Ngọn
núi thiêng
Xứ
sở của thánh thần
Thách
thức lần cuối
Một
tu viện đạo Bon
Thung
lũng Dawa A-Dsong
Đến
Tsaparang
Những
ngày khó khăn
Vị
lạt-ma tại Phiyang
Đấu
tranh với thời gian và chướng ngại
Khám
phá đường đá bí mật và đền man-đa-la
Sáu
ngày trên sông đóng băng
Thung
lũng hạnh phúc
Quán
đỉnh lần cuối
Người
thợ rèn làm đồng cốt
Giã
từ Tây Tạng
Lời
cuối Thầy, trò, và lối về ánh sáng
Lời
cuối của người dịch
Khái
quát về Tây Tạng
PHẦN
THỨ NĂM
TRỞ
LẠI MIỀN TÂY TÂY TẠNG
NGỌN
NÚI THIÊNG
Có
những ngọn núi chỉ là núi, nhưng cũng có ngọn có tính cách
riêng rõ rệt. Tính cách một ngọn núi không chỉ là hình
dáng kỳ lạ khác với những ngọn khác - cũng như khuôn mặt
đặc biệt hay thái độ khác lạ của một người chưa nói
lên nhân cách của người đó.
Nhân
cách là một sức mạnh có tác động lên người khác mà nó
không hề muốn; và uy lực này bắt nguồn từ sự vững vàng,
sự dứt khoát và sự hòa điệu của tính cách riêng. Khi những
tính chất này trong một con người đạt tới sự viện toàn
thì đó là một vị thầy xứng dáng của loài người và ta
thấy nơi người đó là bình chứa của những năng lực thiêng
liêng. Còn khi những tính chất đó lại nằm trong một ngọn
núi thì nó xuất hiện với ta như bình chứa của sức mạnh
vũ trụ và ta cảm nhận đó là một ngọn núi thiêng.
Uy
lực của một ngọn núi như thế quá lớn đồng thời quá
tinh tế đến nỗi con người ở gần hay xa đều có cảm giác
mình bị thu hút, như bị hấp lực của một thanh nam châm
vô hình, và chấp nhận mọi nhọc nhằn và kham nhẫn với
một ham muốn không giải thích được để đến gần với
uy lực tốt lành đó, để được tỏ lòng kính trọng nó.
Không
ai phong cho một ngọn núi như vậy một danh hiệu thiêng liêng
nào, thế nhưng ai cũng thừa nhận nó. Sự thiêng liêng này
không cần giải thích vì không ai nghi ngờ gì cả; không ai
phải tổ chức cúng tế vì trước nó con người đã choáng
ngợp và chỉ biết diễn tả nỗi cảm xúc của mình bằng
lòng kính sợ.
Thái
độ kính sợ và sùng tín đó không phải do những con số
khoa học, như chiều cao của núi, cái mà con người văn minh
ngày nay hay bị ấn tượng. Cũng như con người có tín ngưỡng
cũng không hề có ý niệm “chinh phục” núi non. Ngược lại,
người đó để cho ngọn núi bao trùm lên mình, để cho uy
lực của nó ngập tràn trong mình. Người đó mở lòng để
đón cái thần thức thiêng liêng cảm hứng và được tham
dự vào tự tính của nó. Nếu con người thời đại ngày
nay do tham vọng và lòng tự ngã quá lớn muốn chinh phục một
ngọn núi bằng cách làm kẻ đầu tiên đầu tiên leo lên đỉnh
tâm thức của chính mình hơn việc dùng thân mà leo lên đỉnh.
Đối với người sùng tín, ngọn núi là một biểu tượng
thiêng liêng và cũng như không ai đạp chân lên tranh tượng
tôn thờ, thì người đó cũng không nghĩ sẽ đặt chân lên
đỉnh núi thiêng.
Muốn
nhận rõ kích thước của một ngọn núi ta phải đứng xa
nó; để thâu nhận dạng nó vào lòng phải đi quanh nó; để
hiểu vui buồn của nó ta phải biết quan sát nó trong mọi
thời khắc của năm: lúc mặt trời mọc và lặn, giữa trưa
và trong sự tĩnh lặng nửa đêm, trong những ngày mưa tối
và dưới bầu trời xanh, trong tuyết mùa đông và giữa những
cơn bão. Ai hiểu ngọn núi theo kiểu này, người đó sẽ đến
gần với tính chất của nó, nó có tự tính sống động và
đa dạng như của con người. Núi non có lớn dậy và có điêu
tàn, chúng biết thở và mang đầy nhịp sống. Chúng qui tụ
năng lực vô hình xung quanh: năng lực của khí, của nước,
của điện và từ; từ chúng mà sinh ra mây và gió, mưa và
bão, thác và sông. Chúng cho môi trường xung quanh được ngập
tràn đời sống và cho vô số sinh vật thực phẩm và chỗ
ẩn náu. Trong những thứ đó, ta thấy kích thước của một
ngọn núi.
Thế
nhưng trong số những ngọn núi uy lực nhất thì cũng chỉ
có một số ít mang tính chất phi thường, ở vị trí của
biểu tượng cao tột của nỗ lực con người như trong mọi
nền văn minh và tôn giáo đã nói tới, và chỉ số ít này
sẽ trở thành những mốc trên bước đường vô tận của
con người hướng tới sự toàn hảo và thực chứng, chúng
cũng là bản chỉ đường, qua những mục đích thế gian để
vương tới cái vô cùng của vũ trụ.
Trong
những lũng sâu đầy sương mù của đời sống hàng ngày,
chúng ta đã quên mối liên hệ của mình với trời sao và
vì thế ta cần sự hiện diện của những bảng chỉ và mốc
đường mạnh mẽ này để đánh thức mình ra khỏi sự tự
mãn bản thân. Cũng không có bao nhiêu người nghe tiếng gọi
đó, biết cảm nhận thôi thúc đó để tự giải phóng mình
ra khỏi cái vỏ nặng nề của ý thích nhỏ bé, khỏi sự
say mê tiền bạc và thú vui; thế nhưng những ai mà tiếng
gọi đã tới tai và lòng ước ao về những gì cao đẹp vẫn
còn sống động, những kẻ đó làm thành một dòng người
hành hương, nó giữ cho truyền thống và kiến thức của suối
nguồn những niềm cảm hứng này được còn sống mãi.
Cũng
nhờ thế mà danh tiếng của Ngân Sơn (Dailas) tỏ rộng và
vượt trội lên mọi ngọn núi thiêng khác trên thế giới.
Từ thuở xa xưa, nó là đích hành hương của người sùng
tín. Không có núi nào có thể sánh với Ngân Sơn vì nó là
chỗ nối của hai nền văn minh lớn nhất và lâu đời nhất
của loài người, mà truyền thống của chúng trải qua hàng
ngàn năm để tồn tại tới ngày nay; Ấn Độ và Trung Quốc.
Đối với Ấn Độ giáo và Phật giáo, Ngân Sơn là trung tâm
của thế giới. Theo truyền thống Sanskrit cổ nhất thì trục
của vũ trụ được gọi là núi Tu-di(44) và đây không phải
chỉ có ý nghĩa vật lý mà còn cả thế giới siêu hình. Và
do thân thể tâm - vật lý của ta là một hình ảnh thu nhỏ
của vũ trụ nên Tu-di là trục của mọi lĩnh vực siêu thế.
Và cũng như trong hình hảnh thu nhỏ tâm - vật lý của con
người, trung tâm của “hoa sen ngàn cánh” là chỗ tối cao
thì cũng như thế, Tu-di thể hiện ra trên bình diện địa
cầu tại Ngân Sơn, nó là chỗ vươn cao của đền thờ vô
hình của những năng lực siêu việt; đối với mỗi ai sùng
tín thì nó hiện ra như biểu tượng cao nhất. Thế nên đối
với Ấn Độ giáo thì đó là trú xứ của thần Shiva, đối
với Phật giáo nó là man-da-la vĩ đại của các vị Thiền
Phật và Bồ-tát, như trong Demtschog Tantra, nó được mô tả
là man-da-la của “an lạc cao quí nhất”.
Đây
chưa phải là chỗ để nói đến những giáo pháp phức tạp
về siêu hình và tâm lý học của Ấn Độ giáo và Mật tông
Phật giáo. Thế nhưng câu hỏi mà ai cũng phải nêu lên là:
Tại sao trong những ngọn núi hùng vĩ của dãy Himalaya thì
đỉnh này được chọn và được sự thừa nhận chung là
trung tâm của thế giới?
Hãy
nhìn lên tấm bản đồ chỉ vị trí của Ngân Sơn trong cao
nguyên Tây Tạng và mối liên hệ của nó với hệ thống các
sông của Ấn Độ và Tây Tạng, ta sẽ thấy lý do trực tiếp.
Ngân Sơn chính là điểm cao nhất của “mái nhà thế giới”
(Roof of the World), từ mà người ta dành cho cao nguyên Tây Tạng
và xuất phát từ trung tâm địa lý này là một số lớn những
con sông chảy đi mọi hướng, có thể so sánh với những căm
của một bánh xe, chúng gặp nhau nơi trục. Những con sông
này là Brahmaputra, Indus, Satlej và Karnali. Tất cả chúng đều
phát nguồn từ khu vực Ngân Sơn - Manasarovar, đó là vùng cao
nhất của cao nguyên Tây Tạng.
Trong
các tài liệu cũ, các con sông này đều được xem như chảy
ra từ hồ Manasarovar nằm dưới chân Ngân Sơn và người ta
cho rằng nước chảy bảy vòng quanh vùng thiêng này trước
khi chảy về bốn phía và với cách này đã biểu lộ lòng
kính trọng ngai vàng của các vị thiên nhân, đúng như truyền
thống đi nhiễu xung quanh (pradaksina). Người Tây Tạng gọi
tên con sông Brahmaputra xuất phát từ phía đông của vùng Ngân
Sơn - Manasarovar, là Tántchog - Khambab, có nghĩa con sông “chảy
từ hàm ngựa”. Sông Satlej, bắt nguồn phía tây được gọi
tên là Langtschen-Khambab, có nghĩa “chảy từ miệng voi”.
Sông Indus, từ phía bắc, được gọi là Senge-Khambab “chảy
từ miệng sư tử” và sông Karnali (mà tại bình nguyên có
tênlà Gogra) được gọi là Magtcha-Khambab “chảy từ miệng
chim công”. Các loài thú này là vật cưỡi hay tòa sen của
các vị Thiền Phật. Vì thế tên của những con sông này nói
lên chúng là một phần của một man-đa-la vĩ đại mà trung
tâm là đỉnh Ngân Sơn thiêng liêng.
Mối
liên hệ tôn giáo và văn hóa giữa Ấn Độ và Tây Tạng nhờ
những dòng sông này mà trở nên rõ nét. Chúng thể hiện rõ
nhất ở con sông Indus và Brahmaputra, hai con sông đó hiện ra
như hai cánh tay khổng lồ từ vùng Ngân Sơn Manasarovar, ôm
lấy tổng thể của Himalaya và bán đảo Ấn Độ, trong đó
sông Indus chảy ra vịnh Ai Cập ở phía tây và Brahnraputra chảy
ra vịnh Bengal phía đông.
Tất
cả những con sông này không phải phát nguồn từ sườn Ngân
Sơn hay Manasarovar nhưng các lũng của chúng chạy trên cao nguyên
của Ngân Sơn, thế nên ngọn núi này trở thành mốc dẫn
đường của các con lộ xuyên núi quan trọng, chúng nối liền
nam với bắc, tây với đông và gặp nhau dưới chân núi Ngân
Sơn.
Nếu
ta cắt đi vài trăm mét đỉnh Everest hay bất cứ một đỉnh
tiếng tăm nào của Himalaya thì chúng không còn gì làm cho mình
khác những ngọn núi khác; chúng sẽ chìm trong bản đò và
chìm vào trong một loạt những đỉnh núi vô danh không ai quan
tâm đến. Thế nhưng đối với Ngân Sơn thì khác, dù chiều
cao nó có ít đi chăng nữa, nó vẫn không mất tầm quan trọng
của mình, vì hình dáng phi thường và vị thế trung tâm của
nó trong những rặng núi và trong hệ thống những dòng sông
Ấn Độ Tây Tạng đã dành cho nó một vị trí đặc biệt.
Ngọn
núi nằm hoàn toàn độc lập ngay trung tâm của dãy Bắc Himalaya
(còn được gọi là dãy Sven - Hedin) đủ để có thể đi vòng
quanh núi trong hai ba ngày; dạng hình của nó đều đặn gần
như là mái tròn của một ngôi đền vĩ đại, đền nằm trên
nền cũng có hình dạng kiến trúc của nhiều khối. Và cũng
như các ngôi đền Ấn Độ luôn luôn có hồ nước thiêng
thì phía nam Ngân Sơn cũng có hai hồ thiêng liêng. Manasarovar
và Rakastal, trong hai cái thì cái thứ nhất có hình mặt nhật,
biểu tượng cho sức mạnh của ánh sáng, còn cái sau có hình
trăng lưỡi liềm, biểu tượng cho sức mạnh ẩn tàng của
bóng đêm, sức mạnh đó - nếu tự tính của nó không được
nhận rõ và đưa vào vị thế đúng đắn - sẽ hiện thành
năng lực đen tối của ma quái. Những ý niệm này hiện rõ
trong tên gọi của hai hồ: manas có nghĩa thức hay ý thức;
đó là trú xứ của khả năng nhận thức, sức mạnh của
ánh sáng giác ngộ; rakas hay raksara là ma quái, cho nên Rakastal
được gọi là hồ ma quỉ.
Những
biểu tượng nhật nguyệt của những hồ thiêng này được
trình bày theo cách Tây Tạng ở trang 268, trong đó mặt trời
hiện trên cái hồ tròn Manasarovar và mặt trăng trên hồ Rakastal
hình lưỡi liềm.
Biểu
tượng nhật nguyệt thường được vẽ trong các bức tranh
Tây Tạng, trong đó chư Phật, thiên nhân va thánh nhân được
trình bày. Mặt trời mặt trăng biểu tượng hai nguồn năng
lực tâm lý, chúng là hai dòng chảy nằm bên phải và bên
trái của cột sống. Trong phép du già, hai dòng năng lực đó
được hợp nhất trong một nguồn lực trung tâm và vươn lên
qua các trung khu hay mức độ nhận thức (luân xa), cuối cùng
nó đạt mức độ cao nhất, bốn chiều của ý thức giác
ngộ. Tương tự, Ngân Sơn biểu tượng cột sống của thân
người, nó cũng chính là trục của vũ trụ có ý thức, vũ
trụ đó(45). Các mức độ của đời sống chính là các mặt
cắt nằm ngang của ngọn núi, chúng nằm đều đặn và nổi
bật như các tầng của một đền thờ Ấn Độ.
Hình
nói trên cũng vẽ hồ Manasarovar nằm cao hơn hồ Rakastal, điều
đó đúng với địa hình thực sự cũng như phù hợp với
biểu tượng tâm - vật lý, theo đó thì Manasarovar là luân
xa cao nhất và Rakatal là luân xa thấp nhất. Luân xa thấp nhất
là nguồn gốc của mọi chứng thực. Luân xa là chỗ ban đầu,
luân xa đỉnh đầu là mục đích của hoạt động tâm linh.
Đây
cũng là lý do tại sao mà đạo Phật gắn liền hoạt động
của các vị Bồ-tát trong đời sống cuối cùng của các ngài
trên mặt đất - nhằm chứng mức giác ngộ cao nhất là Phật
quả - với Manasarovar. Theo truyền thuyết thì ngày nọ hoàng
hậu Ma-Gia mơ thấy giường nằm của mình được hộ thần
của hồ Anotatta (tiếng Pali của hồ Manasarovar) mang nhúng vào
nước hồ, nhờ đó mà mọi ô nhiễm và bất toàn của bà
được rửa sạch để vị Phật tương lai trú được trong
thân bà. Phật xuất hiện trong giấc mơ của bà thành một
con voi trắng, đến từ một đám mây trên núi Ngân Sơn và
nhập vào mình bà. Điều này cho thấy Ngân Sơn và Manasarovar
cũng được Phật tử tôn thờ và các chốn đó đã được
thờ cúng kể từ thời Vệ-đà, nếu không muốn nói từ thời
phát sinh của văn minh nhân loại.
Theo
kinh Vệ-đà thì Brahma, chúa tể vũ trụ đã tạo dựng Manasarovar
và cho cây Jambu thiêng liêng mọc giữa hồ, cây này mắt trần
không thấy được. Vì thế thế giới này của chúng ta được
gọi là Jambudvipa (Nam thiệm bộ châu), có nghĩa nhờ hoa trái
của cây thiêng này mà nước hồ Manasarovar trở thành cam lồ
cho đời sống. Ngọn cây trong hồ của nhận thức cao tột
ý nghĩa biết bao - gần gũi biết bao với cây ý thức trong
vườn địa đàng! Tôi nghĩ trên trái đất khó có chỗ nào
đáng được quí trọng và xứng đáng để xem là địa đàng
như vùng Ngân Sơn - Manasarovar, mà người Tây Tạng xem là trung
tâm của Nam Thiệm bộ châu (thế giới loài người), tâm điểm
của mọi xứ sở, mái nhà của thế giới và xem nó là “xứ
sở của vàng ngọc, suối nguồn của bốn con sông lớn, đỉnh
cao của chúng ta là đền pha lê của Ngân Sơn và mang tấm
gương màu xanh huyền bí của Manasarovar”.
Nơi
mà người hành hương bắt đầu đi vòng quanh ngọn núi htiêng
từ một hẻm núi, theo hình vẽ, bên trái Ngân Sơn, đó là
cửa vào của “thung lũng phía tây A-Di-Đà”. Đường đi
vào bên phải Ngân Sơn, được vẽ bằng một tháp đá (dưới
mặt trời), là Dolma-La, con đường của Tara, đó cũng là điểm
cao nhất (6000m) của đường hành hương. Hình tam giác màu
đen dưới tháp là một chiếc hồ con, đường tín đồ Ấn
Độ giáo gọi là Gaurikung và Phật tử Tây Tạng gọi là “hồ
đại từ bi”. Ta sẽ trở lại trong phần thứ ba của chương
này về lễ nghi đi quanh ngọn núi thiêng.
Bức
hình nguyên thủy của Tây Tạng còn chứa đựng thêm một
số chi tiết nhưng chúng ta phải bị bỏ qua để giữ rõ nét,
vì mục đích của bức vẽ này nhằm giúp độc giả có hình
tượng chính xác về Ngân Sơn - Manasarovar, như nó được nhìn
từ ngã đường Gurla, đó là nơi mà khách hành hương thấy
vùng đất thiêng lần đầu. Đó là chỗ duy nhất mà ta thấy
cả hai hồ lẫn Ngân Sơn một lúc. Kích thước trong hình dĩ
nhiên là không giống như thật, nó chỉ ghi lại ấn tượng
trong con mắt tâm linh. Thế nhưng mặc dù đã bị ấn tượng
hóa, hình dạng cảnh vật vẫn rất gần sự thực, và dù
một tấm hình chụp cũng không đem lại cho ta hình ảnh thật
hơn được.
Thật
đáng lạ lùng, cả vị trí địa lý của hai hồ cũng phù
hợp với tính chất sáng - tối, đêm - ngày. Manasarovar nằm
hướng đông, hướng mặt trời mọc, chỗ ngày bắt đầu,
còn Rakastal nằm hướng tây, mặt trời lặn, nơi bắt đầu
bóng đêm. Người Tây Tạng gọi Manarasovar là tso-mapham, có
nghĩa “hồ đại lực của chư Phật’, còn có nghĩa “người
chiến thắng”, trong lúc Rakastal được gọi là Lhasa-nag-tso,
“hồ ma quái”.
Phù
hợp với ý nghĩa này, trên hồ tso-mapham có nhiều tu viện
và thất độc cư, trong lúc hồ kia không có bóng người. Mặc
dù cảnh đẹp nhưng hồ này có một không khí kỳ lạ, đáng
sợ. Thế nhưng dù bị xa lánh và kính sợ, hồ này vẫn thiêng
liêng như chính hồ sinh đôi với mình; vì rằng những năng
lực nếu đối với ta có đáng sợ và mang tính hủy hoại,
nằm sâu trong bóng tối, thì tự tính của chúng vẫn là thiêng
liêng cũng như các năng lực mang ánh sáng và thiện mỹ.
Mối
liên hệ lẫn nhau giữa các năng lực này - nhật - nguyệt,
ý thức - vô thức - mà ta hay gắn liền với nguyên lý sáng
tối, âm - dưong, chủ động - thụ động, hành động - nhận
thức, sắc không; tất cả những điều này đều là phát
hiện lớn của triết lý tantra. Ai đã nghiệm ra được sự
thật này, người đó xứng đáng được tôn thờ thần núi
Ngân Sơn cao cả, bất kể thấy đó là dạng hình của Shiva,
người phá hủy mọi ảo giác tà kiến, hay dạng của Demtschog,
kẻ đã làm như Shiva mà xé miếng da voi của vô minh và mười
hai cánh tay của nó là mười hai mắt xích của nhân duyên
(thập nhị nhân duyên).
Chỉ
ai thấy cái thiêng liêng trong dạng hình đáng sợ, kẻ đó
mới dám nhìn sự thật tận mắt, không bị nó áp đảo và
lung lạc - chỉ người dó mới đủ sức chịu đựng sự tĩnh
lặng ghê gớm hiểm nguy và khó nhọc mà người hành hương
phải trả để đứng trước sự hiện diện thánh thần và
vùng thiêng liêng nhất trên trái đất này. Ai dám từ bỏ
sự thoải mái và an toàn, âu lo cho cuộc sống riêng mình người
đó mới hưởng được biến cố vô song của niềm vui cao
tột này. Khả năng tâm linh của người đó hàu như chuyển
hóa, hầu như tăng lên gấp bội: khả năng nhận thức, sự
cảm nhận tinh tế như mở rộng đến vô cùng, ý thức mở
ra với những kích thước mới của thực tại, người đó
sẽ nhận được những linh ảnh, những âm thanh kỳ lạ sẽ
vang bên tai, những trạng thái hầu như xuất thần sẽ xuất
hiện, trong đó những gò bó và trở ngại ngày trước sẽ
tan đi như một tia chớp, nó chiếu rọi những gì mà đến
nay còn nằm trong bóng tối. Hầu như ý thức cá thể, vốn
hay làm lệch và mờ đục cái nhìn lên sự vật, bỗng nhiên
rút lui và nhường chỗ cho một ý thức toàn thể bao trùm
lên vũ trụ.
XỨ
SỞ CỦA THÁNH THẦN
Để
hiểu hết ý nghĩa của Ngân Sơn là vùng đất phi thường
quanh đó, chúng ta không những chỉ cần biết những yếu tố
địa hình, văn hóa hay lịch sử mà cần tìm hiểu chúng từ
cách nhìn của một người hành hương.
Muốn
làm điều nay, trước hết phải cởi bỏ giới hạn chật
hẹp của cá nhân ta, nhất là những thành kiến của trí thức
phương Tây; vì rằng những điều mà ta gặp nó sẽ quá to
lớn và phi thời gian để có thể xếp chúng trong khung cảnh
của kinh nghiệm và phản ứng cá thể. Trên đường đến
ngọn núi thiêng - và nhất là lúc đi vòng quanh núi - Li Gotami
và tôi cảm nhận rằng mình chỉ là một khâu trong đoàn người
vô thủy vô chung đi chiêm bái, đã từng ra đi từ kiếp xa
xưa nào qua những con đường cô quạnh và hiểm nguy của Himalaya.
Đối với chúng tôi, điều quá trình nhất là sự tham gia
vào một chứng nghiệm siêu cá nhân, nó vượt xa lên mọi
nhãn quan và cảm xúc riêng tư và ý thức mình được nâng
lên một tầng lớp cao hơn của cảm nhận và khả năng chứng
nghiệm.
Vì
thế hãy theo bước của khách chiêm bái vô danh và hãy tưởng
tượng khách đã vượt qua hàng trăm dặm đường khó nhọc
quanh đỉnh núi mà đường đèo bị mây mù che phủ; còn trong
các lũng sâu thì chịu sức nóng chói chang để kẻ hành hương
thay nhau bị giày vò bởi cái lạnh cắt da và cái nóng rã
người. Đường đi sẽ bị cắt bởi những dòng lũ mà vượt
qua không khéo sẽ đồng nghĩa với cái chết và những rẻo
núi sâu dưới là thác đổ chỉ cho phép người ta vượt qua
bằng cầu treo lắc lư, nơi mà người hành hương đeo vào
một miếng gỗ nhỏ để được kéo qua bờ kia. Trong các khe
núi thì đá và thác đe dọa, chúng có thể từ trên cao vô
tình đổ ập lên đầu. Những đường mòn ngoằn ngoèo trên
sườn núi dốc hay vách đá dựng, và đá lởm chởm sẵn sàng
cắt chân người đi.
Cuối
cùng khách đã đến đỉnh cao của ngọn đèo biên giới Lipulek,
trong sương lạnh giá của mây mù luôn luôn phủ đỉnh đèo.
Thế nhưng chỉ vừa qua khỏi đỉnh đèo thì màn mây biến
mất và trước cặp mắt kinh ngạc của khách, hiện ra một
phong cảnh của đất trời, mà núi non của nó không còn có
cái buồn bã và nặng nề Himalaya, ngược lại nó như được
dệt bằng một thứ màu sắc thuần túy thanh tịnh, trong suốt.
Các màu vàng, cam, đỏ và tím nằm dưới một bầu trời xanh
thẫm. Sự tương phản với những gì đã qua thật đáng kinh
ngạc; làm cho khách không để ý đến đám mây đen còn đọng
trên đầu mình và đang thổi những hơi thở giá lạnh.
Không
bao lâu sau, khách đã vào trong lũng, lũng như mở rộng ra theo
hướng dòng sông; và cũng bây giờ khách mới thấy hết cái
khác biệt giữa thế giới mình đã bỏ lại đằng sau với
chốn mình vừa bước vào: thung lũng mà mình vừa bước qua
được bọc xung quanh bởi những rừng thông xanh thẫm, mặt
đất toàn cỏ xanh, rêu và loài thảo mộc, đầy những hoa
trái. Thấp thoáng có những đụn đá vươn người lên khỏi
lũng xanh và biến mất trong những đám mây đen nhiệt đới,
trong đó là cá đỉnh núi tuyết ẩn náu. Còn nơi đây những
màu sắc tươi đẹp, những tảng đá như có người tạc và
đường nét nổi bật của núi non trong ánh sáng rực rỡ không
chúg đời sống thảo mộc mở ra như trong ngày đầu tiên
của sự sáng tạo, khi trời và đất còn trinh nguyên, thanh
tịnh đứng bên nhau.
Xa
xa dưới lũng, bên bờ của con sông chảy lặng lờ là những
thảm cỏ xanh và cánh đồng lúa mạch vàng, nó tương phản
lạ lùng với cảnh vật không có cây cối ở đây. Hình như
chúng tiếp giáp với một sự nhảy vọt thời gian, chúng cắt
đi một khoảng cách sáng tạo của nhiều triệu năm sau mới
có.
Cuối
cùng thì trú xứ của con người hiện ra, chúng cũng lạ lùng
như cảnh vật: một sự trộn lẫn những hình khối, sau đó
là thành đá vĩ đại và trong những vách đá đó là những
hang động có người ở, trên sườn đá là tu viện và đền
đài.
Tất
cả hiện ra hầu như không thật, như trong cảnh mơ ảo. Phía
sau là những đỉnh núi tuyết chói lọi của dãy Gurla-Mandhata.
Ngược với những đỉnh lổm ngổm của Himalaya phía nam, dãy
mandhata tạo nên một hình khối nhìn trên cao xuống thấy như
một chữ vạn khổng lồ. Phần trung tâm của dãy núi được
phủ bởi một lớp băng tuyết vạn niên, dài khoảng ba mươi
cây số, còn những cánh chữ vạn là những lớp băng keo dài
xuống dưới.
Vì
dãy núi dài này ngăn cách thung lũng và quận Purang với vùng
Ngân Sơn - Manasarovar nên người hành hương phải đi dọc theo
sườn phía tây của rặng núi, leo dốc khoảng một ngày đường
mới đến đỉnh đèo Gurla.
Từ
đây là thiên nhiên không còn gây trở ngại nào nữa. Thế
nhưng điều hay xảy ra là chỗ nào mà thiên nhiên ưu ái dịu
hiền thì chỗ đó con người hay tự gây khó. Uy lực của
vị tỉnh trưởng Purang không vươn được quá vùng dân cư
của lũng. Khi khách hành hương ra khỏi vùng này thì họ trở
thành miếng mồi cho giặc cướp rình rập cướp bóc những
kẻ cô đơn, hay các đoàn người không có vũ khí. Các chuyện
cướp bóc đáng ngại đó đến tai người đi chiêm bái, họ
cũng phải e dè và chỉ ai có niềm tin lớn hơn nỗi sợ mới
lên đường đi, còn những kể khác ở lại đợi người đi
cùng dành phải đi Purantal, cũng là một chốn hành hương khác
gần biên giới Nepal.
Thế
nhưng điều này không mấy khi xảy ra với tín đồ Ấn Độ
giáo, lúc Tây Tạng còn có đường biên giới riêng, mỗi năm
họ tổ chức lễ hành hương, một lễ thiêng liêng nhất trong
mọi lễ và chịu tất cả mọi cực hình và hiểm nguy vì
niềm tin của mình. Có những người đủ sức để thuê ngựa
trâu chuyên chở lều chõng, thực phẩm và chịu ngồi trên
lưng ngựa để đi một đoạn đường dài, như thế là cũng
khó nhọc lắm rồi. Thế nhưng những người mà không có gì
khác hơn những gì họ mang vác trên lưng, họ lên đường
mà không có gì bảo vệ chống lại mưa gió và không ngại
cả chết đói hay chết cóng, những người đó đáng cho ta
khâm phục. Họ không ngại sống chết, cướp bóc hay đói
khát vì họ biết cách tự thể nhập mình thống nhất với
sức mạnh thần thánh của vũ trụ. Nhiều người hành hương
như thế đã không bao giờ trả lại quê hương mình; thế
nhưng ai trở về, người đó đã là sự minh chứng lòng nhiệt
thành cao nhất và niềm tin kiên định nhất. Họ trở về
với ánh mắt long lanh, tâm hồn được làm giàu bằng một
sự chứng thực mà suốt đời họ sẽ là nguồn năng lực
và cảm khái, vì họ đã đối diện với cái vô cùng và đã
tận mắt nhìn xứ sở của thánh thần. Ai đã từ đèo Gurla
nhìn thấy vùng Ngân Sơn - Manasarovar, người đó biết nói
như thế là không hề quá đáng. Ngay từ chiều hôm trước,
trước khi người hành hương đến được đèo này thì họ
đã được hưởng được một cảnh quan, nó tới bất ngờ
trực tiếp làm khách ngơ ngác câm lặng vì một hiện tượng
hầu như không thực, vì trước mắt lữ khách bỗng hiện
ra mảnh trăng tròn sáng nằm trên hình mềm mại của dãy núi
- và sau đó người ta mới biết mình nhìn lầm và càng ngạc
nhiên hơn vì sự thực: đó là đỉnh tuyết sáng rực của
Ngân Sơn, hiện lên trên bầu trời xanh thẫm.
Cảnh
quan này thật tuyệt diệu, nó làm khách quên hết lo phiền
và sợ hãi trước đây và chỉ còn trong lòng một ao ước
sớm lên đến đèo để thật sự thấy điều mầu nhiệm
này. Thân họ bước đi như được chắp cánh và mệt mỏi
tan biến. Nhịp điệu cả thần chú sống dậy trong tim và
trên môi nó trở thành khúc ca khải hoàn, còn thức của lữ
khách thì tràn ngập linh ảnh của ngọn núi thiêng Ngân Sơn
mà giờ đây sắp trở thành sự thực. Giờ đây sức mạnh
của cái ác không làm gì được nữa. Không lực lượng nào
của thế gian ngăn được sự chứng thực của một cái thấy.
Khách bỗng nhiên tràn đầy tin tưởng và nội tâm có một
niềm tin sắt đá hầu như được che chở bởi một sức mạnh
thần diệu, mà không năng lực bên ngoài nào có thể hủy
phá.
Trong
tâm trạng này người hành hương đến chặng cuối trước
khi lên đèo. Khách ngủ trong niềm vui đợi chờ, dưới chân
một nhũ băng, từ dó mà hình thành một con súôi nước trong
như pha lê đang tưới cho thảm cỏ non xanh tươi gồm toàn
hoa dại và cây con. Đó là một trạm nghỉ thiên nhiên dành
sẵn mà mọi du khách đều hoan hỉ: có nước trong để uống
và đất mềm nằm giữa những tảng đá và sườn núi che
chắn để nghỉ ngơi; nơi mà ngựa trâu tìm được thức ăn
và có củi đốt cho chỗ nghĩ ấm áp.
Lúc
trời tờ mờ sáng khách đã dậy, ăn nhanh để lấy sức leo
đoạn cuối đèo. Khách vui mừng chào đón một ngày trọng
đại, trong đó mình sẽ bước qua ngưỡng cửa của đất
thiêng và thực hiện nguyện ước lớn nhất đời mình.
Thế
nhưng khi đến đỉnh đèo và đứng trước ngưỡng cửa đó
thì tất cả mọi chờ đợi của khách đều bị vượt xa.
Ai có thể diễn tả được cái vô cùng của không gian bằng
ngôn từ? Ai có thể mô tả một cảnh vật mà bản thân nó
tiêu biểu cho cái vô cùng và thở hít cái vô cùng? Với những
hồ nước xanh, những vùng cỏ lục và những ngọn đồi vàng
bọc xung quanh, trên nền một dãy núi tuyết nằm xa xa, vọt
lên ngay ở giữa là một vòm trắng xóa của Ngân Sơn, viên
ngọc trong tuyết, như người Tây Tạng đặt tên.
Ngọn
núi sừng sững chế ngự cả một vùng không gian của cảnh
vật mà giờ đây nó nằm như trải ra dưới chân của người
chiêm bái. Khoảng trời trong vắt làm cho mắt nhìn xa được
hàng trăm dặm, thấy từng dạng hình, từng màu sắc rất
rõ nét hầu như mắt mình có thêm khả năng hồng ngoại.
Không
có gì để ngờ, đây là một trong những cái nhìn nâng ta
lên tầm cao nhất mà người còn sinh tử có diễm phúc được
hưởng. Nó tràn ngập trong lòng người hành hương với sức
mạnh làm quên mọi hiểm nguy, cái tôi tan biến đâu mất;
vì như trong một giấc mơ, khách đã thành một với linh ảnh
của mình. Khách đã đạt tâm kiên cố của một con người,
biết rằng không có gì có thể xảy ra cho mình, ngoài những
điều từ vô thủy đã thuộc về mình.
Giờ
đây khách không cần ai bảo vệ, vì mình vừa là rồng vừa
là kẻ cưỡi rồng, là kẻ cúng tế vừa là vật tế lễ,
là ma quái vừa là thượng đế. Và khi người hành hương
cúi đầu cho trán đụng đất thiêng và ném vài viên đá vào
những nơi mà người đi trước đã ném thành đống để nói
lên lòng biết ơn và niềm vui mừng, thì niềm mơ ước của
mình nay đã thành sự thực. Khách nhắc lại trong tâm như
lời nguyện cầu: “Mong sao tôi đừng quên phút giây này.
Mong sao nó hiện diện mãi trong tôi”. Và trán khách cứ chạm
đất nhiều lần, khách đi vòng quanh tháp đá, trong đó mỗi
viên là một lời cầu nguyện câm lặng và phước lành của
những người đi trước mà khách hành hương đã nhập một
dòng huynh đệ với những người đó.
Trên
thế giới này có nhiều loại giáo hội tăng đoàn: những
định chế với phép tắc và qui luật, với lễ nghi và giáo
điều, thệ nguyện và quán đảnh. Thế nhưng dòng huynh đệ
thuộc về những ai đã đến Ngân Sơn, người được thử
thách, những người đã chịu khổ nhọc hiểm nguy, là người
đã lãnh được sự xác định cao quý nhất. Mối dây vô hình
nối những người đó lại với nhau không cần có thệ nguyện,
giáo điều và lễ nghi. Nó gồm có một sự chứng nghiệm
chung mà tác động của nó tồn tại lâu dài, mạnh hơn tất
cả những qui định của con người đặt ra.
Dần
dần người hành hương đi vào xứ sở của thánh thần. Khách
không còn là cá nhân đơn độc và sợ hãi của những ngày
trước. Khách biết rằng mình đang cùng ở với số đông
bạn đồng hành vô hình, của người anh em tâm linh, của vô
số những người chiêm bái đi trước và với nhiều ảnh
hưởng tinh tế hình như đang bồng bềnh đâu đây trên cảnh
vật, và theo nhiều truyền thống tôn giáo, được mô tả
là sự hiện diện của thượng đế hay chư Phật, chư Bồ-tát.
Sự
hồi hộp của những ấn tượng to lớn đầu tiên của người
hành hương và khung cảnh xung quanh dần dần nhường chỗ cho
một sự hân hoan thầm lặng. Khi Ngân Sơn, “viên ngọc trong
tuyết” biến mất sau một đám mây mù đã dâng lên cùng
vơi hơi ấm mặt trời thì những vùng hồ thiêng trở thành
đối tượng của người chiêm bái. Người đó ngắm không
biết chán màu xanh rực rỡ của hồ và trò chơi kỳ lạ của
thiên nhiên với những biểu tượng của những truyền thống
xưa; Phía sau là rặng núi hình chữ vạn (chữ vạn là biểu
tượng của sự sáng tạo miên viễn), phía trước là hai cái
hồ, bên trái là hồ Rakastal với hình lưỡi liềm mặt trăng,
bên phải là hồ Manasarovar hình tròn mặt trời và là trú
xứ của thánh thần mang ánh sáng.
Ba
biểu tượng này được hợp chung trong một dấu hiệu mang
phước lành mà ta thấy khắp nơi tại Tây Tạng, trên cửa
nhà hay cổng của các công trình lớn. Hình dáng của nó như
sau:
Dấu
chữ vạn còn được lặp lại ở phía nam của Ngân Sơn. Mới
đầu ta thấy nó như một chữ thập khổng lồ chia đỉnh
tuyết ra làm bốn phần. Khi đến gần ta mới thấy rõ các
nhánh, nhất là các nhánh nằm ngang.
Vài
giờ sau khi qua đèo Gurla, khách hành hương đến được bờ
hồ Manasarovar và sống được cảnh đẹp của buổi hoàng
hôn đầu tiên trên sóng. Gần bờ, màu xanh của hồ biến
dần thành màu lục sáng, giữa hồ thì thành màu xanh đậm.
Những đám mây chiều sáng lên như những ngọn lửa. Chúng
nằm thấp trong bầu trời và đổi hình dạng nhanh chóng trên
mặt hồ. Có khi chúng hầu như nổ tung như pháo hoa và xả
thác nước màu vàng óng trên mặt hồ giờ đây toàn những
sóng màu tím, cũng có lúc chúng vụt bắn lên cao rồi đổ
xuống một trận mưa như có lửa.
Và
trong khi khách hành hương say ngắm nhìn cảnh tượng này thì
thú vật từ đâu kéo tới, ngó nhìn người lạ. Chim chóc
đến gần chân người không biết sợ, loài thỏ chui từ hang
nào ra như chào người chiêm bái, chúng ngồi co hai chân. Cách
đó không xa, từng đàn trâu gặm cỏ yên lành.
Nơi
đây có một qui luật bất thành văn là không ai giết hại
hay làm tổn thương sinh vật và không rõ thú vật có biết
thế hay không, nhưng chúng sống như sống trong thiên đàng
mà con người đã lãng quên từ lâu. Khách hành hương từ
sáng đến bây giờ như trong mộng, bắt đầu hiểu rằng,
nếu có một thiên đàng thì chính là đây.
Theo
niềm tin của người Tây Tạng và được phần lớn khách
hành hương Ấn Độ chia sẻ, loại sói đỏ, nâu và vàng và
một số cá trong hồ, những thứ đó có khả năng huyền bí
để chữa bệnh. Tất nhiên không ai nghĩ đến việc bắt cá
hay loài vịt trời sống khá nhiều tại đó. Thế nhưng có
nhiều trận bão mà sóng đánh mạnh vào bờ đến nỗi có
một số cá bị ném vào bờ, chúng chết khô và được khách
hành hương mang về như một loại thuốc chữa bệnh quí báu.
Các
đồi và cao nguyên quanh hồ một phần được che phủ bởi
những bụi cây thấp và loại cỏ cứng. Hàng ngàn trâu cũng
như dê trừu của người Nomade tìm thấy nơi đây đồng cỏ
yên lành.
Trong
số thảo mộc ở đây cũng có nhiều cây thuốc và một số
khác dùng để làm hương thắp. Tất cả những loại này được
khách chiêm bái là lộc của thánh thần. Có nhiều loại lộc
như thế, mỗi thứ có nơi chốn riêng.
Trong
các loại sỏi của hồ Manasarovar có một loại đỏ đậm,
sờ như lụa và được sóng nước mài mòn và đánh bóng.
Sỏi này không cứng, ta có thể dùng dao cạo ra từng lớp.
Bột đá này được người Tây Tạng trộn chung với sữa
và uống như thuốc tránh bệnh tật.
Phía
đông của hồ, người ta tìm thấy cát quí, nó gồm “năm
chất liệu quí”, tương truyền gồm chất turquis, san hô,
pha lê, vàng và bạc. Dù nó thực sự gồm chất gì đi nữa
thì cát này thật đẹp, lóng lánh nhiều màu. Đặc biệt là
ta chỉ thấy nó trong một đoạn ngắn của bờ hồ phía đông
và nặng hơn cát thường nhiều, mặc dù ngược với mọi
dự đoán, cát này chỉ là một lớp mỏng nằm phía trên.
Phía
tây của hồ Manasarovar, đặc biệt tại thỏm đất hẹp giữa
Manasarovar và Rakastal, có nhiều “cát vàng”. Nó có màu vàng
cam và thực tế cũng có người tìm thấy vàng thật nơi đây.
Khối vàng lớn nhất tìm được là một khối to lớn như
một con chó và chỗ tìm được ngày nay còn có tên là serkyi
(con chó vàng).
Người
Tây Tạng nghĩ rằng - cũng như người Inka cổ tại Peru mà
giữa họ có nhiều điểm giống nhau - nếu vàng tìm được
ở chốn thiêng liêng này thì đó là của thánh thần và không
được sử dụng cho mục đích thế gian, không được thỏa
mãn lòng tham lam của con người. Thế n ên khi tìm được khối
vàng to bằng con chó, không ai dám nhận làm của và gửi về
Lhasa cho Đại lai lạt ma. Khi ông biết rằng khối vàng này
tìm thấy nơi xứ sở của thánh thần, ông liền cho trả lại
và chôn tại chỗ đã tìm thấy. Để nhớ lại “con chó vàng”,
người ta xây một cái đền tại đó và ngày nay chỉ còn
là một ngọn đồi nhỏ.
Lộc
của thiên nhiên cho con người một cách hào phóng là quí báu
hơn vàng; vì nếu không, chính quyền tại Lhasa đã cho đào
vàng tại đó, và biến xứ sở này thành một sào huyệt của
ham muốn và tội lỗi chết người. Và ngay cả kẻ cướp
rình rập trên đường đi tại vùng đất thiêng liêng đó
giả dạnh thành người chiêm bái hay du sĩ thì họ cũng sẽ
từ bỏ chuyện giết chóc, khi họ đối diện với những năng
lực mà bản thân họ, dù không hiểu ngộ, cũng phải tôn
trọng và kính nể.
THÁCH
THỨC LẦN CUỐI
Sau
bao nhiêu tuần gian khổ vượt qua lũng sâu và hẽm núi, qua
những đỉnh cao phủ đầy mây, khách hành hương như được
giải thoát khi thấy mặt nước trải dài, xung quanh là đồng
cỏ xanh rì và đồi con bao bọc, xa xa là các đỉnh núi tuyết
sáng rực trong bầu trời xanh. Khách tràn đầy một cảm giác
an lạc không nói nên lời và sau khi nghỉ, lại lên đường
đi tiếp. Khi thấy khát thì nước hồ thiêng liêng của Manasarovar
sẵn sàng phục hồi lại tinh thần và thể xác cho khách.
Nhờ
các đồi che gió nên mặt trời chiếu rọi với một sức
nóng mùa hạ mà người ta không ngờ nó có trên một độ
cao 5000 met. Chỉ trong bóng mát, khí trời mát lạnh mới làm
ta để ý và cảnh cáo về khả năng xảy ra bão tuyết hay
mưa đá, chúng có thể bất ngờ kéo qua từ các đỉnh tuyết
của Himalaya.
Một
cơn bão tiến đến dần cũng là một cảnh tượng vĩ đại,
mà ngay của khách hành hương dù có bị phiền toái nhưng không
thể không kinh khiếp trước vẻ đẹp uy nghi của sức mạnh
thiên nhiên đang vùng dậy. Khoảng cách không gian như mất
đi để những vật xa nhất cũng tưởng chừng như sờ nắm
được, mặt khác cảm giác bao la vô tận vẫn cứ hiển hiện.
Một
dãy núi cách xa 20 dặm bỗng biến thành sắc xanh và hiện
ra trước mặt người như một làn sóng lớn đen ngòm cách
xa quá năm dặm. Màu xanh đậm của nước hồ Manasarovar bỗng
có sắc đỏ, tiến gần bờ mới có màu lục. Mây kéo nhau
lướt trên mặt nước nổi sóng và chẳng bao lâu sau cả mặt
hồ như một viên ngọc opal, trong đó các sắc màu giành nhau
ngự trị. Mây tràn lên núi, bây giờ núi ẩn trong mây; hình
dáng của núi đã tan trong bóng tối, còn mây hiện hình sắc
nét và mang hình dáng siêu thực trong bầu trời.
Thế
nhưng khách vẫn tiếp tục đi theo hướng đích của mình;
hướng Ngân Sơn giờ thì đã khuất mắt một cách bí ẩn.
Chỉ trong những giờ sáng và tối, đỉnh của nó mới thấy
được, mới không bị mây che, và cứ mỗi sáng mỗi tối,
khách hành hương lại cúi đầu trước đỉnh núi thiêng, miệng
đọc chân ngôn, hô triệu ánh sáng tự thân nằm trong chân
ngôn này.
Khi
đi qua thỏm đất giữa hai hồ, khách nhìn lại lần cuối
hồ Manasarovar đầy nắng và sau đó là đến bờ bắc của
hồ Rakastal. Môt không khí kỳ lạ, bí ẩn hầu như đè nặng
trên sóng nước màu xanh của hồ dài và hẹp, một không khí
của sự cô đơn và buồn bã vô tận, điều mà ta không hề
thấy có ở bờ Manasarovar.
Thật
khó có lời giải thích về chuyện này vì cảnh vật xung quanh
Rakastal cũng không kém xinh đẹp: những ngọn đồi con thoai
thoải màu đỏ nâu hai bên và đỉnh tuyết trắng đầy uy
lực của Gurla-Mandhata cho cái hồ xanh đậm một khung cảnh
đầy màu sắc và ấn tượng. Thế nhưng có một điều gì
u ám đè nặng lên nét xinh đẹp này và chính sự không giải
thích được hiện tượng này mới đáng sợ. Những người
khác chắc hẳn cũng thấy thế nên không ai xây tu viện, thất
độc cư bên bờ hồ, như trường hợp của Manasarovar. Có
những điều bí ẩn mà con người cần khám phá và có những
điều khác con người cần tôn trọng để yên. Rakastal thuộc
về loại sau.
Về
Manasarovar thì người ta đã nói nhiều nhưng hầu như không
ai nói gì về Rakastal. Thế nhưng cũng chính Rakastal là hồ
nhận nước trực tiếp từ Ngân Sơn; ngoài ra, hồ này cũng
thông với nhau bởi một con kênh, nước của hồ Manasarovar
nằm cao hơn khoảng 17m, khi dư, nước chảy qua Rakatal. Người
ta xem đó như một điềm tốt báo hiệu những điều lành
cho thế giới; thế nhưng điều này đã không xảy ra từ nhiều
năm nay. Con kênh đã hầu như khô cạn, khách hành hương có
thể băng qua được. Điều này làm cho người Tây Tạng lo
ngại mấy năm nay và những biến cố xảy ra trong thời gian
qua đã minh chứng sự lo ngại đó.
Bây
giờ khách đã đi qua khoảng bình nguyên rộng nằm giữa bờ
bắc của Rakastal và dễ mến như một thảo nguyên mùahè,
là nơi gặp gỡ của các con đường lữ hành, từ đông sang
tây, từ bắc xuống nam và vì thế là chỗ làm ăn quen thuộc
của giặc cướp và chỗ đánh nhau của các bộ tộc người
Nomade từ miền Tschang-Thang phía bắc. Vùng thảo nguyênnày
cũng bị cắt bởi hàng chục con suối lớn, giữa những con
suối đó là các vùng đầm lầy nguy hiểm, nơi mà khách có
thể sa lầy nếu vội đi tắt, để hy vọng tránh các con đường
bị cướp rình rập.
Khách
hành hương tập trung tâm trí và mắt nhìn lên “bảo ngọc
của tuyết” mà đỉnh tuyết của nó giờ đây nằm ngay trước
mặt, ngự trị một vùng cảnh vật. Sau khi vượt qua con suối
cạn cuối cùng, khách bắt đầu leo dần lên cao nguyên Ngân
Sơn, đỉnh núi tạm biến mất và những chấm trắng của
những lều trại.
Trạm
nghỉ của khách hành hương, thương nhân, hành khất và người
Nomade đón chào khách lữ hành tại một nơi bình an. Thật
là lạ khi thình lình thấy lại xã hội con người và dễ
chịu thay được chất thức ăn vào túi thực phẩm đang ít
ỏi. Thế nhưng lòng của khách vẫn còn ở lại với sự cô
tịch yên tĩnh của thiên đàng vừa rời xa bến bờ Manasarovar,
còn đầu thì hướng về cái sắp đến, được tham dự vào
chốn ẩn mật của Ngân Sơn.
Khách
sống lại sự chờ đợi đầy căng thẳng của đêm mà ngày
hôm sau mình được bước qua ngưỡng cửa của xứ sở thánh
thần tại đèo Gurla. Đồng thời kách cũng biết những ngày
tới đây là lúc thử thách dữ dội sức mạnh và lòng kiên
trì của mình, thể chất cũng như tinh thần.
Không
ai có thể đến gần ngai vàng của thánh thần, hay man-đa-la
hay trú xứ của Shiva hay Demtschog - dù tên gọi là gì của
chốn ẩn mật của thực tại cuối cùng này - mà không đem
đời mình ra để đánh đổi, thậm chí phải chấp nhận đầu
óc mình liệu sẽ còn bình thường hay không. Ai đã thực hiện
nghi thức đi vòng quanh ngọn núi thiêng với lòng tin tưởng
hoàn toàn và tâm thức tập trung, người đó đã đi trọn
một vòng sống chết.
Khách
tiến gần ngọn núi đầy những đụn cát vàng rực ở phía
nam, đó là màu của đoạn đời trung niên, của sự tận hưởng
và ý thức hoàn toàn rõ về sự sống. khách bước qua hướng
tây màu đỏ, đến thung lũng A-Di-Đà trong ánh sáng dịu của
mặt trời sắp lặn, đi qua cánh cửa của thần chết giữa
lũng phía bắc tối đen và phía đông nhiều màu, tức là ngọn
đèo của nữ thần Dolma, “nữ thần từ bi cứu độ”. Và
như người mới lần đầu mở mắt, khách đến thung lung màu
lục của Bất động Như Lai, phía đông của Ngân Sơn, nơi
mà nhà thơ và bậc thánh nổi tiếng Milarepa hát những bài
ca của mình và cũng từ đó mà khách hành hương đến tại
thảo nguyên bát ngát, vùng đất đầy mặt trời của phía
nam, thuộc về Thiền Phật Bảo Sinh mà màu của Ngài là một
sắc vàng chói.
Khách
hành hương, phát xuất từ những đụn cát vàng ở phía nam
bây giờ đã ý thức rằng mình đã đi suốt qua một man-đa-la
vĩ đại, nó được thiên nhiên xây dựng nên như nhờ một
phép lạ một man-đa-la nói với khách bằng hình ảnh và màu
sắc trong ngôn ngữ biểu tượng của thiền định, thứ ngôn
ngữ mà từ xưa con người đã truyền từ đời này qua đời
khác.
Khi
qua thung lũng hẹp phía tây của Ngân Sơn, phía của A-Di-Đà
màu đỏ, khách thấy mình nằm giữa vách đá đỏ rực mà
cấu trúc của nó làm khách tưởng mình như đi giữa những
đền đài khổng lồ, với màng trướng, vách cột. Trên những
cấu trúc đó đỉnh Ngân Sơn trắng xóa bỗng hiện rõ.
Dạng
hình của đỉnh thật hết sức đều đặn, hầu như nó được
đẽo ra từ một tảng băng vĩ đại. Phía tây của đỉnh
là hai hố lõm vào như hai mắt của một chiếc đầu lâu trắng,
nhìn kẻ hành hương phía dưới một cách bí ẩn và nhắc
nhở họ nghĩ đến khía cạnh dữ tợn của Shiva và Demtschog,
cả hai vị đều vốn được trang hoàng bằng đầu lâu và
biểu thị cho trí huệ của tính Không và tính vô thường
của mọi sự.
Tu
sĩ Phật giáo và các vị ẩn cư thiền quán đã xây một tu
viện nhở giữa những vách đá của ngọn núi thiêng này.
Nó trông như một tổ chim treo giữa triền núi. Về hướng
đông bắc, trước lũng là một vách đá cao cả ngàn mét.
Dạng hình của nó giống như một con bò đực, linh vật của
Shiva, đầu của nó hướng về đỉnh Ngân Sơn, dường như
nhìn lại chủ mình một cách tha thiết.
Khi
khách hành hương đến mặt bắc của núi, sắc màu của đá
cũng như cấu trúc địa hình bỗng nhiên thay đổi. Vùng cao
nguyên nơi đây không còn có vẻ kiến tạo rõ nét nữa, thay
vào đó khách sẽ được cái bất ngờ khác; các đồi đá
con thường làm nền cho núi bỗng dạt qua một bên và khách
hành hương đứng ngay sát trước đỉnh Ngân Sơn. Nhìn lên
núi lúc này thật ghê gớm. Theo kinh sách thì đây là nơi cử
hành nghi lễ và các phép thiền quán của những người đã
được ấn khả nhập dòng Mật tông để tán thán “man-đa-la
của an lạc cao quí nhất”.
Ai
đã từng thực hành lễ nghi đó thì không những hưởng phước
lành được đối diện với núi thiêng trong sự uy nghi và
vẻ đẹp của một ngôi đền thiên tạo của sự đối xứng
toàn diện mà còn nhận được linh ảnh và biểu tượng của
vị hộ thần, dù có dạng Shiva và Parvaty hay Demtschog và Dorje-Phagmo,
hay mọi hiện thân của Phật hay Bồ-tát khác, các vị được
xem là liên hệ với cõi xứ và khí lực của vùng này.
Mây
đen và bão tuyết thường che phủ ngọn núi thiêng và khách
hành hương phải đợi cả ngày thiên nhiên phẫn nộ mới
nguôi giận và bức màn của mây mù mới kéo nhau đi. Rồi
ngọn núi bỗng hiện hình trong một sự sáng rõ và thanh tịnh
siêu nhiên, với đỉnh núi trắng xóa, với những tảng băng
loáng màu xanh lục, những hình bóng màu xanh và vách đá đậm
màu đỏ tím, ở những nơi mà băng tuyết không bám giữ được:
một cảnh quan làm mọi ngôn từ đều im bặt.
Ngọn
núi hiện ra gần tới mức mà khách tưởng có thể vươn tay
tới được - đồng thời khách lại có cảm giác đứng trước
một hiện tượng thiện mỹ không thể với tơi, không sờ
mó được, hầu như nó nằm bên kia của thế gian, bên kia
của thực tại vật chất: mỗi ngôi đền thiên giới với
đỉnh vòm bằng pha lê hay kim cương. Và thực tế, cõi xứ
tôn giáo này là một ngôi đền thiên giới, là trú xứ của
thánh thần, là chỗ ngự trị và trung tâm của năng lực vũ
trụ, là chỗ liên hệ ưu việt với chỗ ra vào của năng
lực tâm linh của hành tinh chúng ta.
Những
gì mà khách hành hương thấy bằng mắt trần chỉ là phần
dưới hay một mặt của một cái gì to lớn vĩ đại hơn.
Đối với người Tây Tạng thì ngọn núi này là trú xứ của
hàng ngàn vị Phật Bồ-tát, các vị tỏa ra phước lành và
niềm an lạc và gieo rắc ánh sáng vào tim cho những ai ước
ao được giải thoát khỏi bóng tối vô minh, của thù hận
và tham ái.
Hai
hòn núi nhỏ mà ở giữa là viên ngọc trong tuyết được
xem là trú xứ của Bồ-tát Kim Cương thủ(46) và Văn Thù Sư
Lợi(47). Vị trước là người cầm Kim Cương chử, thần của
Mật tông, người chống lại lực lượng của hắc đạo và
của sự hủy diệt (Kim cương chử là biểu hiện của sự
bất hoại), vị sau là Bồ-tát của trí huệ siêu việt, người
cầm bảo kiếm trí huệ cắt màn vô minh và thành kiến.
Bên
cạnh đỉnh Văn Thù là trú xứ của Quán Thế Âm(48), vị
thần bảo hộ Tây Tạng, còn bên cạnh là Kim cương thủ,
phía đông bắc của Ngân Sơn là trú xứ của Dolma (vị được
sinh ra từ nước mắt của Quán Thế Âm). Các đỉnh này đứng
như hộ thần bảo vệ hai cạnh ngân sơn.
Khi
khách hành hương, với cảm giác của sự hiện diện các sức
mạnh giác ngộ đó, chuẩn bị rời đất thiêng thì toàn bộ
thân tâm mình dường như nằm trong một trạng thái xuất thần
và chuyển biến nội tại. Thế nhưng sự chuyển biến này
không thể toàn triệt được, nếu bao lâu khách còn kéo lê
cái ngã cố hữu của mình. Khách phải đi xuyên qua cổng của
thần chết, trước khi đến lũng của Bất động Như Lai ở
phía đông và phải được tái sinh trong một đời sống mới,
có nghĩa hơn. Đó là thử thách cuối cùng.
Lúc
khách leo lên đỉnh đèo Dolma, đó là nơi tách lũng bắc và
đông, khách đến một nơi treo tấm gương của thần chết,
trong đó mọi hành động trong quá khứ của khách sẽ hiện
lên lại. Tại nơi này khách nằm giữa hai phiến đá như một
người chết. Khách nhắm mắt và chịu nghe phán quyết của
Yanma, đó chính là phán quyết của chính lương tâm mình dang
giữ tấm gương trước mặt. Và trong ý thức đó, khách nhớ
lại tát cả những ai đã chết trước mình và tình thương
của họ đã dành cho mình mà chưa đền đáp được; khách
cầu nguyện cho họ được an lạc, dù nay họ đã được tái
sinh trong dạng hình nào. Thể hiện lòng mong ước, khách để
lại nơi đây biểu tượng hay di vật của cuộc đời thế
gian của họ tại chốn linh thiêng này: một miếng vải, một
nắm tóc, một ít tro thiêu xác hay bất cứ cái gì mà khách
còn giữ lại được để đền đáp lòng yêu thương đó.
Sau
khi đền ơn đáp nghĩa lại quá khứ của mình như thế và
bước qua cổng của thần chết, khách đến ngưỡng cửa của
hai đời sống mới, trên đèo phủ tuyết của vị Dolma) ngay
giữa vách đá và băng tuyết. Người Tây Tạng gọi hồ này
là “hồ đại từ bi”, trong lúc người Ấn Độ giáo gọi
là Gaurikund. Nơi đây khách hành hương được thừa nhận là
sinh vật mới.
Giờ
đây khách đã trải qua thử thách cuối cùng, tất cả gian
khổ và nhọc nhằn đã nằm lại đằng sau. Thế nhưng cũng
có lắm khách bỏ mạng trên đường lên đèo Dolma, trên độ
cao 6000m, một trận bão tuyết trong vài phút có thể hủy một
mạng người, nơi mà mỗi hơi thở được quí trọng như một
giọt nước cam lồ. Dù thế cái chết lúc đó cũng hết đau
xót đối với người hành hương sùng tín nếu có chết trên
đất thiêng, trước mặt thánh thần; vì cái chết sẽ trùng
với giây phút cao trọng nhất của đời khách và sẽ trở
thành chứng thực niềm mơ ước lớn nhất.
Bình
nguyên hiền lành của vị Thiền Phật phía đông của Bất
động Như Lai đón chào người hành hương với thảm cỏ xanh
và suối nước lóng lánh bạc. Như nhắc nhở khách về cuộc
thử thách vừa qua, một tảng đá đứng bên đường xuống
núi, có dạng như một cái rìu. Đó là dấu hiệu của thần
chết, cái rìu của nghiệp lực. Đối với người sùng tín
thì rìu đã mất sự đáng sợ trước lòng từ bi của vị
cứu độ Dolma, vì từ bi mạnh hơn nghiệp chướng; nó rửa
sạch những hành động cũ của chúng ta bằng nước mắt của
lòng từ bi biết thương xót mọi loài hữu tình đang đau khổ.
Khi tham dự vào đau khổ của kẻ khác thì lúc đó không còn
chỗ để đau khổ cho riêng mình và cuối cùng nó dẫn đến
chỗ là ta vượt cái bản ngã nhỏ bé của mình.
Đó
là điều mà Phật cũng như những vị kế thừa, nhất là
vị thánh nhân và nhà thơ Tây Tạng Milarepa đã dạy, mà tại
lũng phía tây này còn nhiều điều sống động về ông, nhất
là trong động Dzundulphug. Trong động này ông đã ca và đã
thiền định và người ta còn chỉ cho khách hành hương dấu
tay trên nóc động, động này đã thành chỗ thiêng liêng bên
cạnh một cái thất nhỏ.
Một
chuyện khác kể về cuộc đọ sức giữa Milarepa và một giáo
sĩ đạo Bưn, đó là một người theo hắc đạo trước khi
Phật giáo du nhập Tây Tạng. Ông thách Milarepa bằng cách nói
rằng mình dùng thần thông mà leo lên đến đỉnh Ngân Sơn
được. Milarepa trả lời mình cũng làm được thế..
“Ta
hãy xem”, nhà huyễn thuật chế nhạo, “ai lên đến đỉnh
trước”, nói xong ông bắt đầu leo.
Khi
đó mặt trời chưa mọc và Milarepa nói muốn ngủ thêm. Nhiều
người ngả về phía Milarepa, chứng kiến cuộc đọ sức,
sợ cho tiếng tăm của Milarepa và khuyên ông hãy chạy theo.
Thế nhưng Milarepa không để ai hăm dọa, ông vẫn ngồi yên
tại chỗ.
Nhà
huyễn thuật đã leo gần tới đỉnh và chế nhạo Milarepa,
vì nghĩ rằng mình đã thắng. Khi đó thì những tia nắng đầu
tiên vừa chiếu đến đỉnh núi. Đây là lúc mà Milarepa chờ
đợi. Nhờ sức mạnh của thiền định, ông trở thành một
với ánh sáng, hình của công xuất hiện trên đỉnh Ngân Sơn.
“Ông
kìa”, ông gọi nhà huyễn thuật đang leo lên, “đừng cố
gắng mất công”. Nhà huyễn thuật sợ mất hồn đánh rơi
chiếc trống phép.
Chiếc
trống lăn xuống núi và cứ mỗi lần và vào vòm băng của
Ngân Sơn, nó lại vang lên một tiếng và để lại vết cắt
trên sườn núi. “Bum, bum, bum” trống vang lên trong tiếng
cười của khán giả. Và đến ngày hôm nay các vết cắt có
hình như bậc cầu thang đó vẫn còn. Chúng nằm trong trục
thẳng đứng của chữ vạn trên sườn phía nam của Ngân Sơn.
Những
câu chuyện đầy hài hước và mang ý nghĩa tâm linh đó đã
vây quanh con người của Milarepa. Thế nhưng ông là một nhân
vật lịch sử với sự duyên dáng hiếm có và thành tựu phi
thường, người đã để lại kho tàng thơ phú lớn nhất Tây
Tạng với “Mười vạn bài ca”. Cuộc đời của ông phải
là cuộc đời kỳ lạ nhất trong số các thánh nhân. Ông là
người đã trải hết những thăng trầm cuộc đời làm người
và sau những cuộc chiến đấu bi thương và đau khổ không
kể xiết, ông đã đạt thành tựu viên mãn. Ông không những
chỉ là người theo Phật, bản thân ông đã chứng Phật quả.
Điều này thật là hệ trọng và phấn khởi vì đời ông
được minh chứng là có thật, dù xung quanh con người ông
đầy những huyền thoại.
Ông
may mắn có một học trò giỏi và thông thái, người đã chép
lại những bài ca và viết tiểu sử của ông. Người đó
tên là Ratschung. Do đó mà gia tài tâm linh của ông được
gìn gữ một cách sinh động và thông qua các vị tổ sư của
phái Kargyutpa (phái chủ trương truyền trực tiếp từ thầy
qua trò) mà truyền cho đời sau. Hai tu viện ở phía đông và
tây của Ngân Sơn thuộc về phái này và là nơi chính thức
giữ kỷ niệm cuộc đời của Milarepa.
Thế
nên mới có chuyện lạ là tín đồ Ấn Độ giáo xem Milarepa
là Shiva; có lẽ do hai vị bên ngoài có vẻ giống nhau vì cả
hai đều được trình bày như người tu khổ hạnh: tóc dài,
thân trắng và gầy còm. Màu thân của Milarepa có khi có nét
xanh vì trong suốt thời gian độc cư ông chỉ ăn một loại
rau gai(49), vì thế da ông mang màu xanh lục. Ông thường nấu
rau trong một nồi đất, nồi này là tài sản duy nhất của
ông. Ngày nọ nồi bị vỡ, thay vì ngồi tiếc cái nồi, ông
hát bài ca;
Chiếc
nồi cũng là thầy,
dạy
qui luậtvô thường.
Nhờ
nó mà ta thoát,
dây
liên hệ cuối cùng.
Ngày
nay điều thú vị là loại rau có gai này được nhiều người
nghèo ưa chuộng, nó mọc khá nhiều trong các lũng quanh Ngân
Sơn.
Thế
nên khách hành hương trên đường đi quanh núi cứ nhớ mãi
Milarepa, nhất là chỗ có rau gai mọc cao, đó là thứ thảo
mộc được trong những vùng đầy đá. Và cũng có nhiều khách
ca lại những bài ca quen thuộc của Milarepa; chúng ca ngợi
sự cô tịch và cuộc đời ẩn, giáo pháp của Đức Phật
và của nhà đại dịch thuật Marpa, người đã đưa Milarepa
vào chốn ẩn mật nhất của Mật tông.
Người
hành hương đến đoạn cuối của lũng phía đông, một vùng
đất huyền thoại của sắc màu. Vài phiến đá đỏ như lửa,
số khác xanh và lục đậm và lại số khác nữa nằm ngay
bên cạnh mang màu da cam hay vàng sáng rực rỡ. Hầu như trước
khi rời Ngân Sơn, khách được các loại đá đủ màu sắc
mê hoặc chào giã từ lần cuối.
Giờ
đây về lại bình nguyên và sau một thời gian ngắn, khách
đến lại điểm xuất phát của chuyến đi vòng quanh núi là
tu viện Tartschen. Khi đi dọc các bức tường đá được xây
bởi hàng ngàn phiến đá theo câu OM MAI PADME HUM - để ca ngợi
Quán Thế Âm, người thể hiện thành viên ngọc sáng trong
tâm mỗi người sùng tín - người hành hương lại cho vào
thêm một viên đá, để cảm tạ tất cả những gì đã gặt
được trong chuyến chiêm bái và để chúc lành cho những ai
sau này sẽ đi bước đường đó:
Sukkhe
bhavatu!
(Cầu
cho tất cả đều an lạc)
MỘT
TU VIỆN ĐẠO BON
Li
và tôi lòng còn tràn ngập hình ảnh của Ngân Sơn, sau một
ngày đường đi về hướng tây thì chúng tôi đến một nơi
mà màu đỏ sậm của cảnh vật cho thấy dường như thiên
nhiên muốn nói điều gì đặc biệt. Thực tế thì đây là
một nơi chốn đặc biệt, chỗ một năm mới hồi sinh một
lần, và là ngày trăng rằm của tháng sáu, đó là lúc mà
cả Tây Tạng cử hành lễ Phật Thích-Ca Mâu-Ni giáng sinh.
Trong dịp này, khách hành hương từ bốn phương lũ lượt
đến đây, vì trong đêm này xảy ra một điều lạ trước
mắt tất cả mọi người: trăng tròn sẽ lên như một vòm
lửa treo trên đỉnh băng của Ngân Sơn và ánh trăng sẽ vẽ
hình ngọn núi thiêng trên đó màu đỏ của sườn núi nằm
nghiêng mà dưới chân sườn đó chính là chỗ mà khách hành
hương tụ tập. Trong phút này trời và đất giao hội, đó
chính là lúc mà các thiên nhân sống trên trú xứ của thánh
thần, theo một nguồn sáng giáng hạ xuống với thế giới
con người. Người ta cho rằng, đây là lúc mà các bậc giáo
giác ngộ và tùy tùng lơ lửng trong ánh trăng, đi từ đỉnh
Ngân Sơn xuống đất và tụ họp trên thảm đất màu đỏ
để ban phước cho những người đang tụ hội bằng sự hiện
diện rực rỡ của mình. Đó là dịp vui của sự gặp gỡ
siêu việt, buổi lễ vũ trụ đích thực, trong đó ánh sáng
là thân xác máu thịt của thánh thần hiện diện và tim người
là bình chứa thiêng liêng để hứng và giữ nó.
Trái
đất, chỗ của “phiên chợ’ này được cử hành, đã được
ban phép và khi chúng tôi cắm lều ngủ ở đó một đêm thì
tâm tư lạ thường của mình đã được thấm nhuần một
cảm giác an bình sâu xa. Ngày hôm sau trước khi rời nơi đó
ra đi, mỗi người chúng tôi mang thêm một nắm đất đỏ
để kỷ niệm nơi chốn thiêng liêng và xem nó như món quà
cuối cùng của Ngân Sơn trao tặng.
Bốn
ngày sau khi rời núi, chúng tôi đến một thung lũng thấp nằm
giữa những vách đá dựng đứng. Mặt lũng phẳng, xanh và
có một dòng suối cạn, đó là đoạn đầu của sông Langtschen-Khambab
uốn lượn quanh vùng đất nhiều bụi cây và cỏ xanh. Khoảng
chiều tối, chúng tôi thấy một tu viện màu trắng, nổi bật
trên nền vách đá đen lỗ chỗ những hang động.
Toàn
bộ cảnh vật này nhắc tôi nhớ đến thung lũng của các
nhà vua Theben tại Ai Cập, với những đền đài hình khối
bên cạnh sông núi vắng bóng thảo mộc. Thế nhưng điều
ngạc nhiên ở đây là các nhà cửa xem ra mới và sạch, sơn
trắng viền đỏ, trông như một pháo đài của một thung lũng
cô đơn không người ở.
Người
hướng đạo của đoàn chúng tôi (với tám con trâu, chúng
tôi phải đem theo lương thực một trăm năm, vì đi qua những
vùng không người ở, khó mua dự trữ) cho biết tu viện này
mới xây lại sau này, vì cách đây vài năm đã bị cướp
bóc và đốt rụi, khi giặc cướp từ Turkestan xâm chiếm.
Người trong tu viện lớp bị giết, lớp bị ngược đãi và
ngay cả tu viện trưởng cũng bị cướp hết áo quần, đánh
đập và bỏ mặc nằm lại không một mảnh vải che thân.
Thế nhưng ông sống sót và trốn về lại các hang động trên
núi trong các cốc thiền định cũ. Sau ngày xây dựng lại
tu viện ông vẫn ở trong cốc.
Chúng
tôi hy vọng kiếm được một chỗ nghỉ thoải mái trong một
tu viện, nhưng thất vọng khi không thấy dấu hiệu nào của
đời sống, cả khi đến gần. Thật là một hiện tượng
hiếm thấy trong một xứ sở mà người ta hay tò mò và một
đoàn người ngựa từ xa đến thường là một biến cố quan
trọng. Một tiếng chó sủa cũng không nghe thấy, điều đó
chỉ có thể có nghĩa là ở đây không có người. Thế nên
chúng tôi cắm lều ngoài khuôn viên tu viện và chuẩn bị
nghỉ tối.
Ngày
hôm sau, chúng tôi cho người hướng đạo lên gặp sư trưởng
để xin đến thăm viếng. Sau khi được nhận lời, chúng tôi
theo một ngõ hẹp đến chân vách đá, leo cầu thang ngược
cho đến một chiếc cửa sập mà khi chúng tôi đến thì nó
được kéo lên cao. Sau vài bậc thang nữa thì chúng tôi ngồi
trong một hang động sáng sủa, đối diện với vị sư trưởng.
Ông ngồi trên cái tòa bọc trong một khung gỗ trang hoàng cẩn
thận. Ghế ngồi này làm ta nhớ đến khung ghế của các người
bảo vệ có cửa sổ phía trước theo kiểu Bắc Phi. Thật
là một sự tương phản kỳ lạ với chỗ ở trong một hang
đá! Vách động được đẽo láng kỹ lưỡng và trình bày
với những bích họa chi li, trên đó có vô số hình tượng
Phật. Thế nhưng nhìn kỹ thì bích họa đó chỉ là giấy
in nhiều màu mà các tấm rời được dán sát với nhau để
vách tường hầu như được dán bởi một tấm duy nhất. Miếng
giấy in này được dán nhiều chỗ, nhưng nhờ lặp lại nhiều
lần nên nét trang trí được tăng lên và cũng gây ấn tượng
của bích họa “Vạn Phật” truyền thống mà ta hay thấy
trong các điện thờ, hang động. Ánh sáng mờ nhạt xuyên qua
cửa sổ của hang cũng làm cho màu sắc thêm hòa hợp, làm
chúng rất giống với các bích họa thật. Vị tu viện trưởng
tuổi trung niên, ăn mặc giản dị, có khuôn mặt thông minh
và thái độ trân trọng.
Sau
khi chào xã giao và uống trà bơ, chúng tôi đi vào chủ đề
chính, đó là việc cần thiết phải có một đoàn tùy tùng
cho đoạn đường tới của chuyến hành trình, vì những người
hiện đi với chúng tôi phải về Purang lại. Chúng tôi đi
gần suốt cả tháng với họ và họ không muốn đi quá những
nơi đã biết. Khắp nơi đều như thế cả và ta buộc phải
thuê từng nhóm người và vật cho từng đoạn hành trình -
tức là một chỗ có người ở qua một chỗ khác. Trong miền
tây Tây Tạng thưa người thì một đoạn như thế kéo dài
vài ngày hay cả tuần, và khi tới nơi thì người và vật
đều rút về ngay, không cần biết người lữ hành có kiếm
được phương tiện mới hay không.
Vị
sư trưởng vui vẻ trả lời chúng tôi rằng ông không thể
kiếm phương tiện chuyên chở và tùy tùng vì mùa này không
thể tìm ra người lẫn trâu. Đến khi chúng tôi lưu ý rằng
mình có lệnh của Lhasa được thuê người và mua thực phẩm
với giá địa phương và cho ông xem giấy xác nhận, thì ông
cười chúng tôi như muốn nói: tất cả đều là trò đùa
vô duyên. Thái độ ông dường như đổi hẳn từ tử tế
qua bất hợp tác. Rõ ràng ông cho chúng tôi thấy ông không
chịu thi hành lệnh của Lhasa. Thái độ chống báng của ông
đối với Lhasa làm chúng tôi bất ngờ vì không thấy có lý
do nào để ông chống đối cả. Chúng tôi nghỉ tốt nhất
là đừng vin vào điều lệnh giấy tờ gì mà hãy kêu gọi
lòng hảo tâm tôn giáo của ông giúp mình trong cảnh khó khăn.
Thế nhưng ông vẫn không mềm lòng và cho hay vài người mà
ông có thể điều động, kể cả trâu bò hiện đang phải
thu hoạch vụ mùa trong các lũng xung quanh, nên không thay đổi
được tình thế.
Chúng
tôi biết rõ là không xin xỏ được gì nên chỉ còn biết
tỏ lòng khâm phục cá tác phẩm nghệ thuật trong động của
ông. Nhân dịp này chúng tôi biết thêm là ông đã nhiều lần
đi Ấn Độ và nhờ in vẽ lại một loạt những bức tranh
tôn giáo của Tây Tạng - chính là những bức chúng tôi thấy
trên vách tường. Trong các dịp này ông cho in một ít kinh
điển quan trọng và cho tôi xem mẫu. Mặc dù tựa đề thì
tôi rõ nhưng trong bài có nhiều danh tánh và thần chú lạ
kỳ, nó làm tôi nghi ngờ không biết có phải kinh sách đạo
Phật hay không. Thế nhưng vì không kiểm tra thêm được nên
tôi nghĩ hay hơn là cứ để như thế và thay vào đó là phát
biểu lòng cảm phục của tôi đối với sự cố gắng của
ông phụng sự đạo pháp và chất lượng của các bản in.
Rõ là ông phải chi nhiều tiền để nhờ làm những thứ này
và tôi không hiểu ông sống trong hang động cô đơn này thì
lấy phương tiện đâu để vừa xây tu viện, vừa làm các
công việc văn hóa và in kinh điển như thế. Chỉ có người
có danh tiếng, với ảnh hưởng rộng rãi mới làm được
điều đó. Nhưng ai là tín đồ, ai là học trò của ông người
ta nói với tôi, ông có vài vị ni sống trong các hang động
xung quanh, ngoài ra không thấy có ai khác. Thế nên chúng tôi
xin phép được thăm tu viện và được chấp nhận. Ông hứa
mở cửa và sẽ có người dẫn chúng tôi đi xem.
Chúng
tôi từ giã ông và trở về lều trại, lúc mà người của
chúng tôi cũng đã xếp dọn và chuẩn bị gấp rút để lên
đường về - hầu như họ sợ chúng tôi bắt phải làm thêm
hay đổ trách nhiệm về an ninh của chúng tôi lên vai họ.
Dù cho được trả thêm tiền họ cũng không chịu ở nên cuối
cùng chúng tôi ở lại một mình giữa các vách đá và tu viện
vắng người. Tình cảnh này thật kỳ quái: một tu viện rộng
rãi, xây dựng vững chắc mà không có bóng người - chỉ vị
sư trưởng và vài ni cô chôn mình trong động, khắp nơi chẳng
ai có thể cho chúng tôi vài lời khuyên hay giúp đỡ điều
gì! Và điều lạ hơn là, vị sư trưởng chẳng cho chúng tôi
ở tạm trong một cái phòng nào đó, mặc dù ông biết chúng
tôi là khách hành hương Phật giáo - hay chính đó là lý do
mà chúng tôi không được ở?
Ngày
hôm sau người bảo vệ tu viện đến lều kiếm chúng tôi
và dù hơi ngại bỏ lều trống, cuối cùng chúng tôi cũng
đi vì nghĩ rằng trong vùng không người ở này chắc không
ai trộm thực phẩm hay các thứ khác.
Khi
đến gần tu viện, chúng tôi thấy trước khuôn viên một
căn nhà thấp, dài, có nhiều phòng nhỏ. Nếu theo vị trí,
tức là trước mặt chính của viện, thì đây phải là một
chỗ thiêng liêng nằm ngoài khuôn viên, để đi vòng tròn theo
nghi lễ, mà thường người ta xây thành một bức tường hay
một tháp nhỏ. Chúng tôi ngạc nhiên được nghe đó chỉ là
nhà vệ sinh tắm rửa, dành cho những người hành hương ở
xa đến trong các dịp lễ. Đây hiển nhiên là một cái gì
đáng ca ngợi và cho thấy vị sư trưởng đánh giá cao sự
vệ sinh thân thể. Thế nhưng chúng tôi vẫn không hiểu tại
sao nhà này lại nằm trước cổng chính của tu viện. Hay nó
là một biểu tượng để nói lên sự sạch sẽ cũng chính
là sự thiêng liêng?
Chúng
tôi càng ngạc nhiên hơn khi thấy người bảo vệ đưa chúng
tôi đi quanh tu viện ngược chiều kim đồng hồ, điều mà
tại cả Tây Tạng cũng không bao giờ có, nếu không muốn
nói đó là sự nhục mà một thánh địa.
Vì
chỉ người theo đạo Bưn mới đi vòng quanh đền, một kiến
trúc tôn giáo hay một thánh địa(thí dụ Ngân Sơn) ngược
chiều kim đồng hồ; chúng tôi càng nghỉ rằng, vị sư trưởng
không phải là Phật tử mà là tín đồ đạo Bưn. Khi vào
chánh điện thì không còn nghi ngờ gì nữa, vì tất cả những
gì thấy ở đây đều ngược lại hay sự bóp méo truyền
thống đạo Phật. Thí dụ hình chữ vạn của đạo Bưn hướng
về phía bên trái, trong lúc đạo Phật hướng về phía phải.
Mặt
khác, tín đồ đạo Bưn hình như bắt chước mọi tính chất
tiêu biểu của hình tượng đạo Phật. Họ có riêng các vị
Phật và Bồ-tát, các vị hộ pháp riêng cũng với hình tượng
phẫn nộ, các vị thiên thần, địa thần riêng, tên các vị
đó khác với tên các vị trong đạo Phật, mặc dù hình dáng
bên ngoài không khác bao nhiêu. Điều đó cũng đúng cho kinh
sách của đạo Bưn. Không nhiều thì ít, các sách đó bắt
chước kinh sách của đạo Phật và thậm chí có cùng tên
(thí dụ kinh sách Bát Nhã), nhưng tín dồ đạo Bưn đề tên
tác giả khác, cho nó có một khung cảnh hay nền tảng và thần
chú khác; thí dụ thay vì OM MANIPADME HUM thì họ gọi là OM
MATRI MUYSALEDU. Gốc các vị thần chính của đạo Bưn là hiện
thân của không gian, của ánh sáng, của sự vô tận và của
sự thanh tịnh và vì thế mà cũng dễ đồng hóa các vị ấy
với hình ảnh cá vị Thiền Phật và Bồ-tát và dễ tiếp
nhận toàn bộ các biểu tượng của truyền thống Phật giáo,
như tòa sen, vật cưỡi, ấn quyết, màu sắc của thân; các
đàn tràng hay pháp khí như kim cương chử và chuông, lưỡi
kiếm và đao trừ tà, cung tên, vũ khí, sọ người, và dao
làm phép. Ảnh hưởng của đạo Phật lên đạo Bưn thật
to lớn, để đạo này chỉ tồn tại được nếu họ tiếp
nhận phương pháp Phật giáo về phân loại và trình bày cũng
như cho giáo pháp Phật giáo về phần loại và trình bày những
như cho giáo pháp mình một cái áo gồm những từ ngữ Phật
giáo. Cái còn lại của ngày hôm nay, Bưn chỉ là tiếng vang
của đạo Phật hay một nhánh của lạt ma giáo. Hình như đây
cũng là suy nghĩ của người Tây Tạng chất phác, vì như chúng
tôi đã quan sát, thái độ của những bạn đồng hành, họ
không hề để ý đây không phải là một tu viện Phật giáo.
Họ chỉ xem đây là một nhánh của Phật giáo, khác với trường
phái quen thuộc chỉ ở bên ngoài. Đó cũng là một lý do ngăn
cản chúng tôi lúc đầu không nghĩ đó là tu viện của Bưn,
mặc dù nó nằm trong tỉnh Schang- Schung, là cái nôi của đạo
Bưn.
Trước
khi đi vào chánh điện, chúng tôi quan sát vòng tử sinh quen
thuộc đặt trong tiền sảnh, dưới các bích họa. Thế nhưng
thay vì mười hai hình thông thường vẽ mười hai khâu trong
“thập nhị nhân duyên”, chúng tôi thấy mười ba hình. Hình
thứ mười ba vẽ tình trạng nhập định của một hình tượng
Phật, hình này được chen vào giữ cảnh sinh và tái sinh.
Khi
vào chính điện, chúng tôi nghĩ mình sẽ thấy hình tượng
thờ cúng quan trọng nhất. Nhưng trước mắt là một bức
tường trống, ở giữa là tòa của vị sư trưởng. Bức tường
này không chiếm hết bề ngang của điện, để hai bên hai
lối đi, dẫn đến một hành lang trên đó là các vị Thiền
Phật. Và những ấn quyết của các tượng này không phù hợp
với màu sắc truyền thống và các linh vật tiêu biểu cũng
không khớp với các tòa sen cũng như các pháp khí. Thí dụ
một hình tượng giống A-Di-Đà có thân trắng thay vì thân
đỏ; tượng ngồi trên voi thay vì tòa sen có hình con công
và mang tên Shenlha Okar, “Thần Shen của ánh sáng’. Để nhìn
tượng được rõ, chúng tôi phải nghiêng người ra sau vì
hành lang quá hẹp. Chúng tôi không rõ tại sao người ta lại
tách những tượng này ra khỏi chính điện và nằm sau lưng
tòa của sư trưởng. Cũng còn nhiều điều khó hiểu khác
mà chúng tôi không tìm hiểu thêm, trừ phi chúng tôi bị buộc
phải ở lâu nơi đây, điều mà chúng tôi cũng không muốn.
Thế
nhưng chúng tôi khâm phục sự sạch sẽ và kiên cố của điện,
nó có tính chất vững chãi của một pháo đài và phản ảnh
kế hoạch cũng như hành động của một đầu óc thông minh,
rành mạch. Động cơ nào đã thúc vị sư trưởng xây dựng
lại tu viện này, trong lúc không có ai ở và bản thân ông
cũng ở lại trong động? Ai là tín đồ hỗ trợ cho một tu
viện nằm trong một lũng chơ vơ thế này? Trên đường trở
lại lều, chúng tôi nghĩ mãi về những điều này. Vừa đến
gần nơi thì chúng tôi thấy một con chó từ lều nhảy ra.
Thức ăn mà chúng tôi chuẩn bị cho cả ngày đã bị biến
mất! Kể từ đó lúc nào chúng tôi cũng phải có người trông
lều. Mặc dù điều này rất hạn chế vì chúng tôi không
còn đi chung với nhau được, nhưng cũng may vẫn tìm thấy
gần lều nhiều cảnh vật để vẽ và chụp hình. Chúng tôi
bắt đầu lo ngại không biết mình phải ở đâybao lâu, vì
không thể phí thời gian và thực phẩm quí báu được mà
phải tới gần được mục đích chính của chuyến đi; cung
điện hoang phế Tsaparang và đền của Rintschen-Sangpo. Chúng
tôi trải qua một năm tại miền trung Tây Tạng chỉ để xin
cơ quan trung ương cho đi nghiên cứu đền và tu viện Rintschen-Sangpo
của thế kỷ thứ 10, 11 (khoảng giữa năm 950 và 1050). Thật
cần thiết phải làm được càng nhiều việc càng tốt trước
mùa đông - và nhất là trước mọi biến cố chính trị có
thể đe dọa kế hoạch của chúng tôi.
Cuối
cùng sự kiên nhẫn của chúng tôi được đáp, vị tu viện
trưởng đến lều thăm chúng tôi. Chúng tôi vui mừng chào
hỏi ông, còn ông bổng nhiên biến thành một con người khác.
Sự dè dặt cao ngạo và nụ cười giễu cợt khi thấy quyết
định của chính quyền và nghe yêu cầu của chúng tôi đã
nhường chỗ cho một khuôn mặt thân thiện và sự chia sẻ
khó khăn. Chúng tôi nhấn mạnh lại lần nữa và phụ thuộc
vào hảo tâm của ông và sẽ hết sức biết ơn những gì
ông giúp. Chúng tôi không nhắc gì nữa về chính quyền Lhasa
hay quyết định nọ và thay vào đó là lời khâm phục tu viện
của ông. Những lời của chúng tôi xem ra làm ông vui lòng
và đổi ý vì bây giờ ông hứa sẽ tìm cho một ít trâu bò
và người hướng dẫn đưa chúng tôi qua đoạn đường khó
trước mặt. Dựa trên bản đồ, chúng tôi nghĩ cứ đi theo
bình nguyên dọc sông Langtschen-Khambab, theo thảm có xanh mà
đi là khỏe nhất như trong những ngày trước khi tới đây.
Thế nhưng vị sư trưởng giải thích, con sông chảy qua một
khe núi sâu khó đi, nên nếu theo dòng mà đi, chúng tôi phải
vượt qua vô số hẽm núi sâu mà nước ở đó chỉ với một
trận dông sẽ trở thành thác ngay. Vì thế ông khuyên chúng
tôi nên đi dọc cao nguyên của dãy núi phía bắc, đó là núi
cắt lũng Gartok khỏi lũng Langtschen-Khambab. Vậy là chúng tôi
phải bỏ kế hoạch thăm vài tu viện cổ ở Schang-Schung, điều
đáng tiếc vì hy vọng tìm thấy ở dó thêm thông tin về nguồn
gốc đạo Bưn. Nhưng vì sợ phải ở lâu và chần chờ thêm,
chúng tôi bỏ ý định đó và nghe lời vị sư trưởng. Cách
này cũng có thêm thuận lợi là chúng tôi sẽ bớt phải thay
đổi đoàn tùy tùng.
Vị
sư trưởng giữ lời và hôm sau hai người đàn ông đến,
mang theo trâu và xin làm với chúng tôi. Hai người đó xem ra
đã già yếu, cả hai đều đi cà nhắc. Họ cho hay những người
trẻ đều bận gặt hái cả và bản thân họ lúc đầu cũng
ngần ngừ nhưng cuối cùng nể lời vị tu sĩ mà đến. Sau
khi xem xét hành lý để biết cần bao nhiêu trâu, cuối cùng
chúng tôi đồng ý giá cả, mặc dù cao hơn nhiều so với dự
tính.
Ngày
hôm sau công tác lên đường và mừng vì lại được ra đi.
Suốt ngày hôm đó chúng tôi đi ngược dốc đá, không có
đường sá gì cả. Hai cụ già đi cà nhắc chậm chạp phía
trước, thỉnh thoảng bàn tán gì với nhau; hình như họ không
biết rõ phương hướng gì lắm. Đến tối, chúng tôi tới
một vùng cao nguyên mênh mông chập chùng, đây đó là những
tảng đá rất lớn, hầu như những người khổng lồ đã
dùng chúng để ném chọi lẫn nhau. Nơi đây cảnh vật không
có chỗ nào đặc biệt để có thể ghi nhận hay định hướng
trong một vùng rộng mênh mông đơn điệu và sau đó chúng
tôi mới biết là những người hướng dẫn đường cũng không
biết tí gì. Tất cả chúng tôi đều mệt lã người vì leo
quá cao và tình trạng này còn khó thêm vì hiện đang ở độ
cao 5000m và sẽ không cắm lều trại gì được nếu không
kiếm ra chỗ có nước. Nhìn quanh xem ra không có dấu hiệu
của sông suối cả.
Sau
đó một du sĩ và một cô bé ăn xin chừng 12 tuổi nhập bọn
cùng chúng tôi. Cô tự nhận là một nữ tu nhưng hình như
chỉ đến để có thức ăn và lửa trại ấm áp cùng chúng
tôi. Trời đã chuyển lạnh tê tái nhưng không có góc đá
kín gió lẫn chút củi khô nào. Cổ họng chúng tôi khô kiệt
sau khi leo núi trong mặt trời chói chang mà chỉ khi buổi sáng
mới giảm sức nóng.
Về
hướng đông chúng tôi còn cảm thấy lần cuối đỉnh tuyết
trắng xóa của Ngân Sơn, phía nam lấp lánh các đỉnh tuyết
của Himalaya. Ở giữa là đỉnh Kang-men, như một Ngân Sơn
thứ hai, ngọn núi thiêng của Phật Menla, vị dược sư và
người cứu độ. Thật là hũng vĩ được thấy cái đẹp
làm ta choáng ngợp, nó cho tôi cảm giác được bơi lội trên
biển cả chập chùng những đá.
Chúng
tôi quá mệt mỏi để thưởng ngoạn cảnh quan này và cuối
cùng khi kiếm ra một rãnh nước dưới một đống dá ngổn
ngang thì hầu như hết sức mà dựng lều, nấu trà và ăn
một ít lương khô mà tối hôm qua chuẩn bị sẵn. Li bị sốt
không ăn được gì nhiều và đến khuya chúng tôi run lên vì
lạnh, dù đã mặc bao nhiêu lớp áo và đắp đủ thứ mền.
Nước mà chúng tôi lấy sẵn trong một cái bát cho ngày hôm
sau bây giờ đã đóng băng cứng và bình nước chứa nước
thiêng của hồ Manasarovar đã bị vỡ! Đây là mùi vị đầu
tiên của mùa đông đang đợi chúng tôi, nếu chúng tôi không
chịu gấp rút.
Các
người tùy tùng, vị tu sĩ và cô bé ăn xin xem ra không khổ
sở lắm vì cái lạnh, mặc dù họ không có lều và mền ấm.
Chúng tôi chỉ biết ngạc nhiên khâm phục. Khi mặt trời lên,
vị tu sĩ cúng nước và đèn buổi sáng; song song, ông đọc
lời nguyện cầu và chúc lành cho mọi sinh vật. Khi tiếng
chuông của ông vang lên trong gió lạnh buổi sớm và mặt trời
huy hoàng vượt qua đỉnh núi thì chúng tôi cũng quên cảnh
khổ tối hôm trước và lòng tràn đầy niềm vui của một
ngày mới.
THUNG
LŨNG DAWA-DSONG
Vài
ngày sau khi từ vùng cao nguyên vắng người xuống được cổng
đá của Kodschomor, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm với ý nghĩ,
được bỏ vùng hoang vu cô quạnh để đến bình nguyên ấm
áp. Nhìn xuống vùng lũng thấp uốn lượn nhẹ nhàng mà phía
nam giáp với dãy núi tuyết Himalaya, công tác nghĩ bây giờ
sẽ đi dọc được theo sông Langtschen mà không trở ngại gì.
Tưởng đã đến lũng, nào ngờ chúng tôi thấy mình đứng
bên bờ một cao nguyên và nhìn thấy phía dưới chằng chịt
những suối, chiều cao hẳn cũng cả ngàn mét. Hầu như chúng
tôi đến chỗ chân trời cuối đất và thấy không có cách
nào hơn là phải quay trở lại; vì làm sao chúng tôi có thể
xuống núi với trâu và ngựa nặng nề, dốc núi gần như
thẳng đứng và sâu tới mức không thấy đáy? Và làm sao
chúng tôi vượt qua khỏi mê hồn trận này, chập chùng chân
trời rồi lại chân trời, đi hàng ngày thậm chí hàng tuần
không hết?
Chúng
tôi vừa tự nhủ như thế thì những con trâu đầu tiên cùng
người hướng đạo đã biến mất sau một hẽm núi, như bị
trái đất nuốt chửng. Đó là một con đường hẹp mà chỉ
người lữ hành có kinh nghiệm mới biết, nó dẫn qua các
khe đá để đi vào một thế giới riêng. Thế nhưng cả con
đường khó biết này cũng bổng biến sau đống đá vụn hay
triền cát mà trên triền đó nguyên đoàn lữ hành kể cả
trâu ngựa trượt dài xuống dưới với hy vọng sẽ dừng
lại kịp thời trước khi một vách đá thẳng đứng xuất
hiện. Khổ thay cho những ai phải vượt qua vùng này mà không
ccó người biết đường hướng dẫn! Ngay của khi may mắn
xuống tới được những dòng suối mà không mất mạng thì
mất hành lý hay bị gãy tay gãy chân, thì việc đó ra khỏi
lũng sâu đó còn khó nhiều hơn.