Đạo
sư từ trần
Hóa
thân
Sự
tái sinh
U
khanti: Nhà tiên tri trên núi Mandalay
Maung
Tun Kyaing
PHẦN
THỨ BA
TỬ
VONG VÀ TÁI SINH
ĐẠO
SƯ TỪ TRẦN
Sau
khi từ Gantok về, tôi rút lui sống trong phòng riêng của Tomo
Géché tại Ya-Gah Tscho-Ling một thời gian. Thời gian như ngưng
lại trong căn phòng nhỏ này. Kể từ ngày tôi được gặp
vị thầy đến bây giờ, không có gì thay đổi. Chỗ ngồi
của ông, trên đó chiếc áo choàng dài được xếp cẩn thận,
nhìn như ông vừa mới bước chân đi và trên bàn nhỏ trước
chỗ ngồi là một bình trà bằng ngọc xanh nhật được để
trên một đĩa bạc và bên cạnh là các pháp khí quen thuộc
như kim cương chử, chuông và bình bát. Chiếc đèn dầu bạc
nằm trước bàn thờ có khắc hoa văn với tượng vàng Dolma
cháy với một ngọn lửa đều đặn mà Katschenla, dù tuổi
đã cao, vẫn chăm chút lo lắng với sự tươi vui không thay
đổi.
Đối
với ông thì bậc dạo sư luôn luôn hiện diện và mỗi ngày
ông sửa chỗ ngồi, phủi bụi chiếc áo choàng tế lễ và
xếp lại đúng chỗ, rót trà trước khi uống chén trà của
mình, lau chùi và châm thêm cho chén nước, bình dầu, thắp
nhang, tụng niệm kinh tán thán và qui y rồi ngồi thiền định
yên lặng trước bàn thờ với tranh tượng khác nhau. Ông làm
như thế đúng theo trách nhiệm của một đời sống tôn giáo
và của một đệ tử hết lòng vì thầy. Được phụng sự
thầy, đối với ông là dạng cao nhất của “phụng sự thượng
đế”, vì điều này đồng nghĩa với phụng sự Phật.
Không
một hạt bụi nào bán trên bàn thờ đã được trang trí khắc
họa và dát vàng. Sàn nhà bóng như một tấm gương và các
bức họa thanka cũng như khung tranh quí giá không hề mất một
chút màu. Các tấm thảm dệt bằng tay trên kệ hoặc treo tường,
chiếc khăn nâu đậm căng dưới trần phòng và bức tranh lụa
vẽ bầu trời trên chỗ ngồi của bậc đạo sư và bàn thờ
chính cho một cảm giác tôi đang ở trong lều của một bậc
trưởng lão người Nomade hay chúa tể xa xưa ở vùng Trung Á
chứ không phải trong thế giới và thời đại ngày nay. Căn
phòng này mang hơi thở truyền thống của hàng ngàn năm, tăng
cường thêm bằng nhân cách của một người với sự hiện
diện sinh động của người đó.
Tôi
có một cảm giác tương tự như lúc gặp ông lần cuối tại
Sarnath(32), khi vườn xoài của trú xứ thiêng liêng này biến
thành khu vực cắm lều của người Tây Tạng và vô số đèn
dầu sáng trong đêm dưới các tàng cây để cúng dường Tomo
Géché Rimpotsché và đoàn đệ tử. Ông ở trong một căn lều
lớn ở giữa vườn xoài, dưới ánh sáng mờ nhạt của đèn
dầu và lửa trại mà đám khói như tấm màng mỏng lơ lửng
giữa cây cối và lều, lúc đó thì khu vườn đối với tôi
đã trở thành một ốc đảo nằm xa giữa lòng châu Á, trong
đó đoàn người ngựa hành hương sau một chuyến du hành nhọc
nhằn có được chỗ nghỉ ngơi. Thực tế thì đó là một
chặng cuối của chuyến du hành đời giác ngộ của vị đạo
sư - sự từ giã những thánh địa đánh dấu chuyến du hành
trên trái đất này của Đức Phật. Đó là chuyến hành hương
cuối cùng của Tomo Géché Rimpotsché đi Ấn Độ trong mùa đông
1935-1936 với nhiều học trò theo. Khắp nơi, ông được đón
tiếp nồng hậu, mặc dù ông xa lánh mọi sự tôn sùng cá
nhân và các buổi tổ chức công cộng.
Trên
đường ông về tại Yi-Gah-Tscho-Ling và Tây Tạng, qua Calcutta,
báo chí tại đó đưa tin: “Một vị lạt ma nổi tiếng, được
xem như đứng hàng thứ tư sau Đại lai lạt ma, hiện đang
ở Calcutta. Vị Géché Rimpotsché cao quí hiện trên đường
về Tây Tạng, sau khi đã chấm dứt chuyến hành hương đến
các thánh địa Phật giáo tại Bắc Ấn. Người ta cho rằng
Ngài có nhiều thần thông. Phần lớn thời gian của Ngài dành
để học tập kinh điển, giáo hóa học trò và thiền định.
Ngài tránh đám đông, không bao giờ ra khỏi phòng và không
bao giờ ngủ. Ngài được một đoàn gồm bốn mươi vị lạt
ma hộ tống. Các vị đó thăm Sarnath, Gaya và Rajgir. Tại Sarnath
các vị sống trong lều”.
Thông
tin cho rằng Tomo Géché không bao giờ ngủ dựa trên thực tế
là ông - như đã nói - không bao giờ nằm ngủ, mà luôn giữ
thế ngồi thiền định suốt đêm, thế nên dù có ngủ ông
cũng không mất sự điều khiển thân mình. Vì vậy ngay cả
giấc ngủ, theo phép tu thiền định cao nhất, cũng chỉ là
sự tiếp tục của một diệu pháp, nhưng ở trong một bình
diện ý thức khác. Hiển nhiên là không ai nghi ngờ Tomo Géché
có trình độ tâm thức vượt hẳn so với người thường
không tu tập, nhưng chắc ông sẽ không nhận từ “thần thông”
và nhất là chống lại cách phổ biến như thế trong quần
chúng. Khi giới ký giả vì tò mò đã tìm cách hỏi ông về
các năng lực siêu nhiên và các lễ nghi huyền bí của Phật
giáo Tây Tạng, ông chấm dứt câu chuyện và nói thêm những
điều đó không có lợi ích gì cho việc hiểu giáo lý căn
bản của Đức Phật.
Thế
nên giới ký giả đành ghi chép những chuyện xảy ra bên lề
của chuyến hành hương. Họ biết thêm rằng Sardar Bahadur Ladenla
là trưởng đoàn. Ông là người phục vụ cho Đại lai lạt
ma thứ 13 với nhiều cương vị khác nhau và được Ngài trao
tặng hàm của một tướng lãnh. Họ còn viết thêm là Tomo
Géché và Ladenla đã nạm vàng cho bức tượng Phật ở Sarnath
và vị tiểu vương xứ Bhutan đã gửi theo tặng một tấm
vải bạc cho bức tượng.
Tôi
tìm thấy các mẫu báo này trong nhật ký và bá tước Veltheim-Ostrau,
người được diện kiến Tomo Géché Rimpotsché tại Calcutta
ngày 2.2.1936. Vì quá nhiều người đến viếng, ông không nói
chuyện được với vị lạt ma. “Giữa đám đông người
đến rồi đi, lạt ma như cái trục của sự tĩnh lặng. Ông
ngồi trên một tấm thảm, mỉm cười yên lặng. Vị này gây
nên một ấn tượng vô cùng cao quí, già dặn tri thức, như
người đã đạt đến tình trạng giải thoát”.
Và
thực là như vậy; vì đây là giai đoạn cuối cùng của đời
Tomo Géché và nhất là sự chủ động bước qua một cuộc
sống mới đã xảy ra trong năm sau, điều đó nói lên ý nghĩa
chữ “giải thoát” ở trên, đó là sự chiến thắng thần
chết.
Katschenla
kể cho tôi nghe điều gì đã xảy ra trong những ngày cuối
đời của vị đạo sư; và về sau trong một chuyến thăm tại
Dungkar, tu viện của Tomo Géché tại thung lũng Tomo miền Nam
Tây Tạng, tôi nghe thêm chi tiết về cái chết của ông từ
chính các tu sĩ có mặt lúc đó. Vị thầy biết đến lúc
đã phải rời bỏ tấm thân nay đã trở thành gánh nặng.
“Nhưng”, ông nói, “không có lý do để buồn phiền. Ta
không rời các con, chẳng bỏ làm chuyện đạo pháp. Nhưng
thay vì kéo lê tấm thân già này, ta sẽ trở về thân mới.
Ta hứa với các con sẽ trở lại. khoảng ba bốn năm nữa
các con có thể tìm thấy ta”.
Không
bao lâu sau khi nói những lời này ông rút vào phòng thiền
quán và không cho ai được quấy rầy, mặc dù vẫn ở trong
phòng thường ngày của mình. Ông đi vào tình trạng nhập
định sâu xa liên tục mấy ngày liền. Sau mười ngày trôi
qua và thấy ông vẫn bất động trên bồ đoàn, các tu sĩ
chuyên lo lắng cho ông bắt đầu thấy ấy náy. Một vị cầm
một tấm gương đưa trước mặt ông. Khi thấy gương không
bị mờ, người ta biết hơi thở ông đã dứt. Vị đạo sư
đã từ bỏ thân mình ra đi trong lúc thiền định và chủ
động bước qua ngưỡng cửa sinh tử - hay đúng hơn: ngưỡng
cửa của đời này và đời sau.
HÓA
THÂN(33)
Sự
tạo dựng một hình ảnh sáng tạo, chứa mầm mống của ý
niệm cao đẹp nhất, đó là ý nghĩa đích thực của từ “Magie”,
đó chính là lực tạo tác, nó có thể sinh thành hay chuyển
hóa sắc thể. Vì thế một ý niệm chỉ có tác dụng khi nó
phải được xuất hiện bằng một biểu tượng, biểu tượng
đó không chỉ là một dấu hiệu thông thường ẩn dụ văn
thơ, mà là một biểu tượng có giá trị nhất định, sinh
động, cơ bản, đủ khả năng gây cảm thọ trực kiến nội
tâm và chứng nghiệm. Đó là lý do tại sao Phật giáo Tây
Tạng lại quan tâm nhiều đến linh ảnh và trực kiến về
các biểu tượng của Phật quả - các biểu tượng đó cũng
nhiều như các tính chất của một vị giác ngộ - và sự
quán chiếu các hình tượng thờ cúng, man-da-la (linh phù), thần
chú và các thứ tương tự. Tất cả những thứ này không
phải là ngoại vật để họ tôn thờ mà chủ yếu là phương
tiện để quán chiếu, qua đó mà hành giả trở thành đồng
nhất với ý niệm của mình, bằng cách tự chuyển hóa mình
trở thành chính niệm, biến mình thành hiện thân của ý niệm.
Tại
Tây Tạng, người ta biết đến một phép tu dành cho những
người biết giáo lý Bardo Thodol (nói về thân trung ấm, tức
là dạng ý thức giữa sống và chết hay giữa chết và sự
tái sinh). Mục đích của phép này là đi thẳng và trung tâm
của tự tính chúng ta, đó là chỗ mà ý thức rút về khi
cái chết của thân thể trờ tới, nơi ý thức chứng nghiệm
sự chuyển đổi từ đời nay qua đời sau. Nơi đây không
phải chỗ để soi xét lại quá khứ hay nhìn trước tương
lai mà là nhận thức và tri kiến trọn vẹn những mầm mống
đang hiện tiền của các khả năng sắp xảy ra. Ai nhận tức
được tự tính đích thực của chúng, người đó sẽ làm
chủ những năng lượng tàng ẩn trong chúng và trong phút giây
của sự chết có thể lèo lái chúng, để khi chúng được
giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thân cũ, chủ dộng
tiếp nối sức mạnh của chúng để đưa vào một thân mới.
Quá
trình này được Tây Tạng gọi là “chuyển thức” (hphoba).
Đó là một hành động di chuyển ý thức, nó có thể xảy
ra giữa hai cá nhân đã phát triển toàn vẹn hay sự chiếu
rọi ý thức của một người lên một mầm sống vừa tượng
hình trong lòng mẹ. Một sự tác động trực tiếp của ý
thức lên ý thức hay sự tập hợp tinh lực tâm linh dồn lên
một sinh cơ nhạy cảm, sẵn sàng cảm nhận mà bản thân nó
chưa biết hoạt động chỉ thụ động nằm chờ; ngày nay
dựa trên kiến thức của kỹ thuật radio, mối liên hệ giữa
máy phát và máy nhận ta có thể hiểu được.
Nếu
người bình thường hay chịu cái chết bất chợt và bị nó
áp đảo thì những kẻ đã kiểm soát được thân tâm đủ
khả năng tự rút ra khỏi thân thể mình, không phải chịu
cái đau đớn vật vã chống lại cái chết và ngay lúc đó
cũng vẫn không mất sự làm chủ về thân mình.
Điều
này được chứng tỏ trong cái chết của Tomo Géché với bằng
cớ là thân ông vẫn bất động trong thế ngồi thiền định
sau khi chết lâu cũng thế. Không ai biết rõ cái chết đến
từ lúc nào. Có thể nhiều ngày đã trôi qua khi người ta
đưa tấm gương trước mặt ông. Cả tuần sau thân ông vẫn
yên thế, như H.E. Richardson, vị đặc mệnh người Anh tại
Tây Tạng dã xác nhận. Vài tuần sau khi nghe Tomo Géché chết,
ông đi qua lũng, nơi có tu viện Dungkar Gompa. Và vì đã quen
vị Rimpotsché lúc còn sống, ông dừng chân, đi ngựa lên tu
viện nằm trên một đỉnh đá cheo leo giữa thung lũng phì
nhiêu. Vị sư trưởng chào ông trân trọng và Richardson chưa
kịp nói lời chia buồn thì vị vấy nói Rimpotsché vui mừng
được tiếp ông. Hoàn toàn ngạc nhiên và nghĩ mình nghe tin
sai, khách liền theo chủ vào phòng Rimpotsché. Ông ngạc nhiên
xiết bao khi vào phòng thấy Tomo Géché ngồi yên trên chỗ
thường lệ. Nhưng ông biết ngay đây chỉ là cái xác ngồi
trước mặt mình. vị sư trưởng thì hầu như nghĩ khác, vì
ông hành động y như vị Rimpotsché còn hiện tiền. Ông giới
thiệu khách vào và mời ngồi. Rồi ông nói - hầu như như
lặp lại tiếng nói của Rimpotsché - “Vị Ripotsché chào mừng
ông và hỏi ông đi đường ra sao, có khỏe mạnh không?”
- Với cách này mà câu chuyện diễn ra thực sự giữa Rimpotsché
và Richardson, trong lúc đó thì trà vẫn được dâng lên và
tất cả mọi sự đều bình thường, đến nỗi người khách
không tin vào giác quan của mình nữa. Thật là một chuyện
kỳ lạ và nếu Li Gotami và tôi nghe chính Richardson nói, mà
sau đó vài năm chúng tôi gặp lại ông tại Gyantse thì chúng
tôi ắt hẳn phải nghi ngờ.
Dĩ
nhiên không phải vị sư trưởng cố ý đóng kịch làm trung
gian để tiếp xúc với thần thức Tomo Géché, ông làm trong
niềm tin tưởng rằng vị đạo sư đang hiện tiền. Bao lâu
mà tấm thân thiêng liêng đã từng chứa thần thức của ông
duy trì - thì bấy lâu vị sư trưởng còn đối xử một cách
đầy kính trọng như thời vị đạo sư còn sống.
Đối
với người phương Tây, thật khó mà hiểu tâm tư của một
người Tây Tạng ngoan đạo và lại càng khó hiểu thái độ
của những kẻ mà cái sống và chết không phải là hai thái
cực mà chỉ là hai mặt của một thực tại độc nhất. Từ
thế đứng này, ta có thể hiểu được người Tây Tạng ít
sợ chết hơn phần lớn người khác. Khía cạnh cúng tế thần
chết của tôn giáo thời tiền sử cũng như di hưởng của
nó trong truyền thống và lễ nghi của Phật giáo Tây Tạng
- trong đó biểu tượng của cái chết như sọ người, bộ
xương, thây ma và mọi dạng của nát rữa, sự hoại diệt…
được ý thức - không phải phương tiện để xa lánh và quay
lưng với cuộc sống mà là cách để chế ngự các thế lực
đen tối chúng diễn tả mặt trái của đời sống.
Thân
của lạt ma nổi tiếng (như Đại lai lạt ma và Ban thiền
lạt ma) không được thiêu đốt hay hủy diệt mà được thờ
như xá lợi, trong các đàn thờ dát vàng bạc mà ta gọi là
Tschorten, được giữ lại cho hậu thế. Một đàn thờ như
thế được dành cho Tomo Géché và sự trang hoàng tuyệt đẹp
của đàn không phải chỉ là biểu tượng của sự chứng
thực cao tột của ông mà còn nói lên tình yêu thương và
sự tôn quí của người Tây Tạng dành cho ông. Khi nghe ông
mất, hàng ngàn người xa gần đều đến Dungkar Gompa để
tỏ lòng tôn kính lần cuối và mang theo phẩm vật như vàng
bạc và đá quý để xây đàn. Ngay cả những người nghèo
khổ cũng nhất định góp phần mình vào đó: nhiều người
dâng tặng bông tai có gắn đá xanh, nhẫn hay vòng đeo tay,
kẻ khác dâng vật trang sức bằng san hô hay vật dụng bằng
bạc. Họ không tiếc gì công của để xây dựng một cái
đàn xứng đáng, để đời sau còn nhắc nhở đến vị đạo
sư vĩ đại, để con cháu được hưởng sự hiện diện tâm
linh của ông. Lòng thiết tha và dâng cúng của tín đồ thật
không sao kể xiết. Vì tặng phẩm quá nhiều, ở dạng bảo
vật, tiền bạc và đồ trang hoàng nên người ta phải làm
một cái đàn bằng bạc cao hai tầng, khắc họa mọi hình
tướng, dát vàng bạc, và đầy những thứ đá quý, san hô.
Các thợ bạc khéo nhất được triệu đến để hoàn thành
một công trình mỹ thuật và hoàn hảo.
Phần
dưới của đàn đủ lớn để tạo ra một không gian, nơi
đó đặt xác ướp của Géché cùng với mọi pháp khí để
trên bàn thờ trước thân ông, như lúc còn sống. Còn đàn
thì được để trong một tòa nhà lớn xây lên chỉ dành cho
ông mà các vách tường xung quanh đều được tô vẽ bằng
hình tượng Phật, Bồ-tát và các vị hộ pháp đầy uy lực
cũng như một số thánh nhân khác, trong số đó có hình tượng
của tám mươi bốn vị thành tựu giả (Siddha)
Trước
khi thân ông được chính thức đưa vào an nghỉ trong đàn(34)
thì một bức tượng gần bằng người thật với thân người
và nét mặt giống ông được hoàn thành bởi các nghệ nhân
truyền thống. Trong mỗi đền do Tomo Géché dựng lên và cai
quản đều nhận được một bức tượng đúc lại từ đó
và thờ bên cạnh tượng Di Lặc. Tượng Tomo Géché được
trình bày với ấn giáo hóa, tay mặt đưa lên cao bàn tay ngửa
ra ngoài, như ấn vô úy của Phật Bất Không Thành Tựu, nhưng
khác ở chỗ là ngón tay cái và tay trỏ chạm nhau làm thành
vòng tròn, ám chỉ sự giáo hóa của pháp phi thời gian, từ
đó mà sinh ra tri kiến vô úy.
SỰ
TÁI SINH
Tomo
Géché Rimpotsché hứa sẽ trở lại với tu viện và học trò,
trong vòng thời gian đã định, và ông giữ lời hứa.
Thế
nhưng không bao giờ tôi ngờ sự tái sinh của ông rơi vào
đúng ngôi nhà mà tôi là khách khi lần đầu đến Tây Tạng,
đúng ngôi nhà mà tôi lại đến khi đi thăm vị ẩn tu ở
Latschen: nhà của Entsche Kasi. Từ chính miệng của Entsche Kasi
tôi được nghe chi tiết về sự tái sinh của Tomo Géché Rimpotsché
cũng như sự tìm kiếm và thừa nhận, với sự hỗ trợ qua
cuộc đại vấn linh tại Netschung gần Lhasa.
Đối
với tôi, Entsche Kasi là một người thành thật và sùng đạo
sâu sắc, nên tôi có thể bảo đảm cho những gì ông kể
lại, vói sự có mặt của Li Gotami. Mặc dù rất hãnh diện
là cha của một vị tái sinh, nhưng những gì ông kể đầy
sự đau buồn vì sau khi sinh không bao lâu thì vợ ông mất;
và vài năm sau, sau khi rõ rằng đứa bé này không ai khác hơn
là Tomo Géché thì ông phải đưa đứa con trai độc nhất này
cho người khác. Chỉ vì bằng cớ lớn lao của việc này và
cũng vì không muốn ngăn trở tương lai của đứa bé, chỉ
muốn “trở lại tu viện”, ông dành phải nhượng bộ và
cho phép trẻ về tại Dungkar cùng đi với các tu sĩ từ đó
gửi đến.
Vị
tiểu vương Sikkim cũng khuyên ông không nên can thiệp vào tương
lai cậu bé mà dã được cuộc đại vấn linh tại Netschung
thừa nhận và được chính những gì cậu nói cũng như toàn
bộ hành động đã cho thấy. Chính cậu nói mình không phải
là người Sakkim mà là người Tây Tạng và khi cha cậu gọi
tên là “pu-tschung” (bé con) thì cậu phản đối nói tên
mình là jigme (vô úy). Đây đúng thật là tên mà cuộc vấn
linh đã nhắc đến. Tomo Géché sẽ tái sinh.
Việc
một cuộc đại vấn linh chính thức được triệu tập chứng
tỏ tầm quan trọng phải tìm ra hóa thân của Tomo Géché. Xem
ra một cuộc vấn linh nhỏ tại Dungkar không đủ sức cho câu
trả lời; vì thế nên tăng lữ tại Lhasa thấy khỏi hỏi
thêm tại Netschung. Cuộc vấn linh tại đây không những chỉ
cho thấy phương hướng phải tìm trẻ nơi đâu mà còn mô
tả khá rõ trẻ sinh ở thành phố nào và cảnh vật gần đó
ra sao. Nhờ những chi tiết đó mà không có nơi nào khác ngoài
Gangtok là đúng. Các thông tin khác cho biết thêm đứa trẻ
sinh năm nào, tuổi tác của cha mẹ; thậm chí mô tả ngôi
nhà họ sống cũng như cây cối mọc trong vườn. Hai cây ăn
trái mọc trước nhà được nhắc tới như một dấu hiệu
đặc biệt.
Một
phái đoàn gồm các tu sĩ già dặn đáng tin cậy được cử
đến Gangtok và nhờ những thông tin đó mà họ tìm ra đứa
trẻ lúc đó đã lên bốn. Khi các tu sĩ vừa bước vào vườn,
tới gần nhà thì cậu bé đã gọi lớn “Ba ơi, người của
con đã tới tìm con rồi, để đưa về tu viện”. Và cậu
chạy lại đoàn người, nhảy nhót vui mừng - mà người cha
thì đau khổ không muốn mất con. Thế nhưng cậu bé van nài
cha xin đi và khi các tu sĩ đưa ra các pháp khí khác nhau như
hạt, kim cương chử, tách trà, bình bát gỗ để ăn uống,
trống nhỏ và các vật dụng khác nhau của tu sĩ thì cậu
không chút chần chừ lựa ra những thứ của cậu trong đời
trước, cũng như cương quyết từ chối các vật khác không
phải của mình mà người ta cố ý trộn lại với nhau để
kiểm chứng cậu. Mặc dù nhiều thứ “giả” đẹp hơn nhiều
nhưng cậu không để nhầm lẫn.
Người
cha đã thấy tất cả mọi minh chứng này và nhớ lại nhiều
dấu hiệu của sự thông minh khác thường cũng như những
điều khó hiểu của con mình, cuối cùng đã chấp thuận,
mắc dù đau xót, cho cậu trở về tu viện Tây Tạng, cùng
với đoàn tu sĩ.
Trên
đường về Dungkar Gompa, đoàn gặp Amtschi, người thầy thuốc
Tây Tạng dã chăm sóc Tomo Géché trong những năm cuối cùng
của ông. Cậu bé nhận ra ông và gọi: Ô, Amtschi, ông không
nhận ra tôi sao? Ông không nhớ đã săn sóc tôi khi tôi bị
bệnh trong thân trước sao?”.
Tại
Dungkar, cậu cũng nhận ra vài vị sư già và - điều rất đặc
biệt - con chó nhỏ ngày trước cứ theo chân ông trong những
năm cuối đã nhận ra cậu ngay và hết sức vui mừng được
gặp chủ.
Như
vậy là Tomo Géché đã giữ lời hứa và mọi người xa gần
lại đổ về Dungkar Gompa để bày tỏ niềm kính trọng với
vị đạo sư và xin phước lành. Ai gặp cậu bé cũng bị ấn
tượng bởi thái độ vững vàng và cao quý của cậu, lúc
cậu ngồi trên tòa trong chính điện, hướng dẫn lễ nghi
và tụng niệm trong các dịp cũng như tiếp khách hành hương
và ban phép cho họ - trong lúc ở mọi phương diện khác thì
cậu cũng hồn nhiên như mọi đứa trẻ cùng tuổi khác. Thế
nhưng trong hành động lễ nghi tôn giáo thì cậu có khuôn mặt
của một người đàn ông đầy minh triết già dặn, xuyên
qua những nét trong sáng ngây thơ của trẻ con. Và không bao
lâu sau người ta rõ cậu không hề quên những kiến thức
của mình tập hợp trong đời trước. Sự giáo dục chỉ là
ôn lại, đưa những gì đã biết vào trong trí nhớ. Cậu học
nhanh đến nỗi mà các thầy giáo không biết dạy thêm gì
nữa. Vì lý do này mà lúc lên bảy cậu được đưa về Sera,
một trong những đại học tôn giáo gần Lhasa để học công
trình cao cấp và lấy bằng tiến sĩ (Géché).
Tất
cả những điều này đối với đầu óc phê phán của phương
Tây hẳn khó tin và tôi cũng phải thừa nhận rằng khó tin
ngay đối với tôi nếu chưa từng gặp nhiều trường hợp
tương tự đã làm tôi thấy rằng, ý niệm tái sinh không phải
chỉ là một lý thuyết hay lòng tin vô căn cứ. Những trường
hợp đó cũng là bằng cớ cho thấy ta có thể nhớ lại nhiều
chi tiết và thành tựu trong đời quá khứ. Nhà khoa học, người
chỉ tin nơi thuyết di truyền, xem ra không bao giờ hỏi, thực
tế di truyền là cái gì. Đó chính là nguyên lý của sự bảo
toàn và liên tục của những tính chất, nguyên lý do đúc
kết lại trong khả năng nhớ và chủ động bày tỏ ý muốn
và quyết định hướng đi của mình, dưới sự chỉ đạo
của ý thức và kinh nghiệm. Vì thế, di truyền chỉ là một
tên khác của ký cơ sở, đó là nguyên lý giữ được tính
bảo toàn, sự thăng bằng, nó là lực chống lại sự hoại
diệt, cái bấp bênh. Liệu ta gọi tên “ký ức” là một
tính chất của tâm, của vật hay là một nguyên lý sinh vật,
điều đó không quan trọng gì, vì “vật chất”, hay “sinh
vật” hay “tâm thức” chỉ là những tầng mức khác nhau
mà nơi đó cái lực duy nhất này tác dụng và biểu hiện.
Điều quan trọng là nó cũng là lực sinh ra và giữ một hình
tướng, nó là khâu nối kết giữa quá khứ và tương lai,
nó hiện ra ngoài thông qua cách chứng nghiệm cái hiện tại
và ý thức về sự hữu hiện của mình. Tính đồng thời
giữa bảo toàn và sáng tạo được bảo đảm bừng một quá
trình của sự chuyển hóa liên tục, trong đó những yếu tố
chủ yếu hay nguyên lý về sắc thể cũng được bảo toàn,
nó như một hạt nhân, từ đó mà các dạng hình mới mẻ
cứ hiển hiện, vừa tuân thủ qui luật nội tại của mình,
vừa chịu ảnh hưởng của bên ngoài.
Ngay
cả khi ta xét tính di truyền sinh học, vì cha mẹ cho con cái
“chất liệu” để thành thân mới, thì thân này cũng không
có khả năng cản năng lực của ý thức nọ. Điều này càng
được thấy rõ hơn khi năng lực ý thức đó cần phải ăn
khớp với tính chất di truyền của cha mẹ và trong nhiều
trường hợp đặc biệt nó tổng hòa với nhau để sinh ra
một đơn vị mới (như trong phút giây tượng hình).
Ý
thức là một dòng chảy sinh động, không chịu để mình ép
mình trong bình chứa chật hẹp của một cái ngã, vì tự tính
của nó là vận động, là tuôn chảy; và sự tuôn chảy đồng
nghĩa với sự liên tục và sự quy định, đó là mói liên
hệ giữa hai trạng thái hay hai cực. Không có tính đối cực
này thì không thể có đời sống, cảm thọ - và không có
sự liên tục thì cũng chẳng có mối liên hệ. Hai cực này
càng xa nhau, càng rộng mở thì dòng chảy càng mạnh mẽ cũng
như sức tạo nên dòng. Ý thức cao tột là sản phẩm của
những kinh nghiệm rất khác nhau, của biên độ dao động rất
lớn giữa tính vũ trụ và tính cá thể.
Thế
nhưng ý thức thông thường hay chỉ được hạn chế trong
vòng vây nhỏ bé của ước mơ và mục đích có tính thời
gian, thế nên dòng chảy to lớn kia bị kiềm hãm, bị chuyển
hướng và năng lượng của nó bị phí phạm với hậu quả
là ánh sáng nhận thức toát ra từ đó bị mờ đục. Thế
nên khi cá thể đánh mất mói liên hệ đầy ý thức với
trung tâm vạn năng của nó và lấy tính cách giới hạn của
mình làm trung tâm, bằng cách bám chặt sự hiện hữu nhất
thời này, thì điều đó sẽ sinh ra một ảo giác về một
tự ngã độc lập, không thay đổi, cái đó sẽ đi ngược
dòng của đời sống và ý thức to lớn hơn và dẫn đến
sự trì trệ tâm linh. Phương thuốc chữa căn bệnh này không
phải là sự đè nén cái cá thể (nếu thế là qua thái cực
kia) mà là tri kiến nhận biết rằng, cái cá thể không phải
là cái ngã (nói theo nghĩa trên) và rằng sự biến đổi là
một điều kiện tự nhiên và cần thiết của mọi cuộc sống,
nó không hề tùy tiện hay vô nghĩa, mà dựa trên một qui luật
nội tại và có tính bao trùm, chính qui luật đó bồ đề
sự liên tục và tính ổn định nội tại của vận động.
Cá
thể không những là phần cần thiết và bổ túc của cái
toàn thể mà chính là tiêu điểm, nơi đó cái toàn thể được
chứng thực. Sự tiêu diệt cá thể, tức là phủ nhận giá
trị của nó, một cách triết học hay đạo lý, chỉ dẫn
đến một tình trạng vô phân biệt và hủy diệt, tình trạng
tuy có thể giải thoát được cái khổ, nhưng chỉ là sự
tự phủ nhận vì nó tước đoạt khả năng phát triển cá
thể sắp tới: đó là sự chứng nghiệm của giác ngộ hoàn
toàn, của sự trở về nhất thể, của Phật quả mà trong
đó cái toàn thể trong tự tính của ta sẽ được chứng nghiệm.
Khi
nói “trở về với cái toàn thể, như giọt nước trong biển
cả” mà không chứng thực cái toàn thể, thì chẳng khác
gì cách nói văn vẻ về sự hoại diệt hoàn toàn và tránh
nế vấn đề của tính cá thể đặt cho ta. tại sao cái toàn
thể lại srn sinh ra đời sống và ý thức cá thể, nếu những
điềun ày không tương thích với tự tính sâu kín của cái
toàn thể hay không chứa cái “thức tự nhiên”? Cũng vẫn
câu hỏi dó nếu ta nhìn vũ trụ bằng con mắt của nhà khoa
học, xem nó như đối tượng khách quan toàn những năng lực
vật lý, hay với con mắt của người theo đạo Phật, xem nó
là hiện thân hay sự chiếu rọi của năng lực tâm thức,
nó phải được chứng nghiệm một cách chủ quan là a-lại-da
thức. Chỉ riêng sự hiện hữu cá thể của chúng ta, đủ
cho thấy nó phải có chỗ đứng đầy ý nghĩa trong vũ trụ
chứ không phải là một tình cờ đáng tiếc hay một sự nhầm
lẫn, một ảo giác cần phải bỏ qua một bên - nếu nói thế
người ta sẽ hỏi ảo giác của “ai”?
U KHANTI:
NHÀ TIÊN TRI TRÊN NÚI MANDALAY
Lúc
hành hương tại Myanmar năm 1929, tôi lưu lại một thời gian
nơi Mandaya cùng với Thượng tọa Nyanatiloka Mahathera, vị trưởng
môn của tu viện Polagsduwa ở Dodanduwa tại Sri-Lanka, nơi tôi
nhập môn tu hành. Sau khi tôi đến Rangoon khoảng hai tuần thì
Nyanatiloka Thera cũng đến, để cúng thầy của ông là U Kumara
Mahathera, người vừa mất một thời gian ngắn trước đó
trong một tu viện nhỏ tại Kyundaw Kyaung. Nyanatiloka Thera là
người trở thành tỉ kheo cách đó 26 năm trong chính tu viện
này. Thân của thầy ông được đặt trong một quan tài bằng
gỗ tếch, được bảo vệ bởi hình long vương chạm gỗ tinh
vi. Quan tài chứa đầy mật để giữ cho thân người chết
được lâu cho đến lúc cử hành tang lễ thiêu xác. Theo truyền
thống của Myanmar thì thời gian chuẩn bị này có thể kéo
dài hơn một năm, và vì chúng tôi không thể đợi lâu như
thế nên Nyanmar. Sau hai tuần trên một thương thuyền (như
một khu bán hàng trên biển) đi về phía Bắc và giữa đường
có ghé thăm vùng Pagan cổ với hàng ngày đền thờ và chùa
chiền, chúng tôi dừng chân ở Mandalay, từ đó đi thăm các
thánh tích tôn giáo và lịch sử.
Thánh
tích lớn nhất tại Mandalay là một ngọn núi đá, núi vọt
lên cao từ bình nguyên gần đô thị. Núi này đầy những
đền đài, chùa tháp, đàn tế và các tòa nhà khác, chúng
được nối với nhau bằng lối đi, bậc thang có mái che, kéo
dài từ chân đến ngọn. Khi ta đến gần chân núi, nổi bật
nhất là hai cụm gồm hàng trăm ngôi chùa bé (kể chung khoảng
một nghìn rưỡi ngôi chùa), nằm quanh một ngôi chùa trung
tâm.
Nguồn
gốc của công trình kiến tạo to lớn này là thời gian vua
Mindon Min, trị vì Myanmar từ 1835 đến 1878. Cảm kích từ một
giấc mơ, ông bỏ kinh đô cũ Amarapura, xây dựng Mandalay với
những cung điện xinh đẹp và các công trình tôn giáo. Là
một Phật tử thuần thành, ông muốn đi theo con đường của
vị vua trước, người cho khắc giáo pháp của Phật lên bảng
vàng được cất giữ trong một ngôi đền đồ sộ. Thế nhưng
điều này sinh lòng ham muốn nơi người Trung Hoa, họ xâm chiếm
xứ này và lấy theo các bảng đó. Vì thế vua Mindon Min mới
cho khắc họa kinh sách lên bảng đá, chúng không khêu gợi
lòng tham của ai, của quân lính ngoại xâm lẫn kẻ cướp
thông thường, nhờ thế mà giữ được giáo pháp của Phật
cho các đời sau. Kinh sách đó cũng phải đến được với
tất cả mọi người, không những chỉ cho học giả hay tu
sĩ. Vì thế mỗi bảng đá được dựng trong một khám thờ
riêng biệt, mở cửa, với dạng một chùa bé, trong đó tín
đồ có thể đọc từng phần của kinh sách, không những bằng
tiếng Pali mà cả bản dịch ra tiếng Myanmar.
Thế
nên nhà vua cho xây chùa Kuthodawu với 799 ngôi chùa bé xung quanh,
mỗi ngôi được kiến trúc hết sức tỉ mĩ, trong đó có
một bia đá hai mặt, ghi lại các bài kinh thiêng liêng của
đại tạng. Lẽ ra phải có thêm một cụm toàn những chùa
như thế được xây lên để ghi lại các bộ luận, nhưng
nhà vua đã từ trần trước khi bắt tay vào việc. Người
kế vị là vua Thibaw chỉ quan tâm đến một cuộc sống vương
giả và hầu cận với nam nữ. Cuối cùng ông bị người Anh
loại bỏ, họ chiếm nước ông làm thuộc địa sau một cuộc
chiến ngắn. Công trình của vua Mindon Min bị rơi vào quên
lãng và các đền tháp thiêng liêng cũng trở thành hoang phế.
Chỉ một số ít người hành hương mới dám đến đây một
nơi không còn an toàn vì giặc cướp.
Nhưng
một ngày nọ, có một người hành hương cô độc lên núi,
mang đầy đạo tâm. Ông lấy làm tiếc trước cảnh hoang tàn
của các thánh địa - mà theo lòng tin của người Myanmar thì
Đức Phật đã từng đến đây - và quyết tâm lấy đời
mình ra để phụng sự núi này và sẽ không rời núi trước
khi núi lấy lại danh tiếng như cũ. Mặc dù người hành hương
này không có gì hơn ngoài bình bát và chiếc áo đỏ đậm
của một nhà tu khổ hạnh, ông có một niềm tin vô hạn nơi
sức mạnh của tâm linh và không chút lo lắng rằng lấy đâu
phương tiện để thực hiện mục đích của mình. Ông kiếm
một chỗ ngồi trên đỉnh núi, dưới một thánh thất đổ
nát và bắt đầu thiền định, không cần biết đến sự
an toàn hay ăn ngủ của mình. Không ai cướp bóc được gì
của ông vì ông không có gì để lấy. Ngược lại những
người hành hương khác, khi thấy ông thiền định, họ lại
chu cấp thực phẩm cho ông. Khi không ai đến (thực tế là
ít người dám đến) thì ông nhịn đói; khi có thức ăn thì
ông ăn. Thế mà dần dần càng có nhiều người thêm can đảm
leo lên núi, khi họ nghe có một vị độc cư sống trên núi,
trong một đền thờ hoang phế.
Sự
hiện diện của ông hầu như làm cho chốn hoang tàn này thiêng
liêng trở lại và không bao lâu sau người ta bắt đầu sửa
các đàn cũ, dựng đàn mới, kể cả các nơi lưu trú cho khách
hành hương được thiền định và nghỉ ngơi. Vì thế qua
thời gian, các đền đài, chùa chiền, tượng tháp, nhà cửa
và các lối đi có mái che được xây dựng. Công trình càng
phì nhiêu thì phương tiện vào các tu sĩ độc cư càng lớn,
họ thấy vật đó không phải là của mình, thế nhưng hầu
như tất cả của cải thế gian đã tụ lại cho ông. Sau khi
lấy lại danh tiếng cho thánh địa của núi Mandalay, ông cũng
chưa hài lòng mà bắt đầu một công trình lớn hơn nhiều,
đó là công trình dang dỡ của vua Mindon Min, ông muốn ghi lại
các bộ luận lên đá trong một cụm chùa thứ hai lớn hơn
nữa.
Sau
khi U Khanti, người ẩn tu tại núi Mandalay, mà bây giờ trở
thành Maha-Hathi, nhà đại tiên tri (rishi), đã thành tựu công
trình đó, ông tự nhủ như thế cũng chưa đủ khi khắc họa
kinh sách trên tảng đá để trường tồn với thời gian và
dành cho những ai đến viếng chùa đều được đọc, mà còn
cần phải phổ biến kinh sách của Phật ra cho cả thế giới,
bằng cách in lại toàn bộ đại tạng và các bộ luận quan
trọng. Đây là một công trình đồ sộ mà không nhà in nào,
nhà xuất bản nào đám chịu phí tổn và thi hành. Thế nhưng
điều này cũng không làm nhà đại tiên tri ngán sợ. Sức
mạnh của ông hầu như vô tận. Trong vòng một thời gian ngắn
đáng ngạc nhiên, ông xây nên một cơ sở in ấn ngay dưới
chân núi với phương tiện hiện đại và tìm được một
nhóm người hợp tác. Lúc này Nyântiloka Thera và tôi tới núi
Mandalay thì phần lớn kinh sách đã được in xong và phổ biến
rộng rãi dưới dạng sách đóng gáy chắc chắn, đàng hoàng.
Ngay tại Sri-Lanka là nơi sản xuất kinh sách khá tốt, nhiều
bản kinh Pali quan trọng, nhất là các bản của A-tì đạt-ma
(Abhidhamma - Thắng luận) cũng không có được.
Khi
nghe đến công trình tốt đẹp của Ukhanti, chúng tôi không
khỏi mong được làm quen với ông và một sáng nọ, chúng
tôi tìm đường đến thăm ông tại núi Mandalay. Vì ở ngoài
thành và khá xa ngọn núi thiêng đó, chúng tôi buộc phải
đi xe ngựa. Khi chúng tôi đến nơi, người ta báo sáng sớm
nay ông đã rời núi, đến một nơi cách đó khoảng 20, 25
dặm để hướng dẫn công cuộc trùng tu một di tích cổ Phật
giáo.
Chúng
tôi hết sức thất vọng, không biết bao giờ mới được
trở lại đây vì có một chương trình làm việc đầy ngập,
mỗi ngày đầy những thăm viếng, thảo luận, diễn giảng,
tiếp khách. Chúng tôi chần chừ lên xe và lúc xe chưa kịp
quay đầu thì một chiếc ô tô chạy lại, ngược chiều với
chúng tôi và đậu trước hành lang để mái che dẫn lên núi.
Một dáng người cao lớn, mặc áo choàng đỏ bước ra khỏi
xe. Nơi người đó toát ra một ấn tượng sâu đậm với một
trong dáng đi ung dung quí phái, với phẩm cách tự nhiên của
một nhà vua. Chúng tôi biết ngay người này phải là nhà đại
tiên tri. Chúng tôi liền dừng xe ngựa, nhảy xuống đi đến
cửa và được nồng hậu cho hay rằng U Khanti đã bất ngờ
trở lui và chúng tôi được dịp gặp ông. Chúng tôi được
đưa vào một đại sảnh và được nhà tiên tri tiếp đón
với một số tỷ kheo và cộng sự của ông. Một lần nữa
chúng tôi lại thấy nhân cách của ông vượt hẳn những người
xung quanh, và mặc dù ông là thành viên của tăng già (Thượng
tọa bộ) nhưng được các vị đó kính trọng, - các người
được xem là giữ gìn ngôn từ của Đức Phật -, ông được
các vị đó xem tôn quí hơn trong hàng ngũ giáo hội.
Ông
cười thân thiện thăm hỏi và cuối đầu lễ độ trước
Nyanatiloka, - vị thượng tọa của giáo hội - và mời chúng
tôi ngồi, cho mang trà và bánh vào. Có lúc ông phải trả lời
vài câu hỏi của thư ký, họ mang các giấy tờ cho ông hoặc
nghe các chỉ thị của ông. Những điều này xảy ra một cách
nhẹ nhàng thoải mái nên ông vẫn quan tâm đến chúng tôi,
vì thế câu chuyện cũng không bị đứt đoạn. Ông tỏ vẻ
đặc biệt quan tâm về việc Tổng hội Phật giáo thế giới
vừa được thành lập mà Chủ tịch chính là Nyanatiloka, còn
tôi làm tổng thư ký. Khi nói về kế hoạch của chúng tôi,
biến “di tích Dodan-duwa” thành một trong tâm quốc tế cho
văn hóa Phật giáo và sự cần thiết phải đưa kinh sách Phật
giáo tới với con người thì tôi định nhắc tới quan tâm
đặc biệt của mình về bộ luận A-tì-đạt-ma và cũng khó
tìm ra kinh sách đó. Người đó biến đi trong một căn nhà
bên cạnh mà sau tôi biết đó là nhà in và đóng sách. Chỉ
vài phút sau ông trở lại với một chồng sách trên tay. “Đây
là quà cho các vị”, nhà tiên tri cười nói với chúng tôi
và cho người hầu đặt sách trước mặt. Làm sao chúng tôi
mô tả được sự kinh ngạc của mình? Đó chính là các cuốn
mà chúng tôi thiếu trong tủ sách: một bộ luận hoànchỉnh
của A-tì đạt-ma. Chúng tôi hết sức ngỡ ngàng và không
nói nên lời về khả năng của ông đọc được ý nghĩ thầm
kín của mình và về lòng tốt của ông khi tặng món quà quý
báu này.
Khi
thấy niềm vui này, ông sẵn sàng tặng thêm các bộ sách khác
có trong nhà in, với gáy da, chữ mạ vàng. Thế nhưng số lượng
sách quá lớn đến nỗi chúng tôi không chất lên xe ngựa
nổi nên ngày hôm sau phải chất lên một chiếc xe khác. Dựa
trên báo chí nói về hoàn toàn của chúng tôi tại Mandalay
thì trị giá những sách mà chúng tôi nhận được từ vị
đại tiên tri này lên đến 700 ru-pi mà ngày nay trị giá của
chúng không dưới 3000 ru-phi Ấn Độ. Thật là một món quà
vương giả, không làm sao chúng tôi nói hết sự xúc động
của mình.
Sau
khi từ biệt ông, chúng tôi được một vài tỉ kheo hộ tống
qua vô số đàn trường và đền thờ của ngọn núi thiêng
này để có một ý niệm về cái vĩ đại của công trình
mới đây và nó cũng chỉ mới là một phần nhỏ công sức
của con người lạ lùng này. Trong câu chuyện với các tỉ
kheo thì một vị mới cho hay là sáng nay thật ra vị ẩn tu
đã rời núi để đến xem xét một công trình đang tu sửa.
Thế nhưng đang kiểm tra công việc thì ông bỗng dưng nói
phải về lại ngay Mandalay vì có khách phương xa đến thăm.
Và không chút chần chừ ông nhảy lên xe, bảo tài xế chạy
về càng nhanh càng tốt. Và hầu như thấy hết trước mọi
việc, ông đến chân núi Mandalay, thì chúng tôi vừa định
quay về.
*
*
*
Bây
giờ chúng tôi rõ cuộc gặp gỡ này không hề là sự tình
cờ và khi nghe chúng tôi thú thật mình ngạc nhiên xiết bao
khi vị tiên tri đọc được ý nghĩ của mình về các tập
sách thì vị tỉ kheo nọ mới nói với giọng run run: “Các
vị không biết ngài là ai sao? Ngài là tái sinh của vua Mindon
Min”.
Tôi
phải thú nhận là không có chút nghi nghờ gì về sự thật
của câu nói này, vì nó chỉ xác nhận lại cảm giác của
mình khi thấy điệu sang trọng của nhà tiên tri khi gặp ông
lần dầu. Cách xuất hiện của ông có một cái gì vương
tước, làm nảy sinh lòng kính trọng. Thái độ, hoạt động
và nhân cách của ông đối với tôi là minh chứng lớn nhất
cho một mối liên hệ chủ động với một tiền kiếp đáng
kính, hơn mọi chứng minh có tính chất “bằng cớ” khác.
Cuộc đời và hoạt động của ông cho thấy rõ rệt rằng
ông có một năng lực phi thường về tâm linh. Sự nhớ lại
tiền kiếp và mục đích của đời sống cũ đã làm cho ông
một sức mạnh, sức mạnh này đã làm cho đời sống mới
thêm ý nghĩa. Sự hiểu biết quá khứ của mình đối với
ông không là gánh nặng vô bổ mà là động cơ mạnh mẽ để
hành động, nó răng cường thêm tinh thần trách nhiệm về
một công trình dang dở của đời sống cũ để lại. đó
như sự hoàn thành ý nguyện của một vị Bồ-tát, người
giữ được sự liên tục của ý thức siêu việt lên sống
chết, dựa trên một mục đích dài hơn đời một con người(35).
Mục đích cao cả của t a là tinh tấn vươn lên tự thắng
mình và đạt đích tối thượng là sự giác ngộ hoàn toàn,
dó là điều làm ta bất tử - chứ không phải là đời sống
của một linh hồn đơn lẻ bất biến, mà cái đơn điệu
của nó loại ta ra khỏi sự sống và tăng trưởng, không cho
tâm hồn tham dự vào cuộc sống phiêu lưu bất tận, giam giữ
ta trong tù ngục của giới hạn chính mình.
MAUNG
TUN KIAING
Sớm
hơn dự định, tôi đến với một trong hợp khác về nhớ
lại tiền kiếp, một trong hợp đặc biệt vì ở đây có
nhiều cách để kiểm chứng sự thật - mặc dù bản thân
tôi không mấy quan tâm. Sự tái sinh có thể chứng minh được
hay không? Ý niệm tái sinh đối với tôi tự nhiên và đáng
tin hơn mọi lý luận, nó cho đời sống cá nhân một ý nghĩa
sâu xa hơn va nó ăn khớp vào với quá trình tiến hóa của
sinh vật, như những phát hiện của sinh vật tâm lý học cho
thấy.
Tại
Maymyo, trong cung điện mùa hè của chính phủ Myanmar hồi đó
ở các tiểu bang miền Bắc, nơi mà Nyanatiloka và tôi tránh
cái nóng của xứ Mandalay chúng tôi nghe đến một cậu bé
tên là Maung Tun Kyaing, cậu nhớ mọi chuyện của tiền kiếp,
đến nỗi thống đốc Myanmar, Sir Henry Butler mời cậu về
nơi ở của mình tại Maymyo để biết cho rõ về hiện tượng
lạ này. Cậu gây một ấn tượng tốt đẹp lên vị thống
đốc và tất cả những ai có mặt trong buổi phỏng vấn đáng
nhớ này đều thừa nhận là tất cả đều khuyên cậu nên
truyền khắp nơi thông điệp tốt đẹp này, kể cả đi thăm
viếng các trại tù để mang lại ánh sáng và hy vọng cho những
ai phải sống trong cảnh tối tăm. Kể từ lúc đó cậu đi
từ nơi này qua nơi khác và hàng nghìn người ham thích lắng
nghe những lời cậu nói.
Lúc
đó thì không ai biết cậu ở đây và tôi thì đã quyết định
đi ngược lên miền bắc, qua bắc Myanmar để đến Trung Quốc
(Vân Nam), nên tôi từ giã Nyanatiloka khả kính, trở lại Mandalay
và đi bằng tàu thủy chạy bằng hơi nước ngược lên Bhamo,
nơi mà các đoàn người ngựa phát xuất đi Vân Nam. Trong một
tu viện nhỏ gần một ngôi chùa tôi tìm được chỗ nghỉ
và nơi đó tôi căng chiếc giường dã chiến, ngủ trong chính
điện.
Sau
khi ở trên boong tàu đầy người, chúng tôi sống như trong
một đại gia đình thì bây giờ có cảm giác thật kỳ lạ;
bỗng nhiên ở một mình trong một căn phòng tối và rộng,
trong đó có ba tượng Phật bằng đá trắng với miệng cười
như nhau nhìn xuống tôi. Trước khi đi ngủ tôi hỏi thăm giờ
giấc vì đồng hồ đã đứng do lên giây. Thế nhưng không
một nhà sư nào biết nói tiếng Anh và xem ra trong điện chẳng
có cái đồng hồ nào, nên không ai giúp tôi được.
Sáng
hôm sau khi tôi ngủ dậy và thấy xung quanh toàn những người,
tôi không biết mình đã ngủ bao lâu. Vài người trong số
đó mang theo thau đựng nước, khi tôi chưa hiểu gì cả thì
họ đã đi nhanh đến tượng Phật và tạt mạnh vào tượng.
Tưởng chừng như điện đang có đám cháy. Tôi không hiểu
họ hành động kỳ lạ như thế với mục đích gì và cũng
đang lo mình sẽ cùng chung số phận bị tạt nước như Phật.
Nhưng may thay họ biến mất, không chút gì để ý đến tôi.
Về
sau tôi mới biết đó là ngày “lễ nước”, theo lệ thì
họ “tắm Phật” và ngoài đường người ta xịt nước
lẫn nhau - chỉ những người mang áo vàng mới được tha.
Xem ra nhờ chiếc áo vàng mà tôi đỡ phải nước lạnh. Thế
nhưng tôi tự nhủ cần chuẩn bị những bất ngờ xảy ra.
Điều bất ngờ quả nhiên đến với tôi: một người thợ
đồng hồ, ông bảo đến để sửa đồng hồ cho tôi. Ông
bảo phải đi từ phố đến cái đền xa xôi nay vì được
nghe là chiếc đồng hồ tôi bị hư. Khi tôi bảo đó chỉ
là sự hiểu lầm và chiếc đồng hồ chạy bình thường thì
ông cười vui vẻ và cho hay không tiếc công đi vì nhờ đó
mà ông có dịp làm quen với tôi. Tôi cũng nói với ông là
tôi rất thích đã tìm ra người nói được tiếng Anh.
Qua
tuần trà, chúng tôi nói chuyện vui vẻ, trong câu chuyện tôi
có nhắc đến Maung Tun Kyaing và bày tỏ hy vọng một ngày
nào đó sẽ gặp được cậu. “Không có gì dễ hơn”, người
thợ đồng hồ nói, “Maung Tun Kyaing hiện đang ở Bhamo và
hôm nay sẽ nói chuyện trong một tu viện, không xa đây bao
nhiêu”.
“Thật
là trùng hợp hy hữu’, tôi kêu lên, “hành trình của tôi
hôm nay dẫn tôi đến đây mà không hề biết Maung Tun Kyaing
hiện đang ở vùng này. Hầu như tôi chỉ mong ước là đủ
để thành sự thực”.
“Chắc
rồi”, ông nói, “đó là sức mạnh của sự mong ước chính
đáng, sức mạnh đó sẽ đưa ta đến đúng chỗ. Không có
gì quá trình xuất hiện trong đời một cách tình cờ cả.
Tôi nghĩ rằng sự gặp gỡ của chúng ta, dù do hiểu lầm,
cũng không phải tình cờ mà là một khâu cần thiết để
thành tựu mong ước của ông”.
“Ông
có lý”, tôi thừa nhận, “và tôi hết sức cám ơn ông đã
đến đây và báo cho tôi tin này”.
*
*
*
Khi
tôi đến tu viện nơi Maung Tun Kyaing đang lưu trú thì cậu
sắp diễn giảng trước một đám đông đứng chật sân viện.
Thật là lạ khi thấy một cậu bé nói trước thính giả với
sự ung dung và tự tin của một diễn giả chuyên trách. Khuôn
mặt cậu ngời sáng, giọng cậu trong trẻo và có âm điệu
như tiếng chuông. Mặc dù không hiểu một chữ cậu nói, tôi
cũng rất vui thích được nghe, giọng cậu như toát ra từ
trái tim, nghe nhe tiếng chim hót. Sau buổi diễn giảng được
mọi người chăm chú lắng nghe, người ta đưa tôi đến gặp
cậu, cậu được người cha và một cậu em đi cùng. Cả hai
cậu bé đều mặc áo vàng, mặc dù số tuổi thiếu niên,
cả hai cậu vẫn chưa gia nhập tăng đoàn. Nhìn bề ngoài thì
Maung Tun Kyaing xem ra chưa tới sáu tuổi, em cậu chắc khoảng
năm tuổi. Người ta bảo với tôi rằng Maung Tun Kyaing lên
tám và cậu em lên bảy. Thế nhưng giữa hai cậu khác nhau
biết bao. Cậu em nhìn giống như bất kỳ đứa trẻ nào khác
cùng tuổi; Maung Tun Kyaing thì ngược lại, có một vẻ đẹp
khác thường. Ít khi tôi bắt gặp biểu hiện một sự thông
minh và sinh động cao độ như thế, hòa lẫn với sự thanh
tịnh và sức tỏa sáng trên khuôn mặt con người. Cậu không
chú e dè khi tôi xem các dấu hiệu tốt đẹp trên người cậu
mà người cha chỉ cho tôi thấy, thông qua một người thông
dịch. Cậu trả lời mọi câu hỏi của tôi không chần chừ
và với sự cởi mở tự nhiên.
Câu
chuyện về đời cậu được người cha kể lại, một người
đơn giản, cởi mở và được Maung Tun Kyaing cũng như những
tu sĩ và cư sĩ có mặt công nhận. Câu chuyện này đối với
tôi là bằng chứng thú vị nhất và quan trọng nhất cho ý
niệm của sự tái sinh và khả năng nhớ lại tiền kiếp.
Cũng may là tôi có sẵn giấy bút để ghi lại mọi điều
của cuộc phỏng vấn, cách đây đã 34 năm. Câu chuyện như
sau:
Maung
Tun Kyaing là con một người đan chiếu nghèo, không biết đọc
cũng không biết viết. Lúc lên bốn, người cha mang cậu và
đứa em ra chợ phiên ở làng bên cạnh. Khi họ đến gần
làng thì gặp một người vai mang một bó mía, đem ra chợ
bán. Người đó thấy hai đứa trẻ, có lẽ anh nghĩ rằng
người cha không mua được gì cho con nên tặng mỗi đứa trẻ
một khúc mía. Trong lúc đứa em mừng rỡ vội ăn mía thì
Maung Tun Kyaing nhắc em trước khi ăn phải cám ơn người cho
hoặc chúc lành người đó (Sukkhi hotu là cách nói theo tiếng
Pali mà các tu sĩ hay nói). Khi cậu nói với em điều đó thì
đường như cánh cửa của trí nhớ tiền kiếp bỗng mở toang
và dưới ảnh hưởng của ký ức ào ạt, cậu nhờ cha nâng
mình lên vai và nói về hạnh bố thí (một trong những hạnh
quá trình của Phật giáo). Người cha vui lòng mỉm cười làm
theo, cho đó là chuyện trẻ con. Thế nhưng trước sự ngạc
nhiên của ông và mọi người chung quanh, cậu bắt đầu giảng
về hạnh bố thí theo một cách mà không ai có thể làm hoàn
hảo hơn. Càng lúc càng có nhiều người tụ tập để ngh
người giảng pháp trẻ tuổi này, người cha bối rối không
biết làm sao với sự thay đổi đột ngột của con mình. Cậu
bé thì thản nhiên như không và nó với cha sau bài giảng:
“Thưa cha, ta hãy đến tu viện con”.
“Con
nói gì, tu viện của con?”
“Đó
tu viện đó, cha không biết sao?”
“Ta
không nhớ là con từng đến đó”, người cha đáp, “nhưng
ta cứ đến đó xem sao”.
Khi
họ đến tu viện thì gặp một nhà sư già, đó chính là vị
tu viện trưởng. Maung Tun Kyaing thì hầu như lạc trong suy tư,
nhìn vị sư già mà không biết làm lễ. Người cha nhìn cậu
và nhắc “Con kính chào hòa thượng đi chứ”. Nghe xong cậu
bé chào vị sư trưởng, nhưng theo kiểu ngang hàng chứ không
theo cách thông thường là quì vái, trán đụng đất.
“Con
không biết ta là ai sao?”, vị sư trưởng hỏi.
‘Tất
nhiên là con biết”, cậu bé trả lời không chút lúng túng.
Và khi vị sư trưởng ngạc nhiên nhìn cậu, cậu nói tên vị
hòa thượng.
“Làm
sao con biết? Có ai cho con nghe tên ta chăng?
“Không”,
cậu trả lời, “thầy không nhớ sao, con là đạo sư của
thầy, U Pandeissa”.
Vị
sư trưởng ngạc nhiên tột độ, nhưng muốn chắc chắn, ông
hỏi cậu: “Thế thì con phải biết ta là ai, trước khi ta
gia nhập tăng đoàn, Nếu con nhớ ra thì hãy nói nhỏ vào tai
ta”(36).
Và
cậu bé làm theo lời yêu cầu. Và khi vị thượng tọa nghe
đến tên tục mình, mà không ai biết đến ngoài ông và vài
người khác, - những kẻ biết đến ông từ bé và lớn lên
cùng thời với ông -, thì ông quì xuống chân cậu, trán đụng
đất và kêu lên giọng đầy nước mắt: “Tôi biết rồi,
Ngài là thầy của tôi”.
Ông
đưa cậu cùng người cha và đứa em vào tu viện, nơi đó
Maung Tun Kyaing biết rõ từng chi tiết, đồng thời nhắc đến
một cái phòng nơi cánh đông, chỗ cậu từng ở và hay thiền
định. Nhắc lại tượng Phật mà cậu hay thờ cúng, mỗi
ngày thắp nhang đèn và những điều khác mà vị thượng tọa
cũng biết đến. Cũng chưa bao nhiêu năm trôi qua, kể từ ngày
U Pandeissa, - vị sư trưởng của tu viện Yungkyaung - nhập diệt.
Thế
nhưng điều trọng nhất là Maung Tun Kyaing không những chỉ
nhớ đời sống tiền kiếp mà cậu còn giữ lại tri kiến
xưa. Khi vị thượng tọa chỉ cậu vài đoạn kinh Pali cũ,
cậu tỏ ra đọc và hiểu rõ, mặc dù chưa hề đi đến trường
và lớn lên trong một gia đình không ai biết đọc viết -
chứ đừng nói về kiến thức về ngôn ngữ Pali. Và nếu
còn có nghi ngờ gì về việc nhớ lại tiền kiếp thì đây
là minh chứng.
Khi
người cha và hai con chuẩn bị về nhà, ngôi nhà cũng nằm
trên bờ sông như tu viện, thì vị sư trưởng đề xuất lấy
một trong những chiếc thuyền của tu viện mà đi. Mọi người
đi xuống bờ, nơi đó có nhiều thuyền đỗ, vị sư hỏi
Maung Tun Kyaing muốn lấy chiếc nào. không chút chần chừ Maung
Tun Kyaing chỉ và một chiếc, đó là thuyền của mình.
Thuyền
của người Myanmar thường mang màu sức rực rỡ, đầu thuyền
có vẽ hai mắt, trông chúng như những con vật sống động.
Điều này phù hợp với niềm tin truyền thống cổ Myanmar,
cho rằng mọi sự đều sống, mọi sự có một cuộc đời
riêng vì chúng có thần, gọi là nat. thế nhưng nếu ai biết
hô triệu danh tánh và biết các điều liên hệ đến một
nat thì họ có quyền lực với chúng ta và vì thế không ai
nói danh tánh này cho người khác. Chỉ chủ nhân và những
người bạn thân cận mới được biết.
Vì
thế vị sư trưởng nói: “Ngài bảo thuyền này của Ngài,
thế thì Ngài có biết tên nó chăng?”. Cậu bé trả lời
đúng tên.
Sau
tất cả những bằng cớ này thì không còn ai nghi ngờ việc
Maung Tun Kyaing chính là U Pandeissa tái sinh, vị sư trưởng cũ
của Yunkyaung và mọi người đều muốn nghe cậu giảng. Khắp
nơi đều gửi cậu lời mời và cha mẹ cậu lo lắng cho sức
khỏe con mình không biết có kham nổi không. Nhưng cậu phản
đối những ưu tư và nói; “Đức Phật trải qua vô số kiếp,
hành động quên mình và hướng đến giác ngộ. Vì thế con
cũng không ngại khổ để đạt Phật quả. Chỉ khi đạt được
mục đích cao nhất con mới làm lợi lạc cho tất cả chúng
sinh.”
Các
bài giảng của cậu gây ấn tượng đến nỗi hàng ngàn người
đến thăm và nghe cậu. Thậm chí cả một tu viện vì quá
nhiều người chen chúc đã bị sập nhưng may không ai chết,
vì tu viện Myanmar được làm phần lớn bằng gỗ, xây trên
các cột gỗ cao. Tòa nhà vì thế mà lụn từ từ. Đủ thời
giờ cho mọi người chạy thoát.
Cuối
cùng thì danh tiếng của Maung Tung Kyaing đến tai vị thống
đốc bang Myanmar, Sir Henry Butler, lúc đó ông đang ở cung điện
mùa hè tại Maymyo. Để kiểm tra sự thực về những gì mọi
người kể về cậu, ông cho người đưa cậu đến Maymuo.
Maung
Tun Kyaing không những chỉ minh chứng về mọi mắt tiếng tăm
của mình, cậu còn trình bày một cách thuyết phục giáo lý
Phật giáo để cuối cùng Sir Henry tặng cậu rất nhiều kẹo
bánh và thêm một tờ giấy bạc trăm ru-pi. Maung Tun Kyaing cũng
như cha cậu chưa baog giờ thấy một tờ giấy bạc lớn như
thế, chưa hề sở hữu món tiền như thế bao giờ, thế nhưng
cậu từ chối không nhận - vì theo lời cậu nói không thể
đem pháp ra mà bán và theo quy định của tu sĩ là không nhận
tiền bạc. Thế nhưng cậu nói thêm là kẹo bánh thì có thể
nhận, lương tâm cho phép, vì cậu được nhận thực phẩm
biếu tặng. Mặc dù những qui định này chưa ràng buộc đến
cậu nhưng Maung Tun Kyaing tự xem mình là tỉ kheo, trong kiếp
trước là thế, kiếp này cũng thế.
Maung
Tun Kyaing cũng muốn tặng lại vị thống đốc một món quà
nhưng vì không có gì ngoài chuỗi hạt, cậu cởi nó ra từ
vòng tay và tặng vị thống đốc, vị này hết sức xúc động
và tươi cười nhận lấy. Khi cám ơn cậu, ông nói: “Thế
thì cậu phải chỉ cho tôi cách sử dụng chuỗi hạt như thế
nào” và Maung Tung Kyaing trả lời: “Nó dùng để quán tưởng
ba tính chất của đời sống, đó là vô thường, khổ và
vô ngã’. Sau đó cậu giải thích ngắn gọn ý nghĩa từ ba
từ này trong giáo lý Phật giáo.
Vị
thống đốc có ấn tượng sâu sắc khi nghe những sự thực
thâm sâu đó từ miệng một đứa trẻ. Làm sao một đứa
trẻ bốn tuổi mà đạt được sự minh triết của một cụ
già? Vì đứa trẻ đó nói năng không phải như một đứa
trẻ, chỉ lặp lại chữ nghĩa do ai dạy cho mà không hiểu
được ý nghĩa - ngược lại, cậu nói chuyện đầy tính thuyết
phục và lòng thành tâm, nên Sir Henry không nghi ngờ vì về
sự thực này và yêu cầu cậy hãy mang thông điệp của mình
dến với toàn dân Myanmar: “Hãy đi từ góc này đến góc
kia của đất nước và giảng cho những người cao nhất đến
những kẻ thấp nhất, cả những tù nhân trong trại giam; vì
không ai hơn cậu có thể làm rung động được trái tim của
những tên đạo tặc chai lì nhất cũng phải mềm dịu trước
niềm tin thành khẩn và tấm lòng tốt đẹp”.
Thế
nên khắp nơi trên Myanmar, không những trái tim mà cả những
cánh cửa trại tù cũng mở ra cho người giảng pháp bé nhỏ
này, người mà đi tới đâu cũng mang lại niềm vui và lòng
sùng tín nơi con người, cho họ một niềm tin mới.