Mười
Thương
Một
thương đất khách dựng chùa
Hai
thương gìn giữ quê xưa nếp nhà
Ba
thương Phật điện nguy nga
Bốn
thương đạo pháp truyền ra nước ngoài
Năm
thương Phật tử khắp nơi
Sáu
thương cùng khổ không phai lời thề
Bảy
thương dân tộc hướng về
Tám
thương nguồn cội hồn quê vun trồn
Chín
thương xa cách muôn trùng
Mười
thương son sắt vẫn cùng núi sông.
Trí
Hoằng, 2001
Hình
bên là hình TT. Thích Trí Hoằng tại cuộc hội thảo Phật
Giáo Quốc Tế ở Việt Nam 7-2005 (Ghi chú của BBT)
Lời
Nói Đầu
Tập
sách này là kết tập những bài báo viết trên Bản Tin Hải
Ấn và Phật Giáo Việt Nam trong cùng một chủ đề. Đó là
Con Đường Phát Triển Tâm Linh. Nội dung các bài viết
này chỉ có một mục đích là trình bày các phương pháp tu
trì của Đạo Phật Việt Nam.
Qua
bao thăng trầm của lịch sử, Đạo Phật Việt Nam vẫn tồn
tại vững mạnh như bao giờ. Khi ẩn khi hiện trong mọi
tình huống chính trị và trong mọi bối cảnh lịch sử, nhưng
không bao giờ bị tiêu diệt. Sức mạnh đó như nguồn
nước, khi mạnh mẽ như thác đổ, khi dịu dàng như dòng sông
êm đềm chảy qua các đồng bằng, và khi âm thầm len lỏi
trong lòng đất. Điều gì đã khiến cho Đạo Phật Việt
Nam tồn tại qua cuộc tồn sinh thử lửa hàng ngàn năm?
Đó chính là Tinh Thần Dung Hóa. Đạo Phật đã đến
Việt Nam vào những ngày đầu của kỷ nguyên Tây lịch, đã
kết hợp với văn hóa bản địa để trở thành một thực
tại bất khả phân. Với tinh thần bao dung vô chấp Phật
Giáo đã chấp nhận mọi khác biệt tư tưởng nội tại cũng
như ngoại tại để dung kết trong đạo lý Tam Giáo Đồng
Nguyên (ba giáo thuyết khởi cùng một nguồn.) Con số ba tượng
trưng cho số nhiều. Phật Giáo đã kết hợp không những
với những luồng tư tưởng chính thống như Khổng Giáo và
Lão Giáo, nhưng cũng kết hợp với tín ngưỡng bản địa
để tạo nên một tín ngưỡng tổng hợp cho dân tộc.
Do đó trong một ngôi chùa chúng ta thấy có mặt tất cả những
xu hướng đó. Bên cạnh những pho tượng Phật, tượng
Tổ là tượng Khổng tử, Lão tử, Thập Điện Diêm Vương,
các thần sông núi, các anh hùng liệt nữ… Và các cách hành
trì của nhiều tông phái Phật Giáo đều có mặt như Tịnh
Độ Tông, Thiền Tông, Nam Tông và Mật Tông. Thâu hóa
những tinh hoa của các tông phái cũng như các nguồn tư tưởngkhác
nhau để bồi dưỡng cho sự hành trì của mình. Đây
là tính chất đặc biệt và cũng là sức mạnh của Đạo
Phật Việt Nam. Tinh thần bao dung và phóng khoáng này đã
làm cho Đạo Phật Việt Nam phong phú và đa diện có thể đáp
ứng được nhu cầu tu trì trên nhiều phương diện và có
thể tồn tại trong mọi hoàn cảnh. Với hoàn cảnh lịch
sử đặc thù và vị trí địa dư đặc biệt của đất nước,
Đạo Phật Việt Nam đã kết tinh từ những khó khăn thử
thách đó.
Các
bài viết trong tập sách này sẽ phân tích yếu tính của Đạo
Phật Việt Nam và con đường hành trì:
-Chương
1: Đức Phật và Con Người: phân tích về tính khai phóng trong
Phật Giáo cũng như vai trò của con người trong vấn đề sinh
tử, giải thoát.
-Chương
2: Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc: bàn về những đặc tính
căn bản của Đạo Phật Việt Nam và những đóng góp của
Đạo Phật trong văn hóa dân tộc.
-Chương
3: Phương Pháp Ăn Chay: trình bày về những lợi ích của vấn
đế ăn chay trong việc giữ gìn sức khỏe để tránh khỏi
những chứng bệnh nan y ngặt nghèo. Cũng như giữ gìn
lòng từ bi đối với muôn vật.
-Chương
4: Pháp Môn Lạy Phật: phương pháp hành trì thâm diệu để
luyện Thân và Tâm, đồng thời cũng để cập đến sự quan
hệ mật thiết giữa Thân và Tâm.
-Chương
5: Thiền Âm Thanh: cách hành trì thiền định bằng sự sử
dụng âm thanh. Âm thanh như một phương tiện hữu dụng
trong việc chuyển hóa phiền não.
-Chương
6: Phát Huy Phật Tính: bàn về phương pháp Niệm Phật trong
Tịnh Độ Tông như một phương cách hành trì đơn giản, trực
tiếp và thường xuyên trong việc tiếp xúc và phát huy Phật
tính.
Những
chương này bàn về phương pháp tu trì của Đạo Phật Việt
Nam trong vấn đề phát triển tâm linh. Sự phát triển
này đặt trên quan hệ mật thiết giữa Thân và Tâm.
Nói lên tính chất thiết thực của Đạo Phật Việt Nam.
Không phải đi đâu xa để tìm đạo. Đạo nằm ngay trong
lòng cuộc sống. Niết Bàn thực hiện ngay tại thế gian
đau khổ và giải thoát cũng đạt được ngay tại cuộc sinh
tử vô thường. Và châm ngôn căn bản cho sự tu tập này chính
là “ăn chay, niệm Phật.”
Ngày
nay, qua những trầm luân của lịch sử, cộng đồng Phật
Giáo Việt Nam tại hải ngoại không những đã bảo tồn duy
trì được những vốn liếng quý báu mà chư tổ và tiền
nhân đã đổ không biết bao tâm lực và sinh mạng để hình
thành; mà còn phát triển và truyền bá con đường tu trì này
đến với người bản xứ.
Đạo
Phật Việt Nam đã kinh qua bao gian khổ để tồn tại.
Kinh nghiệm đó cộng với tinh thần bao dung phóng khoáng vượt
qua những sai biệt chấp nê nhỏ hẹp để đưa con người
tiến đến giải thoát trong mọi tình huống. Đây có
lẽ sẽ là những đóng góp tích cực của Đạo Phật Việt
Nam trong một thế giới đầy nhiễu nhương, phức tạp, chia
rẽ, và khủng hoảng. Ngày nay, sự phát triển khoa học
kỹ thuật tại xã hội Tây phương làm khoảng cách ngắn lại,
sự truyền thông thuận tiện, sự chia cách không là trở ngại
và sự độc tôn giáo điều không còn chỗ đứng. Nhưng
ngược lại cũng làm con người điêu đứng với những nỗi
khổ từ thể xác đến tinh thần. Do vì sự tiêu thụ
quá nhiều độc tố trong việc ăn uống, cũng như tinh thần
căng thẳng quá mức trong sự làm việc. Đạo Phật Việt
Nam đã đến đúng lúc và đáp ứng kịp thời những nhu cầu
của con người thời đại. Với pháp môn tu tập thiết
thực đầy sự bao dung và tinh thần phóng khoáng, mang lại
lợi ích cả về thân xác lẫn tâm linh, Đạo Phật Việt Nam
sẽ giúp cho người Tây phương tìm thấy an hòa hạnh phúc
trong cuộc sống. Đó là phương cách tạo dựng cảnh
Tịnh Độ trong lòng thế gian.
Tập
sách này ra đời như một tín tâm sâu xa đối với pháp môn
tu tập truyền thống của Đạo Phật Việt Nam cũng như bày
tỏ lòng tri ân vô biên đối với liệt tổ tôn sư của đất
nước.
Hải
Ấn Tự, Đông Bắc Hoa Kỳ (Connecticut)
Rằm
tháng bảy năm Canh Thìn (14/8/2000).
Thích
Trí Hoằng.
Chương
I. Đức Phật và Con Người
Đức
Phật và Con Người
Cách
đây hơn hai nghìn năm trăm năm, vào một đêm trăng tròn tháng
tư âm lịch Đức Phật đã đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni
dưới cây Vô Ưu. Lúc đó trái đất rung chuyển, những
cầu vồng hào quang bảy màu xuất hiện quanh mặt trời và
quanh khu vườn đó. Các loài chim ca hót, các thú rừng
nhảy múa và các cây hoa nở ra những đóa thơm ngát cúng dường.
Những luồng gió mát thổi từ xa lại mang theo những hương
trầm ngào ngạt. Thời gian như ngừng chuyển không gian như
cô đọng. Tất cả hòa vào trong một bầu không khí hân
hoan chào đón sự xuất hiện của một vĩ nhân, một bậc
thầy của nhân loại. Một người mà sau này đã tìm
ra con đường để giải thoát cho con người vĩnh viễn thoát
khỏi khổ đau và trái đất chúng ta có vinh dự chào đón
sự xuất hiện của bậc vĩ nhân đó.
Con
Người Là Tối Thượng
Sự
đản sinh của Đức Phật như một thách đố của con người
đối với thần linh và sự thành đạo của Ngài như một
đánh dấu sự trưởng thành của tâm thức nhân loại.
Ngài đã siêu việt hóa khả năng vô biên của tâm linh để
con người từ nay vĩnh viễn làm chủ vận mệnh của mình.
Với nỗ lực của chính mình con người tự giải thoát mình
ra khỏi mọi đau thương vật chất cũng như tinh thần.
Không
biết bao nhiêu ngàn năm trước khi Đức Phật xuất hiện,
con người vì yếu đuối mê lầm, tưởng tượng ra một đấng
sáng tạo, sau đó giao phó hoàn toàn vận mệnh của mình cho
vị thần đó để rồi bị đày đọa trong những thế lực
thần linh do chính mình tạo dựng. Con người đã cho vị
thần đó tất cả mọi quyền năng để khi thần ban phúc thì
được sung sướng; khi thần giáng họa thì phải chịu gian
khổ. Từ đó cả một hệ thống giáo điều được thành
lập để nô lệ hóa con người, bắt con người phải tuân
phục những chuyện phi nhân, bắt con người phải nhắm mắt
tin vào các tín điều phi lý. Ai không đồng ý đều bị
thiêu sống. Cả thân xác lẫn linh hồn con người đã
bị giam cầm trong cái địa ngục gọi là “thiên đường.”
Không thể than van oán trách vào đâu được và không cách
nào thoát ra khỏi sự khống chế của những giáo quyền đó.
Đến
khi Đức Phật xuất hiện ánh sáng của sự giác ngộ đã
xua tan những bóng đen quái ác để con người nhận thức ra
rằng khổ đau hay hạnh phúc đều do chính TÂM mình tạo ra,
chứ chẳng phải do một vị thần linh nào có quyền lực quyết
định vận mạng của mình, hoặc có quyền ban phúc giáng họa
cho mình cả. Họa hay phúc đều là hậu quả của những
hành vi do mình tạo tác theo một định luật nhân quả.
Đó là Nghiệp. Như cụ Nguyễn Du đã phát biểu trong
Truyện Kiều:
“Đã
mang lấy Nghiệp vào thân,
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa.”
Hai
câu thơ đó đã gói ghém ý nghĩa hùng tráng quan niệm về
Nghiệp của đạo Phật. Một quan niệm chủ trương con
người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hành động của
mình và sẵn sàng lãnh nhận mọi hậu quả đưa đến từ
những hành động đó, tốt cũng như xấu. Không than trời
trách đất, không than thân trách phận. Nhưng cũng không
có nghĩa Phật tử chấp nhận khổ đau một cách thụ động
như số mệnh đã an bài. Sự chấp nhận ở đây là sự
nhận lãnh trách nhiệm về nghiệp xấu mình đã gây ra trong
quá khứ chứ không trốn tránh. Nhưng đồng thời cũng
tìm cách chuyển đổi ác nghiệp thành thiện nghiệp bằng
những hành động vị tha và giữ tâm hồn từ bi thánh thiện.
Trong
quá trình chuyển nghiệp đó nỗ lực cải thiện nội tâm
được thực hiện liên tục cho đến lúc tâm hồn hoàn toàn
thanh tịnh. Đó chính là lúc con người tự tại giác
ngộ vượt ra ngoài mọi chi phối của nghiệp lực, chính là
lúc thành Phật. Khả năng thành Phật là khả năng tiềm
tàng trong mỗi con người, trong mỗi sinh vật, ngay cả trong
cỏ cây đất dá cũng đều có khả năng giác ngộ đó.
Đức Phật dạy: “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tính.”
Hay “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành.” Đây
chính là điểm căn yếu của giáo lý đạo Phật: Phật tính.
Phật tính là khả năng giác ngộ tiềm tàng trong tự tâm của
mỗi người. Đức Phật đã chỉ rõ cho con người thấy
ai cũng có khả tính siêu việt đó. Sự khác biệt giữa
người giác ngộ và kẻ phàm phu ở nơi công phu tu tập.
Tâm của người giác ngộ như ly nước đã lắng đọng tất
cả những bùn đất phiền não và sự trong sáng của nước
hiển lộ. Còn tâm của kẻ phàm phu như ly nước bùn
đất bị khuấy động trong một hỗn hợp đục ngầu của
tham vọng, hận thù và mê muội. Chính những bùn đất
phiền não này đã che khuất sự trong sáng của chân tâm.
Sự giác ngộ của Đức Phật là sự thành tựu của quá trình
lắng đọng đó. Đây là sự khai phá tiềm năng vô biên
của con người và cũng là một thành tựu to lớn mà Đức
Phật đã mang đến cho con người: sự nhìn thấy bản tánh
chân thật của mình và của vũ trụ. Đạo Phật bắt
đầu từ nơi con người và tìm thấy Niết Bàn ngay trong tự
tâm của mình, chứ không bắt đầu ở thần thánh và thiên
đường xa xôi.
Sau
khi giác ngộ, Đức Phật đã giảng dạy đạo lý nhân bản
đó suốt hơn bốn mươi lăm năm. Ngài không bao giờ tự
xưng mình là Thượng Đế hay thần thánh gì cả, nhưng chỉ
là một con người bình thường và đã giác ngộ.
Vùng
đất dọc theo lưu vực sông Hằng đã ghi dấu bước chân
của Ngài, một con người đầu tiên của thế giới loài người
đã phát huy được những khả năng tiềm tàng vô biên của
tâm thức. Đưa con người vượt thoát những chi phối
của nội tâm cũng như ngoại cảnh, thế tục cũng như thần
thánh, để tự tại bình thản bước những bước chân an
lạc trên bãi cỏ xanh mướt màu ngọc thạch của đồng bằng
sông Hằng. Trong ánh sáng bình minh ửng hồng của tâm
thức nhân loại, vóc dáng của Ngài đã trải dài trên hai
ngàn năm trăm năm lịch sử, đã vang vọng vào tận cùng tiềm
thức của nhân loại khổ đau để ánh sáng giác ngộ đó
mãi mãi là ngọn đuốc soi đường giúp con người vượt qua
những đêm đen hãi hùng của tham vọng, hận thù và mê muội.
Giải
Thoát Là Tối Thượng
Đức
Phật dạy: “Nước trong bốn biển chỉ có một vị là vị
mặn, đạo của ta cũng chỉ có một vị là vị giải thoát.”
Câu nói đó đã bao hàm mục tiêu căn yếu của đạo Phật
và trong hơn bốn mươi năm hoằng hóa Đức Phật cũng chỉ
giảng dạy một con đường duy nhất đó là con đường thoát
khổ. Bài thuyết pháp đầu tiên về Tứ Diệu Đế tại
Vườn Nai cũng là bài thuyết pháp cuối cùng. Giáo lý
đó là tư tưởng nòng cốt cho toàn bộ đạo lý giải thoát
của Phật Giáo.
Đạo
lý đó được cô đọng trong bài giảng đầu tiên cho năm
anh em Kiều Trần Như: Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế có
nghĩa là bốn chân lý kỳ diệu, đó là:
-Khổ:
khổ đau là căn bản của cuộc sống.
-Tập:
nguyên nhân của khổ đau.
-Diệt:
an lạc tịch diệt là căn bản của giải thoát.
-Đạo:
con đường đưa đến giải thoát.
Khổ
ở đây không hạn hẹp trong phạm vi tình cảm, nhưng bao gồm
một phạm trù triết học rộng lớn về bản chất của sự
vật, đó là vô thường, vô ngã hay không trường cửu, không
đơn thuần và băng hoại. Trong kinh điển đề cập đến
tám loại khổ (sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất
đắc, oán tăng hội, ngũ ấm xí thạnh), tựu trung có thể
quy vào ba loại khổ là vật chất, tinh thần và tâm linh.
-Khổ
về vật chất là nỗi khổ thiếu ăn, thiếu mặc, bệnh tật,
thiếu thuốc, già nua, chết chóc.
Khổ
về tinh thần bao gồm nhiều lãnh vực từ tình cảm đến
trí thức. Về tình cảm có những nỗi khổ của những
kẻ yêu nhau nhưng phải xa cách, nỗi khổ của những kẻ phải
đối mặt với người thù, nỗi khổ của những kẻ bất
đắc chí.. Về trí thức có những nỗi khổ của kẻ ngu dốt,
nỗi khổ của những kẻ nô lệ vào trí thức, nô lệ chủ
nghĩa, sử dụng trí thức để làm khổ nhân loại như chế
tạo vũ khí giết người… hoặc cuồng tín vào giáo điều
để đày đọa nhân loại trong các cuộc chiến tranh chủ nghĩa.
-Về
tâm linh với nỗi khổ lớn của sự cuồng tín vào thần quyền,
tự xiềng xích mình vào địa ngục của hoang tưởng đó.
Sự nô lệ vào thần linh đã làm cho con người luôn luôn sợ
hãi sự trừng phạt của trời thần quỷ vật và không bao
giờ dám tự trách nhiệm lấy hành động của mình. Sự
cuồng tín tôn giáo đã làm cho con người thù hận con người
thay vì thương yêu nhau như các giáo chủ đã dạy. Cuộc
chiến tranh tôn giáo tàn khốc giữa Thiên Chúa Giáo với Do
Thái Giáo và Hồi Giáo kéo dài hơn ngàn năm. Cuộc tàn
sát đẫm máu giữa Thiên Chúa và Tin Lành kéo dài hàng trăm
năm tại Âu Châu. Ngày nay tại Bắc Ái Nhĩ Lan cuộc xung
đột giữa các tôn giáo này vẫn còn tiếp diễn. Cũng
như những cuộc đánh nhau giữa Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo
vẫn còn tiếp diễn. Tất cả đều do cuồng tín và ngu muội.
Phật Giáo đã tự hào, suốt hơn hai ngàn năm trăm năm, chưa
bao giờ đổ một giọt máu vì nhân danh tín ngưỡng Phật
Giáo. Lúc Hồi Giáo tàn sát Phật Giáo tại Ấn Độ vào
thế kỷ thứ mười hai, chư tăng và Phật tử cam tâm chịu
chết chứ không chống trả, một số khác chạy thoát ra ngoài
để rồi đạo Phật truyền ra khắp phương Đông. Ngày nay
Phật giáo bị bách hại tại các nước phương Đông, thế
rồi Phật Giáo lan tràn khắp phương Tây. Phật Giáo Tây
Tạng cũng thế, tuy Trung Cộng tàn phá đất nước và tiêu
diệt nhân dân Tây Tạng, nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma lúc nào
cũng kêu gọi nhân dân Tây Tạng tiếp tục đấu tranh bất
bạo động. Và trong tương lai chắc chắn thế nào Trung
Cộng cũng phải nhường bước trước sức mạnh tâm linh đó.
Tập
là nguyên nhân của khổ đau. Những nguyên nhân đó là
gì? Đó là tham vọng, hận thù và mê muội. Tất cả những
khổ đau của con người từ cá nhân đến tập thể, quốc
gia, xã hội đều bắt nguồn từ những nguyên nhân trên.
Vì tham vọng con người làm khổ cho nhau, quốc gia xâm chiếm
lẫn nhau. Vì hận thù con người xung đột lẫn nhau, chiến
tranh tàn khốc kéo dài. Vì mê muội con người tự đày đọa
mình vào những địa ngục tối tăm của sự ngu dốt.
Diệt
là sự tịch diệt giải thoát. Khi tham vọng, hận thù
và mê muội chấm dứt thì những khổ đau không còn tồn tại,
con người đạt được an vui giải thoát. Đó là Niết
Bàn. Sự giải thoát là sự thanh tịnh tâm hồn.
Khi con người không còn những tham vọng chính trị hay tôn
giáo điên cuồng như ý muốn thống trị toàn thế giới, thì
con người không những đã giải thoát cho mình mà còn mang
lại hạnh phúc cho kẻ khác. Khi con người không còn hận
thù vì ganh ghét, đố kỵ không xem kẻ khác tử tưởng, chính
kiến như kẻ thù thì con người đã giải thoát cho mình và
góp phần vào việc xây dựng nền hòa bình trường cửu cho
thế giới. Khi con người không còn ngu muội cuồng tín
tin theo những chủ thuyết chính trị hay thế lực tôn giáo
đầy tham vọng và hận thù để tiêu diệt sự sống con người
cho những mưu đồ đen tối, là con người đã tự giải thoát
cho chính mình và đem lại hạnh phúc cho nhân loại.
Đạo
là con đường đưa đến giải thoát. Đó là Bát Chánh
Đạo, con đường của tám sự chân chánh. Đó là: sự
hiểu biết chân chánh, sự suy nghĩ chân chánh, lời nói chân
chánh, hành động chân chánh, sinh sống bằng nghề chân chánh,
nỗ lực chân chánh, ghi nhớ chân chánh, thiền định chân
chánh. Tựu trung, Bát Chánh Đạo chỉ nhằm đến một
mục đích duy nhất là sự giữ gìn cho tâm được trong sáng.
Khi tâm đã chân chánh, thì hành động sẽ chân chánh.
Mọi tai họa trên thế giới đều bắt đầu bằng tâm bạo
động, tâm chiếm đoạt, khi tâm con người đã trong sáng thanh
tịnh thì thế giới sẽ hòa bình an lạc.
Trên
đây là sơ lược về Tứ Diệu Đế. Đây là giáo lý
căn bản của mọi tông phái Phật Giáo. Đức Phật thường
dạy vì chúng sanh có nhiều trình độ và hoàn cảnh khác nhau,
do đó Ngài đã giảng dạy bằng nhiều cách khác nhau.
Từ căn bản đó, Ngài đã thiết lập tám mươi bốn ngàn
pháp môn, tức là tám mươi bốn ngàn đường lối tu tập
khác nhau nhưng đều đưa đến giải thoát. Từ đó Phật
giáo đã xuất hiện ra nhiều tông phái với những chủ trương
khác nhau từ Thiền Tông với chủ trương phế bỏ kinh điển,
đến Tịnh Độ Tông với sự hành trì bằng con đường tụng
kinh bái sám. Mật Tông với phương pháp trì chú mật
truyền, Hiển Tông với sự tuyên dương giáo nghĩa… Về hình
thức, các tông phái này có vẻ như mâu thuẫn đối nghịch
nhau về chủ trương cũng như phương pháp hành trì, nhưng thật
ra các tông phái này đều là các tông phái Phật giáo, tất
cả đều hướng về một mục đích duy nhất là giác ngộ
giải thoát. Còn những hình thức sai biệt kia chỉ là
những phương tiện khác nhau mà thôi. Ví như những người
đi về kinh đô bằng những phương tiện di chuyển khác nhau
tùy theo khả năng và điều kiện riêng của mỗi người để
tự chọn một phương cách thích nghi, nhưng tất cả đều
hướng về một mục tiêu như nhau. Từ đó Phật giáo
đã thiết lập một hệ thống kinh điển đồ sộ mà chưa
một hệ thống tôn giáo triết học nào trên thế giới có
thể so sánh được. Nhưng tất cả kinh điển đó đều
chỉ diễn tả một nội dung duy nhất đó là sự giải thoát.
Tính nhất quan này đã được hòa thượng Phước Hậu (1866-1953),
chùa Báo Quốc Huế đã diễn tả trong một bài kệ:
Giáo
pháp lưu truyền tâm vạn tư,
Học
hành không thiếu cũng không dư.
Năm
nay ngẫm lại chừng quên hết,
Chỉ
nhớ trên đầu một chữ Như.
Chữ
Như ở đây có nghĩa là Chân Như, Giải Thoát. Ngoài ra
cũng có nghĩa là tất cả kinh Phật do Ngài A Nan kết tập
đều bắt đầu bằng câu: Như Thị Ngã Văn (Tôi đã nghe Chân
Như Thị Hiện như sau.)
Từ
Bi và Trí Tuệ Là Tối Thượng
Sự
giải thoát chỉ đạt được trong sự giác ngộ hoàn toàn
với lòng từ bi vô lượng. Sự giác ngộ chính là sự
phát triển tột đỉnh của trí huệ, là sự hiểu biết toàn
diện. Tâm trí con người bị vô minh phiền não che lấp
không nhìn thấy bản tính chân thật của sự vật, để từ
đó ngộ nhận phát sinh, đó là căn nguyên của đau khổ.
Sự đau khổ đó chỉ chấm dứt khi nào tâm con người trong
sáng, ngộ nhận không còn, nhìn thấy sự thật hiển hiện.
Quá trình tu tập để phát triển trí tuệ, để làm sáng tâm
trí. Tham vọng ích kỷ được chuyển hóa thành vị tha,
hận thù được chuyển hóa thành từ bi, mê muội được chuyển
hóa thành trí tuệ. Trong quá trình chuyển hóa đó, nội
tâm được gạn lọc. Những bùn cặn vô minh được tẩy
trừ, để tâm trí hoàn toàn trong sạch. Đó chính là
cao điểm của trí tuệ và sự giác ngộ. Ánh sáng của
sự đạt đạo tỏa rạng khắp nơi, sự nghiệp này chỉ thành
tựu trong sự vị tha vô biên với lòng từ bi vô hạn.
Nếu giác ngộ không có từ bi thì đó là sự ích kỷ.
Khi tâm hãy còn phân biệt chấp ngã, hãy còn nghĩ đến mình
đến người thì mình hãy còn lăn lộn trong luân hồi lục
đạo, đó chưa phải là giác ngộ. Sự giải thoát chỉ
trọn vẹn khi có sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ với
từ bi.
Từ
bi là tình thương cao rộng trong ý nghĩa Từ là làm cho kẻ
khác bớt đau khổ và Bi là đem lại an vui hạnh phúc cho kẻ
khác. Sau khi được giác ngộ giải thoát, không còn
bị khổ đau vì sự chi phối của những điều kiện vật
chất cũng như tinh thần. Các vị Phật, Bồ Tát đã phát
lòng từ bi vô lượng thương tưởng đến những kẻ đang
trầm luân trong biển khổ để tìm phương cách cứu độ.
Với khổ đau vật chất, chúng ta chia sẻ cơm áo thuốc men,
với khổ đau tinh thần chúng ta dùng lời an ủi, dùng Phật
pháp để giác ngộ.
Trong
kinh điển Đại Thừa thường đề cập đến các vị bồ
tát với lòng từ bi vô lượng, như Bồ Tát Quan Thế Âm, trong
Kinh Phổ Môn, với hạnh nguyện cứu khổ cứu nạn cho chúng
sanh. Ngài lắng nghe tiếng kêu đau thương của chúng sanh
trong cõi Ta Bà để thị hiện cứu độ. Nơi nào có tiếng
kêu đau thương, nơi đó có mặt của Ngài. Bồ Tát Quan
Thế Âm đã phát nguyện: “Khi nào trong thế gian không còn
chúng sanh đau khổ thì lúc đó Ngài mới nhập Niết Bàn.”
Trong
Kinh Địa Tạng, Đức Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện xuống
địa ngục để cứu độ chúng sanh với đại nguyện: “Địa
ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh vị tận phương
chứng Bồ Đề.” (Khi nào địa ngục chưa trống hết thì
tôi chưa thành Phật, lúc nào chúng sanh chưa khỏi luân hồi
thì tôi chưa chứng Bồ Đề.) Với đại nguyện đó Bồ Tát
Địa Tạng đã xông pha vào các tầng địa ngục để cứu
vớt chúng sanh. Chỉ những chúng sanh trong các cõi đó
mới kinh nghiệm sâu xa về khổ đau. Trong triền miên
đau khổ đó, sự phát tâm mới sâu sắc và ý chí mong cầu
giải thoát mới mạnh mẽ. Có lẽ trong cõi địa ngục
là nơi chúng sanh thực chứng Đệ Nhất Diệu Đế về sự
khổ đau sâu sắc hơn hết. Nhưng sự thống khổ triền
miên không cho chúng sanh cơ hội tu tập, nếu không có từ
tâm bảo hộ của các vị bồ tát thì các chúng sanh đó chỉ
triền miên với đau khổ mà thôi.
Trong
Kinh Lăng Nghiêm, Ngài A Nan với đại nguyện: “Như nhất chúng
sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn.” (Nếu
còn một chúng sanh chưa thành Phật, tôi nguyện chưa nhập
Niết Bàn.) Chúng sanh đây không phải chỉ là chúng sanh trong
một cõi, nhưng là tất cả chúng sanh trong mười phương thế
giới, trong vũ trụ bao la. Với con số thế giới vô cùng,
chúng sanh vô tận đó để chúng ta thấy được tầm kích
vĩ đại vô hạn về lòng từ bi của các vị Bồ Tát.
Trong
Phật Giáo, từ bi (tình thương) đi đôi với trí tuệ (sự
hiểu biết), đây là căn bản của sự tu tập chuyển hóa.
Hai tiêu chuẩn này như đôi chân của con người, chúng ta sẽ
bị què quặt nếu chỉ có một chân. Từ bi mà thiếu
trí tuệ chỉ là sự thương vay khóc mướn. Trí tuệ
thiếu từ bi chỉ là những kiến thức khô khan vô nhân.
Do đó sự giải thoát chỉ thật sự là giải thoát khi nào
con người đã phát triển cùng cực lòng thương và sự hiểu
biết của mình. Với ánh sáng trí tuệ giải thoát, các
vị Bồ Tát soi sáng nỗi khổ của chúng sanh bằng tình thương
bao la. Đối xử mọi người mọi loài bằng tâm bình
đẳng với tất cả sự thương yêu và sự hiểu biết để
tìm phương cách cứu vớt.
Tóm
lại, qua những tìm hiểu trên chúng ta thấy điểm nổi bật
của đạo Phật là đặt trọng tâm ở con người. Bắt
đầu từ nỗi khổ đau của con người, để rồi tìm phương
cách giải thoát nỗi đau khổ đó trong điều kiện và khả
năng của con người. Trong sự khám phá về tiềm năng
vô hạn của tâm thức con người, Đức Phật đã cho chúng
ta thấy rằng: chỉ có con người mới giải thoát mình ra khỏi
mọi nỗi thống khổ, không một thần linh nào có thể thay
đổi vận mệnh của con người, cũng như đày đọa con người.
Đạo lý về Nghiệp cho chúng ta nhìn thấy sâu sắc hạnh phúc
hay khổ đau là do con người tự tạo, con người làm chủ
lấy vận mệnh của mình. Vì mê lầm chúng ta tạo ra
một thần linh rồi trở lại nô lệ vào thần quyền đó.
Sự giác ngộ chính là sự nhận thức đúng đắn sự thật
đó mà thôi.
Chương
II. Đạo Phật Trong Lòng Dân Tộc
Đạo
Phật Trong Lòng Dân Tộc
Trong
sự tăm tối cùng cực của đêm là thời điểm khởi đầu
cho một ngày khác. Quê hương chúng ta đang trải qua những
ngày đen tối, nhưng niềm tin chúng ta vào sức sống mãnh liệt
của dân tộc không phai mờ. Sự tin tưởng này không
phải là niềm tin hão huyền hay một an ủi trong sự tuyệt
vọng. Suốt dòng sử mệnh, văn hóa Việt đã nhiều lần
minh chứng sức sống mãnh liệt đó.
Sức
sống đó chính là khả năng dung hợp cá biệt, hóa giải những
đối nghịch, đãi lọc những tinh hoa để phong phú nền văn
hóa cố hữu của mình trong truyền thống Tam Giáo Đồng Nguyên
của dân tộc. Đây là nền văn hóa tiềm tàng nhưng hiếu
động, là lực đẩy dân tộc Việt vượt qua mọi gian nguy,
tiến về phía trước. Chính trong những lúc tuyệt vọng
nhất là những lúc văn hóa Việt biểu lộ sức sống mãnh
liệt nhất. Sức mạnh này đã giữ cho dân tộc Việt
vẹn toàn trước những âm mưu xâm lăng ngoại lai trên các
lãnh vực văn hóa cũng như chính trị.
Về
phương diện hình thức, văn hóa Việt không có những công
trình tráng lệ và phô trương. Chúng ta không có những
đền đài hùng vĩ như Đế Thiên Đế Thích (Angkor Wat) của
Cam Bô Chia, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc, Kim Tự Tháp
của Ai Cập v.v… Chúng ta không có những triết gia vĩ đại
như Khổng Tử, Lão Tử, Socrate, Descartes… Vì thế có người
cho rằng dân tộc chúng ta không có một nền văn hóa đặc
thù. Đó là cái nhìn hời hợt, phiến diện bên ngoài,
không thể nào nhìn thấy được sức sống mãnh liệt, tiềm
ẩn trong lòng dân tộc của nền văn hóa Việt.
Văn
Hóa Sự Sống
Văn
hóa đó chính là văn hóa về Sự Sống. Sở dĩ chúng
ta không có những đền đài cao chót vót vì hoàn cảnh thái
bình không có mặt lâu dài trên quê hương. Do đó bao
nhiêu tâm lực chúng ta đã sự dụng để bảo tồn cuộc sống
và để xây dựng niềm tin cao ngất về sự sống đó.
Cuộc tồn sinh thử lửa hàng bao ngàn năm qua với những cuộc
chiến diệt chủng tàn khốc là minh chứng hùng hồn về sức
sống mãnh liệt đó. Đất nước triền miên khói lửa
nhưng giống nòi không bị hủy diệt. Dân tộc bị lệ
thuộc hàng ngàn năm nhưng văn hóa không bị tiêu mất.
Chúng ta không có những triết gia vĩ đại vì mỗi chúng ta
một triết gia về sự sống của chính mình. Trong ca dao
Việt Nam không thiếu những câu biểu hiện triết lý yêu thương
nồng nàn sự sống đó:
“Còn
người còn của.”
“Người
sống hơn đống vàng.”
“Dầu
xây chín bậc phù đồ
Sao
bằng làm phúc cứu cho một người.”
Văn
hóa của chúng ta là sự sống. Mầu nhiệm và sinh động.
Chúng ta không thể hóa thạch sự sống trên những pho tượng,
đền đài. Chúng ta cũng không thể đóng khung sự sống
trong những chủ trương, triết thuyết hay giáo điều.
Tất cả những điều đó chỉ là sự tẩn ướp của một
thây ma được mệnh danh là “văn hóa.” Mọi nền văn hóa
đóng khung trong triết thuyết, giáo điều chỉ là những nền
văn hóa khô chết và phiến diện. Khi tìm đến một nền
văn hóa toàn diện là một cuộc hành hương tìm về cội nguồn
của sự sống. Rồi đắm mình trong dòng sống đó, chứ
không phải đứng trên bờ để phân tích tìm hiểu dòng sống
đó.
Yếu
tính của nền văn hóa Việt chính là sự sống. Hoàn cảnh
lịch sử chiến tranh liên tục của nước Việt đã khiến
cho dân tộc ta có một tinh thần yêu sự sống nồng nàn.
Những tang thương dâu bể giúp dân tộc ta ý thức sâu xa về
sự đổi thay vô thường để thấy rằng những công trình
kiến trúc cao vĩ cũng chỉ là công dã tràng trước sự phá
hủy tàn khốc của chiến tranh và thời gian. Một khi
sinh mệnh của dân tộc đã tuyệt chủng, thì những đền
đài đó chỉ là những phế tích, vang bóng một thời như
những Kim Tự Tháp của Ai Cập, vết tích của một dĩ vãng
huy hoàng, hay những tháp Chàm khóc thương cho quá khứ.
Sự
đau khổ dai dẳng trong chiến tranh đã làm cho dân tộc ta trưởng
thành. Do đó chúng ta không cần những triết gia chỉ
đạo về ý nghĩa của kiếp sống. Tất cả những nỗ
lực tư tưởng chính yếu của văn hóa Việt đều dồn vào
việc tu bồi cho sự sống thanh bình, tạo dựng một cuộc
sống an lạc giải thoát về vật chất cũng như tinh thần
trong lý tưởng “sanh thuận tử an” (sống an vui và chết
không nuối tiếc.) Một triết lý sống bình dị, nhưng
mạnh mẽ với sự tỉnh thức cùng độ trong từng giây phút
để tận hưởng sự mầu nhiệm của cuộc sống.
Nền
văn hóa này, cụ Nguyễn Đăng Thục gọi là Văn Hóa Chùa Một
Cột, tiêu biểu sự vượt thoát khỏi những thống khổ của
cuộc sống để đạt sự an lạc tự tại, như những đóa
sen sinh trong bùn, vượt qua sình lầy để vươn mình lên tỏa
hương thơm ngát dưới ánh mặt trời.
Mặt
khác, sự trường kỳ phấn đấu đã vun bồi un đúc cho dân
tộc ta một sức sống mãnh liệt, vượt qua mọi thử thách
để tồn tại. Sự thành tựu đó nhờ vào tính phóng
khoáng, tinh thần cởi mở của văn hóa dân tộc. Không
bị ràng buộc hay đóng khung trong một hệ thống ý thức hay
giáo điều nào. Từ đó chúng ta dễ dàng tiếp nhận
những luồng văn hóa ngoại nhập, kể cả những ý thức hệ
đối nghịch để dung hóa, tô bồi phong phú cho nền văn hóa
sinh động của mình. Lịch sử văn hóa dân tộc đã cho
chúng ta thấy rõ yếu tố đặc thù này trong sự thành tựu
của đạo học “Tam Giáo Đồng Nguyen.”
Tinh
Thần Dung Hóa
Ngay
từ đầu kỷ nguyên, Việt Nam đã là một trạm giao thông
nằm trên ngã tư quốc tế. Những thương gia Ấn Độ
hoặc các nước khác muốn sang Trung Hoa đều dừng chân tại
Việt Nam trước khi tiếp tục cuộc hành trình. Ngược
lại, tàu bè từ Trung Hoa sang Ấn Độ, Ả Rập đều phải
ghé lại Việt Nam. Chính vị trí giao thông đặc biệt
này đã khiến dân tộc Việt có cơ hội tiếp xúc với những
nền văn minh dị biệt, học hỏi nhiều nền văn hóa ngoại
quốc rất sớm để từ đó dân tộc có tầm nhìn bao quát,
rộng rãi và phóng khoáng hơn. Thêm vào đó bản tính
bao dung, cởi mở cố hữu đã tạo nên một tinh thần đặc
thù của văn hóa Việt. Tên cũ của nước ta là Giao Chỉ
đã gói ghém những ý nghĩa của tinh thần giao lưu văn hóa
đặc biệt này.
Theo
giáo sư Nguyễn Đăng Thục, tinh thần giao lưu này chúng ta
có thể nhìn thấy trong huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ,
giải thích về nguồn gốc “Con Rồng Cháu Tiên” của dân
tộc Việt, đã ngụ ý rất rõ ràng về sự kết giao giữa
hai nền văn hóa đại dương của Ấn Độ và văn hóa lục
địa của Trung Hoa. Lạc Long Quân dòng dõi Rồng ở biển
và Âu Cơ dòng dõi Tiên ở non cao. Núi cao biển rộng
trong một tao ngộ trùng phùng sản sinh ra một tinh hoa tổng
hợp: bọc trứng trăm con. Tiêu biểu cho sức sống vô
tận, trẻ trung, mạnh mẽ như sức sống của cả trăm dân
tộc dồn lại. Đó là nguồn văn hóa sống động của
dân tộc Việt.
Từ
hoàn cảnh lịch sử, từ vị trí địa dư đã hun đúc cùng
với tinh khí của dân tộc đã tạo ra một nền văn minh sáng
hóa, phong phú và sinh động. Tinh thần đặc thù của
nền văn hóa này là khai phóng, mở cửa với mọi tư tưởng
dị biệt, với mọi văn minh ngoại lai, để rồi thâu hóa,
bồi bổ, tô điểm cho nền văn hóa cố hữu của mình ngày
thêm phong phú. Điển hình là sự thâu hóa hai nền văn
hóa Ấn Độ và Trung Quốc trong những thế kỷ đầu lập
quốc, cũng như sau này sự thâu hóa văn minh Âu Tây trong thế
kỷ hai mươi.
Tam
Giáo Đồng Nguyên
Văn
hóa Ấn Độ truyền vào Việt Nam theo đường biển do các
thương gia và các vị sư người Ấn. Đạo Phật được
truyền vào Việt Nam rất sớm trước khi truyền sang miền
Nam Trung Quốc. Trong một bút ký về cuộc đàm luận giữa
quốc sư Đàm Thiên và Linh Từ Thái Hậu nhà Đường đã cho
thấy rằng trong khi đạo Phật chưa truyền đến phía Nam Trung
Quốc, thì tại Giao Châu (tên cũ của Việt Nam) đã dựng được
mấy chục ngôi chùa và đã dịch được nhiều bộ kinh từ
tiếng Phạn sang tiếng địa phương. Những thế kỷ sau,
trong những cơn binh biến tại Hoa Lục, rất nhiều sĩ phu Trung
Quốc không chấp nhận tân triều đã sang Giao Châu tỵ nạn.
Trong số đó có Mâu Bác, một thiền sư nổi tiếng đã viết
bộ “Lý Hoặc Luận” và bắt đầu khai sáng thiền học
tại Việt Nam. Vào thế kỷ thứ tư, một thiền sư Việt
Nam Khương Tăng Hội đã rời Luy Lâu (Hà Nội) để sang Nam
Kinh hoằng dương Phật Pháp. Tại đây Ngài đã dịch
rất nhiều bộ kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Trung Quốc,
ngày nay vẫn còn lưu truyền. Một trong những bộ kinh
đó là Kinh An Bang Thủ Ý, cuốn kinh gối đầu cho những người
tu thiền.
Khổng
học và Lão học được truyền sang Việt Nam do các quan cai
trị người Trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên cũng như các
trí thức tỵ nạn người Trung Quốc. Trong tư tưởng
Trung Hoa, Khổng Giáo chủ trương hữu vi nhập thế (giúp đời
bằng hành động,) Lão Giáo chủ trương vô vi xuất thế (không
xen vào việc đời.) Hai hệ thống tư tưởng này đối nghịch
nhau như nước với lửa. Chính Lão Tử đã từng kết
tội Khổng Tử là kẻ đã làm loạn trật tự của vũ trụ
khi ông đặt ra pháp luật, cương thường.
Trong
khi đó Phật Giáo chủ trương vô ngã giải thoát (không chấp
để giải thoát). Với chủ trương không chấp của Phật
Giáo, tổ tiên chúng ta đã vượt qua những hạn hẹp của
Khổng Lão, làm một cuộc dung hóa toàn diện, hình thành một
nền tam giáo đồng nguyên (ba tư tưởng có cùng một nguồn).
Vì Phật Giáo không chấp “hữu” lẫn “vô”, với tinh
thần vô chấp đó đã dung hóa được cả hữu vi của Khổng
Giáo lẫn vô vi của Lão Giáo. Một đạo lý sống toàn
vẹn giải đáp được cả ba mặt: sinh lý, tâm lý, và tâm
linh.
Trong
tinh thần Tam Giáo đó, con người đi vào đời với tinh thần
phụng sự của Khổng Giáo, nhưng không tham cầu danh lợi.
Khi nhiệm vụ đã hoàn thành, bổn phận đã làm xong, rời
bỏ danh lợi không chút luyến tiếc trong tinh thần tiêu dao
của Lão Giáo, để di dưỡng tâm linh. Cho dầu nhập thế hay
xuất thế lúc nào cũng giữ tâm thanh tịnh, tu trì giới đức.
Thái độ nhập thế vô chấp này có thể tìm thấy qua hành
tung của thiền sư Vạn Hạnh, người đã tạo dựng triều
đại nhà Lý. Sau khi triều đình đã được thành lập,
người ta không còn thấy bóng dáng của vị thiền sư này
đâu nữa. Cũng như các vua triều Trần đã nhường ngôi
cho con để vào núi tu thiền.
Tinh
thần Tam Giáo Đồng Nguyên này là một hòa điệu nhịp nhàng
của những đối nghịch trong cuộc sống. Trong muôn mặt
của thực tế, có lúc chúng ta cần có thái độ “hữu”,
có lúc “vô”, và có lúc phải bỏ cả “hữu” lẫn “vô”.
Đó là thái độ không cực đoan quá khích.
Trong
mỗi người Việt Nam đều sống với cả ba hệ thống tư
tưởng trên, cư xử với nhau trong cương thường của Khổng
Giáo, tiêu dao nhàn nhã trong tư tưởng vô vi của Lão Giáo,
và tự tại giải thoát trong đạo lý giác ngộ của Phật
Giáo. Do đó trong đạo lý truyền thống Việt Nam, thật
khó phân biệt ai là người theo Khổng Giáo, Lão Giáo hay Phật
Giáo. Sau này khi thực dân Pháp đô hộ đã gọi những
người Việt theo tín ngưỡng truyền thống là “Lương”
để phân biệt với “Giáo” (Thiên Chúa Giáo.)
Tinh
thần Tam Giáo Đồng Nguyên này đã giúp dân tộc phát triển
về mọi mặt. Các triều đại huy hoàng nhất tiêu biểu
cho tinh thần này là các triều Lý và Trần, trong đó Phật
Giáo là một nhân tố tích cực nhất đóng góp vào giai đoạn
uy hùng cực thịnh của lịch sử dân tộc. Dưới các
triều đại này chúng ta không những mạnh về chính trị (thoát
khỏi sự đô hộ của Trung Quốc), về quân sự (phá Tống,
bình Chiêm, ba lần đánh thắng quân Mông Cổ), mà còn mạnh
về học thuật (chữ Nôm được sáng chế,thiền phái Trúc
Lâm được thành lập). Đạo lý Tam Giáo Đồng Nguyên
đã huân tập cho dân tộc tinh thần phóng khoáng, cởi mở
để mở cửa đón nhận tinh hoa của các nền văn minh khác
nhau, để sáng hóa và phong phú nền văn minh của chính mình.
Thân
Hóa Văn Minh Tây Phương
Đến
thế kỷ thứ mười sáu, đất nước chúng ta bắt đầu tiếp
xúc với văn hóa Tây Phương do các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo
mang đến. Sự tiếp xúc này đã đưa đất nước vào
vòng nô lệ nhục nhã gần một thế kỷ dưới sự đô hộ
của người Pháp vào giữa thế kỷ thứ mười chín.
Trong văn hóa của “súng đạn,” nhân nghĩa không giữ được
thành trì, đất nước chúng ta bị bắt buộc phải canh tân.
Sự hô hào sử dụng chữ quốc ngữ thay thế chữ Nho của
các nhà ái quốc đầu thế kỷ hai mươi, mở ra một chiến
lược canh tân mới: “Dùng chính vũ khí của Tây để đánh
Tây” như học giải De Francis đã kết luận trong cuốn sách
viết về chữ quốc ngữ của ông.
Chữ
Quốc ngữ lúc đầu do các giáo sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Ý và Pháp phiên âm để dễ dàng cho họ trong việc học nói
tiếng Việt cho mục đích truyền giáo mà không cần phải
học chữ Nôm và chữ Nho. Do đó thứ chữ này suốt trong
ba trăm năm chỉ được các giáo sĩ ngoại quốc sử dụng
mà thôi, ngay cả giáo dân địa phương cũng không mấy người
biết. Đến năm 1862, sau khi chiếm Nam Kỳ người Pháp
bắt đầu áp đặt việc phổ biến chữ quốc ngữ để thay
thế chữ Nho. Nhân dân trong vùng bị chiếm phản kháng
mạnh mẽ. Điển hình là thái độ bất hợp tác của
các sĩ phu như Phan Đình Phùng, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Đình
Chiểu. Tuy dưới áp lực của người Pháp suốt mấy
chục năm chữ quốc ngữ vẫn không phổ biến. Cho đến
năm 1907, hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh hô hào canh tân
đất nước và sử dụng chữ quốc ngữ để làm lợi khí
đấu tranh giành độc lập. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục
được thành lập. Với chữ quốc ngữ dân chúng chỉ
cần học vài tháng là có thể biết đọc biết viết truyền
đơn cũng như sách cải cách. Từ đó chữ quốc ngữ
mới phổ cập rộng rãi trong dân chúng. Chỉ trong vòng
hơn mười năm chữ quốc ngữ đã đủ trưởng thành để
thay thế chữ Nho, chữ Nôm và khoa thi Hán học cuối cùng được
kết thúc vào năm 1919. Trong mục đích đó chữ quốc
ngữ đã được tổ tiên chúng ta chấp nhận, bổ sung, cải
thiện để thành chữ viết chính thức hiện nay. Tổ
tiên chúng ta với chủ trương “mở mang dân trí, đấu tranh
giành độc lập” do đó không ngần ngại trong việc tiếp
nhận văn hóa mới trong các lãnh vực khoa học, văn hóa, nghệ
thuật.
Qua
những phân tích trên chúng ta thấy rằng dân tộc chúng ta
với tinh thần phóng khoáng và uyển chuyển, sẵn sàng tiếp
nhận tất cả những nền văn hóa dị biệt của người để
làm phương tiện bồi dưỡng và cải thiện nền văn hóa của
mình. Nhưng điều này không có nghĩa là một sự chấp
nhận nô lệ văn hóa, chịu để cho một văn hóa nào thống
trị. Lấy tinh thần dung hóa của Tam Giáo Đồng Nguyên
làm nền tảng cho mọi sự kết hợp. Có như thế, chúng
ta mới duy trì được bản chất của văn hóa Việt, nếu không
chính là sự đánh mất mình để trở thành một loại cô
hồn văn hóa.
Khi
nhà cầm quyền hiểu rõ những tính chất đặc thù đó của
văn hóa Việt thì đất nước hùng cường, nhân dân an lạc.
Khi nhà cai trị đi vào con đường cực đoan, cố chấp thì
đất nước loạn ly, nhân dân đói khổ. Dưới các triều
đại Lý, Trần, tuy Phật Giáo là quốc giáo với các quốc
sư tạo dựng nhà Lý như Vạn Hạnh, Lý Khánh Vân, triều Trần
với những vị vua đạo đức sáng ngời như Thái Tông Hoàng
Đế là tác giả cuốn Thiền Tông Chỉ Nam, Nhân Tông Hoàng
Đế là tổ sư phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, với những thiền
sư tráng sĩ như thượng tướng Trần Quốc Tảng cũng là thiền
sư Tuệ Trung Thượng Sĩ. Các vị này với tinh thần phóng
khoáng, giác ngộ của nhà Phật, đã lập được thế chân
vạc vững vàng trong chủ trương Tam Giáo Đồng Nguyên.
Trong giai đoạn đó tuy thế lực Phật Giáo lớn, nhưng không
độc tôn. Nho Giáo dưới thời Lý, Trần được trọng
vọng, nhà vua đã mở các khoa thi, lập Văn Miếu thờ Khổng
Tử, xây Quốc Tử Giám dạy kinh sử.
Sang
đến nhà Lê, thế chân vạc này đã mất. Với tinh thần
Nho Giáo độc tôn, các nho sĩ bắt đầu châm biếm, chống
đối Phật Giáo và Lão Giáo. Trong lịch sử chúng ta chỉ thấy
nhà Nho chống báng nhà Phật, chứ chưa bao giờ thấy nhà Phật
chống báng nhà Nho. Tinh thần cố chập độc tôn này
đã đưa đất nước vào vòng ly loạn suốt từ thế kỷ thứ
mười sáu cho đến bây giờ. Bắt đầu với cuộc chiến
Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hàng trăm năm. Sau đó là cuộc
xưng hùng tranh bá giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Thanh
bình không bao lâu lại rơi vào vòng nô lệ của thực dân.
Sau đó là cuộc chiến tranh ý thức hệ đã đưa dân tộc
đến chỗ suy thoái cùng độ. Ngày nay tuy đất nước
hòa bình nhưng lòng người vẫn ly tán, những khác biệt của
dân tộc vẫn tồn tại, những hận thù của lịch sử vẫn
còn âm ỉ.
Trong
suốt thời kỳ Nho Giáo độc tôn cũng như thời kỳ súng đạn
làm chủ, Phật Giáo đã rời bỏ triều đình để trở
về tiềm ẩn trong thôn làng. Thăng trầm với dân tộc,
đồng lao cộng khổ với nhân dân trong cuộc sống. Cho
dầu tình huống đất nước thế nào, Phật Giáo vẫn là điểm
tựa tinh thần vững chắc cho nhân dân cùng khổ, là nơi nhân
dân đặt để niềm tin lẽ sống trong những khi bức bách
cùng khốn, là tia hy vọng bám víu cuối cùng trong hoàn cảnh
đọa đày tuyệt vọng. Phật Giáo và Dân Tộc đã quyện
vào nhau. Dân Tộc đã bảo tồn Phật Giáo và Phật Giáo
đã nuôi dưỡng niềm hy vọng cho Dân Tộc.
Kết
Luận
Ôn
lại lịch sử để nuôi dưỡng niềm tin vào sức mạnh văn
hóa dân tộc. Với tinh thần không độc tôn, không cực
đoan nhưng khoan hòa độ lượng, tổ tiên chúng ta đã thành
công trong việc chuyển hóa mọi ý thức hệ đối nghịch,
mọi tư tưởng dị biệt thành những phương tiện bồi bổ
cho nền văn hóa Việt ngày càng quang rạng, làm cho nền văn
hóa cố hữu của dân tộc thêm phong phú. Chúng ta chưa
bao giờ tự hủy diệt nền văn hóa của mình để làm nô
lệ cho các nền văn hóa ngoại lai. Bài học lịch sử
chứng minh cho chúng ta thấy, khi chúng ta rời xa văn hóa dân
tộc để đem văn hóa ngoại tộc về thống trị thì đất
nước rơi vào thảm họa chinh chiến. Khi chúng ta từ
bỏ con đường bao dung để đi vào độc tôn thì dân tộc
chịu cảnh tương tàn, nhân dân lầm than. Cuộc chiến
tranh chủ nghĩa không tưởng Tây phương vẫn còn là vết thương
đau nhức cho đến ngày hôm nay.
Qua
bao thăng trầm của lịch sử, vận mạng của Phật Giáo luôn
luôn gắn liền với vận mạng của dân tộc. Khi dân
tộc quang vinh, Phật Giáo hưng thịnh. Khi dân tộc bị
nô lệ khổ nhục, Phật Giáo suy yếu. Dầu thịnh dầu
suy, lúc nào Phật Giáo cũng sát cánh cùng dân tộc, đồng
lao cộng khổ để đưa dân tộc đi lên, đưa đất nước
đến chỗ phú cường. Trong thời đại hoàng kim của
đất nước dưới triều đại Lý Trần, Phật Giáo là nhân
tố tích cực để kết nối Khổng Lão trong chủ thuyết Tam
Giáo Đồng Nguyên, thu thập nhân tâm về một mối. Trong
tinh thần đó những hội nghị dân chủ đầu tiên của đất
nước diễn ra trong ngày Hội Diên Hồng. Với quyết tâm
của cả một dân tộc thì không một bạo lực nào có thể
thắng được. Điều đó đã chứng minh trong ba lần chiến
thắng quân Mông Cổ, một đội quân chưa bao giờ chiến bại
trên toàn cầu. Dưới thời Lê khi Nho Giáo độc tôn,
Phật Giáo trở về tiềm ẩn trong thôn làng, làm chỗ nương
tựa tâm linh cho nhân dân cùng khổ để chờ ngày quang phục.
Dưới thời Pháp thuộc trong tinh thần vô chấp của Phật
Giáo tổ tiên chúng ta không ngần ngại thâu hóa văn minh của
người để làm lợi khí đấu tranh giành độc lập.
Trong văn hóa dân tộc Phật Giáo là huyết mạch, là cốt tủy,
là thực thể bất khả phân. Do đó khi nói đến văn
hóa Việt Nam không thể không nói đến văn hóa Phật Giáo.
Con
đường cứu nguy cho đất nước chỉ còn một con đường
duy nhất là trở về với văn hóa dân tộc! Mọi xung
đột mâu thuẫn chỉ giải quyết được khi người Việt nhìn
nhau trong tình tự dân tộc. Những khác biệt trong dân
tộc, những hận thù trong lịch sử chỉ tiêu tan khi nghiệp
dĩ của dân tộc được chuyển hóa. Điều đó chỉ thực
hiện được khi người Việt nhận diện được “bản lai
diện mục” (mặt mày xưa nay) của dân tộc mình. Khi
hồn nước trong mình vững mạnh thì sống ở đâu cũng không
bị mất gốc. Khi hồn nước không còn thì dân Việt
dù ở tại quê hương hay hải ngoại cũng chỉ là những cô
hồn vất vưởng.
Chúng
ta vững tin vào sinh lực của dân tộc. Những hiện tượng
về nguồn của người Việt hải ngoại, cũng như sự phục
hồi các lễ hội trong nước là những dấu hiệu biểu lộ
sức sống tiềm tàng của văn hóa dân tộc. Lũy tre xanh
là hàng rào kiên cố để bảo tồn và phát huy văn hóa dân
tộc. Ngày nào tre vẫn xanh, sinh lực dân tộc vẫn tiềm
tàng.
Chương
III. Phương Pháp Ăn Chay
Phương
Pháp Ăn Chay
Trong
truyền thống tu tập Việt Nam, vấn đề ăn chay được đặt
ngang hàng với sự giữ giới. Đối với hàng Phật tử
tại gia việc ăn chay được khuyến khích gia tăng số ngày
ăn, còn đối với người xuất gia đó là điều kiện bắt
buộc. Tại sao vấn đề ăn chay được đặt quan trọng như
vậy? Qua những phân tích sau chúng ta sẽ hiểu rõ vấn đề.
CA
DAO TỤC NGỮ
Trong
từ ngữ Phật giáo Việt Nam “ăn chay niệm Phật” đi đôi
với nhau, trình bày ngắn gọn phương pháp tu tập chú trọng
trên cả hai phương diện Thân và Tâm. Sự hành trì này
đã ăn sâu vào nếp sống của dân Việt trong các câu ca dao,
tục ngữ như:
“Đói
ăn rau, đau uống thuốc”
“Còn
ao rau muống, còn đầy chum tương”
“Anh
đi anh nhớ quê nhà
Nhớ
canh rau muống, nhớ cà dầm tương.”
Có
thể nói thực phẩm chính của dân quê Việt Nam là rau đậu.
Sự ăn uống đạm bạc này đã giúp giải quyết được nạn
đói kém, giữ gìn sức khỏe, cũng như nuôi lớn dân tộc
Việt trường tồn trong lịch sử. Truyện Phù Đổng Thiên
Vương ghi lúc cậu bé ăn uống xong, lớn nhanh thành người
hùng tráng, cỡi ngựa sắt ra trận:
“Bảy
nong cơm, ba nong cà,
Uống
liền vốc nước cạn đà khúc sông.”
Những
câu ca dao, tục ngữ cũng như huyền sử Việt Nam cho thấy
việc ăn chay đóng góp tích cực trong việc nuôi sống và nuôi
lớn dân tộc Việt. Qua đó chúng ta thấy sự có mặt
của phương pháp tu tập đạo Phật Việt Nam.
Tại
Việt Nam, cho dầu không ăn chay, trong các bữa ăn của người
Việt thực phẩm chính vẫn là rau đậu. Cùng với sự
lao động chân tay làm con người ít bệnh.
Ngày
nay, sống tại Âu Mỹ, nhiều người đã thay đổi sự dinh
dưỡng bằng cách gia tăng khẩu phần thịt, trong khi đó thiếu
hoạt động thể dục chân tay. Đây chính là nguyên nhân
gây ra những chứng bệnh hiểm nghèo như: ung thư, áp huyết
cao, cholesterol, các chứng bệnh tim. Một vị bác sĩ cho
chúng tôi biết, lúc người Việt tỵ nạn mới định cư ở
Hoa Kỳ mười người chỉ có hai người bị cholesterol.
Sau mười năm, mười người hết tám người bị bệnh đó.
Đến khi ngã bệnh, bác sĩ cho biết muốn bớt bệnh chỉ còn
phương cách ăn chay.
NGUY
HẠI TRONG VIỆC ĂN THỊT
Trong
thịt chứa rất nhiều các độc tố gây ra các chứng bệnh
nguy hiểm.
1.
Chất béo (fat): Chất béo trong động vật là chất béo bão
hòa (saturated fat). Chất này có trong thịt và dầu dừa.
Nếu chúng ta tiêu thụ quá nhiều chất béo này, các chứng
bệnh như mập phì, ung thư và các chứng về tim mạch sẽ
dễ dàng phát sinh. Các chất béo này thường đông đặc
ở nhiệt độ thường. Khi vào trong máu sẽ tạo thành
cholesterol đóng ở bờ thành các mạch máu làm cho máu đông
đặc, dẫn đến hiện tượng xơ cứng động mạch, gây ra
tình trạng tắc nghẽn sự lưu thông của máu, tạo ra chứng
động tim (heart attack), và đứt mạch máu não (strokes).
2.
Chất xơ (fiber): Chất xơ không có trong thịt cá. Chất
này lấy từ thực vật và có nhiệm vụ giúp thực phẩm di
chuyển dễ dàng trong hệ thống tiêu hóa và làm giảm lượng
cholesterol trong máu. Ăn nhiều thịt sẽ gây nên bệnh
táo bón, bệnh về tiêu hóa, ung thư ruột và các chứng rối
loạn về đường ruột.
3.
Chất đạm (protein): Nhiều người nghĩ rằng, ăn nhiều thịt
cá để có đủ chất đạm. Điều này sai lầm, vì những
nghiên cứu y học gần đây cho thấy nếu ăn nhiều thịt cá
sẽ làm tổn thương đến gan thận và dễ gây ra chứng bệnh
xốp xương và ung thư. Các nghiên cứu này cho thấy sự
gia tăng lượng protein thịt dẫn đến sự mất chất vôi (calcium)
qua đường bài tiết, cũng như tăng trưởng bệnh sạn thận.
Các quốc gia có tỷ lệ gãy xương cao là Hoa Kỳ, Na Uy, Đan
Mạch.
4.
Các độc tố do sự chăn nuôi:
Ngày
nay vấn đề chăn nuôi đã được công nghiệp hóa. Người
ta đã dùng rất nhiều hóa chất để làm cho súc vật lớn
nhanh. Với chất hormone, người ta có thể làm cho con vật
lớn nhanh gấp đôi, gấp ba. Ví dụ: Thời gian cần để cho
heo lớn là hai năm. Với chất hormone, người ta chỉ cần
tám tháng là heo đã lớn bằng con hai năm. Quả thật
heo lớn như thổi. Con người tiêu thụ thịt các con vật
đó, rồi cũng lớn như thổi. Các chứng bệnh độc hại
cũng từ đó phát sinh ra.
Gà
cũng thế. Từ lúc chui ra khỏi trứng cho đến ngày vào lò
sát sinh, các con gà này được nuôi trong những chuồng hộp
chật hẹp, chỉ đủ chỗ để nằm. Do đó các con gà
này không đi đứng được, chúng bị bại liệt và suốt đời
không hề thấy ánh mặt trời. Chúng ta ăn những con vật bệnh
hoạn như thế, thì làm sao chúng ta có thể khỏe mạnh được.
Bò
cũng thế. Bò là động vật ăn cỏ. Thế nhưng với
kỹ thuật chăn nuôi hiện đại, người ta đã dùng hormone
cùng với các ruột lòng phế thải để làm thức ăn cho bò.
Việc chăn nuôi này làm đảo lộn hệ thống tiêu hóa của
con vật và là nguyên nhân gây ra chứng bệnh “bò điên (mad
cow disease).” Bệnh này đã làm mấy chục người bị
chết và cả thế giới không ai dám nhập cảng thịt bò của
Anh quốc.
Đối
với nhiều loại súc vật khác cũng thế. Người chăn
nuôi chỉ biết làm sao cho lãi nhanh, lãi nhiều. Còn chuyện
độc hại hay không là việc của người tiêu thụ.
5.
Các độc tố sinh ra lúc con vật bị giết: Các con vật cũng
có linh tính như con người. Chúng ta vẫn thưòng nghe những
chuyện kể về các con vật trước khi bị đưa vào lò sát
sinh. Nhiều con trì lại không chịu đi, nhiều con nưóc
mắt ràn rụa. Trong các phim về động vật, cũng có những
phim nói về tình cảm của súc vật. Phim quay cảnh tượng
những con voi cứ quây quần quyến luyến bên xác của voi con
suốt mấy ngày. Hoặc cảnh con vượn ôm xác con kêu la
thảm thiết cho đến lúc thây rã nát ra. Hoặc những
con chó đã nhịn ăn khi người chủ qua đời, sau đó nó cũng
chết theo. Như thế, ai bảo súc vật không có tình cảm?
Con vật cũng có những tình cảm vui buồn, sợ hãi. Sự
oán hận, sợ hãi trước khi bị giết đã tạo ra những độc
tố trong cơ thể con vật. Chúng ta ăn những độc tố
đó vào làm thế nào nội tâm chúng ta thanh thản được?
Tục
ngữ Việt Nam có câu: “Tham thực cực thân.” Chưa bao giờ
chúng ta thấm thía bài học đó như bây giờ. Ngày nay
chúng ta khổ không phải vì thiếu ăn, nhưng khổ vì sự bội
thực.
LỢI
ÍCH CỦA ĂN CHAY
Ăn
chay mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích thiết thực trên cả
hai phương diện thể xác và tinh thần. Trên phương diện
thiên nhiên, cơ thể con người được cấu tạo không phải
để ăn thịt, mà để ăn chay. Các loài động vật như
cọp, sư tử có thể tiêu hóa thịt dễ dàng. Còn cơ
thể con người không thể nào tiêu hóa được, nếu chúng
ta chỉ ăn toàn thịt mà không có ăn kèm với các loại rau
đậu ngũ cốc khác như gạo, rau cải… Bác sĩ Day so sánh
các loài động vật ăn thịt và ăn rau cỏ cho thấy ruột
của loài người dài đến 1m25, rang nhở không nanh. Điều
này cho thấy con người không phải là loài động vật ăn
thịt. Vấn đề ăn thịt có lẽ chỉ bắt đầu từ khi
con người tìm ra lửa để nấu nướng.
1.
Giữ Thân Khỏe Mạnh: Việc ăn chay giúp chúng ta không những
phòng ngừa được các chứng bệnh nan y, mà còn chữa trị
được các chứng đó nữa.
-Chất
béo: Chất béo lấy từ thực vật là chất béo không đông
đặc. Chất này không tạo ra cholesterol xấu làm nghẽn
sự lưu thông của máu. Trái lại, nó còn giúp làm giảm
lượng cholesterol xấu. Sự ăn chay có thể bảo đảm
cho chúng ta khỏi những tai biến do cholesterol xấu tạo ra.
Các chứng động tim (heart attack), đứt mạch máu não (strokes).
-Chất
xơ: Chất xơ chỉ có trong thực vật. Chất này giúp sự
tiêu hóa dễ dàng, làm giảm cholesterol trong máu. Ăn chay
không bị táo bón, không bị các chứng bệnh về tiêu hóa
cũng như ung thư ruột.
-Chất
đạm: các nghiên cứu y học cho thấy trong đậu nành có số
lượng chất đạm bằng với số lượng chất đạm có trong
thịt. Và chất đạm thực vật này không gây ra những
chứng bệnh xốp xương hay sạn thận.
Sự
ăn chay giúp cơ thể giảm thiểu các chứng bệnh về tim, chứng
đứt mạch máu não, các chứng bệnh về đường ruột, bệnh
xốp xương, các chứng ung thư bao tử, ung thư ngực, ung thư
xương (colon cancer), ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer)
và các chứng bệnh truyền nhiễm.
Các
thực phẩm có dược tính cao
-Đậu
nành: có lượng protein nhiều bằng thịt. Tàu hủ hay
các sản phẩm bằng đậu nành có khả năng thay thế thịt.
Trong đậu nành có chất isoflavone-genistein có khả năng ngăn
ngừa sự phát triển của ung thư.
-Trà:
trong trà có chất polyphenols làm chận đứng sự phát triển
tế bào ung thư và làm giảm cholesterol cũng như áp huyết cao.
-Tỏi:
có rất nhiều dược tính mạnh. Có khả năng chận đứng
sự tăng trưởng tế bào ung thư, làm giảm cholesterol và áp
huyết cao, cũng như hồi sinh các tế bào đã chết. Ngày nay
các hiệu thuốc tây chế thuốc tỏi cho những người không
ăn được tỏi tươi.
-Brocoli
(cải hoa): có chất sulforaphane. Chất này có khả năng
giúp cơ thể tạo ra kháng thể chống lại ung thư.
-Gừng:
giúp điều hòa bộ máy tiêu hóa và giúp khí huyết lưu thông.
-Rong
biển: có những dược tính có khả năng ngăn ngừa ung thư.
-Cà
chua: có chất lycopene có khả năng chống lại các chứng bệnh
ung thư.
Các
nghiên cứu y học gần đây cho thấy dân Nhật có tỷ lệ
ung thư thấp nhất, nguyên do là vì người Nhật ăn nhiều
rau cải, rong biển, tàu hủ và uống nhiều trà. Vấn
đề tỏi, có người hỏi: ăn chay có nên sử dụng tỏi hay
không? Tỏi là một thực vật có nhiều dược tính nóng không
thích hợp cho vùng nhiệt đới. Chúng ta ở xứ lạnh thì tỏi
lại rất tốt. Hơn nữa sử dụng tỏi để trị bệnh thì
không có vấn đề gì. Chỉ khi nào trì chú thì không
nên dùng tỏi, vì tỏi có mùi không tinh khiết.
2.
Giữ Tâm Thanh Thản
Trong
Phật Giáo việc ăn chay là một pháp môn tu tập. Đối
với Phật tử tại gia không bắt buộc phải ăn chay trường,
tuy nhiên đối với các vị xuất gia, ăn chay là điều kiện
tiên quyết khi vào chùa. Điều này được xem như một
giới điều. Thành ngữ “trường trai giữ giới” nói
lên điều đó. Việc ăn chay không những giữ thân khỏe
mạnh, mà còn giữ tâm thanh tịnh. Vấn đề giữ gìn sức
khỏe chúng ta đã thảo luận ở trên, bây giờ chúng ta thảo
luận về vấn đề giữ tâm thanh thản. Ăn chay có những
tác dụng sau:
-Tăng
trưởng lòng từ bi: Một trong các giới điều quan trọng
là giới không sát sanh. Việc ăn chay là sự tỏ lòng
thương đối với súc vật. Chúng ta không nỡ sống trên
mạng sống của chúng sanh khác. Có người bảo rằng: Trời
sinh muôn vật cho người hưởng thụ. Nếu thế thì cọp
cũng nghĩ rằng: Trời sinh loài người để làm thức ăn cho
cọp!
Có
người nghĩ rằng mình không tự tay sát sinh thì kể như không
phạm tội. Tuy nhiên nếu mình không ăn thì con vật không
bị giết. Ngày nay xã hội văn minh, chúng ta không tự
tay giết, nhưng đã có các siêu thị, McDonald giết súc vật
thế chúng ta. Kinh Hồng Danh: “Không tự mình giết, không
bảo người giết, không tán đồng việc giết chóc.” Nhìn
kỹ vào trong một miếng thịt chúng ta sẽ thấy máu me tràn
đầy. Nhìn kỹ vào một bữa ăn chúng ta thấy đầy dẫy
sự đau khổ!
Trong
quan niệm bình đẳng của Phật Giáo, sự sống nào cũng là
sự sống, cũng có giá trị ngang nhau. Cho dầu đó là
sự sống của một con vật hay một con người. Khi dòng
máu cùng đỏ thì mọi sự sống đều linh thiêng, đều phải
được bảo vệ vì “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.”
Với quan niệm luân hồi, các thú vật đó có khi là người
thân của chúng ta.
-Làm
giảm nạn đói: Tình trạng thiếu ăn trên thế giới không
phải vì thiếu thực phẩm nhưng vì sự ăn thịt của loài
người. Thống kê cho thấy muốn sản xuất một ký lô
thịt bò người ta cần đến mười lăm ký ngũ cốc. Kỹ nghệ
thịt bò của Hoa Kỳ tiêu thụ số lượng ngũ cốc nhiều
hơn tổng số lượng ngũ cốc tiêu thụ của hai nước Ấn
Độ và Trung Hoa. Mỗi năm trên thế giới có mười một
triệu trẻ em bị chết vì thiếu dinh dưỡng. Các nhà
dinh dưỡng học ước lượng rằng nếu mỗi năm Hoa Kỳ chỉ
cần giảm một phần trăm số lượng tiêu thụ, thì số ngũ
cốc đó đủ để cứu sống hằng triệu người bị đói
trên thế giới.
-Giữ
môi trường trong sạch: Kỹ nghệ chăn nuôi đã phá hủy
rừng để lấy đất nuôi súc vật. Các nước Trung Mỹ
phá hủy cả trăm triệu mẫu rừng để lấy đất nuôi bò.
Chất phế thải do các kỹ nghệ này thải ra nhiều không tưởng
tượng được. Người ta ước tính cứ mỗi quarter pound (phần
tư cân) thịt bò người ta phá hủy 55 square feet (bộ vuông)
rừng nhiệt đới Trung Mỹ và thải ra 500 pounds (cân) khí carbondioxide
vào khí quyển. Để trồng một pound (cân) lúa mì người
ta cần 25 gallons nước, trong khi sản xuất một pound (cân)
thịt phải cần tới 2500 gallons nước. Ngoài nước uống và
không khí bị ô nhiễm, quả địa cầu cũng bị nóng dần
vì hàng triệu tấn khí bị ô nhiễm, quả địa cầu cũng
bị nóng dần vì hàng triệu tấn khí methane thải ra từ các
trại chăn nuôi. Nếu chúng ta không thay đổi cách ăn
uống thì đến một ngày nào đó chúng ta sẽ hủy hoại chính
mình và trái đất sẽ trở thành một hành tinh chết.
Con
Đường Trước Mặt
Qua
những phân tích trên, chúng ta thấy ngày nay vấn đề ăn chay
là một nhu cầu bức thiết để tự cứu mình, cứu các thế
hệ con cháu cũng như cứu lấy hành tinh của chúng ta đang
ở. Việc ăn chay không những giúp chúng ta giữ thân khỏe
mạnh, mà còn giữ tâm thanh thản và giữ môi trường trong
sạch. Thực tập ăn chay chúng ta có thể đi từng bước.
Bắt đầu bằng mỗi tuần một ngày, bất kỳ ngày nào, sau
đó gia tăng dần. Điều quan trọng là phải ý thức rằng
việc ăn chay là để giữ gìn sức khỏe cá nhân, gia đình
và đoàn thể trong một xã hội đầy ô nhiễm từ vật chất
đến tinh thần.
Như
trên chúng ta nhận thấy cơ thể con người không được cấu
tạo để ăn thịt. Do đó việc ăn chay là bẩm tính tự
nhiên. Nếu chúng ta sống ngược với thiên nhiên thì
hậu quả chỉ chuốc lấy đau khổ. Những bệnh tật mà con
người chịu đựng hôm nay chính là hậu quả của việc
đi ngược lại với lẽ sống tự nhiên. Bệnh “Bò Điên”
ở trên là một bằng chứng hùng hồn. Và ở con người
những bệnh khùng điên này cũng đang gây đau khổ từ thể
xác đến tinh thần trong các chứng bệnh nan y như ung thư,
động tim, đứt mạch máu não, cholesterol, cũng như những chứng
căng thẳng thần kinh (stress). Tất cả chỉ vì miếng
ăn: “Tham thực cực thân.” Đạo Đức Kinh dạy” “Nhân
pháp Đạo, Đạo pháp Tự Nhiên” (nghĩa là: Con người sống
theo lẽ Đạo và Đạo sống theo Tự Nhiên). Việc ăn chay cần
kết hợp với việc lạy Phật để dễ dàng phát huy khả
năng an lạc giải thoát tiềm tàng trong mỗi người. Phương
pháp tu này đáp ứng được nhiều phương diện từ thể xác
đến tâm linh, mang lại cho chúng ta an lạc, giải thoát ngay
trong đời sống hiện tại. Truyền thống tu tập Việt
Nam cung cấp cho chúng ta những phương tiện cần thiết để
duy trì thân tâm an lạc để sống khỏe, sống vui và sống
lâu trong phương pháp “Ăn Chay, Lạy Phật.”
Tài
Liệu Tham Khảo:
Tâm
Diệu, Quan Điểm Về Ăn Chay Của Đạo Phật, Hoa Sen (California),
1998.
“Fơd
in a Pill” in Health, Mach 1998, pp. 87-92
“Soy
Monograph” by C.Grauds, Pharmacy Times, 1999.
“Phương
Pháp Dinh Dưỡng..” Lá Thư Kim Sơn, số 2, 1998, tr.12.
Chương
IV. Pháp Môn Lạy Phật
Pháp
Môn Lạy Phật
Trong
truyền thống tu tập Việt Nam, pháp môn Lạy Phật là một
pháp môn rất phổ biến được thực tập trong hàng xuất
gia cũng như tại gia. Các chùa cứ vào những ngày mười
bốn và ba mươi âm lịch đều có các buổi lạy Hồng Danh
Sám Hối. Bây giờ tại hải ngoại chúng ta cũng vẫn
tiếp tục tu tập theo truyền thống đó. Như thế đủ
chứng minh tính mầu nhiệm của pháp môn này. Tuy nhiên,
lâu nay chúng ta thực tập thấy có an lạc và lợi ích thiết
thực cho thân và tâm, nhưng không hiểu rõ nguyên nhân tại
sao? Lý do nào khiến pháp môn này mang đến những lợi lạc
mầu nhiệm đó.
Sau
thời gian dài sống tại Bắc Âu cũng như Đông Bắc Hoa Kỳ
là những vùng rất lạnh của thế giới, chúng tôi nghiệm
ra tại đây có rất nhiều người mắc phải những chứng
bệnh thuộc về phong thấp như đau nhức khớp xương.
Nhất là những người lớn tuổi đến từ các nước thuộc
khu vực nhiệt đới. Bác sĩ khuyên mọi người nên tập
thể dục. Ai cũng thấy lời khuyên đó đúng. Vì
sang đây chúng ta ít khi có cơ hội để vận động thân thể
cho khí huyết lưu thông. Chúng ta ngồi quá nhiều, vừa
bước ra khỏi nhà đã leo lên xe, đến sở làm phải ngồi
suốt buổi. Ngày này sang ngày nọ cứ như thế.
Thêm vào đó, qua sự ăn uống cơ thể chúng ta tiêu thụ quá
nhiều độc tố. Từ đó đủ các chứng bệnh về tim
cũng như ung thư phát sinh. Tuy thế việc tập thể dục vẫn
là vấn đề nan giải. Với những người trẻ tuổi ít
gặp khó khăn. Còn đối với những người lớn tuổi,
đây quả thật là một khó khăn lớn. Vì văn hóa khác
biệt, các cụ ta thấy ngại ngùng trong việc đi bơi đi lội,
đi đến nhà tập thể dục để luyện tập thân thể.
Đó là chưa kể vấn đề di chuyển cũng như ngôn ngữ, vì
phần lớn các cụ không biết lái xe và tiếng tăm không thông.
Còn việc đi bộ cũng không dễ dàng thực hiện được, vì
vào mùa ấm còn đi lại chút đỉnh, chứ những ngày lạnh
chẳng dám hé cửa, đừng nói chuyện ra ngoài đường.
Nếu đi không khéo, trợt tuyết ngã thì khổ thân. Nói
tóm lại là đành chịu chết. Các vị than phiền và không
biết phải giải quyết vấn đề như thế nào. Chúng
tôi chỉ khuyên các cụ hãy cố gắng thực tập pháp môn lạy
Phật mỗi ngày, sáng cũng như tối.
Các
cụ theo đó thực tập vài tuần lễ sau đã có người đến
chùa cám ơn, nhờ thực tập pháp môn lạy Phật đã khỏi
bệnh. Có vị cho chúng tôi hay sau mấy tuần lạy Phật,
bây giờ đã hết luôn chứng đau lưng. Chứng bệnh mà
vị đó đã bị từ nhiều năm nay, uống thuốc gì cũng không
khỏi. Các vị khác cho hay bây giờ ngủ ngon giấc không
mộng mị, các chứng tê nhức cũng đã hết. Còn những
người trung niên cũng cho biết họ đã bán các dụng cụ tập
thể dục, vì cứ mỗi sáng sau khi lạy hai mươi phút mồ hôi
toát ra như tắm, như thế thì hơn thể dục nhiều.
Trong
Các Truyền Thống Phật Giáo
Pháp
môn lạy Phật không phải chỉ có các Phật tử thuộc truyền
thống Tịnh Độ thực hành, nhưng phương pháp này cũng được
các truyền thống khác tu tập.
Với
Phật Giáo Tây Tạng vấn đề lạy Phật là một phương pháp
tu căn bản. Trong truyền thống này, khi bắt đầu những
kỳ nhập thất dài hạn, thông thường kéo dài ba năm ba tháng
ba ngày, các vị lạt-ma lạy một trăm ngàn lạy. Mỗi
ngày từ sáng đến tối chỉ thực hành lạy Phật. Trung
bình mỗi ngày lạy được một ngàn lạy, và cứ lạy liên
tục như thế trong ba tháng mười ngày thì đủ một trăm ngàn.
Có
người thắc mắc không hiểu lạy như thế có lợi ích gì?
Vấn đề này chúng ta sẽ tìm hiểu cặn kẽ trong phần sau.
Đại khái chúng ta có thể hiểu đây là giai đoạn chuẩn
bị cho thời gian “hạ thủ công phu” để nỗ lực tinh tấn
trên con đường khai triển tuệ giác. Sự chuẩn bị này
được chú trọng trên cả hai phương diện thân và tâm.
Sau
giai đoạn lễ lạy đó, tâm hồn hành giả thơi thới, thân
thể tráng kiện. Khi đó vị hành giả cảm thấy như
mình được tái sinh từ thể xác đến tinh thần. Cần
hội đủ những điều kiện cần thiết đó thì công cuộc
khổ tu của những tháng năm đến mới thành tựu viên mãn.
Chúng ta cũng nên biết rằng, Tây Tạng là một nước ở trên
núi Hy Mã Lạp Sơn, một dãy núi cao nhất thế giới, tuyết
phủ quanh năm. Trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt
như thế, nếu không có một thân thể cường tráng một ý
chí mãnh liệt thì khó có thể tiếp tục công việc tiến
tu.
Do
đó sự hành trì lễ lạy là một phương pháp tốt để đạt
những mục tiêu ban đầu. Ngoài ra các Phật tử Tây Tạng
cũng thực hành phương pháp “nhất bộ nhất bái” (nghĩa
là đi một bước lạy một lạy) trong các cuộc hành hương
chiêm bái các thánh tích như: Cung Potala nơi Đức Đạt Lai
Lạt Ma ngự, các tu viện nổi tiếng nơi có bảo tháp có các
vị tổ sư…
Quang
cảnh rất cảm động chung quanh Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức
Phật Thành Đạo, là hàng trăm vị Lạt Ma cùng các Phật tử
Âu Mỹ thực hành pháp môn lễ lạy. Họ cứ lạy từ
sáng đến chiều và từ ngày này sang ngày nọ. Cách lạy
của người Tây Tạng cũng khác hơn chúng ta là họ lạy nằm
dài hết cả người xuống đất. Tấm án dùng để lạy
trở nên bóng loáng và chỗ hai bàn tay chống xuống để đẩy
dài người ra bọ lõm sâu xuống. Điều đó chứng tỏ
họ đã lạy không biết bao nhiêu ngàn vạn lạy rồi.
Qua
những khảo sát đó, chúng ta hiểu được: Tại sao dân Tây
Tạng có thể sống khỏe mạnh trên đỉnh núi tuyết, nơi
lạnh lẽo và thiếu dưỡng khí? Làm thế nào để có được
tín tâm vững chãi nơi Tam Bảo? Làm sao để thành đạt kết
quả tu tập? Những thành tựu đó có thể nói phần lớn nhờ
bởi công phu lễ bái. Chính việc Lạy Phật đã giúp cho dân
Tây Tạng sống khỏe mạnh từ thể chất đến tinh thần,
có tín tâm kiên cố nơi Tam Bảo, và thành tựu sự nghiệp
tu chứng. Ngày nay dân tộc nhỏ bé yếu kém đó đã mang
Phật pháp truyền bá khắp nơi.
Tại
Trung Quốc, các Tông phái Phật Giáo từ Tịnh Độ, Thiền,
Thiên Thai, đến Luật Tông, Mật Tông v.v… đều chú trọng
vào việc lạy Phật như một hành trì căn bản. Tịnh Độ
Tông có những cuốn kinh dành riêng cho việc lễ lạy như:
-Kinh
Hồng Danh: 108 lạy, kinh sám hối căn bản.
-Kinh
Ngũ Bách Danh: 500 lạy, gồm tên của 500 vị Phật hay Bồ Tát.
-Kinh
Thiên Phật: 1.000 lạy, danh hiệu của một ngàn vị Phật.
-Kinh
Ngũ Thiên Phật: 5.000 lạy, danh hiệu của năm ngàn vị Phật.
-Kinh
Vạn Phật: 10.000 lạy, danh hiệu của mười ngàn vị Phật.
-Thủy
Sám: sách sám hối, vừa tụng vừa lạy, do ngài Ngộ Đạt
soạn.
-Lương
Hoàng Sám: bộ sách sám hối, do hòa thượng Chí Công đời
vua Lương Võ Đế soạn để sám hối cho hoàng hậu Hy Thị.
Qua
các kinh đó chúng ta thấy Phật Giáo Trung Quốc đã hành trì
pháp môn lạy Phật nghiêm túc như thế nào.
Ngày
xưa các chùa đều được xây dựng nơi núi cao rừng sâu,
tránh cảnh thị thành náo nhiệt để các hành giả chuyên
chú quán chuyến nội tâm. Các ngôi chùa như Thiếu Lâm
Tự được xây dựng trên núi Thiếu Thất, Tổ Đình Thiên
Thai Tông xây trên núi Thiên Thai, Tổ Đình Trúc Lâm xây trên
núi Yên Tử. Để có đủ sức khỏe chống lại sơn lam
chướng khí thú dữ, các thiền sinh phải luyện tập võ thuật
và khí công kèm với sự tu tập phát huy tuệ giác. Tổ
Sư Bồ Đề Đạt Ma là người đã khai sáng Thiền Tông tại
Trung Quốc, cũng là tổ sư sáng lập võ thuật tại đây.
Các tổ sư đã ý thức rõ ràng sự quan hệ giữa thân và
tâm. Sự thành tựu tuệ giác phải song hành với sự
tráng kiện của thân thể. Khí công và nội lực là những
yếu tố quan trọng trong việc phát triển tâm linh. Không
thể nào có được ý chí dũng mãnh trong một thân thể bệnh
hoạn. Từ đó các tổ đã kết hợp hai truyền thống
tu luyện của Ấn Độ và Trung Quốc, truyền thống yoga cũng
như các phương pháp luyện công luyện khí của võ thuật được
kết hợp nhuần nhuyễn để chế tác pháp môn Lạy Phật.
Như thế chúng ta thấy Lạy Phật là kết quả tiêu biểu cho
những kinh nghiệm tu tập thoát thai từ sự dung hợp sâu sắc
tinh hoa của các nền đạo học đông phương. Một vị thánh
tăng trong thời đại chúng ta là ngài Hư Vân (1840-1959), ngài
đã hành trì “tam bộ nhất bái” (ba bước một lạy) từ
Phổ Đà Sơn về Ngũ Đài Sơn, quãng đường dài bằng đoạn
đường từ New York về Seattle. Trong cuốn Tự Truyện ngài
đã kể lại những kinh nghiệm tu chứng của ngài trong thời
gian lễ bái đó. Ngài có được những khả năng phi thường
như nhìn xuyên qua vách, nghe được tiếng từ xa, biết việc
vị lai v.v… Lúc bị chính quyền cộng sản tra khảo dã man,
người cai ngục tưởng ngài chết rồi. Nhưng sáng hôm
sau thấy ngài ngồi dậy khỏe mạnh như trước đó chẳng
có chuyện gì xảy ra. Ngài thọ 120 tuổi.
Ngày
nay tại Tổ Đình Vân Môn ở Quảng Đông Trung Quốc, mỗi
sáng chư tăng sau thời công phu bắt đầu lạy ba trăm lạy.
Phật
Giáo Việt Nam cũng như Nhật Bản và Đại Hàn chịu ảnh hưởng
sâu đậm Phật Giáo Trung Quốc. Do đó trong phương pháp
hành trì rất chú trọng về lễ lạy. Phật tử Việt
Nam đến ngày nay vẫn duy trì mạnh mẽ phương pháp tu tập
đó. Vào những ngày mười bốn và ba mươi âm lịch,
chúng ta có những thời Hồng Danh Sám Hối. Chúng ta cũng
lạy Ngũ Bách Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Ngoài ra, có người
cũng phát nguyện lạy từng chữ trong các bộ kinh lớn như
Pháp Hoa, Bát Nhã, Niết Bàn, Hoa Nghiêm…
Trước
năm 1975, lúc tôi còn ở Chùa Già Lam, Gia Định, mỗi sáng
sau thời công phu, được nghe hòa thượng Trí Thủ xướng
hồng danh chư Phật chư Tổ để mọi người lễ lạy.
Giọng Ôn sang sảng vang dội khắp chùa. Thỉnh thoảng
Ôn nhập thất. Trong suốt thời gian đó Ôn trì niệm
và lễ bái hồng danh Đức Phật A Di Đà. Những năm cuối
đời Ôn vẫn kiên trì tu tập pháp môn đó. Qua cuộn băng
cassette thu tại Chùa Già Lam vào khoảng năm 1982, chúng tôi
vẫn còn nghe giọng xướng trầm hùng của Ôn và Đại Chúng.
Tại Hoa Kỳ, chúng tôi được biết Tu Viện Kim Sơn tại Bắc
Ca-li thực hành chuyên cần công phu bái sám. Đại Chúng
lạy mỗi ngày hai thời và mỗi thời khoảng hai trăm lạy.
Pháp môn này vẫn là pháp môn tu tập chính yếu cho hầu hết
các chùa Việt Nam tại hải ngoại.
Tác
phẩm nổi tiếng về sự hành trì pháp môn lạy Phật này
là cuốn Khóa Hư Lục của vua Trần Thái Tôn soạn. Nhà
vua soạn bộ sách sám hối này cũng trong tâm trạng thành khẩn
như ngài Ngộ Đạt sám hối nghiệp chướng nhiều đời, như
vua Lương Võ Đế sám hối quả báo của hoàng hậu.
Như
chúng ta biết vua Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên của
triều Trần. Dưới áp lực của thái sư Trần Thủ Độ,
cũng là chú của vua, bắt vua phải làm những việc loạn luân,
thất nhân tâm như ruồng bỏ vợ, lấy chị dâu đang mang thai,
cùng chứng kiến những cảnh tàn sát tôn thất nhà Lý.
Không chịu nổi những cảnh tàn ác đó, nhà vua bỏ kinh thành
vào núi để xin xuất gia.
Phù
Vân quốc sư đã khuyên nhà vua hãy trở về gánh lấy trọng
trách để tìm cách chuyển đổi chính sách bạo tàn thành
chính sách khoan hòa nhân đạo, cũng như theo đuổi con đường
tu tại gia. Nhà vua đã trở về. Sách Khóa Hư Lục
đã được soạn ra trong hoàn cảnh đó. Trong đó nhà
vua đã soạn những bài văn thống thiết để ngày đêm sáu
thời lễ bái sám hối cho nghiệp chướng tiêu trừ, cho quốc
thái dân an. Với ảnh hưởng đạo đức của vua Thái
Tông, triều Trần đã trở thành một triều đại quân chủ
Phật Giáo hùng mạnh trong lịch sử với những chiến thắng
Mông Cổ oanh liệt. Mông Cổ là đoàn quân bách chiến
bách thắng, xây dựng một đế quốc trải dài từ Âu sang
Á, chưa bao giờ bị thua trận.
Sự
Lợi Ích
Phương
pháp Lạy Phật là kết tinh của những kinh ngiệm tu tập sâu
sắc từ những truyền thống đạo học đông phương.
Do đó những lợi ích mang lại từ sự hành trì pháp môn này
vô cùng lớn lao. Sự lợi ích đó đạt được cả trên
hai phương diện thân xác cũng như tinh thần.
Về
Thân: phương pháp Lạy Phật mang lại những hiệu quả
sau:
1.
Trước hết, động tác lạy Phật là một phương pháp thể
dục tốt. Với những cử động nhẹ nhàng, nhưng tất
cả các bắp thịt trên toàn thân đều được vận động
tối đa. Khác với lúc tập thể dục, vì thông thường
khi thể dục chúng ta không vận động tất cả các bắp thịt
đồng đều cùng một lúc. Ví dụ: khi đi bộ, chúng ta vận
động nhiều bắp thịt ở chân. Chỉ có bơi lội chúng
ta mới cử động toàn thân. Trong lúc lạy Phật, tất cả
các bắp thịt trên cơ thể đều hoạt động làm khí huyết
toàn thân lưu chuyển giúp chúng ta chữa trị các chứng thấp
khớp, cũng như phòng ngừa các chứng bệnh hiểm nghèo khác..
2.
Các huyệt đạo quan trọng trên cơ thể được tác động.
Từ huyệt bách hội trên đỉnh đầu xuống đến huyệt đan
điền, các huyệt dọc theo xương sống và các huyệt ở tay
chân. Chúng ta cảm thấy có một luồng khí nóng chạy
đều khắp cơ thể và mồ hôi theo các lỗ chân lông tuôn
ra. Theo y học đông phương, một khi các huyệt đạo trên
cơ thể được tác động, khí huyết sẽ lưu chuyển và bệnh
tật sẽ tiêu trừ.
3.
Sau khi lạy Phật xong, hãy ngồi xuống chừng mười lăm phút,
chúng ta sẽ có cảm giác an lạc thư thái ngay vì các huyệt
đạo được tác động. Sự an lạc này rất sâu sắc,
một kinh nghiệm rất đặc biệt mà chúng ta chỉ đạt được
trong lúc thiền định. Sự an lạc này mang lại cho chúng
ta niềm hoan lạc suốt ngày. Từ đó những phiền não, những
ưu tư, những đau buồn… cũng nhanh chóng tan biến.
4.
Các trọng huyệt này tương ứng với các luân xa trong
truyền thống yoga Ấn Độ. Các luân xa này nằm dọc
theo xương sống từ đỉnh đầu xuống đến bàn tọa gồm
bảy luân xa. Một khi được tác động, các luân xa này
giúp chúng ta khai triển được những năng lực mầu nhiệm
tiềm tàng trong mỗi người, tạo điều kiện thuận tiện
cho việc phát triển tâm linh.
Về
Tâm: phương pháp Lạy Phật là phương pháp điều tâm để
thanh tịnh ba nghiệp: thân, khẩu và ý (tư tưởng, ngôn ngữ
và hành động). Phương pháp này giúp ta:
1.
Tiêu trừ nghiệp chướng: Trong sự sám hối, thành tâm đảnh
lễ mười phương chư Phật bằng cả thân tâm của mình. Quán
chiếu sâu xa nguồn gốc tội lỗi, cùng bản tánh của tội
lỗi. Quán tưởng hào quang chư Phật mười phương hiển
hiện trước mắt, cũng như Phật tánh trong tự tâm tỏa rạng.
Nhờ Phật lực hộ trì cùng nỗ lực tu tâm để thanh tịnh
ba nghiệp. Với sự sám hối đó các ác nghiệp và chướng
duyên đều được chuyển hóa.
2.
Thiện căn tăng trưởng: trong khi lễ lạy, hồi hướng cho
kẻ thân người thù đều được lợi lạc, đều được thành
tựu sự nghiệp giác ngộ giải thoát. Như thế Bồ Đề
Tâm (thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh) được nuôi
dưỡng, lòng từ bi được phát triển. Sự lễ bái hàng
ngày đem lại cho chúng ta nguồn an lạc vô biên. Sự an
lạc này giúp cho phiền não tiêu tan, sự trầm tĩnh trở lại
trong tâm hồn và lòng thương cũng phát sinh đối với người
ghét.
3.
Đức khiêm cung phát sinh: trong khi hạ mình xuống sát đất
để lạy Phật, để thấy những thành đạt của mình chỉ
là những giọt nước trong đại dương bao la. Bác Vũ Xuân
Hoài phát biểu trong buổi thảo luận Phật pháp, để chuyển
hóa tâm kiêu mạn của mình, mỗi ngày bác lạy Phật để
hồi hướng công đức về thiên, về địa, về sư trưởng,
về ông bà cha mẹ… để cảm nhận trùng trùng ân nghĩa.
Để thấy sự thành tựu của mình hôm nay là công ơn của
nhiều người. Để từ đó tâm khiêm nhường phát sinh.
Trong Kinh Đức Phật thường dạy, tâm khiêm nhường là cửa
ngõ của trí tuệ và là con đường đưa đến giải thoát.
Sự
Hành Trì
Trong
truyền thống Việt Nam, chúng ta có lạy Hồng Danh, Ngũ Bách
Danh, Thiên Phật, Vạn Phật… Tùy theo hoàn cảnh và khả năng
để áp dụng lễ lạy cho thích hợp. Điều quan trọng
là sự hành trì đều đặn. Nếu chưa quen chúng ta có
thể bắt đầu bằng ba mươi lạy, rồi sau đó tăng dần cho
đến một trăm lẻ tám lạy (để trừ một trăm lẻ tám phiền
não). Nếu có băng Hồng Danh thì mở băng và theo lời xướng
danh hiệu Phật trong băng để lạy. Chúng ta có thể lạy
mỗi ngày một hay hai lần.
Cách
đơn giản nhất, chúng ta lạy theo hơi thở. Cứ hít vào
chúng ta đứng lên và thở ra chúng ta lạy xuống. Cứ
lạy chậm rãi. Mỗi lạy chúng ta niệm một danh hiệu
Phật và đếm một, cứ như thế cho đến đủ số. Hoặc
chúng ta có thể theo dõi đồng hồ và lạy đủ thời gian
ấn định thì ngưng. Hoặc mười lăm phút, hai mươi phút
hay nửa giờ. Đó là những phương cách đề nghị để
chúng ta tùy nghi thực hành.
Sự
lễ lạy có thể thực hiện bất kỳ chỗ nào. Miễn là chúng
ta có được khoảng không gian bằng chừng chiếc chiếu là
đủ để lạy rồi. Tốt nhất là trước bàn Phật, nếu
không thì ở chỗ nào cũng được, miễn tâm thành là được.
Ngay cả trong phòng ngủ, mỗi sáng lúc thức dậy hay mỗi tối
khi đi ngủ chúng ta có thể thực tập.
Khi
lạy hai tay chắp ngang trán, đưa xuống ngực rồi lạy xuống
sát đất. Điều này biểu tượng cho “thân tâm cung
kính lễ” (đem thân đoan nghiêm và tâm thành kính để lễ
lạy). Lúc lạy xuống hay tay, hai đầu gối và trán phải chấm
đất). Chúng ta nên đứng thẳng người rồi lạy xuống, sau
đó đứng thẳng lên. Như thế các bắp thịt khắp châu thân
được vận động tốt hơn (trừ khi yếu chân, có thể quỳ
lạy).
Trong
khi lạy cố gắng kết hợp cả ba phương diện:
Thân:
đứng nghiêm chỉnh cử động nhịp nhàng hòa hợp, hơi thở
đều đặn
Miệng:
niệm danh hiệu Phật hay Bồ Tát
Tâm:
quán tưởng đến Phật, Bồ Tát hay cảnh giới của chư Phật
và Bồ Tát. Ví dụ: có thể quán tưởng đến Đức Phật
A Di Đà đang ở trước mắt, hay cảnh Tịnh Độ chung quanh
ta.
Kết
Luận:
Phương
pháp lạy Phật là một phương pháp rất đơn giản, nhưng
mang lại những lợi ích rất lớn. Ai tập cũng được,
bất kỳ nơi đâu và không cần phải sắm dụng cụ gì cả.
Đây là kết tinh của những kinh nghiệm tu luyện quý báu của
chư tổ, đã kết hợp các phương pháp tu tập của Thiền
gia và vũ thuật gia để chế tác thành. Sự thực hành
pháp môn này mang lại lợi ích rõ rệt cho cả thân lẫn tâm.
Thân thể cường tráng chữa trị và phòng ngừa các chứng
bệnh hiểm nghèo như bệnh tim, áp huyết cao, ung thư… Tinh
thần an lạc thư thái. Sống an vui hạnh phúc trong hiện
tại. Tạo điều kiện thuận tiện khai triển khả năng
tâm linh vô biên để tiến tới giải thoát hoàn toàn.
Đây là một pháp môn mầu nhiệm, những niềm hoan lạc sâu
sắc chúng ta kinh nghiệm được trong lúc hành trì là những
bước tiến vững chắc trên bước đường tu tập. Qua
những thành tựu đó giúp chúng ta tăng trưởng tín tâm đối
với những pháp môn chư tổ truyền lại.
Chương
V. Thiền Âm Thanh
Thiền
Âm Thanh
Thông
thường khi nghĩ đến thiền chúng ta nghĩ đến sự tĩnh lặng,
sự tọa thiền v.v… nghĩa là một pháp môn tu của Phật Giáo
trong