Giai
đoạn mới: Adscho Rimpotsché
Câu
chuyện tại Dungkar Gompa
Hai
vị thành tựu giả ở Tse-Tscholing
Cuộc
gặp gỡ thoáng qua với Tomo Ghe'sche'
Các
cuộc biểu diễn huyền bí
Buổi
vấn linh chính thống tại Netschung
Buổi
vấn linh tại Dungkar Gompa
Cuộc
đời của một tu sĩ vấn linh
Huyễn
thuật của người Tây Tạng
PHẦN
THỨ TƯ
MIỀN
NAM & TRUNG TÂY TẠNG
GIAI
ĐOẠN MỚI: ADSCHO RIMPOTSCHÉ
Kể
từ chuyến đi lên vùng cao nguyên miền tây Tây Tạng và Ladakh
mà từ đó tôi mang về lại toàn thể hình ảnh của tám mươi
bốn vị Thành tựu giả (Siddha) và một số lớn bản sao các
bích họa trong các đền thờ thì tôi quan tâm về đạo lộ
huyền bí của các vị tất địa, về giáo pháp và cuộc đời
của họ, có phần lịch sử, có phần huyền hoặc cũng như
hình tượng của họ, mối quan tâm đó ngày càng lớn. Với
mối quan tâm đó, tôi quyết định đi thăm đền của vị
Rintschen Sangpo tại vương quốc Guge ngày nay đã hoang phế,
vì tôi hy vọng sẽ tìm thấy những gì còn sót lại của truyền
thống tâm linh cũ nhất và cũng hoàn hảo nhất của nghệ
thuật tôn giáo Tây Tạng.
Kể
từ ngày xuất hiện linh ảnh trong đến núi đá trên đường
đi Tschang-Thang đến nay thì sáu năm đã trôi qua - đó là một
biến cố đã mở mắt cho tôi về ý nghĩa phi thường của
những linh ảnh đầy sáng tạo và vai trò của nghệ thuật
trong tôn giáo, nó vượt lên giá trị thiện mỹ thông thường,
nó ẩn chứa cái chìa khóa mở ra cho chúng ta thấy các man-đa-la,
mở ra các linh ảnh và cả toàn bộ phép tu thiền định cũng
như mỗi song hành giữa thế giới nội tại của con người
với vũ trụ xung quanh.
Tôi
dùng sáu năm đó để nghiên cứu đời sống tâm linh và kinh
sách Tây Tạng và để sưu tầm tất cả thông tin về hoạt
động của Rintscheen Sangpo cũng như vài trò của ông trong việc
thiết lập và củng cố Phật giáo tại miền tây Tây Tạng
bị điêu tàn sau thời Langdarma. Thế nhưng lúc chuẩn bị chuyến
viếng thăm lại tây Tây Tạng thì chiến tránh thế giới lần
thứ hai nổ ra và hủy tất cả hy vọng thực hiện kế hoạch
của tôi.
Tsaparang
trở nên một cái đích hầu như không thể đạt tới đối
với tôi. Trong thời gian đó thì tôi tìm được nơi Li Gotami
- người bạn đồng hành trong kế hoạch của mình, người
đàn bà quyết định cùng chia sẻ công việc và cuộc đời
với tôi, trên cơ sở mục đích tâm linh và nghệ thuật chung
cũng như quan tâm đặc biệt của Li về nghệ thuật Tây Tạng.
Chúng tôi làm quen với Rabindranath Tagore(37) trong viện đại
học quốc tế Santinikentan tại Bengal, nơi tôi làm giảng viên
cho lớp cao học và cũng là nơi Li Gotami trải qua mười hai
năm nghiên cứu nghệ thuật Ấn Độ (lúc đầu với Nandal
Bose và về sau với Rabindranath Tagore) và học được nghệ
thuật làm bích họa cũng như tranh thanka của nghệ nhân Tây
Tạng. Tôi đưa Li vào các chi tiết của hình tượng cũng như
thế giới quan Tây Tạng và cuối cùng Li cùng tôi thọ giới
phái Kargyutpa, trở thành vợ tôi và là bạn đồng tu. Hình
như Tomo Géché Rimpotsché đã biết trước điều này vì ông
đã ban phép cho Li trong lần gặp cuối cùng tại Sarnath và
khi nghe Li hỏi liệu có thành công lớn nếu dâng hiến đời
cho phương pháp.
Lễ
cưới tôn giáo của chúng tôi được chủ trì bởi Adscho Rimpotsché(38),
ông là tu viện trưởng của Tsé-Tscholing. Một vị lạt ma
thân thiết lâu năm với tôi khuyên tôi nên cầu thỉnh đến
Adscho, lúc đó Adscho đã tám mươi bốn tuổi và là một đại
sư trong phép tu thiền định. Niềm tôn kính ông ở miền nam
Tây Tạng cũng như tại Bhutan và Sikkim được thể hiện bằng
một ngôi đền hai tầng tuyệt đẹp xây nên do sự cúng dường
của tín đồ. Mặc dù trong tay ông là những số tiền khổng
lồ cho tòa nhà, tranh tượng cũng như mua thỉnh nhiều kinh
sách và trang thanka quí giá, ông không có tài sản cá nhân
nào cả và sống hết sức đạm bạc trong một căn nhà gỗ
nhỏ dưới chân đền.
Cũng
như các vị lạt ma tại Latchen và các vị tất địa trước
mình, ông là người có gia đình. Vợ ông là một người Damema
đích thực, một con người vị tha, như vợ của Marpa. Bà
là mẹ của tất cả những ai nằm trong vòng quen biết của
bà và của chồng bà, nhất là đệ tử của ông. Adscho Rimpotsché
là hiện thân của vị tất địa Dombhi-Beruka vào thế kỷ
thứ tám sau Công nguyên, người đã từ bỏ ngôi vua để sống
cuộc đời thiền định trong sự cô tịch của rừng núi,
nơi mà sau nhiều năm tinh tấn giác ngộ và trở thành một
vị tất địa. Sau khi chứng ngộ, ông trở lại với quần
thần và trở thành vị nhà lãnh đạo tâm linh, là tấm gương
sinh động của sự chứng thực của con người và phụng sự
cho chúng sinh. Được nhận phước lành của một người như
thế va được ông khai thị cho các phép thiền định và ấn
quán đặc biệt, đối với chúng tôi là một biến cố, thêm
sức mạnh cho đời sống tâm linh của mình.
Sau
Tomo Géché Rimpotsché, không có sự tiếp nối nào hoàn hảo
hơn, để có thể hướng dẫn và cảm khái chúng tôi. Thậm
chí tôi thấy rằng, tất cả những lần quán đỉnh vào các
phép thiền định và giáo pháp của Kim cương thừa mà chúng
tôi nhận được trong hai năm sau đó từ những lần đi hành
hương tại miền nam, trung và tây Tây Tạng, chúng không những
chỉ có liên hệ với nhau, mà nằm trong một man-da-la hoàn
hảo. Nằm trong một “vòng tròn huyền bí”, trong đó chứa
đựng tất cả khía cạnh quan trọng của đời sống tâm linh
Tây Tạng.
Điều
kỳ lạ là trong thời gian ở Yiga Tscholing tôi được một
người bạn gốc Sikkim tặng cho một bức tranh thanka vẽ một
đồ hình man-đa-la: Phật Thích-Ca Mâu-Ni ở giữa, phía trên
là A-Di-Đà, hiện thân của Vô lượng quang, phía dưới là
Liên Hoa Sinh, người giảng Tử Thư (Bardo Thodol) và giáo pháp
huyền bí “đạo lộ trực tiếp”. Hai góc phía trên một
bên là Văn Thù, hiện thân của trí huệ siêu việt và góc
kia là thần Tara, nữ thần giải thoát, hiện thân của tình
thương từ mẫu, mặt bổ túc của trí huệ siêu việt của
Văn Thù. Hai góc kia, một bên là Quán Thế Âm, hiện thân của
lòng từ bi và tâm sẵn sàng cứu độ, còn góc kia là Kim cương
thủ, người giữ Kim cương chử của sức mạnh tâm linh và
của giáo lý bí truyền.
Ý
nghĩa sâu kín của bức thanka được trình bày qua vị trí
của các hình. Nó là then chốt mở cánh cửa của đạo lộ
thiền định mà man-đa-la chứa đựng. Không có nó thì các
hình ảnh chỉ là những biểu tượng chết cứng chứ không
phải là bảng chỉ đường dẫn lối cho hoạt động tâm linh
trên đường giác ngộ.
A-Di-Đà,
Thích-Ca Mâu-Ni và Liên Hoa Sinh đại diện cho sự giáng hiện
của nguyên lý tâm linh xuất hiện từ pháp thân thường trụ,
biến thành dạng xuất hiện nhất thời của Ứng thân, trong
dạng của Đức Phật lịch sử và người đại diện vĩ đại
của Ngài, người đưa đạo Phật đến Tây Tạng vào thế
kỷ thứ tám.
Trục
trung tâm của sự giáng hiện tâm linh và thứ tự thời gian
nằm thẳng đứng trên bình diện phi thời gian (vì luôn luôn
hiện diện) của bình diện tâm linh. Từ nơi đây pháp thân
tùy theo tính chất của Phật quả, tách ra: tương tự như
một lăng kính trong đó một tia sáng tách ra nhiều màu khác
nhau. Nơi đây là chỗ sinh ra các hình ảnh uyên nguyên của
phép thiền định: nó trình bày những thân khác nhau tùy theo
tính chất của kẻ giác ngộ. Báo thân chỉ là thân hữu sắc
nhưng phi thời gian và phi vật chất, đó là thân nằm giữa
pháp thân, vô sắc, phi thời gian và ứng thân, đó là thân
vừa thân vật chất (thân người) vừa phi vật chất (một
dạng xuất hiện thấy được của thiên nhân giáng thế).
Trong
man-đa-la này của chúng ta thì các báo thân chính là bốn góc
của hình vuông (hay bốn cánh của một hoa sen), mà đường
chéo của nó cắt nhau tại chỗ Thích-Ca Mâu-Ni, điều đó
nói lên các tính chất của những báo thân đó hội tụ trong
Ngài.
Nếu
hai đường chéo của hình vuông nối hai hình lại với nhau
trong một nguyên lý như nhau, thì những đường ngang và dọc
của hình vuông báo thân nối lại những hình mà chúng có
tính chất đối lẫn nhau; vì theo quan điểm Phật giáo thì
sự thăng bằng tâm linh là điều kiện tiên quyết của giác
ngộ. Nếu chỉ thuần trí huệ hay thuần từ bi cũng không
dẫn đến giải thoát. Trí huệ thiếu từ bi sẽ dẫn đến
sự khô cứng, từ bi thiếu trí huệ sẽ dẫn đến sự tan
rã. Chỉ nơi mà tim và óc hợp lại thì mới có giải thoát
đích thực. Trong thuật ngữ Phật giáo thì Bát Nhã (prana,
trí huệ, tri kiến) và phương tiện (upaya), phương cách để
tỏ lộ những gì tri kiến như lòng từ, lòng bi, hai mặt đó
phải thăng bằng với nhau. Nói cách khác: sự thống nhất
của nguyên lý nhận thức và nguyên lý cảm xúc, giữa Logos
và Ethos, giữa tư duy và hành động, giữa tính chất lý trí
và cảm xúc, giữa hiểu biết và hành động… là cần thiết
để chứng thực cái cao nhất mà con người đủ sức đạt
tới. Thế nên các đường nằm ngang phía trên thể hiện như
sau;
- (trái)
Văn Thù, nguyên lý nhận thức với kinh trí huệ siêu việt
ở tay trái (thụ động), với lưỡi kiếm của trí huệ phân
biệt ở tay phải (chủ động).
- (phải)
Tara, lòng cứu độ từ mẫu, người giải thoát hiểm nguy,
nguyên lý cảm xúc.
Đường
ngang phía dưới;
- (trái)
Quán Thế Âm, thể hiện lòng từ bi, nguyên lý dương - chủ
động cảm xúc; và ngược là với Quán Thế Âm là
- (phải)
Kim cương thủ, khía cạnh mạnh của Bát Nhã.
Sự
đối cực tương tự được nhắc lại trong đường thẳng
đứng của hình vuông báo thân:
- (trái)
phía trên là Văn Thù, là khía cạnh trí huệ và Quán Thế
Âm (dưới) là khía cạnh từ bi của Phật tính.
- (phải)
phía trên là Tara, là khía cạnh cảm xúc và Kim cương thủ
(dưới) là khía cạnh sức mạnh của nguyên lý nhận thức.
Tất
cả những tính chất của hình vuông báo thân đều được
biểu hiện trong dạng ứng thân của Phật Thích-Ca Mâu-Ni và
cũng trong người kế vị là Liên Hoa Sinh. Thế nhưng nếu trong
Thích-Ca Mâu-Ni, dạng trí huệ của Văn Thù và khía cạnh bổ
sung là lòng từ bi mẫu tử (như trong kinh Từ Bi thể hiện)
được nhấn mạnh thì với Liên Hoa Sinh, khí cạnh uy lực
của nhận thức mật điển và lòng từ bi cứu độ mọi loài
của Quán Thế Âm Bồ-tát là chủ yếu. Để bày tỏ mối
liên hệ này, Văn Thù và Tara được để trên cao tả hữu
của Thích-Ca Mâu-Ni, trong lúc Quán Thế Âm và Kim cương thủ
nằm bên tả hữu của Liên Hoa Sinh.
Cũng
như vị Phật Thích-Ca Mâu-Ni, người được xem là bổn sư
của thời đại chúng ta, nằm trong trung tâm của thanka thì
vị đạo sư luôn luôn nằm trong tim của người trò, vì giữa
cá vị thầy đích thực không bao giờ có sự cạnh tranh -
cũng như không bao giờ có sự cạnh tranh giữa các khía cạnh
của sự thực. Mỗi vị thầy chỉ có thể đáp ứng những
gì bản thân ông đã chứng thực, điều mà ông đã hiện
thân nơi chính con người mình. Không có vị thầy riêng lẻ
nào có thể tận dụng hết mọi khía cạnh của thực tại;
và dù điều này xảy ra thì ông vẫn có con đường riêng
của mình đã đi đến đích cao nhất. Thế nên, không những
chỉ tùy thuộc nơi sự thành tựu của thầy mà còn tùy nơi
cá tính và khả năng của trò, qua đó mà biết phương pháp
nào là hiệu nghiệm nhất cho trò. Vì rằng mục đích cuối
cùng của mọi phương pháp chỉ là một nên thực ra không
có mâu thuẫn hay bất hòa giữa chúng với nhau. Thật là bất
hạnh nếu cứ nhảy từ phương pháp này qua phương pháp khác
mà không học được điều gì đáng kể trong mỗi thứ đó.
Lễ
điểm đạo của một đạo sư đích thực không hề giống
các giáo phái mê tín: đó là sự tỉnh thức để thấy chính
tực tại nội tại của mình, cái mà dù có ngắn ngủi nó
phải được thấy, cái sẽ quyết định sự phát triển tiếp
theo cũng như thái độ sống tích cực của chúng ta. Vì thế,
điểm đạo là món quà quý nhất của vị đạo sư, một món
quà quí hơn vô số lần gia nhập tăng đoàn một cách hình
thức (hay bất cứ một hội đoàn tôn giáo nào). Điều này
thường được diễn ra bất cứ lúc nào, không đòi hỏi chất
lượng tâm linh của người chủ lễ hay người gia nhập -
chỉ cần lượng tâm linh của người chủ lễ hay người gia
nhập - chỉ cần người gia nhập chấp nhận các qui luật
đã định và không bị những bất toàn về tâm linh, đạo
lý hay vật lý của ứng viên.
Thế
nên một vị thầy chỉ có thể cho những gì ông đã chứng
đạt được và để trao truyền những gì đã chứng thực,
ông phải đủ trình độ động viên tất cả năng lực nơi
mình trước khi làm lễ điểm đạo. Vì thế ông cần chuẩn
bị kỹ lưỡng, không phải chỉ thuần lý như một vị thầy
giáo trong trường trung hay đại học về bài giảng của mình
bừng cách thu nhặt tất cả những điểm chính yếu và trình
bày lại với một trình tự có lý và thuyết phục. Ngược
lại, sự chuẩn bị của một đạo sư tâm linh là tự đưa
mình tiếp xúc với nguồn suối sâu xa nhất của năng lực
tâm thức, để ông có thể trình bày được cái năng lực
và tính chất mà ông muốn trao truyền. Một sự chuẩn bị
như thế có thể kéo dài nhiều ngày hay nhiều tuần, tùy theo
tự tính của năng lực đó hay tính chất của các biểu tượng
tạo tác, chúng là thứ phải được đánh thức trong tâm của
người trò và biến thành sinh động. Người được ấn chứng
vì thế phải chuẩn bị bằng cách thanh lọc tâm thức và
chú tâm lên các ý niệm và mục đích, họ sẽ thông qua lễ
điểm đạo mà trở thành thực tại được chứng nghiệm.
Thế
nhưng nước thánh của Vô Lượng Thọ có thể chuyển bằng
lễ nghi nguyên thủy, trong đó lễ chuẩn bị cho học trò sự
tham gia đầy ý thức và giảng rõ những hành động và biểu
tượng của lễ. Nếu được như thế thì kẻ tiếp nhận
có đủ khả năng hô triệu năng lực của Vô Lượng Thọ
cho chính mình và cho người khác, bằng cách người đó phải
thực hành diệu pháp (sadhana) của Vô Lượng Thọ và phát
huy được những tính chất hiện thân cho Vô Lượng Thọ trong
các câu chú của Ngài, cho đến lúc hành giả trở thành chỗ
dung chứa xứng đáng của những tính chất đó. Chỉ khi nào
đạt được mức này thì hành giả mới có thể truyền những
năng lực tâm linh lên người khác, những năng lực đã được
tự mình chứng ngộ. Adscho Rimpotsché là một trong những đạo
sư hiếm hoi hoàn toàn ý thức về những điều này. Ông không
ngại bất cứ điều gì để chuẩn bị cho chính mình và cho
học trò buổi lễ điểm đạo đến những chi tiết nhỏ nhặt
nhất. Bàn thờ điểm đạo là một tác phẩm nghệ thuật,
được dựng lên kỹ lưỡng và đúng nghi lễ của truyền
thống tâm linh - truyền thống mà cái đẹp được diễn tả
một cách tự nhiên, hồn nhiên của ý nghĩa nội tại nằm
trong nó, chứ không phải nhằm mục đích đạt tới một hiệu
quả mỹ thuật nào. Yếu tố hiệu ứng của loại nghệ thuật
xa lạ, trống rỗng không hề có tại Tây Tạng.
Bàn
thờ tạo nên một man-đa-la hoàn hảo gồm nhiều biểu tượng
và Adscho Rimpotsché giảng cho chúng tôi ý nghĩa và chức năng
của chúng, nhờ đó mà chúng tôi hiểu vai trò của chúng trong
buổi lễ. Điều làm chúng tôi quí nhất là các khai thị của
ông về các chi tiết trong nghệ thuật thiền định và phép
tạo linh ảnh, mà lễ điểm đạo đã mở đường cho chúng
tôi cũng như các câu chú được trao truyền mà chúng tôi cần
tu tập hàng ngày. Chỉ trên cơ sở của linh ảnh tạo tác
(dhyana), chúng được kết tinh bởi sức mạnh sinh động của
các âm nội tại (mantra) để thành thứ bậc toàn thể của
một man-đa-la, chúng tôi mới hiểu được ý nghĩa của nghệ
thuật tôn giáo Tây Tạng nhất là của các tranh thanka và các
bích họa.
CÂU
CHUYỆN TẠI DUNGKAR GOMPA
Kể
từ ngày Tomo Géché Rimpotsché mất, tôi chưa có lại lần nào
một cảm giác tâm linh tràn ngập mối liên hệ tinh thần sâu
xa như thế, cái nói lên sợi dây giữa thầy và trò. Tuy thế
Adscho Rimpotsché vẫn không hề làm lu mờ ấn tượng của vị
thầy đầu tiên của tôi, mà ngược lại, ông trở thành một
mắc xích tiếp theo, nối tôi với ông bằng cách tăng cường
và bổ sung những gì tôi đã nhận được trong thời gian trước
ở Yiga - Tscholing. Trong mối liên hệ đó, tôi cảm động nhớ
lại sự hỗ trợ mà tôi nhận được từ bạn đồng môn
(guru-bkhai) viện trưởng Dangkar Gompa, người quản lý tu viện
chính của Tomo Géché Rimpotsché khi ông vắng mặt hay khi ông
tái sinh lại nhưng còn nhỏ tuổi và học tập tại Sera gần
Lhasa. Lòng mến khách và sự sẵn sàng giúp đỡ của sư trưởng
trong thời gian tôi lưu trú tại Dungkar Gompa thật là đáng
xúc động và khuyến khích tôi, vì nó cho thấy lòng khoan dung
cũng như tôn trọng lẫn nhau luôn có giữa các chi phái khác
nhau trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng, trong đó tất
cả những người nhập dòng đều được đáng kính trọng,
không kể trường phái nào.
Người
ta cho chúng tôi một Lhakhang nhỏ rất đẹp để ở, đó là
một phòng cúng riêng thường được dành cho các vị lạt
ma tái sinh hay các bậc trưởng thượng. Theo giới luật của
phái Gelugpa (sống độc thân) thì nữ nhân không được lưu
trú ban đêm trong tu viện, nên người ta cho Li Gotami ở trong
một phòng nhỏ của tòa nhà ngoài làm chỗ ngủ, đối diện
với cửa ra vào. Thế nhưng Anila(39) không có gì phải sợ
khi ở một mình, vị quản đốc viện nói thêm một cách tự
nhiên: “Bà sẽ ngủ chung phòng của vị lạt ma chủ phòng”.
Để cho rõ hơn, tôi liền nói cho quản đốc hay là chúng tôi
sẽ ở với nhau trong phòng đó ban đêm vì nếu hành lý chia
đôi thật là bất tiện. Vị quản đốc nói điều đó thật
ra không có hậu ý gì vì tại Tây Tạng, phòng nghỉ thật
là khó kiếm và trời giá lạnh nên thường khách hay du hành
hay hành hương hai phái nam nữ đều ngủ chung phòng ban đêm
và người ta không thấy có gì đáng phải băn khoăn.
Chúng
tôi sớm có cơ hội để quan sát điều này. Phòng chúng tôi
ngủ đêm có một vách ngăn bằng gỗ, thế nhưng một đầu
hở nên nó chỉ ngăn đôi vậy thôi, bên này có thể nhìn
thấy bên kia. Vị lạt ma ngủ một bên của vách ngăn, còn
chúng tôi ngủ bên kia. Ông là người rất thân thiện và ân
cần, không làm phiền điều gì nên chúng tôi thấy góc riêng
dành cho mình như ở nhà vậy.
Trong
những ngày lễ, rất nhiều khách từ lũng Tomo và Amotschu lên
tu viện và những ai ở xa không thể về lại cùng ngày đều
ngủ đêm tại Gompa, đàn ông thì ngủ trong tu viện, đàn bà
con gái nghỉ trong các tòa nhà ngoài. Thế nên chúng tôi và
vị chủ phòng có khi phải ở chung với một số lớn các
bà, họ không ngần ngại chia nhau nằm trên nền của hai bên
vách gỗ và ngủ qua đêm với chúng tôi.
Trong
những chuyến đi sau chúng tôi có dịp quan sát sự tự nhiên
và lòng hiếu khách vô cùng của người Tây Tạng. Họ không
bao giờ câu nệ điều gì. Trong những ngày nóng nực cókhi
phụ nữ cởi trần tới mông không chút ngượng ngùng để
gội đầu hay tắm rửa,hay trong mùa gặt hái họ ở trần
làm việc khi mặt trời trong lũng quá nóng.
Tất
nhiên điều đó chỉ xảy ra ở vùng dân cư còn đơn giản
chứ không còn ở các xã hội đã tinh tế như tại Lhasa, nơi
mà chúng tôi tiếp xúc trong thời gian lưu trú tại Gyantsee.
Nơi đó chúng tôi sống thời gian dài trong tòa Yabschi Punkhang,
điện của một gia đình vương giả tại Lhasa, gia đình này
có quan hệ hôn nhân với hoàng gia Sikkim. Nói chung thì vị
trí của phụ nữ tạ Tây Tạng rất cao. Họ đóng một vai
trò hàng đầu trong cá nghề nghiệp, chỉ trừ chính trị,
nhà nước hay lãnh đạo tinh thần, các ngành này liên hệ
với nhau trong một chế độ tăng lữ.
Mặc
dù trong giới phụ nữ cũng có nhiều nữ tu uyên bác và sư
trưởng đáng nể trọng nhưng phần lớn họ thiêng về đời
sống thực tiễn, họ chuyên ngành buôn bán, quản lý tài sản
gia đình. Họ là người thừa kế chính thức mọi bất động
sản, chúng không được chia cho từng con cháu mà được truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác, thông qua người phụ nữ
chủ chốt trong gia đình để tránh chuyện xé lẻ và mất
mát của đất đai canh tác vốn hạn chế, đất này thường
được tưới tiêu theo phương pháp thủ công. Vì điều kiện
kinh tế này mà người Tây Tạng phải tìm cách giữ vững
dân số của mình theo khả năng cho phép. Điều này một phần
đạt được nhờ tục đa phu - phần lớn ở trong các vùng
sa mạc miền tây Tây Tạng hay vùng núi non phía bắc - phần
khác cũng vì tục lệ, trong gia đình ít nhất phải có một
con trai, có khi cả một con gái, cống hiến đời mình cho hoạt
động tâm linh.
Cả
tu sĩ nam lẫn nữ đều được trọng vọng, nhất là những
ai uyên bác hoặc thiền định, hoặc thực hành nghi lễ. Đối
với người Tây Tạng thì tri kiến được trọng hầu như
là sự thiêng liêng và thường hai mặt này đều thống nhất
ở mức độ cao. Giáo phái Delupa (giáo phái duy nhất tại Tây
Tạng nghiêm khắc giữ đời sống độc thân, ngược với
giáo phái khác cho phép tín đồ có vợ con hay tự giữ độc
thân) coi trọng đặc biệt việc nghiên cứu kinh sách tôn giáo,
kể cả nghiên cứu lịch sử, văn minh học, triết học, thơ
văn, một phần y học và thiên văn học. Ngược lại phái
Kargyutpa xem trọng sự tu luyện tâm thức bằng phép thiền
định hơn kiến thức sách vở và tài năng tranh luận. Nếu
tín đồ Gelugpa thường học tập lâu dài trong tu viện đại
học (như Drepung, Ganden hay Sera) thì minh chứng cao nhất đối
với phái Kargyutpa là khả năng ẩn cư lâu dài trong hang cốc,
trong các thất thiền định độc cư, nơi mà giáo pháp của
thầy và truyền thống tâm linh được thực hành. Việc học
hỏi kinh sách không được coi trọng bằng phép tu thiền định,
nó chỉ được dùng như phương tiện cho một số phép tu (sadhana)
và dễ hiểu những nguyên lý căn bản của đạo pháp.
HAI
VỊ THÀNH TỰU GIẢ Ở TSE-TSCHOLING
Nhờ
uy tín cao với tính cách là vị ẩn tu và đạo sư thiền định,
với thời gian, Adscho Rimpotsché trở thành nhà lãnh đạo tinh
thần của Tse-Tschoking, cho nên cả vị tái sinh của sư trưởng
chết cách đó nhiều năm (lúc thời gian chúng tôi ở đó thì
cậu vừa lên chín) cũng nhìn ông với cặp mắt kính phục
và để cho ông dẫn dắt cho đến ngày lấy lại cái già giặn
của mình để nhận trách nhiệm tu viện trưởng. Adscho Rimpotsché
là một trong những “Repa”, người mặc áo trắng theo cách
Milarepa. Đó là người không mặc áo choàng đỏ đậm của
một vị tăng sĩ mà choàng một chiếc áo trắng có viền đỏ
đậm của một vị tăng sĩ mà choàng một chiếc áo trắng
có viền đỏ. Và cũng như Milarepa, ông không cạo tóc mà đội
một cái mũ dài trên đầu. Hai tai ông đeo vòng làm bằng vỏ
sò xoắn ốc màu trắng theo cách một du sĩ khổ hạnh, như
các vị thành tựu giả ngày xưa hay đeo.
Và
vị tái sinh trẻ tuổi tại Tse-Tscholing cũng là hiện thân
của một vị tất địa từ quá khứ xa xôi, đó chính là
Saraha, một trong những nhà thơ lớn huyền bí vào thời đó(thế
kỷ thứ bảy sau Công nguyên). Ngược với Adscho Rimpotsché,
Saraha mang áo choàng tăng sĩ và vị gia sư dạy ông, người
có lòng tha thiết như một bà mẹ chăm sóc con nhỏ, là một
tỉ-kheo đã thọ giới. Và vị phụ tá cho Adscho Rimpotsché
trong buổi lễ điểm đạo chúng tôi cũng là một vị tỉ
kheo, còn phần lớn các vị sống trong tu viện đều là người
có gia đình cả. Họ cũng mặc áo choàng đỏ của tăng sĩ,
nhưng sống với gia đình trong các cốc nhỏ riêng biệt nằm
gần tu viện. Trong các dịp lễ, tất cả mọi thành viên của
tu viện tụ họp trong chánh điện, và trong những dịp đặc
biệt thì tái sinh của Saraha lên ngồi trên tòa của mình và
dù còn nhỏ tuổi, cậu đã thực hiện vai trò của mình một
cách ung dung và vững chãi.
Thật
kỳ lạ khi thấy sự ngây thơ trẻ con hợp nhất với cái
minh triết già giặn trong cậu bé nhỏ này và đứa bé trong
cậu trực tiếp đổi qua thái độ của một ông già như thế
nào rồi trở lại sự hồn nhiên của một đứa trẻ sinh
động. Vị gia sư của cậu nói với chúng tôi, rằng cậu
lấy lại tri kiến cũ hết sức nhanh chóng. Cậu có thể đọc
thuộc lòng cả cuốn kinh. Vị phụ tá sư trưởng cũng kể
cho chúng tôi nghe người tái sinh trẻ tuổi này đã trở lại
tu viện xưa của mình như thế nào.
Cậu
được sinh ra trong một làng nằm ngay dưới Dungkar Gompa và
khi bắt đầu biết nói, cậu đã nhắc đến một tu viện
nằm trên núi, nơi đó cậu đã từng là tăng sĩ. Khi cậu
cứ nhắc hoài chuyện đó thì tất nhiên dân chúng trong làng
nghĩ đến Dungkar Gompa vì người ta có thể thấy nó từ dưới
lũng. Thế nhưng cậu từ chối ý này một cách quyết liệt.
Tình cờ vị phụ tá Tse-Tscholing nghe tin này, lúc đó thì cậu
mới ba bốn tuổi; và là vì lúc đó chưa tìm ra tái sinh của
sư trưởng Tse-Tscholing nên ông cùng vài tăng sĩ già đến
làng, nơi cậu ở. Họ nói chuyện được với cậu bé đang
chơi gần nhà, nhưng không cho biết ý định. Vì người Tây
Tạng rất thích trẻ con nên không có gì lạ khi các du sĩ
tỏ ra thích thú nói chuyện với trẻ khi nghỉ dọc đường.
Vị phụ tá mang theo một cái bọc đựng pháp khí như các
vị lạt ma hành cước thường mang và trong số đồ đạc
đó có vài thứ của riêng của vị sư trưởng lúc sinh thời.
Vị phụ tá tìm cớ mở bọc cho cậu bé nhìn từng đồ đạc
trong đó. Thấy cậu bé tỏ vẻ quan tâm nhìn các vật dụng
đó, vị phụ tá hỏi cậu có muốn vài món trong đó không
và thích cái gì. không chần chừ gì cả, cậu lấy một cái
chuông đã bịhư hại đôi chút, mặc dù có các chuông khác
không hư và đẹp hơn nhiều nằm bên cạnh. “Tại sao con
muốn cái chuông cũ này? Vị phụ tá hỏi, “Ở đây có nhiều
chuông tốt hơn nhiều? Con không muốn lấy cái đẹp hơn sao?.
“Không” - cậu bé trả lời - “con thích cái chuông cũ của
con hơn”. “Nhưng làm sao con biết đó là cái chuông của
con”, vị phụ tá ngạc nhiên hỏi. - “Vì ngày nọ chuông
bị rớt và bị bể một miếng nơi vành”, cậu bé nói rồi
ngửa chông lên cao và vị phụ tá thấy một miếng mẻ nơi
vành trong của chuông, điều mà trước đó ông không biết.
Chuyện
này về sau được người hầu cận của vị sư trưởng ngày
xưa xác nhận, ông nhớ lại chuyện xảy ra. Ông cũng khẳng
định nhận xét của cậu là chuỗi tràng hạt mà cậu nói
là của mình, chuỗi đó thiếu một hạt đá xanh, hạt này
là hạt cuối của 108 hạt gỗ. Mỗi một vật của vị sư
trưởng ngày xưa đều được cậu nhận ra ngay, và từ chối
các vật không phải của ông trước kia mặc dù những vật
đó giống hệt nhau.
Chuyện
đáng để ý nhất là lúc cậu được thừa nhận là tái sinh
của vị sư trưởng ngày trước, cậu được đưa về lại
Tse-Tscholing. Khi vào phòng dành cho vị tu viện trưởng, cậu
nói: “Đây không phải chỗ tôi từng ở, tôi nhớ là chỗ
trên đỉnh núi”. Cậu có lý: phòng cậu từng ở nằm phía
trên của tu viện, trên mỏn đá, nhưng nó đã bị cháy, vốn
nó làm bằng đá ở nửa phần dưới, phần trên bằng gỗ.
Còn cái mái nhô ra được lát gỗ mỏng và được đá đè
lên như các loại nhà nhỏ trên núi Alpes tại Thụy Sĩ hay
Tirol.
Cũng
như tại Dungkar Gompa, trong thời gian ở Tse-Tscholing, người
ta cũng cho chúng tôi một phòng thờ riêng rất đẹp. Nhưng
theo tinh thần tự do của phái Kargyutpa, cho phép lạt ma độc
thân lẫn có gia đình lưu trú, người ta không đòi Li Gotami
phải ở ngoài tu viện. Nhờ thế mà chúng tôi ở trong phòng
thờ lớn này, trong đó tượng của Liên Hoa Sinh là quan trọng
nhất, xung quanh có nhiều kinh sách giáo pháp mật điển của
Liên Hoa Sinh và của các vị kế tục, cất giữ trong những
kệ sách mạ vàng. Những tác phẩm này được biết với tên
Terma (báu vật), vì chúng là vật báu phải chôn kín hay giấu
trong hang động vào thời kỳ Phật giáo bị bức hại (như
thời kỳ của nhà vua Langdarma), và theo truyền thống thì khi
thời gian chín muồi, chúng sẽ được các vị nối dòng về
sau khám phá. Giáo pháp Tử Thư, một trong những tác phẩm
quan trọng mang tầm kinh điển của toàn cầu với tên Luận
vãng sinh Tây Tạng thuộc về các báu vật đó.
Lý
do mà Adscho Rimpotsché cho chúng tôi ở trong một phòng thờ
chính của tu viện không phải chỉ do lòng hiếu khách và sự
tin cậy: nó có nghĩa là ông không chỉ quí trọng chúng tôi
mà đã chấp nhận chúng tôi là thành viên trong tăng đoàn
của mình. Chúng tôi hết sức xúc động khi nghĩ rằng, trong
lúc ông sống trong chòi nghèo nàn, không chút trang trí thì
chúng tôi ở trong một phòng với cột kèo trang trí sang trọng,
xem ra để dành cho một vị vương tước chứ không phải cho
người học trò đơn sơ.
Một
bên của phòng thờ gồm có một khung gỗ với nhiều tấm
kính như ta thường thấy các vê-ran-đa kiểu xưa của Ấn
Độ. Nhờ thế mà chúng tôi nhìn ra được khoảng sân rộng
rãi của tu viện và các tòa nhà được xây như những bậc
cấp tựa vào sườn núi; giữa các tòa nhà đó là những cây
thông cao, cờ cầu nguyện và các tháp. Chúng tôi cũng thấy
phòng thờ và ở dành cho vị tái sinh trẻ tuổi, cậu ở trong
phòng với nhiều tranh thanka quí giá, bàn thờ khắc chạm và
các bàn nhỏ; và chúng tôi cũng thấy nhà nhỏ của vị gia
sư, nhìn qua giống như nhà cho búp-bê với kiến trúc bằng
gỗ thanh nhã và được vẽ rất đẹp.
Mỗi
buổi tối vị gia sư cùng cậu tái sinh đi vòng quanh tháp và
tu viện, chuỗi hạt trong tay và miệng tụng thần chú; vị
gia sư long trọng đi trước và cậu bé vui vẻ hồn nhiên đi
sau. Xem ra cậu để tâm đến chim chóc bay lượn xung quanh hay
con chó nhỏ gặp trên đường đi mà cậu bế lên tay và vuốt
ve nó, đến lúc vị gia sư nhìn lui và nhắc cậu hãy nhớ
việc mình làm. Người ta có thể thấy vị via sư thật ra
cũng thông cảm trẻ con vẫn thích chơi với chim chóc hay chó
con. Chúng tôi chưa hề thấy ông nghiêm với cậu mặc dù việc
giáodục cho một vị tái sinh thường nghiêm khắc hơn các
tiểu tăng khác nhiều.
Vị
tái sinh của Saraha là một cậu bé khác thường trong mọi
phương diện. Giả như chúng tôi k biết cậu là hóa thân thì
chúng tôi cũng thấy cậu vượt hơn hẳn mọi trẻ cùng tuổi
khác rồi, vì khuôn mặt cậu hết sức thông minh. Cặp mắt
cậu đầy sinh động và dáng đi có cái ung dung tự nhiên.
Trong buổi lễ khi ngồi trên tòa trong điện, cậu rõ ràng
là một Rimpotsché (đạo sư) rồi; và khi tiếp chúng tôi trong
phòng riêng, cậu có một sự hòa lẫn duyên dáng giữa
sự cao trọng và cái tò mò. Khi Li Gotami vẽ chân dung trong
phòng cầu nguyện của cậu - mà đằng sau là các tranh thanka
quí giá và các pháp khí khác nhau dành cho vị trí tâm linh
của cậu - thì cậu tỏ ra rất quan tâm đến việc này, cậu
hết ngại ngùng và nói chuyện tự nhiên lúc nghỉ vẽ. Rõ
ràng là cậu thích thú cái mới của chuyện này. Đồng thời
cậu cũng là người mẫu rất tốt, ngồi yên một chỗ trong
lúc được vẽ, không tỏ ra có chút mệt nhọc hay thiếu kiên
nhẫn.
Ngày
nọ, sau một buổi tuyết rơi dữ dội, trong lúc thưởng thức
phong cảnh nhìn qua cửa sổ, bỗng nhiên chúng tôi thấy nhiều
thân thể trần truồng từ phòng thờ đi ra và nhảy vòng vòng
xung quanh tuyết trắng phau, sau đó lăn nhiều vòng; còn chúng
tôi thì lạnh run ở trong phòng sang trọng nhưng không được
sưởi này. Các thân trần truồng đó không ai khác hơn là
vị tái sinh trẻ tuổi và hai cậu khác cùng tuổi đang chơi
đùa với nhau. Sau khi lăn lăn lại trên tuyết, họ kéo nhau
lại vào phòng, có lẽ để sưởi; nhưng ít lâu sau họ lại
kéo ra, lặp lại trò chơi vài lần rồi mới chán.
Chúng
tôi vui thích thấy rằng, dù học hành và chịu nhiều kỷ
luật, sự rèn luyện thân thể và trò chơi đùa thiếu niên
không thể bị giảm, mặc dù tính chất tâm linh cao độ của
việc dạy dỗ, người ta vẫn không câu nệ. Ắt hẳn trò
chơi tuyết này có mục đích tập luyện cho thân thể cứng
cỏi và chuẩn bị cho phép nội nhiệt về sau mà trong đó
hành giả phải chứng minh đủ khả năng dùng nhiệt trong thân
mà chống lại cái lạnh, qua sự chế ngự du già lên thân
và tâm. Thế nhưng chúng tôi thấy không nên hỏi vị gia sư
hay bất cứ ai khác về chuyện này để các cậu này khỏi
bối rối, nếu đây chỉ là trò chơi trẻ con.
Ngoài
chuyện tu tập hàng ngày, chúng tôi có chuyện làm để khỏi
phí thời giờ. Có nhiều kinh sách để học hỏi, trích dẫn
và ghi chép thêm, làm bản in gỗ và bản sao các bích họa.
Trong phòng thờ đối diện với phòng mình, chúng tôi vui mừng
thấy các bích họa rất đẹp của tám mươi bốn vị thành
tựu giả, chúng tôi cho tôi cơ hội họa lại để hoàn thiện
công trình tranh tượng của tôi, tiếp nối công việc lúc
trước về đề tài có tính lịch sử quá trình này.
Bên
ngoài tu viện cũng có nhiều sự kiện để vẽ lại, chụp
hình và vì thế không có lúc nào chúng tôi được nghỉ. Ngoài
ra chúng tôi có nhiều câu chuyện thú vị về những khía cạnh
khác nhau của truyền thống tâm linh và phép tu thiền định
với Adscho Rimpotsché, với vị phụ tá, gia sư của vị tái
sinh và một vài người khác. Trong những người đó thì đặc
biệt vị giữ điện chính, người mà mỗi ngày mang nước,
đèn và thắp nhang cũng như chùi dọn các pháp khí và phòng
ốc sáng trưng. Ông làm những việc này không những một cách
cẩn thận mà còn xem nó là phép tu và với lòng tin tuyệt
đối, nên nơi trán ông có một cục u thường xuyên; nó sinh
ra do vô số lần lễ lạy mà mỗi ngày ông cúng dường các
bậc giác ngộ và các hiện thân các vị hộ pháp cho trí huệ
siêu việt. Đó là những vị hộ pháp cho các dòng truyền
thừa, trong đó có Đại hắc (Mahakala), Kim cương thủ (Vajrabhairava),
Thời luân (Kalacakra) Hô Kim cương (Hevajra), Đại cực (Mahasukha).
Đại cực là một trong những vị hộ thần đặc biệt của
dòng Kargyutpa, vị này cũng được thờ cúng trong dòng Gelugpa
và các dòng khác, được xem là biểu tượng chính của một
hệ thống kinh thiền định sâu sắc - mà bản thân tôi cũng
nghiên cứu suốt một năm. Vì lý do đó mà cho vị này và
man-đa-la liên hệ có một khám thờ riêng được trưng bày
bên cạnh Liên Hoa Sinh.
Tại
Dungkar Gompa, chúng tôi còn tìm thấy một bức hình nổi của
man-đa-la này, được hoàn thành một cách chi li với 164 vị
thần và các chi tiết khác. Rất tiếc hình này bây giờ nằm
trong một góc tối của chính điện, bị bọc lại bởi một
khung gỗ và phủ kín nên không thể nghiên cứu kỹ thêm những
như không thể chụp hình.
CUỘC
GẶP GỠ THOÁNG QUA VỚI TOMO GÉCHÉ RIMPOTSCHÉ
Tại
Dungkar, chúng tôi hy vọng sẽ gặp vị tái sinh của Tomo Géché
Rimpotsché, khi đó cậu cũng phải bằng tuổi tái sinh Saraha
tại Tse-Tscholing. Nhưng lúc chúng tôi đến Dungkar Gompa năm
1947 thì cậu còn ở Sera, chỗ mà người ta gửi cậu đến
đểhọc hành thêm dù con bé, sau khi cậu học hết những gì
thầy dạy tại Dungkar. Tất cả mọi chuyện học hành đối
với cậu chỉ là sự nhớ lại những gì đã biết trong tiền
kiếp.
Chúng
tôi lo nghiên cứu về các đền và tu viện quan trọng tại
Gyantse - đặc biệt tại Kumbum, đền “Vạn Phật”, và tại
Pal-Khorlo-Tschưde, đồng thời lo thủ tục xin hộ chiếu cũng
như các phép tắc khác để được làm việc trong các đền
của Rintschen-Sanpo, được họa lại các bức họa. Chúng tôi
bận rộn đến nỗi không không quan tâm gì đến các biến
cố chính trị. Chúng tôi phải hứa với vị tùy viên chính
trị tại Gangtok, sẽ không tiết lộ gì về các biến cố
tại Tây Tạng và không tuyên bố điều gì về vụ Reting.
Thế nhưng chúng tôi biết rõ một điều, đó là uy quyền
chính trị và tôn giáo không thể lẫn lộn thêm được nữa
và cái nguy của Tây Tạng nằm ở chỗ tu viện nào cũng hướng
tới quyền lực; có hàng ngàn tu sĩ tụ hội với nhau, trong
đó những yếu tố quí báu của một đời sống tôn giáo
đích thực bị mất đi: sự an bình và tĩnh lặng của đời
sống cô tịch cũng như con người thể nhập và tính tự do
của cá thể.
Trong
những tập hợp tu viện lớn tại Gyantse, được tách ra khỏi
cuộc sống thế gian bởi những vách tường dài hàng cây số
mà vẫn ngự trị trên tất cả, chúng tôi đã quan sát thấy
đời sống tâm thức cạn dần đi, đó là điều khó tránh
khỏi khi con người sống chung đụng với nhau. Chúng tôi càng
thấm thía cái minh triết của Milarepa và các vị kế tục
khác của ông, họ là những người chọn chỗ ẩn tu, không
ham thích các tập hợp tôn giáo, những nơi mà kiến thức
sách vở được coi trọng hơn sự hình thành cá tính cũng
như sự phát triển lòng từ bi và trí huệ.
Trong
quá khứ, dòng Sakyapa (lấy tên từ tu viện Sa-Skya thành lập
năm 1071 sau Công nguyên) là tổ chức tôn giáo có uy lực nhất.
Trong thời đại huy hoàng đó, họ được xem là giới thống
trị Tây Tạng. Nhưng cũng chính thế lực chính trị là nguyên
nhân của sự suy tàn của họ, vì thế lực chỉ sinh ra thế
lực đối đầu. Nền thống trị của họ sau đó bị dòng
Gelugpa thay thế, với sự thiết lập của vị Đại lai lạt
ma, người nắm toàn bộ quyền lực chính trị và tinh thần
tại Lhasa. Thời đó các tu viện trở thành đô thị, có nơi
dung chứa cả vạn tu sĩ.
Các
nơi này nhắc ta nhớ đến tu viện đại học tại Nanlada và
Vikramasila (tại Bihar và Bengal), trong đó đời sống tôn giáo
và văn hóa của đạo Phật tập trung tới mức trở thành
mục đích dễ dàng cho quân Hồi giáo cực đoan. Khi họ phá
hủy những cơ sở này thì đạo Phật tại Ấn Độ xem như
bị tiêu vong; trong lúc Ấn Độ giáo, không tập trung, chẳng
tổ chức theo kiểu tu viện, thì sống còn được; vì truyền
thống của họ được tiếp xúc nuôi dưỡng trong những gia
đình các tu sĩ hoạc người ngoan đạo, hoặc thể hiện trong
những con người độc lập như du sĩ khổ hạnh sống trong
những nhóm nhỏ quanh một vị thầy, họ là người giữ sức
mạnh tôn giáo không bao giờ tắt. Ngay cả việc hủy hoại
đền đài cũng không phá hủy được niềm tin tôn giáo nằm
trong mỗi bàn thờ gia đình, trong đó ít nhất có một người
giữ đạo.
*
*
*
Vài
năm sau khi chúng tôi rời Tây Tạng thì đạo Phật chỉ tồn
tại ở xứ sở này trong các vùng độc cư vắng vẻ, xa phố
phường, xa nơi chốn đi lại, hay chỉ còn trong những gia đình,
nơi mà đời sống tâm linh không phụ thuộc gì vào các định
chế và tổ chức tu viện, mà chỉ sống nhờ vào ngọn lửa
của niềm tin truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Điều
này tôi được thấy nơi phái Nyingmapa, Kargyutpa và các bộ
phái Phật giáo Tây Tạng nhỏ khác; họ quan tâm đến truyền
thống giảng đạo của thầy trò hơn là cách giáo dục quảng
đại quần chúng của các tu viện lớn.
Chúng
tôi hầu như đã quên mọi biến cố đó và xem ra Sera đã
trở lại với đời sống bình thường vì không có tin gì
từ đó cả. Ngoài ra cứ vào mỗi độ thu thì từ vị Thủ
tướng đến anh công chức thấp nhất, từ Đại lai lạt ma
đến chú tiểu tăng, từ nhân sĩ tiếng tăm nhất đến kẻ
cùng đinh, ai ai cũng tham gia các buổi lễ dành cho công chúng
như các buổi làm phép tại tu viện, trình diễn các sự tích
(ví dụ tiền thân Đức Phật), được các nghệ sĩ chuyên
nghiệp diễn trong các gia tộc lớn mà ai cũng được vào xem.
Các cuộc liên hoan ngoài trời với lều láng trang hoàng rất
đẹp tại các vùng quê quanh các đô thị lớn hay các tu viện;
và cả những cuộc tranh tài thể thao như đua ngựa, bắn cung
vói các điệu múa dân gian, trong đó kẻ nghèo người giàu
đều vui thích. Người Tây Tạng là những người yêu đời
và sùng tín, họ biết cách thống nhất hai tính chất và nhờ
thế mà hưởng cái “đẹp nhất của hai thế giới”.
Thế
nhưng cái lạnh mùa đông đã kề tới và chấm dứt mọi hoạt
động ngoài trời. Bỗng nhiên mọi người ai cũng trùm mũ
lông và mặc áo mùa đông, mặc dù mặt trời còn chói lọi
và bầu trời xanh thẩm màu nhung. Nền đất và hồ nước
đã đông kín, và những con sông nước chảy mạnh mà hai bên
bờ cũng đã lác đác có băng.
Thời
đó, chúng tôi nghe rằng cậu Tomo Géché đã rời Sera và trở
về quê Dungkar. Người ta cho rằng cậu sẽ nghỉ vài ngày
ở Gyantse. Thế nhưng loại tin đó chúng tôi nghe đã nhiều
vì thế không để ý gì lắm, nhất là sau khi hòa bình trở
lại với Sera.
*
*
*
Ngày
nọ chúng tôi trên đường từ “Điện Vạn Phật”, nơi
mà tôi sao chép kinh sách cũng như bích họa, còn Li Gotami thì
chụp lại các bức tượng đẹp. Một số trong đó được
trình bày lại trong tác phẩm Grundlagen tibetischer Mystik (Cơ
sở mật tông Tây Tạng). Đó là một ngày đặc biệt lạnh
và nhiều gió; và cũng như mọi người, chúng tôi trùm áo
ấm, mang khăn choàng theo kiểu Tây Tạng, mắt đeo kính đen
chống cát. Khi đi ngang qua phố chính mà mỗi ngày chúng tôi
đều đi để đến tu viện thì có hai ba tu sĩ đi ngược lại
rõ là họ trên đường đi đến đền chính của tu viện.
Một trong số họ cõng trên vai một cậu bé mặc áo choàng
đỏ. Lẽ ra chúng tôi đi ngang họ mà không để y điều gì,
nếu thái độ cậu bé không có gì lạ làm chúng tôi phải
để ý. Bỗng nhiên cậu rướn người lên, ngẫng cổ nhìn
chúng tôi ngạc nhiên tột độ và tỏ vẻ quan tâm - trong lúc
những người đi cùng với cậu không để ý gì đến chúng
tôi. Chúng tôi cũng như những người Tây Tạng khác đi ngoài
đường, nhất là khi màu mắt của chúng tôi khác với màu
mắt của họ thì đã bị cặp kính đen che mất. Ở đây,
người ta mang nhiều loại kính đó, vừa để che mặt trời
quá chói, vừa để chống bụi cát trong những ngày nhiều
gió. Khi chúng tôi đến gần nhóm tu sĩ thì cậu bé xem ra bị
kích động hơn; cậu xoay người lại, nhìn chúng tôi với
sự chú tâm rõ rệt - hầu như cậu muốn nhớ đến ai mà
mình đã từng quen biết nhưng lúc này không nhận ra. Và bây
giờ đến phiên chúng tôi sửng sốt - và như một tia chớp
trong bầu trời xanh trong -, ý nghĩ ập đến với chúng tôi
là, dây phải chăng là tái sinh của Tomo Géché Rimpotsché.
Trong
khoảng thời gian đó thì hai nhóm người đã đi xa và mặc
dù Li thúc tôi quay lại, chạy theo nhóm tu sĩ, tôi cảm nhận
rằng, không phải chỉ vì không nên chạy theo ai mà là đây
không phải chỗ và lúc để có một cuộc gặp quan trọng
và phi thường như thế. Ngay giữa phố xá và lúc đó gió
lạnh như cắt, xung quanh là đám người tò mò - không, tôi
không muốn gặp lại thầy mình như thế - dù ông có ở trong
hình hài của một đứa trẻ. Tôi ước mong được gặp lại
ông trong sự tĩnh lặng để có thể nghe được nhị đập
trái tim mình và phản ứng hồn nhiên của vị tái sinh trẻ
tuổi. Không, tôi không để cho phút giây quý báu này bị mất
đi vì sự hiếu kỳ tầm thường và những câu xã giao trống
rỗng.
Vì
thế chúng tôi quyết định trước hết hãy xác nhận mình
không lầm lẫn và hỏi vị tái sinh này ở đâu để ngày
mai đến tìm. Ý tưởng về cuộc hội ngộ làm tôi xúc động
sâu xa và chúng tôi hồi hộp không biết cậu bé còn nhớ
lại được quá khứ không để thiết lập lại liên hệ cũ
- vì lúc đó cậu mới lên chín - và ấn tượng của đời
sống mới chắc đã thúc đẩy lùi mọi ký ức tiền kiếp.
Chúng
tôi vội về nhà và nhanh chóng biết rằng đó quả thật là
tái sinh của Tomo Géché, người mà chúng tôi đã gặp. Thế
nhưng ngày hôm sau khi đến nơi thì được biết cậu đã rời
Gyantse trước khi mặt trời mọc.
Chúng
tôi thất vọng vô cùng nhưng tự nhủ sẽ được gặp cậu
tại Dungkar trên đường về và sẽ không những chỉ được
nói chuyện trong sự yên tĩnh mà còn được ở lâu với cậu
tại nơi mà chúng tôi đã từng quen thuộc và quí mến.
CÁC
CUỘC BIỂU DIỄN HUYỀN BÍ
Mọi
sự xảy ra hoàn toàn ngoài tiên liệu. Vài tháng sau khi chúng
tôi đến đền thờ “Vỏ sò trắng” thì mới hay Tomo Géché
Rimpotsché đã lên đường đi viếng một tu viện tại Darjeling.
Thế nhưng vài tháng sau nữa quay lại thì chúng tôi được
nghe từ cha ông - lạ thay - mà chúng tôi gặp ngay trong rừng,
giữa đường Gangtok và Kalimpong (và sau đó không còn gặp
lại nữa vì không bao lâu sau ông chết), rằng con ông đã
được trở lại Sera vì người ta cho rằng nơi đó đã yên.
Có ai ngờ được số phận nào đã diễn ra cho tu viện và
cả vùng này. Cũng như đau khổ không tả xiết cho vị tái
sinh trẻ tuổi. Nhưng thôi, tôi chưa muốn nói quá sớm.
Vì
nhiều lý do mà chúng tôi dừng chân nhiều tháng tại Gyantse
hơn dự định; đây cũng là thời gian mang lại hiệu quả
và kinh nghiệm quí báu. Nhờ dịp đó mà chúng tôi thăm được
nhiều tu viện và cốc độc cư trên núi xung quanh vùng Gyantse,
nhất là điện vàng “Vạn Phật”, biến nó thành nội dung
nghiên cứu trong thời gian chúng tôi có được. Khối lượng
tranh tượng của ngôi đền chín tầng này với hàng trăm khán
thờ riêng biệt mà mỗi nơi đều có những bích họa tuyệt
đẹp - đó là chưa nói vô số tranh tượng - thật ra cả đời
người cũng không nghiên cứu hết được. Ngoài ra chúng tôi
tham dự nhiều lễ nghi và sinh hoạt tôn giáo, kể cả những
vũ điệu tâm linh nổi tiếng cũng như các cuộc trình diễn
huyền bí với màu sắc rực rỡ của áo choàng, các mặt nạ
sinh động, những động tác huyền bí siêu hình với âm nhạc
tôn giáo. Tiếng nói của các lực lượng thiên nhân và ma
quỉ hầu như đọ sức với nhau trong một đấu trường vĩ
đại của một thứ kiến trúc to lớn, của những ngọn núi
với tới trời.
Tôi
đã từng thấy các cuộc biểu diễn tương tự tại Yiga-Tschưling,
Hemis, Gangtok và tại một số tu viện nhỏ, nhưng ấn tượng
nhất là tại Hemis (Ladakh), nơi mà các cuộc biểu diễn kéo
dài ba ngày với hàng ngàn khán giả, nhiều người phải đi
vài ngày đường để đến xem. Phần lớn trong số họ phải
cắm lều bên ngoài tu viện, viện này nằm trên một mỏm
núi cheo leo tuyệt đẹp. Ở dây (khoảng đầu những năm ba
mươi), người ta chưa liên lạc với thế giới bên ngoài,
phần lớn chưa ai thấy một chiếc xe có bánh, nơi mà nhắc
đến tàu hỏa hay tàu thủy chỉ gây nên cái mỉm cười nghi
ngờ, còn máy bay thì chưa nghe ai nói tới - đây là nơi mà
ta thấy rõ ấn tượng của các cuộc biểu diễn huyền bí
lên các người ít học thức và tham gia cùng với cảm xúc
trọn vẹn của họ.
Những
cuộc biểu diễn huyền bí này không phải là trò diễn xuất
cho đám đông hiếu kỳ mà ý nghĩa của nó là mở một thực
tại cao hơn ở bình diện con người nhờ những lễ nghi huyền
bí, trong đó phần của thế giới tâm linh được hô triệu,
thể hiện thông qua những người chịu từ bỏ cá thể mình
trong một thời gian nhất định. Sự từ bỏ cá thể đó được
thực hiện bằng nhiều nghi lễ. Sau đó họ trở thành công
cụ và bình chứa cho các năng lực siêu nhiên mà họ mang mặt
nạ đại diện. Những mặt nạ này, dưới ánh mặt trời
rực rỡ và với vũ điệu của những người mang, hầu như
toát ra một sự sinh động siêu nhiên, không phải chỉ có
tính cách của một thiện thần mà còn thể hiện khía cạnh
đáng sợ mà các năng lực cao cấp hiện lên trong ngoại cảnh
cũng như trong lòng người: Uy lực của thần chết và sự
hủy hoại, cái đáng sợ của sự bất định, năng lực của
sự phẫn nộ và ảo giác những bóng ma của sự nghi ngờ,
chúng theo ta từ lúc sinh ra đến ngày chết, từ lúc chết
đến ngày sinh, cho đến lúc ta học được bài học, biết
xem sinh tử với một lòng can đảm, lòng này chỉ được sinh
ra từ lòng từ bi với mọi chúng sinh và từ tri kiến về
tự tính đích thực của mọi dạng xuất hiện. Bao lâu ta
còn chưa hiểu rằng mọi dạng thức đáng sợ đó đều là
hiện thân của chính tâm thức ta và là sự chuyển hóa của
chính năng lực đưa ta đến giác ngộ, thì bấy lâu ta vẫn
còn phiêu bạt trong vòng sinh tử, như Tử Thư viết.
Vì
thế, các cuộc biểu diễn huyền bí của Tây Tạng nhằm thể
hiện thế giới siêu nhiên nay, hay đúng hơn là thế giới
siêu việt, nó phản ánh trong tâm con người và thể hiện
ra, thế giới đó áp đảo tâm người, nếu tâm người không
biết cách phát biểu đúng đắn. Các lễ nghi của người
Ai Cập cổ hay sự thờ cúng vị thần Dionysos(40) cũng có nguồn
gốc đó. Và cũng như tại Hy Lạp, các màn kịch tôn giáo
phát xuất từ vũ điệu thờ Dionysos thì các màn biểu diễn
huyền bí Tây Tạng bắt nguồn từ vũ điệu của nhà huyễn
thuật, trong đó những động tác tượng trưng và sự ban phép
được áp dụng để trừ tà và mang lại các năng lực tốt
lành.
Cũng
như với người Hy Lạp cổ, các vũ điệu mặt nạ Tây Tạng
cũng được diễn ra ngay trong đám người xem. Ở đây không
có bục trình diễn phân cách khán giả mà các vũ điệu được
thực hiện hiện ngay trong sân tu viện, xung quanh là hành lang
hay các phòng trưng bày, nơi mà khách quan trọng được mời
ngồi, còn những người khác chen chúc nhau trong các phòng còn
lại, có người ngồi trên cả mái nhà. Các kiến thức đầy
ấn tượng của các phòng, các hành lang trang hoàng rực rỡ
cũng như khán giả đây màu sắc vui tươi tạo nên một khung
cảnh tự nhiên đẹp mắt, nó không hề tách rời với các
vũ công, như công trình kiến trúc không xa phong cảnh, người
xem không xa người diễn. Người xem và người diễn hòa lẫn
với nhau trong một chứng thực chung, không còn biên giới nào
giữa tự nhiên và siêu nhiên, giữa cái thế tục và thiêng
liêng, nó làm cho người xem cũng là kể tác động, cho người
xem tham dự vào một thực tại huyền bí, do tâm tạo, của
một tầm ý thức cao hơn. Sự chờ đợi, niềm tin kiên định,
phản ứng và cảm xúc hồn nhiên của họ hầu như đã tạo
nên một ý thức chung bao trùm, trong đó người diễn và người
xem cùng sống, họ được cùng nâng lên trong một bình diện
chứng thực tâm linh mà bình thường họ không đạt được.
Thật
là khó quên khi thấy những hình ảnh siêu nhân của các vị
thiên thần địa thần, các ma quỉ từ trong bóng tối của
chính điện bước ra và uy nghi đi lên bậc tam cấp để vào
sân của chính điện bước ra và uy nghi đi lên bậc tâm câp
để vào sân điện, hòa với hơi thổi của những chiếc kèn
khổng lồ và nhịp đập chầm chậm nghiêm trang của xập
xỏa. Hàng ngàn con người trầm tư, đứng chen chúc trong sân,
trên các hành lang, ban-công, mái nhà xung quanh, nín thở, hầu
như mất hồn vì sự huyền bí đầy uy lực. Dần dần các
vị thần tôn kính xuất hiện: với dù lọng đầy màu sắc
là vị chúa tể của năng lực siêu nhiên; Liên Hoa Sinh, đi
theo các hóa thân khác nhau của Ngài mà Ngài đã sử dụng
trong nhiều lúc, nhiều đời sống để phụng sự người;
là Phật Thích-Ca, là vua, là học giả, là tu sĩ du già, là
tăng sĩ, cũng như trong tình trạng phẫn nộ, như người chiến
thắng ma quỉ, như bậc hộ pháp, như người truyền dạy về
một thực tại cuối cùng nằm ngoài mọi khái niệm. Với
những bước chậm rãi của vũ điệu và động tác thần bí,
các dáng hình này đi vòng xung quanh cột mang cờ cầu nguyện
giữa sân chính điện, trong lúc đó thì nhạc điệu trầm
bổng của một ban nhạc hòa lẫn với tiếng tụng niệm, nó
ban phép lành của chư Phật và các bậc thánh và ca tụng thiện
duyên của hành động các Ngài. Vầng mây hương tỏa lên bầu
trời và không khí rung động với tiếng gồng, tiếng trống
rất trầm, tiếng kèn, tiếng kim loại của xập xỏa.
Thế
nhưng trong lúc các hình ảnh tôn kính đang đi vòng quanh sân
điện thì không khí đang căng thẳng của khán giả bỗng nhiên
bị gián đoạn bởi sự xuất hiện của hai mặt nạ cười
nhăn nhở, hai người mang mặt nạ bắt chước làm theo các
động tác của các vị thánh và hầu như chế nhạo chư Phật
và các vị hộ pháp. Họ nhảy ra nhảy vào vòng quanh các vị,
nhìn chằm chằm khuôn mặt các vị, xem ra họ muốn chống
lại năng lực của các vị này và muốn chọc tức họ. Thế
nhưng các vị không quan tâm gì đến những kẻ phá hoại,
vẫn điềm nhiên đi tiếp đường đi của mình.
Kết
quả thật lạ lùng: thay vì phá hoại không khí thiêng liêng
và kỳ diện thì sự đối diện của cái cao cả và cái đáng
chê trách chỉ làm ý nghĩa của thực tại thêm phần sâu sắc;
vì thực tại bao gồm tất cả, trong đó cái cao nhất và cái
thấp nhất đều có chỗ đứng và phụ thuộc lẫn nhau. Chỉ
nơi đây ta mới đạt được cái tự tính của thế giới
và của đời sống của chính ta đúng trong kích thước và
tầm nhìn của chúng. Nhờ sự chứng thực một lúc hai cực
của thực tại mà tác dụng của nó được nâng cao. Chúng
giống như hai cực điểm của một bài ca: chúng mở rộng
biên độ của khả năng cảm nhận của ta, trong đó nhờ khoảng
cách tối đa của hai cực của sự cảm nhận đối kháng mà
không gian nội tại được mở lớn. Biên độ dao động càng
lớn thì cảm nhận của ta càng sâu sắc, càng ấn tượng.
Sự nghiêm túc và óc hài hước không hề loại trừ nhau; ngược
lại chúng tạo thành và minh chứng cho cái tràn đầy và toàn
diện của sự thực chứng và khả năng nhìn mọi chuyện một
cách tương đối, biết nhìn mọi “sự thực” - nhất là
tính tương đối của vị trí mình và cái nhìn của riêng
mình từ đó mà phát sinh, từ đó mà có phân biệt tốt xấu,
đúng sai.
Trong
các cuộc trình diễn huyền bí Tây Tạng, tất cả mọi dạng
đời sống đều hiện diện: thế giới của thiên nhân và
loài người, của sinh vật mang đầu thú, của loài quỷ đói,
của thần chết và sự hủy diệt cũng như sự hiện thân
mang nhân trạng hay phi nhân trạng, của lòng từ bi mà nhờ
đó mọi dạng hữu hiện được giải phóng khỏi hạn chế
của mình và thống nhất với một dòng sống to lớn hơn,
nó bao trùm tất cả.
Sự
đấu tranh giữa năng lực của ánh sáng và tối tăm, giữa
cái thiên tính và ma quái, giữa sự hủy diệt và khuynh hướng
tìm về đời sống vĩnh cửu: sự đấu tranh đó được diễn
tả trên bình diện lịch sử cũng như trong lĩnh vực phi thời
gian của tâm hồn con người. Liên Hoa Sinh đã đến và chiến
thắng của Ngài chống lại hắc đạo và thống trị của
loài quỉ dữ sống trên xương máu cúng dường của người
và vật, đó là chủ đề chính của ngày đầu các cuộc biểu
diễn trong các tu viện của trường phái cũ (Nzingma, Katgyüd
và Sakya), trong lúc đó thì phái Gelugpa diễn lại sự suy tàn
của vua Langdarma, người giết anh mình để đoạt ngôi và
sau đó bị một tu sĩ cải trang làm người của hắc đạo,
biểu diễn vũ điệu cung tên, bắn chết.
Thế
nhưng quan trọng hơn các tuồng tích lịch sử là các trình
bày liên hệ tới Tử Thư, tác pẩhm quan trọng của Liên Hoa
Sinh. Cuốn sách này nêu rõ, mọi thánh thần mà quỉ, sức
mạnh của ánh sáng hay bóng tối đều nằm ngay trong chính
ta và những ai muốn chiến thắng thần chết phải đủ khả
năng nhìn rõ tận mắt nó và thừa nhận nó ngay giữa đời
sống này. Sau đó thì chính cái chết đã vén màn lên cho ta
thấy cái huyền bí sâu xa nhất là đời sống, nó sẽ xuất
hiện trong dạng thần chết đáng sợ; đầu bò, cùng với
ma quỉ dữ tợn, chúng hô triệu cái tâm lo sợ sẵn có của
con người, chúng sẽ giết chết con quỉ của bản ngã và
sự ích kỷ và do chính là cái hy sinh cúng dường duy nhất
mà Phật chấp nhận: hy sinh cái ta của mình. Thần chết không
ai khác hơn là vị đại từ bi: Quán Thế Âm. Thế là những
phẩm vật cúng dường đầy xương máu của quá khứ đen tối
đã được thay bằng bản ngã nhỏ bé của chính ta - cái ta,
cái đã cầm tù ta từ vạn kiếp và ngày nay còn trói buộc
ta trong vòng sinh tử, cho đến ngày ta vượt khỏi cái ta bé
nhỏ, vượt ra vòng kiềm tỏa của nó.
Liên
Hoa Sinh, một trong những vị thầy minh triết nhất của mọi
thời kỳ, đã cho lễ nghi huyền bí này một ý nghĩa mới,
lễ nghi vốn được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
bởi tu sĩ đạo Bưn. Thấy chỗ cho những phẩm vật đẫm
máu mà con người dùng để khẩn cầu các thế lực tối tăm
đang bị đe dọa là sự chiến thắng chính mình. Trái tim con
người đã trở thành sân khấu của vũ trụ và sự chuyển
mình này được diễn tả trong buổi diễn như sau; thay chỗ
cho con người hay vật còn sống là hình nộm một người làm
bằng bột màu, hình đó được một con quỉ chỉ còn bộ
xương vác vào sàn diễn và nhảy múa xung quanh, sau đó thần
chết với đoàn tùy tùng đi vào và đuổi quỉ ra.
Cuối
cùng là giai đoạn quan trọng và đầy kịch tính nhất của
buổi hành lễ, cao điểm của vũ điệu trong ngày thứ hai
của buổi diễn theo các trường phái cổ: Thần chết, được
tượng trưng bởi một mặt nạ đầu bò xanh đậm, ba mắt,
đeo đầu lâu, tay trái cầm sọ người đầy máu, tay phải
cầm mã tấu - nhảy múa với bước chân dồn dập, càng lúc
càng say sưa quanh hình nộm nằm trên mặt đất, cho đến lúc
hình ảnh chỉ còn màu sắc thấp thoáng và lưỡi kiếm gần
như biến thành tia chớp. Tiếng trống và xập xỏa tăng dần
tiết điệu lên tới cao điểm nghe ầm ầm - và trong phút
giây này thì lưỡi kiếm đâm hình nộm, chặt ra từng miếng
và ném đi mọi hướng. Lúc đó loại quỉ tha ma ào tới giành
nhau những miếng đó, nhai nuốt chúng, ném phần còn lại lên
không và vào người xem, để họ cũng tham gia vào bữa tiệc
tượng trưng này.
Thật
là khó mô tả một ấn tượng về tác động vừa hiện thực
vừa kỳ bí của sự trộn lẫn giữa cảnh tự nhiên và siêu
nhiên này. Những mặt nạ lớn, với màu sắc và hình dạng
đầy ấn tượng hầu như sống thực một cách đáng sợ và
xem thật hơn cả những người mang chúng hay khán giả đắm
mình trong buổi diễn. Họ chứng một tình trạng vượt lên
sự hiện hữu đang có, cho họ một cái nhìn qua bên kia biên
giới của sự chết, nơi mà tất cả cánh cửa mở ra cho mọi
thế giới và mọi dạng của sự tái sinh, và nơi mà con đường
dẫn ra khỏi những thứ đó hiển hiện trước mắt nội tại
hay thể hiện thành niềm mong ước được giải thoát và giác
ngộ.
Người
xem và người diễn bây giờ đã trở thành một. Họ là những
người tham dự tích cực của một buổi lễ thần kỳ, buổi
lẽ đã đưa họ vào một trong những điều huyền bí cổ
xưa nhất, trong đó mọi đời sống tôn giáo có chung một
gốc rễ và nơi mà con người bắt đầu thức tỉnh.
BUỔI
VẤN LINH CHÍNH THỐNG TẠI NETSCHUNG
Cái
huyền bí của sự chết là một trong những thách thức lớn
nhất của con người và là nôi sinh của tôn giáo. Chỉ với
cái chết con người mới ý thức về cái sống. nhà sinh vật
học người Pháp Lecomte de Noüy(41) đã nói: “Sáng tạo lớn
nhất của tự nhiên là sự chết”. Nói cách khác, ngay cả
từ cách nhìn sinh vật học, cái chết không phải là sự phủ
định đời sống mà là một phương tiện cho cái sống mở
thêm không gian và tự nâng mình lên một mức độ cao hơn.
Tính
liên tục vật lý là đặc trưng của các sinh vật thấp bé,
của những dạng sống thô sơ và chưa phát triển; vì sự
liên tục vật lý trói buộc sinh vật vào các định luật
cứng nhắc của vật chất và vào quy định của những mẫu
hình sẵn có, chúng chỉ biết lặp lại, ngăn cản mọi dạng
thay đổi và trở thành chướng ngại lớn nhất trên đường
phát triển.
Ngược
lại, cái chết là một đặc tính riêng của đời sống cao
cấp, chúng gìn giữ được những tính chất và kinh nghiệm
đã có bằng cách phát triển một đời sống mới, bây giờ
không phải bằng gián phân tế bào, mà bằng một quá trình
hội nhập, nó không còn giữ tính liên tục vật lý nữa mà
tính liên tục tâm lý - một sự liên tục cho phép xây dựng
nên một thể sống mới phù hợp với động lực riêng của
mình, nó không bị những gì xưa cũ cứng nhắc và mòn mỏi
chồng chất lên.
Cũng
như sự chuyển biến từ thể liên tục vật lý qua thể sau
là tính liên tục tâm lý, thì bước sau đó chỉ được thực
hiện bởi một cá thể đã phát triển cao nhất: đó là bước
đi từ sự sống vô thức đến cuộc sống hoàn toàn ý thức
(và cuối cùng là tâm thức quán chiếu) bằng phép chuyển
htức (hpho-ba)
Nhưng
trước khi con người hình dung được về bước di này thì
nó đã nhận ra ý nghĩa của cái chết như một chìa khóa mở
cánh cửa huyền diệu của một đời sống cao hơn. Từ nhận
thức này mà sinh ra sự thờ cúng cái chết, một dạng thô
sơ của tôn giáo. Nó làm con người bắt đầu xây dựng những
công trình kỷ niệm trường cửu (khác hẳn với nhà cửa
mỏng manh của người sống), đó là những công trình không
nhắm tới sự sử dụng đương thời mà xuất phát từ một
động lực hướng về sự sử dụng đương thời mà xuất
phát từ một động lực hướng về sự miên viễn, từ một
tha thiết của tâm thức hướng về một thực tại nằm bên
kia cuộc sống.
Vì
thế nguồn gốc của tôn giáo không phải là sự sợ chết
mà là thừa nhận cái chết như nhà đạo diễn lớn và kẻ
dẫn đường vào tự tính đích thực và sau xa của con người.
Sự sợ chết chỉ xuất hiện vào thời điểm khi mà tâm người
đã tới một dạng cứng nhắc của tính cá thể, với ảo
giác tưởng mình có một tự ngã bất di bất dịch, có một
linh hồn tự tại, có một cái ta thường hằng, phân cách
người này với người khác, tưởng rằng hữu sinh khác vô
sinh: với cách này nó đã vạch một đường ranh giữa sống
và chết, đường này cuối cùng thành một biên giới chắc
thật, thành một bức tường không vượt qua được, nơi mà
mọi đời sống đụng đến đều bị tan vỡ.
Thế
nhưng lúc con người chưa đánh mất mối liên hệ nội tại
của nó với gốc rễ và thực tại quanh mình, trong một thế
giới mà con người còn tiếp xúc với những năng lực tinh
tế của thiên nhiên, của linh hồn, của tổ tiên, của thánh
thần và ma quỉ - nói gọn là trong một thế giới mà không
có gì được xem là chết - thì cái chết không phải là đối
thủ của cái sống mà là một giai đoạn trong vận động
của con lắc đồng hồ, một bước ngoặt, như sự sinh nở.
Vì con lắc dao động từ lúc sinh đến lúc chết và về lại
từ lúc chết đến lúc sinh.
Sự
dao động của con lắc đời sống không phải chỉ có một
chiều, một bình diện; nó có thể dao động trên vô số bình
diện, trên mọi bình diện của tâm thức, tuân thủ động
lực tiên thiên của nó, hay phù hợp với những gì nó nhận
được trong khoảnh khắc phi thời gian; đó là chỗ con lắc
nằm giữa cái chết và đời sống mới, chỗ nằm giữa những
đời sống. Trong khoảnh khắc phi thời gian này thì những
ai biết cách nhìn vào bên trong, ai có khả năng nội quán nhờ
thiền định sadhana hay dhyana, người đó sẽ nhận thức được
giai đoạn hiện hữu này, giai đoạn cho phép họ nắm lấy
cơ hội tốt nhất để chứng mục đích cao nhất của mình,
như trong Tử Thư đã mô tả.
*
*
*
Ta
cũng có thể tiếp xúc với những lĩnh vực của đời sống
mà thường ta chỉ gặp lúc chết, giai đoạn bước ngoặt,
nếu ta chủ động đưa mình vào trong một tình trạng đặc
biệt của sự tiết giảm cõi sinh, bằng cách tự mình đi
vào cõi chết, néu ta biết chế ngự được thân và từ bỏ
ý thức cá thể. Đó là tình trạng đồng cốt, nó có thể
sinh ra bằng sự tự thôi miên, bằng một số phép du già bay
bằng lễ nghi nhiều uy lực, trong đó nội tâm ngoại thể
tác động lên nhau để sinh ra năng lực siêu nhiên mà thường
chúng chỉ nằm tận trong các tầng tâm thức sâu kín của
con người mà ý chí không đạt tới.
Những
lễ nghi này mà các nhà huyễn thuật, phù thủy và pháp sư
ngày trước từng biết rõ - những người có uy lực lên tâm
người và chìa khóa tìm đến các năng lực bí ẩn - các lễ
nghi này vẫn tồn tại sau khi đạo Phật đến Tây Tạng, mặc
dù có thay đổi chút ít, chúng được đưa vào trong khung cảnh
của ý niệm và truyền thống Phật giáo. Liên Hoa Sinh, bản
thân Ngài cũng là đại sư trong khoa học huyền bí này, sử
dụng chúng một cách khôn khéo để dành chiến thắng chống
lại các phù thủy đạo Bưn bằng chính vũ khí của họ, khi
họ tìm cách chống các ảnh hưởng của đạo Phật. Đồng
thời Ngài cũng tôn trọng các vị địa thần tại đó và
cho họ một vị trí đáng kính trọng trong hệ thống Phật
giáo, xem họ là các vị hộ pháp, cũng như Phật Thích-Ca đã
làm với các vị thần của Ấn Độ giáo.
Các
vị hộ pháp này được thờ trong một ngôi đền riêng tại
Samyé, đền cô nhất của Tây Tạng, do Liên Hoa Sinh xây dựng.
Người ta nói rằng các vị tu sĩ cao cấp ở đền này luôn
luôn được các vị hộ pháp nhập vào khi cử hành lễ nghi
hô triệu họ. Trong các dịp này các vị đó xuất thần, các
vị hộ pháp thông qua các vị đó mà phát biểu và trả lời
các câu vấn linh. Vì thế mà có các cuộc vấn linh tại Samyé.
Thường
người ta cho rằng phái Gelugpa là phái lánh xa nhất với phái
cổ truyền Nyingmapa, ít chịu ảnh hưởng nhất của các lễ
nghi huyền bí. Lạ thay cũng chính Gelugpa không những là người
giữ các cuộc vấn linh truyền thống tại Samyé mà còn xen
nó là một công việc chính qui của quốc gia. Điều này xảy
ra với Đạt lai lạt ma thứ 5, lúc Gelugpa đạt tới đỉnh
cao của quyền lực. Trong thời đó, vấn linh tại Netschung,
trong tu viện nổi tiếng ở Drepung trở thành chính thống cho
cả nước. Cuộc vấn linh này được xem là có thẩm quyền
cao nhất và người ta luôn luôn hỏi ý kiến mỗi khi gặp
khó khăn trong việc đi tìm tái sinh của một lạt ma cao cấp
(ví dụ Đạt lai lạt ma hay Tomo Géché Rimpotsché) hay trong các
quyết định quan trọng. Ngay các vị Đại lai lạt ma cũng
nghe theo những phát biểu của cuộc vấn linh mà các tiên đoán
thường chính xác đáng ngạc nhiên.
Không
phải chỉ tại Netschung mới có vấn linh. Nhiều tu viện quan
trọng của Gelugpa cũng có những cuộc vấn linh riêng, thông
qua các tu sĩ có vị trí cao cấp trong hệ thống giáo hội.
Tất cả các vị đó đều phải được cuộc vấn linh chính
thống thừa nhận,sau khi đã trải qua huấn luyện nghiêm khắc
và kiểm tra chặt chẽ. Nhiều đền đặc biệt được chuyên
sử dụng cho nghi thức vấn linh đó và tất cả mọi thứ
liên quan đến lễ nghi đều hết sức rực rỡ nên những
đền đó đều chứa dựng những bảo vật thiêng liêng nhất
của Tây Tạng. Cũng như chính điện tại Lhasa, Dschokhang và
tháp chuông của Đạt lai lạt ma, mái đền thờ Nétchung đều
được nạm vàng.
Từ
Netschung có nguyên nghĩa là “làng nhỏ” và bắt nguồn từ
một câu chuyện dân gian. Có một nhà huyễn thuật nọ, sống
trên thượng nguồn của sông Kyi-tschu - sông chảy qua Lhasa
- ông bắt được một thần thức nhiều uy lực và giam giữ
nó trong một cái hộp vứt xuống sông. Khi chiếc hộp trôi
qua tu viện ở Drepung, có một vị tu sĩ đang ở dưới lũng,
ông tò mò vớt hộp lên và mở ra. Thức liền thoát ra khỏi
hộp, mang dạng một con chim bồ câu bay đi, hạ cánh xuống
một khu vườn. Để lấy lòng thần thức và tránh tai ương,
người ta cho xây nơi đây một ngôi đền và kể từ đó vị
lạt ma giữ đền luôn luôn được thần nhập vào, cứ mỗi
khi làm lễ hô triệu.
Thực
tế là buổi vấn linh tại Netschung không phải được một
vị mà đến sáu vị thần hộ pháp tham gia, đó là một dấu
hiệu rõ ràng là nó bắt nguồn từ Samyé. Câu chuyện huyền
thoại nói trên có lẽ nhằm che đậy thực tế đó, nhất
là trong thời kỳ mà phái Gelugpa tìm cách đẩy lùi ảnh hưởng
của các trường phái cổ để củng cố hệ thống hóa và
tập trung lực lượng tâm linh và chiếu cố đến các truyền
thống cổ, vì kiến thức cũng như khả năng của các truyền
thống đó về các vấn đề tâm lý hay tế tự đã đi sâu
vào lòng quần chúng và chiếm được lòng tin nơi họ.
Vì
những lẽ đó mà có lẽ Đạt lai lạt ma thứ 5 đã chấp
nhận cho phép vấn linh được trở lại với tầm quan trọng
ban đầu và cho nó một chỗ danh dự trong giáo hội Gelugpa.
Điều này tỏ rõ trong việc trang hoàng lộng lẫy đền vấn
linh. Để chiếm cảm tình của những lực lượng hung hăng
và đen tối, ngôi đền thiêng liêng và tất cả pháp khí liên
hệ đều được thiết kế bằng những vật liệu quí giá
và được chế tạo theo quy định nghiêm nhặt của biểu tượng
huyền bí rất cổ. Tất cả các pháp khí đều được làm
bằng vàng hay bạc, nạm đá quý. Các vách tường đều mang
bích họa mà những hình ảnh ma quái với bảo vật cùng đồ
cúng dường được phủ bằng nhũ vàng trên nền đen. Trong
những viền vàng đó, màu sắc ít được sử dụng đến,
nhưng nhờ nền đen nên nó hiện ra lung linh, hầu như được
một thứ ánh sáng phosphor(42) chiếu rọi. Dưới các bích họa
là một băng dài chạy quanh đền với các câu chú chữ vàng,
viết chữ Lantsa của thế kỷ thứ 10,11, trong đó hiện thân
các năng lực thánh thần và ma quái. Chiếc ngai cho thầm vấn
linh được đẽo gọt và thếp vàng được đặt tren bục
cao giữa các cột sơn son và cẩn đá. Tượng lớn bằng người
thật của sáu vị thần, mang dáng như ma quái, vung vũ khí
để bảo vệ đền. Các vũ khí đó cũng được để trước
ngai của tu sĩ vấn linh, và lúc ông xuất thần bất chợt
nắm vũ khí nào là dấu hiệu của một trong sáu vị thần
hộ pháp nào đang nói chuyện; họ biến ông thành hình ảnh
sinh động của vị thần đang nói qua miệng ông.
Ai
chưa tận mắt thấy sự chuyển hóa này thì không thể hình
dung ra được ấn tượng lạ kỳ, thậm chí đáng sợ sinh
ra, kể cả đối với những người khách quan nhất; vì những
gì xảy ra ở đây hầu như đi ngược lại mọi qui luật của
suy luận: trước mắt ta, một người biến thành một sinh
vật khác, có một nhân cách hoàn toàn khác, về thể xác cũng
như linh hồn. Nét mặt người đó thay đổi liên tục, đầu
trương to hơn bình thường, thân như cao lớn hơn và có một
sức lực siêu nhân của năm sáu người hợp lại, năng lực
đó chứa tràn trong thân người đang ngồi trên ngai.
Nếu
có chuyện tâm thức mà biến thành vật chất ngay giữa ban
ngày thì nó chính là đây. Đó chính là sự vật chất hóa
của những năng lực - dù cho đầu óc suy luận của ta có
muốn bác bỏ - mà tất cả những người tham dự đều thấy
và cảm được. Toàn bộ không khí trong đền hầu như tràn
ngập một sức mạnh không sao cưỡng nổi, nó đến vơi tất
cả những quan sát viên lạnh lùng nhất.
*
*
*
Có
thể có nhiều lý giải về hiện tượng này, thế nhưng đièu
chắc chắn là ở đây không có sự lừa dối, sự đóng kịch
(điều này sức người sẽ không chịu nổi) mà là một thực
tại vật lý, là những cái còn sót lại của một truyền
thống xa xưa của con người, trong đó vật lý và tâm lý,
người và thần, thế giới nội tại và ngoại cảnh, chưa
hề tách rời lẫn nhau. Tây Tạng xem ra là vùng đất cuối
cùng trên địa cầu, trong đó tri kiến về năng lực tâm lý
không những chỉ được gìn giữ mà còn được chế ngự
và chuyển vào những kênh trục an toàn. Đây cũng là nhờ
tri kiến sâu xa và sự hướng dãn khôn khéo của các thánh
nhân Phật giáo, những người đã không kiềm hãm truyền thống
lễ nghi - mặc dù không liên hệ gì với Phật giáo - chúng
vốn đóng một vai trò sống động trong đời sống tâm linh
của dân tộc Tây Tạng, mà còn cho nó một chỗ đứng hợp
lẽ trong thế giới Mật tông và nhờ thế đã cứu chúng khỏi
rơi vào trong thuyết ma quái vô phương kiểm soát. Những vấn
đề thuộc loại này không thể giải quyết bằng cách phủ
định nó mà bằng sự chủ động đối mặt với nó.
BUỔI
VẤN LINH TẠI GOMPA
Trong
lần thăm viếng đầu tiên tại Dungkar, Li Gotami và tôi từng
trầm trồ vẻ đẹp của ngôi đền vấn linh với ngai mạ
vàng, hình tượng ma quỉ và các bức bích họa tuyệt diệu.
Thế nhưng chúng tôi không được nghe sự giải thích nào về
các chức năng của chúng, cũng không rõ vị tu sĩ vấn linh
có ở trong đền hay không và dịp nào thì ông mới làm lễ.
Chúng tôi có cảm giác rằng vị tu sĩ trẻ tuổi đưa đi xem
đền không muốn nói tới những điều này và vì hồi đó
chúng tôi mới đến và ông cũng chưabiết rõ chúng tôi lắm,
nên ông giữ im lặng, tuân thủ nội qui trong việc thờ cúng
ma quỉ.
Vì
có nhiều điều phải làm khác chiếm hết sự chú ý của
mình nên chúng tôi cũng không gấp. Chúng tôi được vị tu
viện trưởng và các thành viên trong đền tiếp đón nồng
hậu nên nghĩ rằng với thời gian, sẽ không có gì mà họ
không chia sẻ cho chúng tôi. Vị sư trưởng vui thích vì tìm
thấy nơi tôi bạn đồng môn, ông cũng là một học trò của
Tomo Géché Rimpotsché. Ông muốn chúng tôi khi trở về từ trung
Tây Tạng phải lưu lại một thời gian lâu tại Dungkar. Chúng
tôi vui mừng nhận lời mời vì thấy rằng tâm thức của
Tomo Géché vẫn còn sống động nơi đây. Điều này hiện
rõ trong sự ân cần của tu sĩ, sự thứ tự sạch sẽ trong
khắp tu viện, tu sĩ sống kỷ luật mà không khắt khe, cũng
như sự lễ độ của mọi người đối với nhau, không kể
đẳng cấp hay tuổi tác. Mọi trách nhiệm tôn giáo đều được
thực hiện chu đáo, mỗi người ai cũng có công việc của
mình và trẻ con đến học nơi đây đều tỏ ra vui vẻ, tinh
tấn, chứng tỏ chúng được đối xử tử tế. Thỉnh thoảng
chúng tôi thấy Lobonla, tên của vị sư trưởng, chậm rãi
di dạo với chiếc dù trong tay; và khi thấy trẻ con đứa nào
nhớ nhà, ông lại vỗ về an ủi chúng. Riêng sức khỏe của
Lobonla không mấy tốt và vì bệnh phong thấp mà ông nhấc
thân mình nặng nề của mình một cách khó khăn.
Vì
thế mà chúng tôi càng cảm động khi trở về được Lobonla
và một nhóm những tăng sĩ lớn tuổi tiếp đón. Mặc dù
không có sức leo cầu thang (bậc thang ở Tây Tạng thường
rất dốc), ông vẫn nhất định leo theo chúng tôi lên tới
phòng thờ riêng dành cho trên tầng trên và tiếp đãi chúng
tôi với bánh và trà.
Đến
lễ cầu nguyện lớn, mọi người từ các lũng lân cận tràn
về tham dự, các tu sĩ lo chuẩn bị nghi lễ sẽ được cử
hành buổi tối và suốt đêm. Buổi sáng các vị tu sĩ làm
lễ pratimoksa (sám hối) trong chính điện, lễ này chỉ dành
riêng cho một số người, chúng tôi ở lại trong phòng thờ.
Khoảng
giữa trưa chúng tôi nghe tiếng rền từ Tschukyong Lhakhang dội
vào và thấy một đám đông người chen chúc trước cửa đền
vấn linh. Rõ ràng là sắp có lễ lớn và vì đoán thậm chí
sắp có vấn linh, chúng tôi chạy nhanh xuống sân, chen chúc
vào đám người. Chúng tôi bị đẩy dần lên đền và cuối
cùng thấy mình trong chính điện đầy người và khói nhang.
Không biết sao chúng tôi lại đứng ngay trước ngai của vị
đại vấn linh.
Thật
kỳ diệu và bất ngờ, nên chúng tôi nhìn như dán vào dáng
hình sang trọng của người mặc áo lụa, ngồi trên ngai vàng
trước mặt chúng tôi và mang trên đầu một vương miện vàng
nạm ngọc. Trên ngực có một tấm gương kim loại sáng loang
loáng, trên vành gương có khắc mẫu tự HRIH thiêng liêng.
Như hình ảnh của một vị đại đế thời xưa, một bậc
đầy quyền uy, toát ra mọi dấu hiệu của uy lực, hình dạng
người này xuất hiện đối với chúng tôi như một siêu nhân.
Bỗng
dàn nhạc với chiêng trống xập xỏa lên tới đỉnh cao tột
độ cùng với tiếng niệm chú rì rầm của dàn tu sĩ, hô
triệu các vị hộ pháp, tiếng tụng kinh kèm theo tiếng chuông.
Từng đám mây hương bốc lên từ những bình đựng trầm
và khán giả đứng như trời trồng trong buổi lễ. Tất cả
các cặp mắt đều dán lên người ngồi trên ngai, người
đó như một bức tượng nhắm mắt ngồi bất động, chân
để trong hai chiếc giày cúng, nằm yên trên sàn.
Đột
nhiên người đó có một sự rung động từ dưới đất thoát
lên, nó chiếm lấy hai chân, tăng cường sức lực, chiếm
dần thân thể, rồi cuối cùng toàn thân rung lên như điện
giật. Hầu như có một dòng diện ghê gớm đi từ lòng đất,
tràn ngập thân thể gần như muốn nổ tung người đó. Cuộc
chiến đấu của một bên là thân người, bên kia là một
uy lực bí ẩn muốn chiếm lấy nó và biến nó thành quỉ
thần thật đáng sợ. Các nét trên khuôn mặt cũng thay đổi
hoàn toàn, biến thành một con người khác, đúng hơn là thành
một vị thần hung nộ.
Khi
đó, một trong những tu sĩ lớn tuổi nhất, vị chủ lễ,
lên bục đến gần ngai để trình các câu hỏi nhờ vị thần
trả lời. Các câu hỏi trước đó đã được viết lên giấy,
xếp chặt lại. Vị chủ trì buổi lễ cầm giấy lắc qua
lắc lại trước con mắt thần vấn linh, trong lúc một số
tu sĩ khỏe mạnh khác đỡ và giữ thân theo đúng vị trí.
Thế nhưng vị chủ trì chưa kịp đi lui thì thần vấn linh
- như một người khổng lồ vừa tỉnh giấc - nhảy dựng
lên, đẩy đám tu sĩ đỡ mình qua một bên, cầm lấy một
thanh kiếm trên giá để trước mặt và múa với một vận
tốc khủng khiếp, hầu như chiến đấu chống lại một địch
thủ vô hình. Thật là một cảnh tượng đáng sợ làm tất
cả mọi người như bị buộc vào một vũ điệu thác loạn
của sự tàn phá, của một sức mạnh ma quái, trong đó không
ai ngại lưỡi kiếm có thể sút tay văng vào người.
Những
người đứng gần ngai đi lui vài bước, còn năm sáu tu sĩ
mạnh mẽ được lựa chọn từ trước ra sức kéo thần vấn
linh lui về ngai. Vị tu sĩ vấn linh xem ra không để ý và xua
đuổi các vị kia như một đám trẻ con cho tới lúc họ đưa
được con người khổng lồ đó về lại ngai sau nhiều lần
cố sức. Ông ngồi gục xuống, thở nặng nề, mồ hôi đầm
đìa trên mặt, miệng sùi bọt mép, phát ra tiếng ú ớ, dường
như muốn nói điều gì.
Vị
chủ lễ bước đến, tay cầm một tấm bảng, ông cúi xuống
bên cạnh vị tu sĩ vấn linh và viết những gì nghe được
lên bảng. Lúc diễn ra thông điệp của vấn linh cũng là lúc
của sự im lặng trân trọng, chỉ có tiếng tụng kinh rì rầm
vọng lên. Mặc dù sức mạnh dữ dội của quỉ thần trong
tu sĩ vấn linh đã giảm nhưng sự hiện diện của nó hầu
như ngự trị toàn diện, chiếm lấy mọi suy tư cảm xúc của
mọi người tham dự nên tất cả lại đến gần ngai, phủ
phục xuống chân để tỏ lòng kính mộ và xin phước lành.
Chúng tôi cũng có cảm giác như tâm mình được nâng lên và
bị chiếm lĩnh sâu xa, nên cũng quì lạy vị vấn linh, quên
hết mọi chuyện, chỉ còn thấy thực tại của một năng
lực nằm ngoài hiểu biết của mình.
Vị
tu sĩ chầm chậm đứng lên, các tu sĩ khác vội đỡ. Một
tách trà được dưa đến, vị đó uống một ít. Tiếng tụng
kinh vẫn rì rầm không dứt, tiếng chiêng trống chậm lại;
đám đông đã bớt căng thẳng.
Không
bao lâu sau tiết điệu nhạc lễ lại dồn dập, giọng tụng
kinh khẩn thiết hơn, vị tu sĩ lại rơi vào trạng thái xuất
thần. Ông bị một vị thần khác trong sáu vị thần chiếm
lĩnh, được biết qua món vũ khí ông cầm lấy trong lúc xuất
thần.
Tôi
không nhớ rõ mình đã tham dự bao nhiêu lần xuất thần cũng
không biết bao nhiều lần đã xảy ra trước khi vào điện.
Tôi chỉ biết tất cả sáu vị, vị này sau vị kia, đã chiếm
lĩnh vị tu sĩ để rồi ông nằm dài như một thây ma và cuối
cùng được khiên ra khỏi điện. Làm sao một thân người
mà chịu nổi lực khủng khiếp trong nhiều giờ liền, với
trạng thái xuất thần đầy áp lực, điều đó tôi không
hiểu. Điều chắc chắn là không ai chịu nổi nếu không ở
trong trạng thái xuất thần và không ai dám chịu hiểm nguy
giao thân mình cho một năng lực xa lạ nếu không tin nơi sự
cần thiết và giá trị của hành động mình.
CUỘC
ĐỜI CỦA MỘT TU SĨ VẤN LINH
Người
ta không thể hình dung sự trái ngược giữa không khí căng
thẳng và uy lực của một buổi vấn linh trong đền Tscho-kyong
và buổi lễ trăng tròn của ngày rằm tháng giêng được cử
hành ngay tối hôm rằm và kéo dài đến khuya. Buổi lễ này
tràn ngập tâm thức của Phật và trên mặt mọi người đều
phản ánh niềm vui này. Từ buổi sáng người ta đã cho chuẩn
bị chỉ riêng điều đó đã tạo nên sự vui thích, tương
tự như chuẩn bị lễ Giáng sinh tại các nước phương Tây.
Sự giống nhau càng tăng lên ở chỗ buổi lễ được tổ
chức vào một đêm đông tháng hai, dưới ánh sáng ấm áp
thân tình của hàng ngàn ngọn đèn dầu bơ trong sân điện,
mà bây giờ đã trở thành một phòng lễ đồ sộ. Người
ta căng lều bạt để ngăn chặn bớt tuyết vừa rơi chiều
nay. Mặt tiền hai tầng của chính điện được phủ bởi
một tấm tranh thanka bằng lụa nhiều màu vĩ đại. Bức thanka
được buộc lên mái điện và phủ dài gần tới đất. Trên
tranh, hình tượng chính là Phật Thích-Ca Mâu-Ni từ bi nhìn
xuống đám đông gồm tu sĩ và tín đồ nam nữ, họ mặt bộ
quần áo đẹp nhất và mang trang sức truyền thống của mình,
đêm đến cho buổi lễ một hình ảnh đầy màu sắc. Trước
bức thanka là một bàn thờ trên đó có hàng trăm ngọn đèn
chiếu sáng, hoa tươi, trái cây, hình tượng của thú, thiên
nhân, thánh nhân và người cũng như mọi biểu tượng tôn
giáo. Tất cả đều có hình tượng với chi tiết chính xác
và những màu rất nhã làm ta tưởng chúng bằng sứ. Thế
nhưng chúng tôi ngạc nhiên biết rằng, ngoài các con rồng
lớn phủ phục xung quanh, tất cả chúng được làm bằng bơ.