muôn câu, lẽ nào Đức Phật Di Đà không cảm động qua rước.
Kinh Thập Lục Quán nói: ỏ Lòng thanh tịnh chí quyết, niệm
10 hơi cũng đủ tiêu tội 80 ức dư kiếp trướcõ. Nếu quả
lòng thành như vậy, nhờ có công tu kiếp trước, Đức Phật
Di Đà qua rước chẳng sai.
Hỏi: Nếu
còn tội mà ăn năn tu niệm chí thành, cũng đặng vãng sanh
về Tây Phương tu thêm mới thành Phật. Vậy thời vội tu
sớm làm chi, để hưởng mùi đời cho phỉ tình, đợi gần
chết ăn không đặng sẽ trường trai, tu niệm Tịnh độ ít
ngày mà theo Phật như mấy người ác vãng sanh đó, tội gì
mà tu sớm thiệt thòi lắm.
Đáp: Phật
quí tại tâm, những ác nhơn vãng sanh là thuở nay không biết
phép Tịnh độ mà tu, nay gần lâm chung có người chỉ điểm
nên hồi tâm niệm Phật, ấy là làm ác bấy lâu mà vô tâm,
nay sám hối hồi tâm Phật mới rước, chớ tiềm tâm làm
ác, tính điếm đàng xảo quyệt, Trời Phật thua trí người
sao? Trời Phật chuộng những người chân thật. Kẻ dữ được
vãng sanh vì có căn tu kiếp trước nên Phật thương tình mà
xui người chỉ điểm lúc lâm chung. Muôn người mới có một.
Có mười hạng người khi lâm chung niệm Phật không đủ mười
câu; Một là lúc lâm chung không gặp người biết tu tịnh
độ mà chỉ điểm. Hai là oan báo theo mình cản trở không
cho niệm Phật. Ba là bịnh á khẩu hoặc tắt tiếng. Bốn
là mê sảng không biết gì. Năm là bị chết chìm chết thiêu.
Sáu là bị hùm tha sấu bắt, rắn cắn trào đờm. Tám là
trúng thực nhiễm gió bất tỉnh nhơn sự. Chín là tử trận.
Mười là té cây đụng xe gẫy chân. Mười sự chết đó dễ
gì tỉnh táo mà niệm mười câu cho minh bạch lòng không loạn
tâm, hoặc niệmPhật mà còn tưởng vợ chồng con cái, nhớ
của chôn lo trối trăn hậu sự dễ bị xao lãng, có đâu lòng
biết ăn năn giữ thanh tịnh niệm cho đủ số. Hoặc lòng
còn nuối kẻ nọ, trông có thuật hoàn sanh, chồng khóc vợ
kể, con cháu theo kêu cho rầy tai, loạn tâm lãng trí, trong
lòng bối rối như tơ, khó sửa lòng thanh tịnh mà niệm đủ
10 câu cho Phật rước. Chớ đợi đến già mới niệm Phật
Thiếu chi
mồ trẻ đã qua đời
Khuyên niệm
Phật than mình chưa rảnh
Đợi bắt
hồn rắp việc cũng theo!
Nhứt là
thờI buổi giặc giã chiến tranh, người ta bị bom đạn chết
một cách bất ngờ. Đâu có ai chắc mình sống đến ngày
mai. Ai biết trước số mấy mươi mà thác, đừng tin thầy
coi số coi tướng nói bốc bướng mà lầm. Thừa lúc chưa
già chưa bịnh, chọn ngày sám hối lập nguyện tu lần cho
có căn. Bác thợ rèn vừa đập sắt vừa niệm Phật. Vừa
làm công việc hàng ngày để nuôi vợ con vừa tu, hoàn cảnh
nào cũng tu được cả. Chớ bảo có thời giờ mới tu được,
hay là còn trẻ, dại gì tu để hưởng mùi đời cho phỉ tình
rồi sẽ hay. Tử thần đến, công việc gì gấp cũng phải
buông, trẻ cũng không tha.
Nếu xảo
quyệt tính cho lắm, e bị sự rủi, đầu thai kiếp khác không
chắc làm người hay mang lông đội sừng. Dẫu may làm người,
e không ai nói pháp cho mà nghe, không dễ gì gặp người khuyên
tu tịnh độ theo con đường tắt; Dẫu có người khuyên chưa
chắc tin. Mất thân người muôn kiếp khó tu mới là khổ.
Cũng bởi tính già hóa non.
Hỏi: Người
phàm dễ bị bó buộc phạm nhiều tội lỗi, các điều phiền
não chưa dứt, một mảy phước đức chưa tu. Còn như Tây
Phương Cực Lạc trên ba cõi thiên tiên quí hơn cõi thiển
đường bực Thiên Đế bá hội. Lẽ nào mới niệm Phật mà
đặng về Cực Lạc?
Đáp: nhờ
Phật Di Đà rước, không phải nhờ sức mình tham thiền mà
qua nổi Cực Lạc ở luôn. Thí dụ: Con kiến lẩn thẩn cả
đời đi không bao xa, còn sợ bị cóc liếm giữa đường,
nếu đeo vào áo một người đi du lịch bằng máy bay, trong
vài giờ đến xứ khác như không. Còn tu Tịnh Độ, Phật
Di Đà tiếp dẫn cũng như vậy. Nếu người tu hành cứ ỷ
tham thiền hay luyện đơn, tại cõi trần thời đầu thai hoài
tu không biết mấy kiếp mà cũng không giải thoát khỏi sanh
lão bịnh tử có đâu thành Phật. Kiếp này tu kiếp sau chắc
gì mình tu nữa không, hay hưởng phước giàu sang phú quí quên
tu. Về Cực Lạc khỏi phải luân hồi, lo gì không thành Phật
La Hán. Như con mọt trong cây gần gốc, nếu bò lên đục từ
mắt đục lần cho tới ngọn thời lâu biết chừng nào. Ấy
là thí dụ cách tham thiền hay luyện đơn khổ mà lâu vô cùng,
e không thành nữa. Như con mọt chưa ra khỏi ngọn tre mà chết.
Còn tu tịnh độ thiệt tắt dễ nên ví như con mọt ấy, đục
dựa ống tre không bao lâu đã ra khỏi. Nên tu tịnh độ gọi
là hoành xuất tam giới, đi ngay rất mau, lo chi phàm tục không
đặng vãng sanh Cực Lạc.
Hỏi: Trong
chín phẩm tòa sen, bực thấp từ thứ bảy cho đến thứ chín,
để dành cho kẻ mới tu ít phước. Nhứt là tòa sen thứ chín,
nhiều kẻ ác mới tu, may phước đặng vãng sanh như tích Trương
Thiện Hòa, sãi Huýnh Kha, tôi e kẻ ấy về đó còn thói tà
dữ, chi cho khỏi con sâu làm rầu nồi canh chăng?
Đáp: Lo không
đặng vãng sanh, lo chi về đó mà còn làm dữ là vì có năm
cớ: một là có Phật gìn giữ, hai là muốn chi có nấy không
lòng tham, ba là chim linh giảng kinh trên cây báu cũng đủ hồi
tâm ăn năn mà sửa lòng, bốn là ở gần Bồ Tát, bạn lành
không ai rầy rà gây oán thù, năm là sống hoài tu mãi trở
nên lòng Phật; gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, xung
quanh mọi người tu thời mình cũng tu theo. Nên về Cực Lạc
kiếp này cũng đặng thành Phật không thối chí nữa.
Hỏi: Kinh
nói tại thế gian, có kẻ lòng thành phát nguyện tịnh độ,
thời trong ao thất bửu cõi Cực Lạc có mọc một cây sen
trổ ra một bông. Lúc lâm chung, Phật rước hồn người tu
ngồi bay về Cực Lạc cho Liên Hoa hóa thân ngồi tòa sen ấy.
Nếu lúc sống tu tấn tới, bụi sen mau ra bông, búp sen mau
lớn bằng bánh xe, có nêu tên họ người tu bên ngoài. Tới
số Phật Di Đà ứng điềm, định ngày tiếp dẫn. Còn ai
thối chí ngã lòng, bê trễ việc tu thời sen ấy héo dần.
Tới thôi tu thời sen ấy rụng. Sau tu lại, sen này chồi lên
bông khác, nếu bỏ đạo đến chết thời bụi sen cũng chết
khô. Chẳng hay lời ấy có đáng tin chăng?
Đáp: Việc
ấy dễ hiểu. như cái kiếng lớn, vật nào chiếu vào thời
cũng thấy bóng y như vậy. Cõi Cực Lạc của Phật Di Đà
rất linh, thế gian có người tu tịnh độ, cõi Tịnh độ
mọc sen thêm; sen ấy tùy theo người tu siêng năng hay bê trễ
mà tươi héo gọIi là giống sen Bồ Đề, mà cũng có Đức
Phật Di Đà chủ trương trong đó, là lý chắc tự nhiên, lẽ
nào Đức Phật Thích Ca đặt chuyện huyễn hoặc mà nghi ngại?
ỏ Người tu sen Phật lên, người thành sen Phật trổõ ấy
là nhơn quả tự nhiên.
Hỏi: Tại
sao niệm Phật Di Đà cầu vãng sanh về nước Cực Lạc. Thiếu
chi các vị Phật khác mà buộc niệm Di Đà mãi?
Đáp: Một
là bao nhiêu công đức của Chư Phật mười phương, Đức
Phật A Di Đà đều có đủ, nên niệm Phật A Di Đà cũng như
niệm đủ các vị Phật mười phương. Hơn nữa mỗi tháng
Phật Di Đà hội chư Phật tại hướng nào mình có lạy sám
hối phát nguyện, chư Phật mười Phương chứng minh đâu có
thiếu sót vị nào đâu.
Hai là không
cầu quyết một chỗ, khó nhứt tâm dễ bị xao lãng.
Ba là các
cõi Phật khác không như cõi Cực Lạc, dẫu vị đó thành
Phật thời hưởng tiêu diêu một nơi, chứ chư dân trong nước
đều khổ não.
Bốn là Phật
A Di Đà Phát 48 nguyện, quyết tiếp dẫn chúng sanh niệm Ngài,
dầu phạm tội ngũ nghịch biết ăn năn hối cải ngài cũng
độ hết. Nên ai ở cõi này, có niệm Phật thời phần đông
niệm Di Đà nhiều hơn.
Đức Phật
Thích Ca dạy nhiều phép tu luyện rất khó, trừ phép tịnh
độ rất dễ vì biết trước đời sau chúng sanh phước mỏng,
nghiệp chướng nặng nề, đạo Phật đã mỏn, các kinh lạc
hết mà Kinh Di Đà còn soi dấu cả trăm năm. Bởi dễ nên
ít ai tin nên mỗi lần Ngài giảng kinh Di Đà, Ngài có mời
chư Phật Như Lai mười Phương đến chứng minh cho đủ tin
chắc.
Hỏi: Nước
Cực Lạc cách xa cõi trần mười muôn ức thế giới xa xôi
dường ấy lẽ nào người phàm đi tới?
Đáp: Xác
phàm đi xa như vậy không đặng, chớ phần hồn có khó gì!
Vì lòng thành niệm Phật, Phật rước hồn đi không phải
xác. Thí dụ: chiêm bao đi tới nước khác ngàn muôn dặm,
nghe ai kêu thời tỉnh thức dậy liền. Có phải chiêm bao thấy
đi gần thời tỉnh mau, đi xa thời tỉnh chậm sao?
Hỏi: Kinh
nói ỏ ai ăn chay niệm đủ 30 vạn biến vãng sanh, thời Phật
Di Đà hằng chiếu giám trên đầu, bảo hộ tai qua nạn khỏi,
để làm ăn mà tu, đợi lâm chung cho biết ngày rước hồn
về Cực Lạc. Người tu Tịnh Độ ai thấy khoảng đó mà
không ham vì niệm thêm 30 vạn có khó chi. Di Đà có một ông
chiếu giám sao cho xiết, hơn nữa cả mười phương thế giới
có biết bao nhiêu người vãng sanh cùng một lúc làm sao rước
cho kịp?
Đáp: Rất
đỗi mặt trời mặt trăng là nhỏ còn chiếu khắp trên đầu
thiên hạ, huống chi là hào quang Phật. Còn thần thông Đức
Phật A Di Đà ba mươi sáu triệu một trăm mười chín ngàn
năm trăm ông (36.119.500). hơn nữa Phật còn biết bao nhiêu
đệ tử thành Phật đều đắc lục thông. Lo mình không tu,
lo chi Phật rước không kịp.
Hỏi: Nay
muốn vãng sanh Cực Lạc Tây Phương phải làm công hạnh chi?
Phát tâm làm sao? Vả lại kẻ ở thế có vợ chồng con cái,
chưa dứt đường dâm dục, kế lâm chung niệm Phật, Phật
có rước không?
Đáp: Phật
cũng rước hết. Muốn vãng sanh cứ niệm Di Đà. Cư sĩ ở
nhà có vợ chồng sanh đẻ không có tội chi miễn giữ giới
kỳ cho nghiêm thời khỏi tội. Nếu khuyên vợ chồng con cháu
tu theo sau cũng vãng sanh về Cực Lạc sum họp một nhà. Mình
còn khuyên người khác tu lẽ nào để con cháu luân hồi đọa
lạc sao. Lòng phát tâm có ba cách: một là nhàm cõi trần,
hai là mộ Cực Lạc, ba là phát tâm Bồ Đề.
Cõi trần
như chông gai, vì sự ăn mặc mà cực khổ cả đời. Vì chữ
danh lợi mà bôn chôn mạt kiếp. Có người khổ nhiều có
người khổ ít. Nghèo thời lo ăn lo mặc. Giàu thời lo giữ
của giữ tiền sợ ăn cướp, song ai ai cũng không khỏi bốn
điều là sanh, lão, bệnh, tử.
-
Sanh Khổ: Còn
trong bụng mẹ không đặng thong thả, ở nơi không sạch, ăn
uống huyết
nhơ. Chịu gần ba trăm ngày, gần bằng 20 năm khổ não. Đến
lúc sanh ra ép gần móp mình, nhứt sanh nhứt tử giếtmẹ trong
một khắc. Sanh rồi bị huyết dơ tống theo, lại tiểu tiện
dầm dề không biết hổ thẹn. Dầu sang giàu thánh hiền cũng
vậy. Lớn lên muốn không đặng cũng khổ, ly biệt cũng khổ,
oán thù giận cũng khổ. Hưởng sự vui sướng có một, bị
việc tru phiền hơn tám chín. Làm quan ngay thẳng gặp đứa
gian cũng oán ghét. Ít có ngày nào vui trọn. Gặp sự bất
bình trái ý luôn luôn. Nằm đêm xét kỹ lại, nhờ có thê
thiếp con cái làm cho khuây khỏa vài mươi năm rồi cũng già.
2. Lão Khổ:
Cảnh già khổ lắm. Chân mỏi gối chùn, mắt mờ tai điếc,
răng rụng nhai đau,tinh thần hao tổn, ăn không ngon, ngủ không
được, bịnh hoạn luôn. Trở trời trong mình đã đau nhức
khó chịu. Giàu có khó mua được sức khỏe như lúc còn xuân,
ngày tháng thấm thoát như cá cạn nước lần lần.
-
Bịnh Khổ:
Ai cũng trải qua thời kỳ bệnh hoạn thời biết bịnh như
thế nào. Nằm nhà thương hay vào thăm ai nằm nhà thương thời
thấy rõ khỏi nhắc lại.
-
Chết Khổ:
TớI lúc chết, giựt mình, mắt trợn tròng, tay chân co quắp
dễ sợ. không biết chết rồi đi về đâu. Trừ ra ngườI
tu Tịnh độ mừng mình được bỏ xác phàm hôi thúi này.
-Mộ Cực Lạc
như vầy: Cực Lạc hơn Thiên Đàng thập bội khỏi luân hồi.
Lòng ao ước trông mãn phần về Cực Lạc thảnh thơi.
-Phát tâm
Bồ Đề: Bồ Đề tâm là lòng làm lợi ích cho người. Khi
phát tâm này như đồ máy được gắn điện có năng lực
mạnh mẽ. Những công đức bình thường không thể sánh kịp.
Nhứt là long từ bi thương xót chúng sanh luân hồi khổ sở,
hết lòng nguyện độ và khuyên mọi người tu như mình.
Có người
hỏi thiên như lão nhơn ỏVĩnh Minh Thọ Thiện Sư là thầy
đứng đầu Trung Quốc, ai cũng nhường là bậc thầy về việc
tham thiền mà sao còn tu Tịnh Độ, thường hay đọc bài kệ
giảng dạy đệ tử và bổn đạo như sau:
Bài Kệ
Nôm
Tham thiền
không Tịnh Độ, một chục chín người khổ
Tịnh Độ
chẳng tham thiền, tu muôn thành đủ số.
Cứ theo bài
kệ chẳng là chê ép phép tu tham thiền mà bào chuốt tôn trọng,
khen ngợi cách tu Tịnh Độ thái quá chăng?
Lão Nhơn
đáp: Không phải Vĩnh Minh Đại Sư khen phép tu Tịnh Độ thái
quá. Thiệt phép Tịnh Độ rất rộng lớn, cách tu rất tiện
dễ, sao gọi là phép rộng lớn? Bởi hết thảy phép tu đều
rút tóm rút vào đủ, trừ bực thượng là Phật, bậc trung
là Bồ Tát, bậc hạ là Thinh Văn, Duyên Giác, bậc dưới chót
là kẻ dốt hoặc phạm tội ngũ nghịch, thập ác, nếu chịu
ăn năn chừa dữ tu theo Tịnh Độ, không cần lâu mau, không
đợi trường trai 24 tháng, cơn lâm chung niệm Phật không xao
lãng; Phật cũng rước về Cực Lạc. Còn tiện dễ là: không
có học chi khó, làm chi mệt, kẻ sáng dạ niệm thêm 30 vạn
biến vãng sanh, kẻ tối dạ không thuộc vãng sanh cứ niệm
ỏNam Mô A Di Đà Phậtõ cho đủ 30 vạn câu thì đủ. Sau dư
tu thêm lâm chung niệm Phật 10 câu, Phật Di Đà cũng rước.
Về Cực Lạc lien hoa hóa thân, tu thêm cho tớI thành Phật.
Hỏi thử có phép tu nào dễ mà mau thành Phật như vậy chăng?
Nếu ai không trí huệ như Vĩnh Minh Thiền Sư thời cũng không
lo tu thêm Tịnh Độ và khuyên người tu Tịnh Độ như mình.
Hỏi: Hòa
thượng Đại đức đã thông hiểu tham thiền kiến tánh thành
Phật cũng đủ, phải tu thêm Tịnh Độ làm chi?
Đáp: Quí
vị thông thái muốn tu thêm Tịnh Độ như Vĩnh Minh Thiền
Sư thời nôn và nóng theo Tịnh Độ, sức muôn con trâu kéo
cũng không thèm trở lại hốt vàng rồi sẽ tu thêm Tịnh Độ.
Nếu thông phép tham thiền mà chắc sẽ thành Phật, thời các
vị Đại Bồ Tát trước khi tham thiền đã sáu bực nhiều
kiếp mà chưa thành còn phải tu thêm Tịnh Độ mới thành
Bồ Tát.
Kinh Tam Muội
nói ỏVăn Thù Bồ Tát thuật chuyện cũ của mình; gọi mình
nhờ niệm Phật mới thành chánh quảõ. Phật Thế Tôn làm
dấu trên đầu nói rằng : Ngươi nhờ niệm Phật mà đặng
vãng sanh Cực Lạc, chớ có nói tham thiền giỏi đâu. ỏKinh
Hoa Nghiêm nói: Phổ Hiền Bồ Tát lấy mười điều nguyện
lớn mà dạy Thiện Tài Đồng Tử cũng tu Tịnh Độ, cho Phật
rước vãng sanh là quí hơn hết. Kinh Lăng Già nói ỏPhật
Thế Tôn thọ ký cho Long Thọ Bồ Tát mới vãng sanh Cực Lạc.
Ngũ Thông Bồ Tát người nước Thiên Trúc tu luyện tham thiền,
xuất hồn qua Cực Lạc ra mắt Phật Di Đà bạch rằng: Tôi
là chúng sinh cõi Ta bà nguyện vãng sanh Tịnh Độ, nay xin Phật
hiện hình rước có nghi tiếtõ. Ấy cũng phải tu thêm Tịnh
Độ mà Phật rước nào chỉ lấy sức tham thiền đặng lên
cảnh Phật mà ở luôn sao? Thử hỏi được bao nhiêu vị tham
thiền xuất hồn đến cảnh giớì Cực Lạc?
Phật
Độ Những Người Có Căn Duyên
Giả tỉ
như mình bị bịnh tả mấy ngày rồi, vợ rước một ông
thầy quen ở gần đến coi mạch doán rằng: bịnh bị tiện
bế, bón đã vài ngày không đi đại, phải xổ cho mau kẻo
chết. Mình lấy làm lạ bảo vợ rước một ông thầy quen
khác chẩn mach cũng nói như vậy. Lần lần rước tới 5 thầy
đều đoán quyết bịnh bón phải xổ mới sống. Mình khai
thiệt: tả hết ruột; mấy thầy thuốc cãi rằng: không phải
tả, mạch bón rõ ràng. Vợ dốt nói mình đau nói mê, sao bằng
5 thầy coi mach nói hiệp nhau là chắc. Lật đật đem tiền
đi lấy thuốc xổ. Ở nhà thời may có lương y lạ du phương
ghé xin nước. Mình hỏi ra mới biết thầy thuốc, cậy chẩn
mach thử. Lương y coi mach nói: bịnh kiết tả cả ngày rồi,
tì vị liệt gần ngay ruột, phải uống thuốc chỉ tả mà
cầm cho mau kẻo khốn, liền biên toa cho mình rồi kiếu đi.
Thế khi cũng chẳng tin toa ấy nên không uống. Vì ông thầy
lạ mới đến nói một cách khác hơn mấy ông thầy mình tin
cậy lâu nay đã khắng vào tim rồi, đợi vợ đem thuốc xổ
về sắc mà uống đó chăng?
Vô duyên
như vậy Phật độ cũng không đặng. Phật độ những người
có duyên có phước biết nghe mà tỉnh hồi mới đắc ngộ
tu mau thành Phật. Kinh Phật dạy tới 84.000 cách tu khác nhau
mà rút một phép tu Tịnh Độ là tu tắt. Dễ mà mau thành,
quí báu như mình rồng có một hột châu, non con có ngọc thượng
hạng, như thái tử quí hơn quần thần. Vì dạy nhiều nên
kinh chất cả đống như núi; ai vô duyên xấu phước thời
khiến làm biếng mà không xem; kẻ ít phước không duyên phần
xem cả trăm cuốn thấy dạy tham thiền khó lắm, tụng niệm
nhiều quá cũng đã thèm, nhắm mắt không tu nổi, có ráng
xem trọn bộ cho thất công mấy chục năm cũng vô ích. Vì
vậy mà bỏ qua, coi chưa gặp cuốn Tịnh Độ mà học rủi
biết chừng nào? Còn kẻ thiện căn có phước duyên phần,
mới xem một hai cuốn may gặp Tịnh Độ pháp môn tin và mừng,
vì tu dễ mà mau thành Phật rõ ràng, thiệt là tu tắt không
tới hai năm mà đặng ngồi tòa sen thành Phật. Dầu trăm sợi
dây cột kéo lại bảo hốt mấy muôn cân vàng mà cất rồi
tu Tịnh Độ cũng không thèm. Vì tu tại gia làm cư sĩ dễ
lắm. Ai có duyên phần thiện căn phước đức không tu kẻo
trễ ngày giờ uổng lắm, vì tử thần đến, làm việc gì
cũng phải ngưng, trẻ cũng không tha.
Con Tằm
Ở Ồ Kén
Con tằm kéo
tơ làm kén, vấn tả vấn hữu, bao dưới bao trên, kéo hết
tơ chỉ trong ruột ra, quyết làm nên ổ mà ở trong cho an phận;
nào hay kéo hết ruột cực hết sức lộn ra nhộng, trói mình
cho chặt đặng chúng ươm trong nước sôi mà lấy tơ. Ý nó
tưởng ráng sức giữ mình, nào hay người ta vì sự ráng sức
của nó mà hại nó. Mấy muôn muôn triệu triệu tằm khờ
lộn nhộng, con nào mà khỏi trụng nước sôi, làm cho người
đặng lấy tơ và ăn gỏi nhộng thảm biết chừng nào. Vậy
mà con cháu nối dòng cũng noi theo nghề đó, buộc mình cho
lợi chúng mới là thảm thay!
Người ráng
lo cho nên sự nghiệp của tiền có khác chi đâu. Rang hết
sức bình sanh quyết để sự nghiệp cho vợ con giữ đời
nên mới gây oán thù nhiều chỗ. Gầy vừa xong cơ nghiệp
thời đà lộn nhộng bỏ mình rồi. Coi lại muôn muôn ngàn
ngàn người có ai khỏi trả nợ đời, khỏi bị báo oán mà
con cháu cũng noi theo kiểu ấy luôn luôn, thiệt cũng lạ lắm!
Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: người vì vợ chồng con
cái buộc trói quá hơn xiềng tỏa trong đề lao, nhưng mà tội
tù cầm cọng còn ân xá, vợ chồng con cái trói buộc chẳng
buông tha.
Cái Đăng
Có Đặt Lờ
Người bắt
cá ví đăng (nò) ngoài vàm rạch khôngcho cá nhảy ra. Trong
lại thả cỏ rong rêu nổi đầy như cặm chà, cho cá ngỡ
có chỗ núp. Ngoài miệng đăng lại đặt cái lờ dưới nước.
Trong miệng lờ có cái hom; chun vô thời ra xuôi ngược không
đặng mắc kẹt. Bầy cá đua nhau chun vô lờ tưởng là chỗ
kín đáo như ở hang, giống tôm vô cái rộng.
Sông Mê cũng
có nò đặt lờ như vậy. Lúc lành mạnh vô sự thời ở yên,
vợ hiền con thảo cũng như lúc chưa chun vô cái lờ. Mảng
vui này không lo tu Tịnh Độ, càng ngày chun vô riết lờ Ái
Hà. Nhằm lúc vua Minh Vương đương giở lờ lên, dù vợ thương
con mến cũng không biết làm sao mà kéo ra cho đặng; Chẳng
bao lâu vợ con cũng chun vô cái lờ Minh Vương nữa. Muốn cho
khỏi vô lờ Minh Vương thời lôi lên cho khỏi Ái Hà là Sông
Mê, mau mau niệm Di Đà tu theo phép Tịnh Độ thời sau đặng
vãng sanh Cực Lạc cả nhà.
Bốn Hạng
Ngựa
Ngựa có
bốn hạng; hạng thứ nhứt thấy bóng roi thì chạy không đợi
đánh vô mình. Hạng nhì đánh một roi thời chạy luôn luôn
không đợi đánh nữa. Hạng ba đánh ít không chạy, đánh
nhiều mới chịu chạy. Hạng chót đánh bao nhiêu cũng không
chịu chạy, đợi dùi đâm vô thịt chảy máu mới chịu chạy.
Con người
cũng có nhiều hạng: Trí tuệ hạng nhứt mau tỉnh ngộ. Nghe
có người ở xa trăm dặm mãn phần thời giựt mình lo rằng
ỏngười ở xa trăm dặm thác rồi mình cũng loài người sao
cho khỏi thác. Mau tu Tịnh Độ cho kịp 24 tháng mới chắc
vãng sanh ngồi liên đài. Cũng như ngựa ký thấy bóng roi thời
chạy trước. thứ nhì nghe bà con thác thời giựt mình lo tu.
Thứ ba thấy người trong xóm thác thời giựt mình đắc ngộ.
Hạng chót đợi người trong nhà thác hoặc mình già bịnh
mới giựt mình tỉnh ngộ mà tu Tịnh Độ ngày đêm. Cũng
như ngựa bị dùi đâm thấy máu mới chạy. Nếu già bịnh
còn chưa tỉnh ngộ mà tu thời hết bực rồi; khác nào con
ngựa bị dùi đâm mấy vết máu chảy dầm dề cũng không
chịu
chạy; chủ phải làm hàng mà bán như heo lấy tiền mua con
ngựa khác mà dùng. Con người tới già bịnh mà chưa bươn
bả tu Tịnh Độ hết lòng cho Phật rước thời còn đợi
cho cặp quỉ vô thường tiếp dẫn.
Chồn Cáo
Ăn Vụng
Chồn cáo
cộc tối lén vô bếp ăn vụng no quá ngủ mê. Rạng đông
chủ tớ xuống nhà bếp. Chồn tỉnh giấc mở mắt thấy đông
người sợ ví bắt nên không dám chạy, giả chết đợi chúng
xách mà ném sẽ dông êm. Đứa đầy tớ nói chồn ăn vụng
phát ách mà chết để tôi xách bỏ đi kẻo thúi. Thằng con
lớn chủ nhà nói để tôi chặt đuôi phơi làm chổi rồi
chú sẽ xách đi. Nói rồi lấy mác chặt đuôi, chồn cắn
răng không dám động đậy. Thằng em nó nói chú khoan xách
đợi tôi cắt hai cái tai nó để chơi; chồn nằm nghĩ thầm
rằng ỏráng ráng chịu đau cho thằng yêu nhỏ cắt hai tai
không tới nổi chếtõ. Thằng nhỏ lấy dao lại cắt hai tai
rồi bà chủ nhà nghe rõ bước xuống cản rằng khoan xách
đã, bởi cái áo da dê của ông rách khó kiếm da mà vá, may
lắm mới gặp da chồn cáo cộc lớn thiệt quí, để lột
da phơi mướn thuộc mà vá áo dương cầu. Chồn nghe hoảng
hồn nghĩ rằng ỏnếu lột da thời trước phải chặt đầu
cứa cổ chết đi còn gì, thà vùng chạy cầu may, chẳng hơn
giả chết nằm lì cho chúng giết.õ Nghĩ vậy vùng dậy nhảy
nai chạy đại mà khỏi, vì ai cũng không ngờ nó giả chết
mà đề phòng, ơ hờ nó chạy khan nhảy đi, theo rượt bắt
không kịp. May thay cho chồn cáo cộc.
Con người
ở cõi thế gian như chồn vô nhà bếp. Ai cho khỏi thác một
lần. Trừ ra tu Tịnh Độ mới đặng vãng sanh cũng như giựt
mình chạy liều mạng mà thoát khỏi. Hết lúc xuân xanh mạnh
khỏe ví như chồn bị chặt đuôi, mới già như chồn bị
cắt thêm tai. Già quá bịnh nặng như chồn bị hăm lột da
mà chưa chịu nhảy nai cho khỏi chết như người già bịnh
mà chưa chịu phát nguyện tu Tịnh Độ mau mau; ngày đêm tụng
niệm cho kịp lâm chung mà vãng sanh mới khỏi quỉ vô thường
tiếp dẫn. Cứ lôi thôi đợi chết sẽ ra mắt Minh Vương
mà thử kinh nói địa ngục thiệt có hay không cho biết; kẻo
vội tin tu theo Tịnh Độ mà uổng công. Thời khác nào chồn
nằm lì, coi thiệt quả lột da vá áo hay là nói nộ; như vậy
cũng đáng khen hồ ly đa nghi quá quắt, can đảm lạ thường.
Đổ Thừa
Tại Lỗi Vua U Minh
Lão kia mãn
số hồn xuống âm ty, Minh Vương xử án định tội. Hồn lão
tâu rằng: Phải hay sớm thiệt có địa ngục chắc chắn như
vầy, thời tôi đã tin kinh Phật, tu Tịnh Độ vãng sanh, khỏi
nhọc công đại vương xử đoán. Phải chi đại vương mở
lòng quảng đại nhắn tin cho tôi biết trước mà tôi không
lo sớm đến nay hành tội mới ưng. Té ra chẳng dạy mà giết,
ức biết ngần nào. Xin châm chế tội lỗi lần thứ nhứtõ.
Minh Vương phán rằng: trẫm thông tin nhiều lần lắm; tóc
ngươi muốn trổ hoa râm là tin thứ nhất. Răng ngươi lung
lay là tin thứ nhì. Sức ngươi suy yếu là tin thứ ba. Mắt
ngươi lờ quá là tin thứ tư. Lỗ tai ngươi muốn điếc là
tin thứ năm. Bịnh nhiều là tin thứ sáu. Sao trách trẫm chưa
cho biết trước? Có hồn đứa trai nghe rồi quì lạy khóc
mà tâu rằng ỏông già ấy đặng tin sáu lần mà không lo
trước đã ưng. Còn tôi chưa đặng tin nào xin đại vương
xét mà thứ tộiõ. Minh Vương phán rằng: tên nọ một tuổi
với ngươi bị thời khí mà chết ấy là một tin. Tên trẻ
kia một cỡ với ngươi năm nọ bị thắt họng là hai tin.
Tên trẻ khác bị chết trôi là ba tin. Tên trẻ ở gần bị
rắn cắn chết là bốn tin. Bạn hữu ngươi chết yểu là
năm tin. Thấy một cỡ với ngươi chết yểu giựt mình mà
lo tu đều là hay tin trước, đợi trẫm kêu tên mà nói với
ngươi sao? Dầu ngươi sức mạnh vỡ núi trùm đời, tài cao
nâng trời vạch đất, cũng không khỏi ra mắt trẫm sau lúc
lâm chung tắt hơi. Trừ ra tu Tịnh Độ có Đức Phật Di Đà
rước hồn mới khỏi quyền trẫm xử. Sau thành Phật dạo
đến đây, trẫm phải cung kính tiếp nghinh theo lễ khách.
Bươm Bướm
Ngã Vô Đèn
Bươm bướm
nhào vô đèn mà chết không phải vì đèn mà chết, chết tại
chỗ thấy của nó; gọi là sáng trưng vui vẻ. Nó thấy chắc
rõ ràng không lầm, người tu thương mà đuổi đi vì biết
chỗ thấy của nó còn sái; song nó chẳng biết ơn lại còn
giận rằng: ỏ Tức vì thấy chỗ sáng muốn đáp vô mà chơi
cho vui, bị họ cà nanh ngăn trở.õ Nên rình hở mà nhào vô
cho đặng. Bởi chắc ý chỗ thấy của nó là phải không lầm
nên hăm hở đua nhau vô chết cả lũ.
Người vì
tiếng dâm sắc đẹp, rượu ngọt khói thơm, sự lợi bài
bạc mau làm giàu, cậy mình học giỏi, chỗ thấy không lầm,
hưởng khoái lạc một đời cho chí tử thì hết chuyện. Không
tin còn hồn ma, sợ luân hồi quả báo. Dầu ai giảng chánh
lý thế nào cũng chê mãi không tin. Đều tại chỗ thấy trước
của mình là chắc ý hơn hết nên sấn tới cho đến chết
mới thôi; gọi là hưởng phong lưu một đời đã thích chí.
Con người ăn học còn thế này, trách chi bươm bướm đáp
đèn là vật mọn. nếu thấy gương ấy biết ăn năn đắc
ngộ mới mau thành.
Ruồi Bay
Vào Cửa Song
Có loài ruồi
kia khờ quá, saün trớn bay lọt vô cửa song. Cứ ngó tới
bay riết vào vách tường, tìm lỗ mà ra không đặng. Ráng
sức bay qua tả, bay lại hữu cả ngày mệt quá mà không đường
ra. Tức mình kêu la lào xào cả lũ. Tại ngó tới không chịu
ngó lui, coi trước mặt còn rộng chắc chỗ thấy nó không
lầm, ráng sức mà bay hoài phải ra khỏi vì ỷ tài ỷ tận,
tấn tới không chịu thối lui mới gọi là ruồi khờ. Chớ
chi biết nhắm trước xem sau, biết mình thấy lầm mà bay vào
nhầm chỗ hẹp hòi tù túng. Nay ăn năn ngó lại, quay lùi ra
khỏi chỗ lầm trước, thời trời cao đất rộng mênh mông.
Cõi trần như nhà vách kín bịt bung, đóng kín cửa mở song
cho sang, dễ gạt bầy ruồi lằn khờ ngỡ rộng mà bay vào
tù túng biết bao nhiêu. Nếu chui ra bay về hướng Tây, thiệt
là mau mà rộng thinh, khoái lạc hết tù túng nữa.
Bốn Phép
Trị Ngựa
Trong lúc
Phật Thích Ca đang thuyết pháp gặp người Mã Sư tập ngựa
rất thiện nghệ. Phật hỏi: ỏngươi dùng mấy phép mà tập
ngựa đặng hay nên danh như vậyõ. Mã Sư đáp rằng ỏcó
bốn phép: thứ nhứt ơn, thứ nhì oai, thứ ba trước oai sau
ơn, thứ tư trước ơn sau oaiõ. Phật hỏi: ỏNếu dùng bốn
phép ấy mà tập con ngựa nào không đặng thời phải làm
sao?õ Mã sư nói: ỏKhông đặng thời làm hàng bán thịt lấy
tiền mua con khác, vì để cũng vô dụng. Còn Phật dạy chúng
sanh mấy phép?õ Phật nói: ỏcũng dùng bốn phép như ngươi:
thứ nhứt ân là giảng dạy tu hành, về cõi Cực Lạc. Thứ
nhì oai, nói người làm dữ sẽ sa tam đồ; nước lửa, gươm,
đao và bị luân hồi lục đạo. Thứ ba ân trước oai sau;
giảng việc tu Tịnh Độ vãng sanh Cực Lạc, rồi giảng lành
dữ độ luân hồi khổ sở. Thứ tư trước oai sau ân; trước
giảng sự làm dữ bị hành tội cho mà nghe, sau giảng phép
tu Tịnh Độ để vãng sanh Cực Lạc cho mà độ.õ Mã sư nói:
ỏBạch Phật nếu bốn phép ấy chúng sanh nghe mà không chịu
tu, Đức Phật mới độ cách nào? Phật nói: ỏTa cũng giết
đi!õ Mã sư thất sắc hỏi rằng: ỏNhư Lai hiền lành thương
mọi chúng sanh, sao lại giết người? Phật Thích Ca nói: ỏDạy
đủ bốn phép mà không nghe là người không duyên phần, có
giảng hoài độ cũng không nổi, nói dai vô ích nên không nói
nữa. Không nói nữa thời để cho quỉ vô thường bắt hồn
hành tội, thời cũng như giết.
Thánh Phàm
Hai Thể Khác Nhau
Phật Tiên
Thần Thánh đều có ăn, song ăn thời biết mùi ngon ngọt thơm
tho, ăn rồi đồ quí tiêu hóa ra hơi thơm tan hết, không tiêu
tiểu nhơ uế như cõi phàm. Giáp cữ mới ăn nữa, như các
vị ở cõi thiên đường ăn nhiều món ngon như Thiên tu đà.
Ba cõi trên
thế gian chia ra như sau đây: Một là dục giới thiên, hai là
sắc giới thiên, ba là vô sắc giới thiên.
Dục Giới
Thiên: tại đây chúng sanh hữu tình, còn dâm dục. Cõi này
có cả thảy sáu cảnh giới gọi là Lục Dục Thiên.
Sắc Giới
Thiên: không còn dâm dục, ăn uống. Song còn màu sắc, thân
hình nên gọi là sắc giới. Tại cõi này có hai mươi từng.
Từ Phạm thiên đến Đại Tự thiên.
Vô Sắc Giới
Thiên: tại cõi này chư Thiên không có thân thể và hình sắc
nên gọi là vô sắc. chỉ còn cái tâm thức ở trong thiền
định mà thôi.
Về hạng
thần (A Tu La Đao) có hai hạng. Hạng ác thần hưởng huyết
nhục, hạng kiết thần hưởng chay lạt.
Nhưng dù
hạng nào đi nữa, hưởng hết phước đức thì phải luân
hồi. (Như ông cả Trước ở Trảng Bàng Tây Ninh lúc còn linh
hiển, bắt bối vác lái chèo đứng hoài nơi cửa miếu chờ
chủ lấy lại mới đi đặng. Vùng đó thấy linh hiển nên
cữ tên kêu bằng đi ỏtrácõ. Sau hưởng mấy chục năm; mãn
phước đã luân hồi nên hết linh nữa). A Tu La ác đạo là
ăn mặn nhờ ngay thẳng mà thành hung thần hưởng huyết thực,
mau luân hồi. Nếu ăn chay thành kiết thần gọi A Tu La thiên
đạo thời lâu đọa làm thần ít trăm năm, không tu thêm về
Cực Lạc cũng phải bị luân hồi xuống thế mà hưởng giàu
sang. Trừ ra thiên đạo tiên chậm luân hồi hơn, hưởng phước
mấy ngàn năm. Nếu tu theo Phật về Tây Phương thời khỏi
luân hồi. Dù giàu sang cho mấy cũng phải luân hồi mang xác
phàm. Muốn đặng liên hoa hóa thân mà sống đời thời phải
tu theo phép Tịnh Độ.
Chín Hạng
Đều Đặng Vãng Sanh Cực Lạc
Chín loại
chúng sinh là: 1. Thai sanh (sanh bằng thai nghén), 2. Noãn sanh
(do sanh trong trứng), 3. Thấp sanh (do sự ẩm ướt sanh ra),
4. Hóa sanh (do loài này hóa ra loài kia như sâu hóa bướm),
5. Loại hữu sắc (loại có màu sắc như trời sắc giới),
6. Loại vô sắc (loại không có màu sắc như trời vô sắc
giới), 7. Loại hữu tưởng (như cõi trời vô sắc, tuy không
có thân hình mà có tư tưởng), 8. Loại vô tưởng (như cõi
trời Tịnh Phạn vì mãi ở trong cảnh giới thiền định nên
không có tư tưởng), 9. Loại phi hữu tưởng (như cõi thứ
tư trong vô sắc giới thiên, chẳng phải có tư tưởng, chẳng
phải không tư tưởng). Tất cả chín loại chúng sanh trên
đây, ai niệm Phật cũng được vãng sanh cả.
Tầm thường
là loài người (nhơn đạo) có vui cũng có khổ. Khổ hơn hết
là ngạ quỉ (ma đói) súc sanh, địa ngục. Trên loài người
các cõi trời là vui hơn hết. Song thiên thần dù hưởng thọ
đến đâu hết phước rồi cũng sa lần cho tới luân hồi.
Sao bằng Cực Lạc khỏi phải luân hồi nên ông Châu Sĩ An
(tác giả Tây Qui Trực Chỉ) thường dưng hương Miếu Văn
Xương Đế Quân với Đông Nhạc Đại Đế lạy vái rằng:
ỏXin Đế quân qui y theo Phật mà về làm Bồ Tát cõi Tây
Phươngõ. Có khi dưng hương chùa Ngọc Hoàng lạy rồi cũng
vái như vậy.
Chúng ta may
gặp cửa Tịnh Độ mà không bước vào cho đặng vãng sanh
Cực Lạc thiệt uổng và rủi vô cùng. Vì tu Tịnh Độ không
khó chi, ai làm cũng đặng, vừa làm vừa tu không bỏ công
ăn việc làm hàng ngày, nhọc công hai năm thời đủ. Còn sống
tu thêm cho quả vị lớn, tới lâm chung Phật cho biết ngày
vãng sanh. Nếu không kịp hai năm, Phật cũng rước về Tây
Phương làm dân tu thêm cho có quả vị. Khó nhọc là tham thiền
luyện đơn hết hơi mà không thoát khỏi nẻo luân hồi. Nhiều
vị thức trọn gần hai năm không ngủ để tham thiền, kết
quả chẳng đi đến đâu. Nếu quí vị ấy tu Tịnh Độ ít
nhứt tòa sen bực trung. Nhiều vị trường trai đã saün tu
thêm Tịnh Độ rất lẹ thập bội. Trong ít tháng cũng đủ,
sao không chịu tu thêm cho đủ Tam giáo, chắc đặng vãng sanh,
bỏ trống liên đài, uổng quá, tiếc thay!
Niệm Phật
Không Uổng Công
Việc chi
ở đời làm không kết quả thờ uổng công chớ tu Tịnh Độ
dù sai chạy cũng không mất công chút nào. Xưa có lão tiều
gặp cọp sợ quá leo lên cây niệm Phật mà khỏi chết. Sau
chết đầu thai kiếp khác tỉnh ngộ đi tu mà thành. Niệm
Phật một hồi còn đặng thiện căn như vậy huống chi tu
Tịnh Độ mãn đời. Dầu kiếp này mới tu không mấy ngày
còn làm nhiều tộ lỗi, trong lòng xao lãng không đặng vãng
sanh, kiếp sau có lúc tỉnh ngộ tu cũng thành có uổng công
đâu. Chẳng phải như ở đời đi buôn không lời lại lỗ
vốn, làm ruộng mất mùa mang nghèo, học không đậu uổng
công.
Lý Nhân Quả
Thông Cả Ba Đời.
Gặp Việc
Buồn Cũng Ráng Niệm.
Tâm Mình
Có Thể Cải Tạo Hoàn Cảnh.
Nhiều người
mới làm lành chút ít, tụng kinh niệm Phật đã mong được
hưởng phước lớn. khi gặp cảnh khổ; bịnh hoạn, nghèo
nàn, tai nạn v.v.. liền cho rằng làm lành mắc họa rồi từ
đó ngã lòng chê bai Phật pháp. Những kẻ ấy không hiểu
ỏlý nhân quả thông cả ba đờiõ và tâm mình có thể cải
tạo hoàn cảnh. Xưa nay ai đạo đức hơn Đức Khổng Tử
mà còn phải bị vây nơi đất Khuông; ngài tuyệt lương nhịn
đói bảy ngày mà vẫn đờn ca như thường. Kế đó vua Sở
đem binh giải vây mới khỏi. Còn vua Văn Vương bị vua Trụ
cầm ngục thành Dũ Lý bảy năm mới tha. Sau con Võ Vương đặng
làm thiên tử. Huống chi người thường sao khỏi thời vận.
Xem tích ông Khương Tử Nha thời đủ hiểu. Cứ làm lành tu
niệm mãi, tự nhiên tai qua nạn khỏi, dữ hóa lành.
Nhân quả
thông cả ba đời là thế nào? Như đời này làm lành hoặc
dữ, đời này hưởng phước hay mang họa đó là hiện báo.
Đời này làm lành hoặc dữ, đời sau hưởng phước hay mang
họa là sanh báo. Đời này làm lành hoặc dữ, đời thứ ba,
thứ tư, thứ mười, trăm ngàn muôn đời sau mới hưởng phước
hay mắc họa gọi là hậu báo. Hậu báo thì sớm muộn không
định, đã gây nhân tất có quả đó là lẽ tự nhiên.
Tâm mình
có thể cải tạo hoàn cảnh là thế nào? Ví như mình có người
kiếp trước gây nghiệp ác nặng, kiếp này chịu nhiều điều
khổ dữ, ngườI ấy biết tội lỗi do kiếp trước làm, ăn
năn sám hối, đổi dữ làm lành, tụng kinh niệm Phật tự
tu và khuyên người tu cầu sanh về Cực Lạc. Do sự hối cải
ấy, nghiệp trước kia liền tiêu bớt, đổi thành quả khổ
nhẹ trong đời này như: bị khinh rẻ, hoặc đau bịnh, nghèo
nàn cùng gặp những điều không vừa ý. Chịu đựng những
khinh báo như thế xong người ấy có thể thoát đường sanh
tử. Kinh Kim Cang có nói: ỏNếu có người thọ trì kinh này
mà bị kẻ khác khinh chê, người đó đời trước gây tội,
nghiệp đáng đọa vào ác đạo. Do đời này bị sự khinh
chê nên tội trước liền được tiêu diệt, sẽ chứng quả
vô thượng bồ đềõ.
Người đời
khi gặp tai nạn, nếu không oán trời tất cũng trách người,
ít ai nghĩ đến sự trả nghiệp mà sanh lòng ăn năn chừa
cải. Phải biết trồng cây dưa được dưa, trồng đậu được
đậu là lẽ tự nhiên. Làm dữ mà vẫn hưởng phước là
đời trước vun bồi cội phước đã dày, nếu không làm dữ
thời phước còn lớn hơn. Làm lành mà hay bị tai nạn là
đời trước trồng gốc tội đã sâu. Nếu không làm lành
tụng kinh niệm Phật, họa càng lớn hơn nữa. Ví như người
phạm tội nặng chưa kịp hành hình lại lập được công
nhỏ, vì chưa có thể hoàn toàn ân xá nặng thành nhẹ. Nếu
lập công mãi đến khi công to không những trừ hết tội trước
lại được giải thoát nữa.
Lập Cách
Độ Tận Chúng Sanh
Cách này
trừ ra người không tin, không tu theo Tịnh Độ thời thôi,
nếu tin mà tu, bất cần gái trai già trẻ biết niệm Phật
Di Đà, câm thời niệm thầm, dầu tu mấy triệu, chết cũng
đặng vãng sanh Cực Lạc, không sót một người nào luân hồi
đọa lạc.
Nhà nào có
duyên phần, có phước, miễn một người đọc đặng cuốn
kinh này, giảng cho cả nhà nghe chung chắc ai cũng muốn khi
chết Phật Di Đà rước hồn về Tây Phương liên hoa hóa thân
cho hết khổ. Ráng ăn trường trai, nếu không nổi tập lần
lục trai, thập trai. Tệ quá thì ăn chay ngày mồng một và
ngày rằm. Tuy không cấm việc vợ chồng cưới gả, song phải
giữ giới kỳ cho nghiêm. Rảnh noi theo luật ỏcông quá cáchõ
làm lành sửa mình, làm đặng chút nào đỡ chút nấy. Nhứt
là nội nhà tuy còn ăn mặn, mà cữ tà dâm sát sanh cho nghiêm.
Không nên uống rượu loạn tánh. Dùng khô mắm, thịt chợ,
cá tôm chết saün, không giết con chi tại nhà bếp mình. Cữ
huyết thịt trâu bò cày và thịt chó. Không cần đến chùa
hay tìm thầy. Hãy coi ngày giờ chư Phật hội tại hướng
nào, thời đặt bàn hương án nội nhà lập nguyện. Nhớ mỗi
tháng y như vậy. Thỉnh tượng Di Đà thờ, mỗi ngày tụng
nhật khóa, dốt niệm sáu chữ ỏNam Mô A Di Đà Phậtõ cũng
đủ.
Ngày sám
hối đặt bàn hương án nội nhà lập nguyện:
Tôi. . . họ.
. tên. . ở làng. . .hạt. . phát tâm nguyện kể từ ngày nay,
cải ác tùng thiện, ăn năn chừa lỗi. Giữ theo qui luật công
quá cách, đặng bao nhiêu hay bấy nhiêu, nhứt là cữ sát sanh,
uống rượu, tà dâm, gian giảo, nói dối và nguyện ăn chay
(trường) (thập) (lục) (sóc vọng). Mà mỗi ngày niệm Di Đà
tới đủ 30 muôn câu, đặng nhờ ơn Phật chứng minh ứng
mộng, đem họ tên vào liên hoa. Sau lâm chung Phật cho biết
ngày rước hồn về Cực Lạc, hóa thân theo Phật cho khỏi
luân hồi lục đạo. Lạy bốn lạy, niệm Phật đếm đủ
108 câu, gọi một trăm. Đem tượng Phật thờ tại bàn nào
thọ trì tự ý. Từ ấy sắp sau, đi đứng nằm ngồi đều
niệm thầm. Ngày đêm đếm cộng đủ 30 muôn, sẽ thấy điềm
Di Đà cho biết. (Trừ ra nằm hoặc ở trần thì niệm thầm
mà xả không được ghi số). Đến cơn bịnh đừng sợ tốn,
sắm đồ chay cho người bịnh ăn trường, niệm Phật ngày
đêm cho tới lâm chung thời thấy Phật rước. Mấy ngày cũng
đủ, nhiều tháng quí hơn. Hai năm thời thấy điềm cho biết
trước ngày Phật rước hồn, có tòa sen.
Nếu chưa
tới phần, mạnh lại như xưa, giữ trường chay không nổi
ăn lại theo lệ cũ cũng không tội gì, đừng nghe họ hăm
mà sợ sái, khi khác đau cũng vậy. Đừng ơ hờ, lơ lỏng
uổng công. Nhớ đến cơn ngặt mình (gần tắt hơi) niệm
ra tiếng mười câu, Di Đà hiện xuống rước liền. Người
nhà nên niệm Phật giúp hoặc niệm vãng sanh, đừng nên khóc
cho người bịnh động lòng, loạn tâm xao lãng sự tưởng
niệm Di Đà. Không phải kêu khóc mà khỏi chết trong lúc mãn
phần số.
Cách này
độ vớt hết, từ con nít biết nói, biết niệm sắp lên,
nó chưa biết nguyện, cơn lập nguyện để sau rốt. Người
lớn bảo nó nói theo. Còn ai biết chữ thời đọc bài lập
nguyện trước đây.
Tôi cứ theo
phép Tịnh Độ trong kinh Đại Tạng lập ra mà độ giúp vớI
Phật ỏđộ tận chúng sanhõ. Nếu bày huyễn hoặc, gạt đời
cho mất công vô ích, tôi thề bị hủy hết công tôi trường
chay 46 năm, thác bị cầm hồn tại địa ngục, 30 muôn năm
mới được đầu thai làm ong kiến. Tôi ước nhiều vị khuyên
độ tận tâm như tôi.
Tận Tâm
Cư Sĩ Trần Phong Sắc thệ cáo.
(bài này
trích trong Lão Nhơn Đắc Ngộ)
Trở
Về Trang Ðầu
|