Trên
cao nguyên
Ngôn
ngữ sống động của màu sắc
Những
giấc mơ và ký ức bên hồ xanh
Sườn
núi trơn và bí mật của những chiếc móng ngựa
Phi
hành xuất thần và phép Lung-gom
Nyang-to
Kyu-phug tu viện của người nhập thất.
Tu
luyện thân thể
Khả
năng chữa bệnh
Vị
ẩn tu tại Latschen
Sự
giải cứu huyền diệu
PHẦN
THỨ HAI
CUỘC
ĐỜI HÀNH HƯƠNG
TRÊN
CAO NGUYÊN
Chúng
tôi đã vượt qua ngọn đèo đáng sợ cao sáu ngàn mét dưới
một bầu trời không mây một cách dễ dàng. Lúc leo lên vách
phía nam của đèo, mặt trời nóng tới mức mà tôi phải cởi
hết áo quần ấm, cất vào hành lý. Thế nhưng vừa qua vách
bắc của đèo, nằm trong bóng râm thì trời bỗng lạnh như
băng làm tôi phải tiếc vì đã không cầm sẵn áo ấm trong
tay. Trời lạnh tới mức mà ai cũng phải vận động liên
tục để giữ hơi ấm. Vì vậy mà tôi không dám bảo đoàn
người dừng lại để mở hành lý lấy áo ấm ra.
Tây
Tạng là xứ sở mà người ta phải luôn tính đến chuyện
gặp những cảnh bất ngờ. Ngay cả quy luật tự nhiên tưởng
như quen thuộc cũng hầu như mất giá trị. Nhiệt độ sôi
của nước thấp đến nỗi nếu vô ý nhúng tay vào nước
sôi, người ta cũng hầu như không hay và không bị thương
tích gì. Vì thế mà trên độ cao này không thể nấu cơm được
vì thời gian nấu chín quá lâu đến nỗi cơm biến thành nước
cháo hay hạt còn cứng bên trong. Thế nhưng cái khác biệt
giữa bên mặt trời chiếu và bên bóng râm thì to lớn tới
mức mà nếu ta đứng giữa hai bên, thì thân bên ánh sáng
sẽ bị phỏng vì nắng và bên kia phải phòng lên vì khí lạnh
như băng. Không khí quá loãng không hấp thụ nhiệt độ được
để truyền nhiệt cho phía bóng râm cũng như không thể che
chở cái nóng và các tia cực tím của mặt trời. Sự chênh
lệch nhiệt độ giữa ánh nắng và bóng râm, như nhiều quan
sát viên ghi nhận, có thể lên tới 100 độ Fahrenheit (38 độ
C). Tôi không hề nghi ngờ điều đó vì khi cỡi ngựa thì
chân tôi tuy mang ủng long nhưng giá lạnh tới mức không còn
cảm giác, còn tay cầm cương ngựa thì bị phồng lên vì nóng.
Tưởng như bị phỏng nước sôi. Tệ hại nhất là da mặt
của tôi bóc ra từng mảng trước khi quen được với khí
hậu này. Mặc dù có bôi kem nhưng môi tôi sưng phồng lên,
ăn uống rất khó chịu. May thay chỉ sau khảng ba bốn tuần
thì da tôi đã qen chịu đựng va sau đó trong chuyến hành trình
không còn gặp trở ngại gì nữa.
Ngay
cả người Tây Tạng, trừ những người liên tục sống ngoài
trời như người chăn thú, nông dân hay thương nhân, cũng luôn
luôn che mặt khi đi xa để tránh nắng mặt trời và gió lạnh
thường thổi trên cao nguyên trong các mùa nhất định. Loại
gió nầy mang theo cát, châm chích và chui lọt vào cả áo dày.
Rồi khi gặp một đoàn người bịt mặt và vũ trang trong cảnh
hoang vu không ai ở lại là một nỗi lo sợ không biết sau
mặt nạ che đó là người dân bình thường hay kẻ cướp.
Kẻ cướp cũng nhiều, nhất là trong thời kỳ bất ổn chính
trị hay chiến tranh, khiến những vùng mà thương nhân hay qua
lại thêm nguy hiểm.
Nhưng
tôi cũng không quá sợ (mặc dù hồi đó đã biết vùng Turkentan
đã có dân nổi loạn), vì sau khi rời biên giới Ladakh, tôi
bỏ tuyến thương nhân đến “chỗ không người”, nằm giữa
vùng đại hồi Panggong và Yak-Tso đến cao nguyên Aksai-Tschin.
Biên giới giữa Ladakh và miền Tây Tạng do Lhasa cai quản hồi
đố chưa rõ ràng, vì không ai quan tâm đến chỗ không người
này. Trên thế giới, nó thuộc về những nơi ít ỏi mà con
người và thiên nhiên cứ bị để mặc, không bộ máy hành
chính nào ngó ngàng tới. Vì thế lòng tôi đầy một miềm
sung sướng kỳ lạ và sự tôn quí, cảm thấy mình hoàn toàn
thuộc về mình, đứng một mình giữa thiên nhiên vô tận,
giữa trời đất bao la, như ngày mà con người chưa được
dựng.
Hai
người Ladakh trung thành và người ngựa là những sinh vật
duy nhất còn liên hệ với tôi; và trong cảnh bao la của thiên
nhiên này, tôi thấy họ gần gũi và thân thuộc với mình
xiết bao. Không nhiều thì ít, chính những con ngựa quyết
định chúng tôi phải dừng chân chỗ nào vì chỉ nghỉ ngưoi
nơi nào có cỏ và nước cho chúng.
Dù
cảm giác nhỏ nhoi trước cảnh hùng vĩ của vùng núi non,
dù biết cái giới hạn và sự phụ thuộc của con người
trước nắng mưa, với nước cỏ, với thức ăn, chất đốt
và các điều kiện vật chất khác, thế nhưng tôi chưa từng
có một cảm giác về tự do và độc lập lớn hơn thế này.
Chưa bao giờ tôi rõ cái mà ta gọi là đời sống văn minh
lại chật hẹp và hạn chế như thế và để có một đời
sống an toàn, ta phải trả một giá cao thế nào về tự do
và độc lập thật sự trong tư tưởng và hành động.
Một
khi mỗi chi tiết đời sống đã được tính toán và qui định,
mỗi khoảnh thời gian ngắn nhất đã được định trước
phải làm gì, thì những dấu vết cuối cùng của tự tính
vốn phi thời gian và vô tận của ta cũng biến mất; mà từ
tự tính đó tự do được sinh ra. Tự do không phải là muốn
làm gì thì làm, nó không phải là tự tùy tiện, bỏ mặc,
chẳng phải là sự phiêu lưu, mà tự do là khả năng có thể
chấp nhận được cái bất ngờ, thu liễm và chuyển hóa nó;
tức là nới tâm mở rộng đối diện với mọi tình huống
bất ngờ của đời sống - tốt cũng như xấu. Đó là khả
năng có thể phù hợp được với muôn hình vạn trạng của
điều kiện sống mà không đánh mất niềm tin nơi các mối
liên hệ sâu xa giữa thế giới bên trong và bên ngoài. Đó
là niềm xác tín, không bị thời gian lẫn không gian hạn chế,
khả năng chứng thực cả hai mà không chấp trước vào một
khía cạnh nào, không tìm cách chiếm đoạt chúng bằng cách
chia chẻ chúng ra từng mảnh.
Thời
gian bị chia chẻ một cách cơ giứi và giả tạo của con người
hiện đại đã không làm con người thành chủ của nó mà
ngược lại là nô lệ; càng muốn tranh thủ thời gian, ta lại
càng mất nó. Điều đó giống như ta bắt dòng sông ép vào
trong một cái chậu mà quên rằng chính sự trôi chảy, chính
sự tương tục của vận động mới làm ra dòng sông. Điều
này cũng đúng cho thời gian: chỉ ai chấp nhận nó trong toàn
bộ kích thước, trong nhịp điệu vô tận và sáng tạo đời
sống, cái làm nên tính tương tục của nó, thì kẻ đó mới
làm chủ được nó, biến nó thành của mình được. Khi ta
chấp nhận thời gian như thế, sẵn sàng thu liễm vào trong
ta mà không ngăn chận dòng chảy của nó thì nó sẽ mất uy
lực đối với ta. Chúng ta sẽ như được nó chuyên chở trên
đỉnh cao, không bị nuốt trọn, không bị kéo xuống vực
và nhờ thế mà không mất tầm nhìn về những cái phi thời
gian.
Không
nơi nào mà tôi cảm nhận được đièu naỳ sâu xa hơn bằng
giữa bầu trời Tây Tạng, trong sự trầm lắng sâu thẳm,
sự trong suốt của bầu không khí, cái rực rỡ của màu sắc
và cái thanh tịnh hầu như trừu tượng của dáng núi. Cuộc
sống hữu cơ đã thu laị thật nhỏ nơi đây, không có vai
trò gì trong cảnh quan chung, bản thân cảnh quan lại là biểu
trưng của sự sống, của những sức mạnh uyên nguyên từ
trời đất. Núi đá vắng cây cho thấy một cách trọn
vẹn qui luật của trọng trường - có đôi chút thay đôỉ
thì cũng chỉ vì tác động của mưa gió - và của cấu trúc
địa chất và tính cách của đất đá, biểu hiện bằng màu
sắc và hình dáng.
Trời
và đất đã đôỉ vai cho nhau. Nếu bầu trời thường sáng
hơn cảnh vật dưới chân mình thì ở đây bầu trời thường
tối và sâu; trong lúc đó, cảnh vật nổi bật trên bầu trời
bằng sắc màu rực rỡ, hầu như chúng là nguồn sáng. Sắc
đỏ và vàng bập bùng như lửa cháy trước bức màn xanh đen
của trời.
Thế
nhưng khi chiều buông thì màn đêm ập đến, cho một cái nhìn
vào chiều sâu của vũ trụ. Ngàn sao sáng rực và gần gũi
hầu như chúng là một phần của cảnh vật. Ta thấy chúng
như từ trên cao sa xuống chân trời lóe lên một cái rồi
biến mất, như một người cầm đèn biến mất sau cánh cửa.
Vũ trụ không còn chỉ là một cái gì trừu tượng mơ hồ
mà một thực tại có thể thấy rõ và vì thế ở đây không
ai nghĩ về “thời gian” mà không nhớ đến mặt trời, mặt
trăng và những vì sao, các thiên thể chế ngự nhịp điệu
của đời sống; nhờ thế mà thời gian mất khía cạnh tiêu
cực của nó, nó trở thành một kinh nghiệm cụ thể của
một sự vận hành miên viễn, qui hoàn sáng tạo, là tự tính
của muôn vật. Vì bầu trời hầu như không bao giờ bị mây
che phủ hoàn toàn, con người luôn luôn thấy được tiếp
xúc với các thiên thể và chiều sâu xa của không gian. Cả
ban đêm cũng không bao giờ tối hoàn toàn. mộ t thứ ánh sáng
lờ mờ kỳ lạ chiếu cảnh vật trong những đêm không trăng,
một thứ ánh sáng tỏa ra từ các vì sao. Trong thứ ánh sáng
đó mọi vật và cảnh quan hiện ra tương đối rõ nét không
màu không bóng.
Mực
nước trong sông suối cũng dâng hạ với nhịp vận hành của
thiên thể, vì trong mười hai giờ của ngày hè thì tuyết
trên núi bắt đầu tan khi mặt trời rọi, tối đến thì đông
cứng lại. Thế rồi nước lại cần khoảng mười hai giờ
để chảy từ núi xuống suối, nên khoảng chiều tối nước
suối dâng cao và sáng hôm sau lại hạ xuống. Các dòng suối
nhỏ thường khô kiệt trong các giờ ban ngày, ban đêm lại
trở thành dòng thác chảy xiết. Vì thế nếu ai cắm lều
bên cạnh một dòng suối tưởng khô ráo có thể ban đêm bị
nước cuốn (điều này đã xảy ra cho tôi nhưng rất may giờ
cuối đã cứu được cả người lẫn hành lý).
Nhịp
điệu lớn lao của thiên nhiên xuyên suốt mọi thứ và con
người đan kết với nó về vật chất lẫn tinh thần. Ngay
cả trí tưởng tượng hay sự cảm xúc cũng ít tùy thuộc
vào lĩnh vực của cá thể mà nó tùy thuộc vào cảnh vật.
Trong đó nhịp điệu của vũ trụ tinh đọng thành một tiết
điệu với sức thu hút không cưỡng lại được. Nơi đây
trí tưởng tượng chính là biểu hiện của thực tại trên
bình diện ý thức con người và ý thức này dường như nối
mọi cá thể với nhau và cho cả vùng một không khí tâm linh.
Dưới
ảnh hưởng của miền đất lạ lùng này, trong đó lũng còn
cao hơn những đỉnh núi tại châu Âu, và núi non vươn đến
những không gian siêu nhân thế; nơi dây đã xảy ra một sự
du hành tâm linh kỳ lạ. Điều này dường như một tảng đá
nặng đã được xuất hiện tự nhiên và nhẹ nhàng, nhưng
không mất đi mối liên hệ và phương hướng của chúng. Một
sự chú tâm và sáng sủa cao độ được đạt đến, không
chút cố gắng và một niềm vui cao cả giữ tâm trong trạng
thái sẵn sàng sáng tạo. Tâm thức như được nâng lên bậc
cao hơn, nơi đó các chướng ngại quấy nhiễu của đời sống
bình thường không còn hiện diện hay chỉ hiện ra như những
ký ức lờ mờ, không còn quan trọng hay thu hút gì nữa. Đồng
thời người ta ý thức về những dạng mới của thực tại,
thấy nhạy cảm, mở rộng hơn với nó. Khả năng trực giác
được đánh thức và kích thích: nói ngắn gọn, đã hình
thành tất cả các điều kiện để chứng được đại định
(dhyana) cũng như các dạng thiền quán cao hơn.
NGÔN
NGỮ SỐNG ĐỘNG CỦA MÀU SẮC
Sự
chuyển hóa ý thức mà tôi thấy ở đây ( cũng như những
lần trở lại Tây Tạng) có một sự tương tự nhất định
với sự chuyển hóa mà tôi đã có ở Yi-Gah Tscholing khi đến
đó lần đầu; mặc dù lần này có qui mô lớn hơn vì nơi
đây tất cả mối liên hệ vơí thế giới quen thuộc đã
bị cắt đứt và ảnh hưởng của các hang động, của không
khí loãng, của thời tiết và của điều kiện sống đều
tham gia vào sự biến đổi tâm lý đó. Mặt khác, sự chuyển
hóa tâm linh không vì những yếu tố vật lý đó mà giảm
ý nghĩa. Cả những phép tu du già cũng là một sự phối hợp
các yếu tố vật lý, tâm thức và tinh thần, thí dụ tác
động của phép làm chủ hơi thở (pranayama) và thái độ của
thân cùng với sự tỉnh giác, quán chiếu của tâm, hòa trong
sự an tĩnh của cảm xúc nội tại.
Không
khí cực loãng có một tác dụng như một số phép luyện hơi
thở vì nó buộc ta phải điều chỉnh hơi thở một cách nhất
định, nhất là khi phải leo cao hay đi đường xa. Vì thiếu
dưỡng khí, nên ta phải hít một khối lượng không khí gấp
hai ba lần so với độ cao mặt biển và trái tim cũng phải
làm việc nhiều hơn hẳn. Mặt khác, trọng lượng của thân
thể giảm đi nên cơ bắp hầu như có thể nhấc bổng nó
và khi leo cao ta có cảm giác như chắp cánh. Thế nhưng đây
chính là chỗ nguy hiểm vì ta không trực tiếp thấy được
tim và phổi đang chịu thiệt. Chỉ khi thấy mình hụt hơi
và tim đập loạn xạ, ta mới sực nhớ tự nhủ phải kiểm
soát từng cử động của mình. người Tây Tạng thường đi
những bước dài chậm rãi và lồng hơi thở của mình trong
bước đi. Thế nên việc đi bộ cũng trở thành phép kiểm
soát hơi thở, tương tự như phép tu Hatha-Yoga của Ấn Độ,
và đều này càng rõ hơn khi mỗi bước đi lồng hơi thở
còn kèm theo việc đọc thần chú một cách nhịp nhàng, như
người Tây Tạng thường làm. Xuất phát từ kinh nghiệm chính
mình, tôi có thể khẳng định rằng điều này mang lại an
bình và có tác dụng tăng năng lực rất nhiều.
Kể
từ đó, điều làm tôi rõ hơn hẳn là ảnh hưởng to lớn
của màu sắc lên tâm thức con người. Không kể sự thưởng
ngoạn nghệ thuật về cái đẹp mà màu sắc tạo nên cho ta
- điều làm tôi thích họa là để cố giữ lại cái đẹp
cũng như trao truyền cho người khác - tôi còn nhận ra một
cái gì sâu xa và tinh tế do màu sắc tạo nên, có lẽ nhiều
hơn bất cứ yếu tố nào khác trong các chứng thực thiền
quán Tây Tạng.
Màu
sắc là ngôn ngữ sống động của ánh sáng, của sự bày
tỏ một thực tại có ý thức. Ý nghĩa tâm linh của màu sắc
xem như biểu tượng và thuộc tính của thực tại cao cấp
được nhận biết bằng cách chứng những màu sắc với mức
độ khác nhau. Chúng hiện ra thành những màu rực rỡ, thuần
khiết và có điều thú vị là một nhà tư tưởng hiện đại
và nghiêm túc như Aldous Huxley đã kết luận là màu sắc là
“bằng cớ của thực tại”.
Theo
tôi thì những sự trừu tượng hóa đầy đru khái niệm, những
biểu hiện và hình dung do suy luận mà thành, tất cả những
cái đó đều vô sắc, trong lúc thực tại, dù nó thuộc dạng
ấn tượng cảm quan của thế giới ngoại cảnh hay thuộc
biểu tượng uyên nguyên của nội tâm trực tiếp thì nó cũng
đầy màu sắc. Hơn thế nữa, cái thứ hai (ấn tượng nội
tâm) nói như Huxley, “có màu sắc đậm đà hơn hẳn hình
ảnh ngoại giới. Thế nhưng ta cứ tìm cách trừu tượng hóa
sự vật theo cách dễ hiểu cho ta. Làm như thế, ta chỉ đánh
mất tự tính của sự vật. Với kia của tâm thì ít nhiều
ta không còn cần đến ngôn ngữ và nó nằm ngoài hệ thống
của suy luận khái niệm. Thế thì những cảm thọ hình ảnh
của ta mang đầy sự tươi trẻ và cái sung sức trần trụi
của ấn tượng, chúng không cần diễn đạt bằng ngôn từ,
không cần sự trừu tượng khô cứng. Màu sắc của chúng
(đặc trưng của sự vật) tỏa rực bằng một thứ ánh sáng,
đối với ta là siêu nhiên, nhưng kỳ thực là hoàn toàn tự
nhiên trong nghĩa chúng không bị tri thức hóa qua ngôn ngữ
hay qua những hình dung khoa học, triết lý hay thực dụng; mà
vì những hình dung đó mà ta cho chúng xuất hiện lại trong
thế giới này bằng những hình ảnh mù mờ của nhân thế
chúng ta”(16)
Cảnh
vật Tây Tạng có rất nhiều cái “sung sức trần trụi”
này của hình dạng và màu sắc, nối liền ta với một linh
ảnh siêu nhiên hay một giấc mơ tiên tri, giấc mơ này thường
ở chỗ sự sáng láng và sinh động của màu sắc. Trong một
giấc mơ loại đó, lần đầu tiên tôi thấy màu sắc rực
rỡ và thuần tịnh như thế, trong dạng một đỉnh núi trồi
lên từ dưới biển xanh ngắt. Lòng tôi tràn ngập niềm vui
sướng và tự nghĩ: đây phải chăng là quần đảo thiên đường
Nam Hải, nơi tôi đã nghe nhiều. Thế nhưng về sau khi đến
những đảo phủ đầy dừa của miền biển nhiệt đới, tôi
không còn thấy những màu sắc đã làm mình vui thích đó nữa.
Thế
mà tôi lại thấy những màu sắc này tại Tây Tạng và niềm
vui sướng khi nhìn thấy màu sắc trở lại với tôi như trong
giấc mơ đó. Nhưng tại sao tôi laị thấy đỉnh núi nọ trồi
lên từ nước biển xanh ngắt? Câu hỏi này nằm hoài trong
trí tôi đến một ngày nọ chúng tôi đến một hẻm núi hẹp
và nóng, xung quanh là đá màu vàng vây đầy, qua đó không
những ánh sáng còn thêm chói chang mà hơi nóng cũng tăng lên
tới mức người ta trong mình ở vùng Sahara chứ không phải
ở độ cao 4500m của miền Trung Á. Nóng tới mức mà khi nghỉ
trưa tại một con suối nhỏ, tôi đã không cưỡng lại được,
cởi hết áo quần xuống tắm và bơi một đoạn trước sự
ngạc nhiên của các người Ladakh. Tôi thấy mình hết sức
sảng khoái, nhưng không tắm được lâu vì hẻm núi càng lúc
càng nóng. Và con suối cũng cạn dần do nó đổ vào một cái
hồ cạn màu vàng; nó tỏa ra một màu xanh cực mạnh như được
chiếu từ bên trong. Thật là một cảnh quan bất ngờ, trực
tiếp, khác từ bên trong. Thật là một cảnh quan bất ngờ,
trực tiếp, khác hẳn với những gì đã xảy ra từ trước
đến giờ. Tôi kinh ngạc không biết giải thích ra sao. Sợ
rằng mình có ảo giác, tôi goị các người cùng đi: “Xem
kìa, cái gì thế?”.
Tso!
Tso! Panggong Tso” họ đồng thanh gọi và ném mũ lên trời
vui mừng, hầu như vừa qua được một đỉnh đèo. Thật ra
chúng tôi mới tới một Lhasa-tse (tháp đá), đỉnh đèo nào
cũng có - nhưng đây là chốn quí báu, nơi mà đại hồ Panggong
có thể thấy được đầu tiên. Và chúng tôi cũng lấy đá
ném vào chỗ đó, lòng thầm biết ơn có ai đã giúp mình thoát
được hẻm núi. Thế nhưng tôi vẫn không tin nơi mắt mình.
Không thể được! Nó như một loại nước nào tự sáng, không
có trên trần gian.
Không
bao lâu sau chúng tôi thoát khỏi hẻm núi đầy sức nóng và
trước mắt chúng tôi, hồ trải dài như mặt của loại đá
qúi Lapislazuli sắc xanh đã tan chảy; nhìn xa xa thấy như màu
xanh đậm nước biển và gần bờ có màu cobalt xanh sáng. Tại
các bờ cát trắng sáng, nước lấp lánh màu lục. Những ngọn
núi nằm sau làm nền cho cảnh tượng màu sắc khó tin này
là một bản hòa ca của những màu vàng óng, đất cháy và
đỏ tươi với bóng ngã sắc tím. Đúng đây là cảnh vật
sáng rực của giấc mơ xưa, cảnh vật vươn từ một dòng
nước xanh đầy ánh nắng lên bầu trời sâu thẳm không gợn
mây.
Núi
bên trái có hình dạng sắc sảo, phía đối diện lại thoai
thoải một dãy, quanh năm tuyết phủ. Chúng chạy song song với
các hồ Panggong-Tso và Nyak-Tso, hay hồ này tạo nên một vùng
nước gần như liên tục dài hơn 160 km. Ngày xưa hai hồ là
một thung lũng dài ngập nước. Về sau vì núi lở, chúng bị
chia đôi ra làm hai hồ riêng biệt.
Khi
đến trạm dừng dưới chân dãy núi tuyết, cao hơn bờ hồ
đôi chút, tôi đã bị mê hoặc bởi màu sắc của hồ và
núi và của một nhịp điệu kinh khủng đang lan tỏao nơi
đây; đến nỗi quên cả đói và mệt, tôi trở lại ngay chỗ
cũ, nơi mà lần đầu tôi chiêm ngưỡng hò và núi tuyết.
Thế nên tôi lại đi với giá vẽ, giấy, màu và vài miếng
Kulchas(17) đỡ lòng, qua vài cây số để trở lại chỗ tôi
đã lưu ý nhưng không dám ngừng lâu vì lúc đó không biế
bao lâu mới đến chỗ nghỉ. Tôi làm việc với lòng hứng
thú, nên chỉ sau thời gian ngắn mà vẽ được hai ba tấm
hình. Mặt khác tôi vẫn nhớ là trễ lắm lúc mặt trời lặn
mình phải có mặt tại trại.
Dù
thế, chuyến đi ngắn của tôi suýt bị nguy; vì bận về thình
lình tôi gặp một dòng nước chảy xiết mà bận đi không
có. Khi đi, vì nóng ruột muốn đến, tôi quên không để ý
đến nhiều dòng suối cạn nước. Nước tan trên núi đã
chảy xuống muốn cắt đường đi của tôi. Vì biết không
còn nhièu thời giờ, tôi đành phải lội nước lạnh ngắt
và sau khi lội qua hai ba dòng suối mới về tới nơi, gần
lả người. Dù bao mệt nhọc, ngày hôm đó tôi rất vui sướng
đã tận hưởng được vẻ đẹp và sự trực nhận không
thể nào quên về cái hồ này.
NHỮNG
GIẤC MƠ VÀ KÝ ỨC BÊN HỒ XANH
Trong
những ngày sau chúng tôi đi theo bờ hồ dưới chân núi tuyết,
mà triền núi chạy thoai thoải ra xa biến thành đất bằng,
thành một vùng đất cao nằm trên hồ, thỉnh thoảng lõm xuống
từng dòng. Thế nhưng những dòng này ít khi có nước nên
đồng cỏ cũng hiếm. Thành thử tuy gần hồ nhưng ban ngày
hầu như người ta thiếu nước. Thứ nhất, là bờ hồ rất
khó xuống vì cao nguyên nằm cạnh hồ gần như có vách dựng
đứng, chỉ trừ những nơi bị trũng mới có nước chảy
xuống. Dọc theo các dòng này là đến những đoạn có cát
sỏi. Thứ hai, vùng này thiếu nước uống vì một lý do bất
ngờ: nếu có tới bờ hồ thì nước cũng chẳng uống được
vì trong nước chứa quá nhiều chất magnesium.
Đó
là lý do sinh ra độ trong và màu sắc nhưng nó làm cho nước
không thể chứa sinh vật, dù thực vật hay động vật rất
nhỏ cũng không. Thế nên nước trong vắt, trong những ngày
lặng gió không sóng, đứng sát bờ, ta không phân biệt được
đâu là nước đâu là bờ. Tôi vẫn nhớ rõ cái hoảng sợ
trong ngày mình đến gần bờ và chân đạp vào nước lạnh
ngắt lúc nào không hay. Những viên sỏi nọ với màu sắc
đáng yêu, không khác gì những viên nằm trên bờ, vậy mà
chúng lại nằm trong nước. Nước trong không màu hệt như
không khí. Chỉ nơi nào khá sâu thì nó mới mang một màu xanh
lục, sâu hơn thì chỉ còn một màu xanh ngắt, chính màu xanh
biến hồ thành một sự kỳ diệu.
Màu
của hồ và vùng xung quanh nó không ngưng cuốn hút tôi. Buổi
tối, khi nước do tuyết tan chảy vào hồ, chúng làm thành
một dải sáng bạc trên màu xanh đậm của hồ; trong lúc xung
quanh các đỉnh núi rực màu cam, đỏ và tím, và bầu trời
chuyển dần với sắc màu của một cầu vồng.
Thời
tiết bỗng nhiên trở nên dễ chịu, như Điạ Trung Hải gặp
gió ấm và ngày nọ chúng tôi đi qua một vùng cát trắng thỉnh
hoảng xen lẫn vài đám sỏi, nóng bỏng, trải dài cả cây
số giữa các triền núi tuyết và hồ. Mặc dù ngay giữa tháng
bảy tôi cũng không ngờ trên cao nguyên Tây Tạng lộng gió
mà có cái nóng thế này. Nhưng như đã nói, Tây Tạng là một
vùng đất của bất ngờ và đối nghịch: trong một ngày người
ta có thể chết cóng và qua ngày hôm sau bị phơi nắng hay
phải đương đầu với bão cát.
Không
bao lâu sau khi vượt qua sa mạc cháy bỏng, chúng tôi đến
một vùng dễ chịu với nhiều bụi hoa và đồng cỏ, được
một dòng sông con tưới nước. Đây là một vùng bằng phẳng
nằm giữa hồ và núi đã rút lui. Những cánh hoa ở đây khá
giống với loài hoa đồng nội về màu sắc và hình dáng,
nhưng thân của chúng lại khỏe nên giúp chúng tôi không có
gỗ, thay vào đó là phân trâu mà chúng tôi nhặt nhạnh mỗi
ngày, cũng có khi là rễ cây hay bụi gai tìm thấy bên cạnh
bờ suối hay lòng sông đã cạn. Kể từ ngày rời lối mòn
của lữ hành thì phân trâu cũng hiếm. Ngay trên đường đi
của họ thì phân trâu hay phân ngựa cũng đáng quí, không
ai đi ngang mà không nhặt lên cho vào túi trước bụng để
dành khi đêm đến đốt lửa. Trong không khí cực khô của
vùng này thì phân trâu n gựa nơi đây đều cứng như gỗ
và cũng không có mùi hôi.
Ai
chưa ở Tây Tạng hay những vùng không có gỗ ở Trung Á thì
khó có thể hình dung về giá trị của phân trâu. Nó là chất
đốt quan trọng nhất của cả nước, nó cháy với một ngọn
lửa hầu như không khói, nóng và đều. Vì chỉ có dầu trong
trường hợp thật cần thiết, như trong đền đá lần đó
tại Tschang-La. Kể từ ngày đó, chúng tôi không bao giờ ở
trong nhà, ngay cả những lúc có nhiều người tại Tankse, chúng
tôi thích cắm lều ngoài trời hơn. Sau Tankse thì với vài
ngoại lệ xuất hiện vài túp lều ở chân dãy Panggong gần
nơi có canh tác lúa mì, chúng tôi không còn thấy làng mạc
nào nữa.
Vì
thế, chất đốt và vấn đề chính và quan trọng như nước
cho người hay cỏ cho ngựa. Cũng thế, thật đáng vui khi chỗ
không người ở này lại có tất cả những gì cần cho sự
sống còn. Chúng tôi hạ lều thoải mái nơi kín gió cạnh
bờ suối. Thật là một chỗ nên thơ, một phía thì được
ngắm nhìn núi tuyết, phía bên kia là hồ.
Tôi
cảm thấy sung sướng và vô tư tới mức quyết định cắm
trại ở lại đây vài ba ngày để tìm hiểu các nơi xung quanh,
dùng thời giờ để vẽ và thiền định. Trong sự thanh tịnh
của thiên nhiên hoang sơ, xa lánh mọi mưu toan thế gian, dưới
bầu trời cao rộng, bao bọc bởi một phong cảnh chỉ có trong
mơ mà màu sắc như núi bằng đá quý của một thiên đường
huyền hoạc, tôi thấy mình thật an tịnh với chính mình và
thế giới.
Điều
lạ là tôi không có cảm giác “cô đơn” trong sự yên tĩnh
vĩ đại của thiên nhiên và cũng không thấy có nhu cầu phải
trao đổi với ai. Hầu như ý thức của tôi đã rộng mở
để bao gồm luôn thế giới ngoại cảnh - phong cảnh, bầu
trời và con người – những cái liên hệ với tôi, hiện
tại cũng như quá khứ. Hơn thế nữa, quákhứ hầu như choàng
lên hiện tại xuyên qua hiện tại. Tôi đã thấy hiện tượng
này rồi trong những dịp khác, đặc biệt ở những nơi có
độ ẩm cao, hay lúc mây kéo đầy bầu trời hoặc lúc không
khí hầm hập nặng nề.
Ngay
cả trước đây tôi đã thấy lúc nào có dấu hiệu thay đổi
thời tiết thì giấc mơ của tôi cũng bị ảnh hưởng theo;
cho nên hồi đó tôi đã có thể tiên đoán lúc nào thời tiết
sẽ thay đổi bất ngờ. Tôi nhớ người ta nói lúc nào mơ
thấy người chết là trời sắp mưa. Vì không thấy mói liên
hệ giữa việc mơ thấy người chết và mưa nên tôi cho đó
là nhảm nhí. Nhưng gần đây tôi thấy, bất cứ lúc nào nằm
mơ thấy người thân lúc mình còn nhỏ và chết đã lâu rồi
thì trong vùng vài ngày sẽ có mưa to, có khi dông hay bão tuyết.
Thường thì những cơn mơ đó xảy ra khi không có một đám
mây nào trong bầu trời, chẳng có dấu hiệu nhỏ nào trời
sắp chuyển như nóng bức hay độ ẩm cao. Vì cao nguyên Tây
Tạng ít mưa nên tôi dễ nhận ra hiện tượng này và từ
đó xem nó như kinh nghiệm. Trong những chuyến du hành sau đi
Tây Tạng tôi đều lưu ý giấc mơ của mình và dựa trên
đó mà vạch kế hoạch.
Cách
giải thích của tôi về hiện tượng đó là, ý thức của
ta phản ứng lại với sự thay đổi khí tượng, và với áp
suất lớn thì tiềm thức - nơi lưu giữ kỷ niệm của thời
quá khứ lan động đến ý thức. Áp suất càng lớn thì ta
càng dễ nhớ về quá khứ và điều này biểu hiện qua giấc
mơ, trong đó những người liên hệ gần gũi với ta thời
xa xưa hiện về, những người đó phần lớn đã không còn
nữa. Trong những vùng cao của Tây Tạng thì ta không những
nhạy cảm thêm với điều đó mà còn nhớ rõ hơn các giấc
mơ đã bị chúng gây ấn tượng. Bản thân người Tây Tạng
càng tin vào ý thức trong các giấc mộng và ít khi sai lầm
khi suy đoán ý nghĩa của chúng.
Ngoài
việc suy đoán giấc mộng, họ còn nhiều cách để tiếp xúc
với vô thức: Thiền định, xuất thần, đồng cốt và những
dấu hiệu tự nhiên lẫn siêu nhiên. Tất cả những điều
này khắp nơi trên thế giới đều có, cả trong các nền văn
hóa khác nhau; và kết quả của chúng dường như đủ để
làm con người tin theo. Người Tây Tạng sẽ ngạc nhiên nếu
ta nghi ngờ những điều này, đối với họ tất cả đều
là kinh nghiệm cụ thể, không liên quan gì đến lòng tin hay
lý thuyết. Đối với họ thì những thí nghiệm của nền
tâm lý hiện đại, dùng khoa học để “chứng minh” các
hiện tượng thuộc tâm như thần giao cách cảm, chúng thật
là ngớ ngẩn buồn cười, như ta “chứng minh” các hiện
tượng thuộc tâm như thần giao cách cảm, chúng thật là ngớ
ngẩn và buồn cười, như ta chứng minh sự hiện diện của
ánh sáng vốn ai cũng thấy chỉ trừ người khiếm thị. Chính
những cách làm phiền toái của các thí nghiệm dó mới là
trở ngại lớn nhất cho thành công của chúng. Khi đi tìm cái
“khách quan”, họ đã loại bỏ sứ mạnh then chốt của
sự cảm xúc và tính tâm linh của con người, không có chúng
thì không có cách nào đi sâu hay tập trung được. Thái độ
nghi ngờ, cách làm cơ giới và phương pháp thống kê (chỉ
tìm số lượng và bỏ qua chất lượng) và khung cảnh sơ sài
của các thí nghiệm, tất cả những cái đó đã đóng lại
cánh cửa của “cảm thọ tâm lý”.
Tại
Tây Tạng, khả năng tập trung và tự quán sát, nhất là sự
nhạy cảm tâm linh được nhân lên hàng trăm lần nhờ cái
to rộng, sự an tĩnh và đơn độc của thiên nhiên, nó có
tác dụng như một tấm gương lõm, không những chỉ phóng
lớn những cảm xúc rung động riêng tư nhất của ta lên mà
còn tụ hội chúng trong một tiêu điểm: tại ý thức của
chính chúng ta. Nơi đây không còn gì làm tâm ta tán loạn,
cả cái vĩ đại của thiên nhiên cũng không; vì thiên nhiên
không bao giờ gây phiền nhiễu mà ngược lại, nó kích thích
ta tăng cường hoạt động tâm linh. Tâm thức và thiên nhiên
là hai yếu tố đồng minh không phải đối thủ. Tính vĩ đại
và cao rộng của thiên nhiên và tiết điệu phi thời gian của
nó phản ánh đúng ánh sáng đúng tính chất của các tầng
tâm thức sâu kín của ta.
Nhìn
chung thì hoạt động tâm linh của những người khác có tác
động gây nhiễu ý thức và cắt đứt hay làm lạc dòng chảy
yên lành của nội tâm, tư tưởng và cảm xúc, sự chú tâm
tự do mở rộng, không bị ngăn ngại. Sự nhạy cảm của
nó không còn bị tâm thức lạ liên tục tác động nữa hoặc
để cho phiếm luận vô bổ và tiếng ồn vô nghĩa của đời
sống văn minh làm cùn nhụt; và nhờ thế nó có thể tiếp
cận với vô thức của chính mình và với tất cả những
người có cùng mức độ, họ được kết nối với nhau bằng
tình cảm hay bằng chứng nghiệm giống nhau.
Điều
này giải thích các hiện tượng thần giao cách cảm thường
thấy tại dân Tây Tạng – và không chỉ ở những người
có trình độ tâm linh cao mà cả với người dân dã, người
chăn thú hay nhà nông, thương nhân hay thợ thuyền, người
Nomade hay lữ khách, những người phải đi trong vùng hẻo lánh
từ năm này qua năm khác. Sven Hedin kể lại trong ký sự của
mình một trường hợp điển hình: Trên đường đi nội Tây
Tạng, ông đồng hành với một đoàn vào một nơi hẻo lánh,
hoàn toàn không có một người ở. Khi ông dự định đi sâu
tìm hiểu vùng này thì gặp một đoàn người Nomade, họ đưa
một đàn thú từ vùng đó lại mà không biết rất rõ nơi
đó. Cố gắng lắm, ông mới thuyết phục được một người
trong đó làm hướng đạo cho đoàn. Đó là một người còn
trẻ, rất nhút nhát, anh thú thật là không quen sống ở chỗ
đông người và chỉ chấp nhận hướng đạo cho đoàn nếu
để anh ta đi trước một mình, nếu không, anh không thể nhận
biết dấu hiệu và phương hướng đường đi. Sven Hedin chấp
nhận yêu cầu đó và đoàn cứ đi theo sau anh một quãng xa,
cho tới một ngày nọ anh bị bệnh và chết. Sven Hendin không
còn cách nào khác hơn là cùng với đoàn đi lui lại, cứ theo
đường cũ mà đi. Nhưng khi đoàn còn cách chỗ đến vài ngày
đường thì người em của anh đó đang đi ngược chiều và
trong đoàn chưa ai kịp giải thích về chuyện đã qua thì người
em ngay lập tức khóc lóc than vãn về cái chết của anh mình.
Trước câu hỏi ngạc nhiên của nhiều người, người em kể
ra nơi chốn và nguyên do cái chết của anh mình một cách chính
xác. Anh ta đã nhìn thấy bằng con mắt tâm linh!
*
*
*
Sự
đơn độc xem ra có một tác dụng tương tự như vài phép
thiền quán hay phép tu du già. Nó tự động loại bỏ sự lung
lạc do các yếu tố bên ngoài và nhờ đó mà tạo ra một
trạng thái an tĩnh nội tâm, một trạng thái chú tâm tự nhiên.
Đối tượng nào của tư tưởng xuất hiện trong tâm cũng
có một mức độ thực tại lớn hơn, rõ nét hơn và nhờ
đó mà giữ được lâu hơn. Được quán sát chăm chú hơn.
Cái đã qua đọng lại thành cái hiện tại và cái hiện tại
hiện ra không còn là đường cách ly giữa cái đã qua với
tương lai, mà là một khía cạnh nhất thể của thân thể
đang tồn tại song song và liên tục trong một sự chứng nghiệm
bốn chiều.
Nhờ
hạnh xả bỏ xảy ra trong sự đơn độc mà tôi thấy rõ rằng,
đời sống chúng ta phụ thuộc rất ít vào những quyết định
do đầu óc đạo diễn và lại dựa rất nhiều trên những
biến cố, ấn tượng tưởng chứng như không quan trọng; chúng
đột nhiên hé mở cho thấy phương hướng chủ yếu của tự
tính đích thực của chúng ta. Chúng ta cho những biến cố
hay ấn tượng này là tình cờ vì đường như chúng xảy ra
mà không có nguyên nhân gì nơi ta, nhưng ta quên rằng sở dĩ
có ý nghĩa vì chúng ta cho phép những năng lực được bộc
phát, thứ năng lực vốn nằm sẵn trong ta nhưng ta không biết
đến chúng, chỉ vì những kế hoạch do đầu óc ta nghĩ ra
đã che lấp dòng chảy liên tục của đời sống nột tâm
và sức mạnh tâm linh của mình.
Những
giấc mơ thời thơ ấu của tôi đan quyện với những đỉnh
núi tuyết Andes và sự cô đơn độc kiêu kỳ của vùng cao
nguyên Bolivia, nơi sinh của mẹ tôi và cũng là nơi diễn ra
nhiều chuyến đi phiêu lưu làm bà tôi rất vui lòng, chúng
cũng đưa tôi vào một thế giới hoang dã xa lạ, trong đó
những đoàn lừa ngựa kéo nhau đi trong núi rừng hoang vắng.
Đồng thời các câu chuyện những người trong nhà vây bọc
lấy tôi, họ nói về các mỏ bismut(18) trong núi Quechila, những
chuyện thời xưa của ông tôi tại Cochabamba hay những chiến
tích của ông cố tôi mà ngày xưa đã từng là một tướng
lãnh trong cuộc chiến tranh giải phóng và là đồng chí của
Bolivar, ông đã mang lại một chiến thắng quyết định và
nhận được vinh dự của quân hàm cao nhất của tổng tư
lệnh tại Montenegro.
Điều
gây ấn tượng cho tôi hơn cả là cái vĩ đại của những
ngọn núi trọc, rõ nét của cao nguyên Bolivia và những bí
ẩn nằm sâu trong đó; một thế giới toàn vàng bạc được
chôn giấu, Bismut và các thứ kim loại khác. Tôi đã từng
thấy những kim loại quí này và bị vẻ đẹp của nó thu
hút hơn trị giá, hồi đó tôi cũng chẳng biết gì về trị
giá của nó. Nhất là loại bismut, đó là một dạng kết tinh
nhìn như những lâu đài bằng vàng, gây nơi tôi một sự mê
hoặc khó tả. Để tìm hiểu thế giới bí ẩn này trong lòng
đất và để được sống vĩnh viễn trong ánh sáng mặt trời
và được nhìn hoài chân trời của miền cao nguyên hùng vĩ
này, tôi quyết sẽ đi theo nghề làm mỏ núi, tiếp tục truyền
thống của gia đình.
Thế
nhưng khi lớn lên, nhận ra mình không ham thích chiều sâu của
trái đất bằng chiều sâu của tâm thức và vì thế tôi bỏ
khoa học tự nhiên để đến với nghiên cứu triết học.
Và vì triết học đối với tôi là việc đi tìm sự thực
nên tôi không mấy ham các hệ thống triết học, đó là những
định nghĩa có tính hàn lâm các tư tưởng triết học, mà
hướng về những dạng phát biểu có tính tôn giáo của thực
tại và cách thực chứng được nó. Tôi bị gây ấn tượng
sâu xa bởi các bài đối thoại của Plato(19), chúng hấp dẫn
tôi nhờ vẻ đẹp văn chương và tính tôn giáo. Trong các triết
gia cận đại thì Schopenhauer(20) gây ảnh hưởng mạnh lên
tôi, và sự nghiên cứu tác phẩm của ông dẫn tôi đến các
nhà thần học Thiên Chúa giáo cũng như đến Áo Nghĩa thư(21)
và Phật giáo.
Khoảng
năm mười tám tuổi thì tôi bắt đầu viết một công trình
so sánh ba tôn giáo lớn của thế giới là Thiên Chúa giáo,
Hồi giáo và Phật giáo để bản thân tôi được rõ và để
quyết định luôn tôn giáo mà mình theo là tôn giáo nào; vì
thôi thấy vô nghĩa nếu chỉ chấp nhận một tôn giáo nào
chỉ vì cha mẹ mình theo nó, nếu chỉ vì xã hội mình đang
sống chấp nhận nó. Đối với tôi, tôn giáo là một chuyện
có tính chất thuyết phục, dứt khoát chứ không phải chỉ
là sự tin trong đơn thuần hay qui ước chung chung; và muốn
được thuyết phục, tôi phải biết rõ.
Để
tìm sự thực nơi ba tôn giáo này, tôn giáo nào thuyết phục
mình nhất, tôi bắt đầu đi sâu học hỏi. Chẳng bao lâu
sau tôi thấy Hồi giáo không chứa đựng ý niệm nào mới
so với truyền thống chung của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo
nên nó sớm bị loại, chỉ còn Thiên Chúa giáo và Phật giáo.
Lúc đầu học hỏi, tôi thấy Thiên Chúa giáo ít nhiều thuyết
phục tôi hơn (dù nhà thờ không làm tôi tin tưởng). Thế
nhưng càng đi sâu, tôi càng thấy mình có nhiều tương đồng
với Phật giáo - và cuối cùng tôi rõ, Phật giáo là tôn giáo
duy nhất thuyết phục tôi trọn vẹn. Thế nên cuốn sách chỉ
dành cho giáo lý Đức Phật và bản thân tôi là người đầu
tiên được chính cuốn này đưa về vơí Phật giáo. Mặc
dù các chương sách này còn non nớt nhưng nó cũng được phổ
biến tại Đức, tại Nhật mà về sau khi đến Sri-Lanka, tôi
khám phá ra nó, tám năm sau khi nó ra đời.
Điều
làm tôi đi Sri-Lanka là nghĩ rằng mình tìm nơi đó truyền
thống thuần túy nhất của Phật giáo và nhất là cơ hội
để chứng nghiệm thiền định và tiếp tục học ngôn ngữ
mà tôi đã học tại Capri (22) và đại học Napoli. Đại học
này có một bộ kinh viết bằng văn hệ Pali do vua Chulalongkorn
của Thái Lan tặng.
Về
điểm này thì ở Sri-Lanka thật nhiều thành quả và dưới
sự hướng dẫn của Nyanatiloka Mahathera, nhà sáng lập và viện
trưởng của tu viện trên đảo Pogasduwa, một trong những nhà
thông thái Pali bấy giờ, tôi có nhiều cơ hội học tập và
thu thập kinh nghiệm, trong đời sống tu sĩ cũng như trong giáo
lý của Thượng tọa bộ của Nam tông Phật giáo. Lòng thân
ái của dân tộc Sri-Lanka cũng như tính kỷ luật và trình
độ giáo lý của các sư đã gây ấn tượng mạnh mẽ lên
tôi. Nhưng tôi thấy thiếu cái gì nơi đây - điều gì thì
về sau tôi mới khám phá ra, lúc ngụ lại tại Yi-Gah-Tscho-Ling-Gah
Tscholing, nơi đã đột nhiên mở ra chân trời mới của chứng
nghiệm tôn giáo và khi vị đạo sư xuất hiện trong đời
tôi.
Bây
giờ tôi mới thấy cuộc đời quanh co và những gốc rễ sâu
kín của mình. Tôi nghiệm ra rằng, chuyến hành hương về
chốn bất định lại chính là chuyến trở về nơi tôi đã
mộng thấy - và các giấc mơ lại chứa nhiều thực tại hơn
các kế hoạch của đầu óc, miễn là những giấc mơ đó
phản ảnh niềm tha thiết sâu xa nhất của tâm hồn chứ không
phải là những ước muốn, tham vọng nông cạn nằm sau những
tính toán thiệt hơn. Thật đúng thay những lời của Santayana(23)
Minh
triết đâu phải là,
chỉ
biết khôn ngoan thôi,
nhắm
mắt không chịu thấy,
ảnh
trong tâm xuất hiện.
Minh
triết đích thực là,
biết
tin nghe trái tim.
Nơi
đây bây giờ, tôi ngồi trong vùng đất của “hồ xanh núi
đỏ” dưới những bụi cây nở hoa của một ốc đảo xa
cách thế gian, cùng với hai người đàn ông lạ hoắc, ngoài
tôi rra thì họ là con người duy nhất trong cái vô tận của
vùng đất không người ở này, bên cạnh đống lửa, trong
lúc ngựa gặm cỏ và tiếng chuông quen thuộc của chúng vang
lên trong đêm.
Khi
trăng lên, tôi rời đống lửa, rút về giữa hai bụi cây,
đủ xa để bớt tiếng động và sự chú ý. Tôi để bàn
thờ nhỏ với tượng Phật của Tomo Géché - mà tôi luôn luôn
mang theo - lên một chỗ hơi cao và ngồi chìm sâu trong cuộc
trao đổi với thầy mình. Nếu trong những ngày qua tư tưởng
của tôi luôn chìm trong quá khứ thì bây giờ nó hướng hoàn
toàn vào con đường nội tâm đang nằm trước mặt tôi, mà
chính Tomo Géché, người đã chỉ cho tôi con đường đó. Tôi
không rõ mình đã ở bao lâu trong trạng thái hạnh phúc của
quán tưởng và đối thoại không lời đó. Bỗng nhiên mây
kéo trên dãy tuyết và tôi quay về lửa trại. Ngày hôm sau,
một đám mưa nhẹ rơi trên đầu chúng tôi. Bầu trời đã
gửi cho chúng tôi phước lành.
SƯỜN
NÚI TRƠN VÀ BÍ MẬT CỦA NHỮNG CHIẾC MÓNG NGỰA
Sau
một này nghỉ thỏa thích bên lửa trại, nhờ lửa mà dù
trời mưa chúng tôi vẫn khô ráo và ấm áp, mặt trời hiện
lớn ra gần như gấp đôi nên tôi quyết định hôm nay sẽ
đi về phía đông của hồ, càng xa càng tốt. Sau một ngày
vắng bóng, hôm nay mặt trời nóng rực và bầu trời không
mây mang màu sắc xanh như chưa hề có - một ngày tuyệt diệu
để vẽ.
Chỉ
mặc áo nhẹ và không mang gì hơn ngoài bộ đồ vẽ, tôi lên
đường. Tôi cố ăn sáng đầy đủ dể khỏi cần mang theo
lương thực và vì đôi ủng Tây Tạng đã rách và đang được
bạn đồng hành vá nên tôi chỉ mang xăng-đan, chẳng có vớ.
Thật là một cảm giác tuyệt vời được thơ thới đi trong
cảnh đẹp và đầy nắng và khí trời dịu mát, trong vùng
hoàn toàn không có người ở, với những màu sắc tưởng
như không hề có trên trái đất này đang trải rộng trước
mắt; đối với người họa sĩ thật là một ngày hội! Sự
kỳ diệu của cái hồ vẫn thôi miên tôi như ngày đầu -
màu xanh đậm rực rỡ mà nhìn mấy tôi cũng không biết chán
- vì thế tôi càng muốn đi dọc theo bờ hồ để có cái nhìn
toàn thể lên hồ và thấy được các ngọn núi tuyết phía
nam mà những ngày qua chúng tôi đã đi dọc theo chân của nó.
Khi đến đầu một ngọn đồi nhô ra phía hồ thì tôi gặp
một đàn Kyang - một loại ngựa hoang, chúng rất sợ người,
không sao tới gần được - chúng chạy chung một đàn nai.
Đây là lần đầu tiên tôi được thấy chúng. Chúng hơi giống
ngựa vằn ở độ lớn và hình dáng, nhưng khác màu. Đầu
của chúng to hơn đầu ngựa thường, lông màu nâu sáng như
hươu nai nhưng bụng trắng. Chúng là con đẻ của môi trường
hoang dã, nếu bị giam hãm chúng sẽ không chịu ăn uống và
sẽ chết vì không chịu nổi tù đày. Vì lý do này mà không
ai tìm cách bắt hay thuần hóa chúng, cũng không ai săn bắn
ăn thịt vì giết hại thú vật là đi ngược lại chủ trương
của đạo Phật.
Tại
Tây Tạng, săn bắn không phải là môn thể thao mà là một
tội ác và ngay cả khi cần giết thú vật để ăn thịt vì
thiếu thức ăn trong mùa đông thì người nuôi thú cũng cầu
xin thú vật tha thứ cho mình và cầu cho chúng được tái sinh
trong hoàn cảnh hạnh phúc hơn. Việc giết hại những sinh
vật vô nghĩa nhất cũng được xem là xấu và nên tránh, dù
điều kiện sống khó khăn tại Tây Tạng, nơi mà trái cây
rau quả hầu như không có, nó chỉ sống được trong những
vùng thấp có tưới tiêu, vì thế mà Tsampa (bột lúa mì rang)
thành thực phẩm chính. Đánh cá và bẫy chim càng bị lên
án hờn vì phải cần giết hại nhiều sinh linh loại này mới
đủ cho một bữa ăn. Vì thế cho nên chim thỏ và các loài
vật khác rất dạn dĩ với người. Tôi nhớ tớimotj con thỏ
nằm yên trong hang cho tới khi tôi rờ tới. Chim vào lều tôi
rất thường và loại chột đồng thường chi từ hang ra để
tò mò xem chúng tôi làm gì trong lãnh địa của chúng.
Còn
loại ngựa hoang thì luôn luôn giữ khoảng cách xa với loài
người, không phải chỉ vì chúng nhát mà có lẽ chỉ riêng
việc thấy người cưỡi người đã làm chúng sợ. Vì thế
tôi khá bất ngờ khi được thấy chúng và núp sau một tảng
đá, quan sát một lúc rồi mới lên đường. Trong đồng cỏ
quanh hồ Manasarrovar và vùng thảo nguyên Tschang-Thang, ta có
thể gặp từng đàn hàng trăm con. Thật thú vị khi nhìn thấy
chúng phi trên những cánh đồng uốn lượn của vùng cao nguyên
này.
Sau
khi đi vòng qua ngọn đồi, tôi xuống đến một vùng đất
bằng phẳng, vùng này được phủ bởi một lớp magnesium kết
tinh trắng xóa, dưới đó là đầm lầy. Vùng đất này làm
tôi nhớ đến những hồ muối nguy hiểm của sa mạc Sahara,
trên đó ta có thể đi lại, rồi khi gần đến mặt nước
thì bỗng nhiên mặt hồ muối bổng nứt ra và nuốt trọn
con người, đây là chỗ đã làm nhiều người mất mạng.
Vì thế tôi né bằng cách đi vòng quanh đầm và leo qua vài
ngọn đồi nhở để đến bờ hồ. Bờ dựng đứng từ hồ
lên và tận trên cao mới có một bờ đá hẹp, rồi trên bờ
đá này là núi đá dựng. Các tảng đá xếp sát với nhau
tới mức không thể đi vòng, phải nhảy từ tảng này qua
tảng khác, nếu không sẽ bị kẹp ở giữa. Nhưng tôi còn
khỏe, còn ham thích, nên không bao lâu sau tôi đã đi được
xa và càng tới gần, cảnh quan càng tuyệt diệu.
Cuối
cùng thì đá tảng cũng hết, nhường chỗ cho một dốc khoảng
45 độ, nằm sát với vách dựng đứng. Hy vọng sẽ vượt
qua được đoạn khó nhất, tôi xuống dốc - nhưng chỉ vừa
đặt chân xuống thì cả con dốc đã chuyển động và kéo
tôi xuống bờ. Thì ra cát sỏi trộn rời rạc với nhau, một
khi có ai đụng tới là nó tràn xuống vực. Tôi không còn
thời gian để suy nghĩ. Nếu rơi vào nước lạnh giá hẳn
tôi sẽ chết cóng trước khi bơi được vào bờ, đó là chưa
kể bờ là vách đá làm sao bám vào được. Tôi không có cách
nào khác hơn là cứ nhảy chồm về phía trước để tránh
khối cát sỏi bắt đầu lăn. Như một con quỉ rừng theo sát
chân tôi. Khối cát lăn ào xuống vực. Tôi nhảy chéo, hơi
hướng lên cao và cuối cùng giữ được độ cao, tới được
chỗ đất cứng.
Bây
giờ dưới chân là đá tảng đủ thứ hình thù, nó là cái
thay đổi đáng mừng cho tôi. Nơi đây tôi có thể đi lại
không nguy hiểm, không tất bật và với tâm trạng an toàn,
tôi ngồi nghỉ chốc lát. Ngồi trên một tảng đá, khi nhìn
quanh, tôi khám phá ra một điều kỳ lạ: xung quanh là vô số
móng ngựa, nằm giữa những tảng đá hay lẫn với sỏi cát,
trong số đó không có một móng nào nằm ngược. Nhìn chúng,
ta tưởng như một đàn ngựa bị gió thổi lên trời và để
lại những móng. Nhưng làm sao lại như thế được? Hay một
cơn tuyết lở đã sinh ra? Nhưng không, nơi đây chẳng phải
là sườn núi tuyết, chẳng có dốc núi nào đủ dựng để
tuyết có thể lở - vì vùng này là vùng tuyết của Tây Tạng
(cũng như ít mưa trong trong các mùa khác). Dù cho một cơn bão
tuyết khủng khiếp có thể giết chết một đàn ngựa và
thổi dạt xác chúng đi thì ít nhất cũng còn thấy xương
của chúng trong nước hồ trong, mà ở xa vẫn còn thấy những
hạt sỏi dưới đáy. Thế nhưng không hề thấy một miếng
xương nào, trong nước cũng như giữa các tảng đá. Dù cho
chó sói hay chim ưng ăn xác thì chắc chắn cũng còn dấu vết
để lại, ít nhất sọ hay răng ngựa cũng phải còn. Và tại
sao mà mọi móng ngựa lại đứng ngay và bị gãy ngay đốt
xương - dường như đàn ngựa sợ hãi điều gì đứng sựng
lại và chết? Sức mạnh đáng sợ nào đã có thể tiêu diệt
đàn ngựa nhanh chân một cách bí ẩn như thế?
Dù
nguyên nhân gì chăng nữa thì tôi cũng không còn thời gian
mà suy nghĩ về nó. Tôi đi tìm một chỗ thích hợp, từ đó
có thể ngắm nhìn hồ với dãy núi tuyết đằng sau. Với
mục đích này tôi đi tiếp, gặp một vịnh nhỏ dễ thương
gần như hình tròn, xung quanh là cát trắng tinh mà nước nơi
đó mang một màu xanh lục rực rỡ. Đối diện với vịnh
này là một mỏm đá nhô ra mặt hồ, đó phải là chỗ tôi
cần để ngắm cảnh. Nhưng như nhiều lần tại Tây Tạng,
tôi lại nhắm sai khoảng cách, vì không khí quá trong và màu
sắc quá sáng, cho nên mặc dù đi nhanh trên bờ cát, tôi vẫn
phải mất nhiều thời giờ mới đến được bờ bên kia.
Lúc tôi còn mê vẽ thì những bóng mây đen đã kéo lên trên
đỉnh núi tuyết phía nam. Nhưng vì ham công việc quá nên tôi
chẳng để ý gì cả, chỉ biết đây là cơ hội quí giá cho
sáng tác.
Tới
lúc bức tranh vẽ xong thì mặt trời bị mây đen che kín và
cảnh vật ngày càng tối không phải chỉ vì bị mây che mà
vì mặt trời cũng sắp lặn. Tôi vội lên đường đi về;
nhưng khi tới bờ bên kia thì trời kịp tối và các tia chớp
làm sáng bầu trời, sấm rền ngay trên đầu tôi. Không khí
bỗng lạnh như băng.
Tôi
bõng nhớ đá núi chập chùng và đàn ngựa chết một cách
bí hiểm gần đó và biết mình đang lâm nguy. Chắc chúng đang
phi thì bị đá đổ ngăn chận lại, hay đêm đến ngăn đường
về và bị chết cóng. Hay nơi đây có những mối hiểm nguy,
chúng đáng sợ hơn cái lạnh và bão táp mà tôi không biết.
Bộ xương và sọ ngựa đều biến mất không thể giải thích
được bằng sự hiện diện của thú dữ, vì ngay cả chó
sói cũng không nuốt hết mọi thứ - chúng cũng không cần
vì đây là thịt của một đàn ngựa.
Vùng
đất khó đi này cũng đã cho tôi thấy, trước khi núi đổ
thì đây cũng không thể là đường đi của khách lữ hành.
Ngoài ra có rất nhiều những móng ngựa nhỏ, điều đó cho
thấy không thể là do đoàn lữ hành nào vì không ai mang theo
ngựa con nhiều như thế cả. tôi không sao giải thích được
và bây giờ cũng không còn thời giờ để nghĩ tới. Mỗi
phút giây đều quí báu! Tôi phải vượt qua triền núi trơn
trước khi trời tối hẳn.
May
thay các đám mây đen bỗng tan đi, đột ngột như lúc chúng
kéo đến. Bầu trời vẫn còn mây nhưng không mưa và thảm
mây mỏng loãng dần đi. Với chút ánh sáng cuối cùng trong
ngày, tôi nhớ lại chỗ bị ngã và mặc dù không còn thấy
rõ bao nhiêu, gắng hết sức, tôi qua được sườn núi đá
lở. Thở hổn hển, tôi đến được bờ bên kia, ngồi xuống
nghỉ lấy sức; thế nhưng hình ảnh chó sói và các mối hiểm
nguy khác không cho tôi yên, mà mối nguy ngủ gục và chết
cóng là đáng sợ nhất. Khi hơi lạnh đã thấm vào cơ thể
thì khó mà lấy lại hơi ấm, nhất là tôi không có khăn choàng
lẫn áo ấm và chỉ nhờ vận động mà giữ được hơi nóng.
Thế nên tôi lại đứng dậy, biết mạng sống của mình đang
bị đe dọa.
Từ
sáng đến giờ tôi không ăn, không có giọt nước nào từ
lúc rời trại và bây giờ thì cái đói khát đang bắt đầu
lên tiếng, nhất là khát. Số phận mỉa mai thay, dưới chân
tôi là nước trong vắt từ dặm này qua dặm kia mà tôi không
có giọt nước nào cho đỡ khát. Tôi nghĩ hay mình tạm trú
chân trong một hang động trên đường về, nhưng lại sợ
chó sói rình rập đâu đó, và vì không có diêm hay bật lửa
mang theo nên tôi bỏ ngay ý định. Nhưng cái thèm nhất vẫn
là được ngồi xuống nghỉ ngơi. Tôi biết mình đã ngồi
thì sẽ không đứng dậy nổi, vì thế tôi quyết định đi
tiếp cho tới lúc nào quị thì thôi.
Bây
giờ thì trời đã tối hẳn, không còn phân biệt được đâu
là những tảng đá lót đường. Nhưng tôi ngạc nhiên thấy
mình vững bước nhảy từ tảng này qua tảng đá kia, không
hụt chân hay mất thăng bằng lần nào cả mặc dù chỉ mang
đôi dép (có vòng da cột nơi ngón cái). Đột nhiên tôi biết
mình đang mang theo một năng lực kỳ lạ, có một ý thức
không do mắt hay não mình chỉ huy, mà do một “thức” mà
tôi chưa biết tới. Tay chan tôi cử động như trong tình trạng
xuất thần, hầu như chúng liên hệ với một cái biết nằm
trong tôi., nhưng độc lập với tôi. Tôi quan sát mọi sự
này tựa hồ trong mộng. Thân mình thấy như xa xa, không thuộc
hẳn về mình, tách rời với đầu óc mình. Tôi có cảm giác
mình như một mũi tên chạy theo một đường bay đã có. Đồng
thời tôi tin rằng mình không được phép ngăn bắt cái năng
lực đã chiếm lấy mình.
Về
sau tôi mới biết điều gì đã xảy ra. Trong điều kiện lúc
đó và bên cạnh một mối nguy hiểm, tôi đã rơi vào tình
trạng của một Lung-Gompa, người chạy xuất thần, mà không
hể biết, là kẻ chỉ biết chạy tới đích và bỏ qua mọi
chướng ngại một cách vô thức, chân như không chạm đất,
đối với một người đứng ngoài thì thấy như bay trong không,
lơ lửng sát mặt đất.
Nếu
chỉ nhảy sai hay trượt chân khỏi đá là đủ gãy chân, nhưng
tôi không trượt lần nào. Tôi đi vững chắc như người mộng
du nhưng lại không hề ngủ. Tôi không biết mình đã chạy
bao nhiêu dặm trong vùng đất sát hồ khó đi này; chỉ biết
cuối cùng mình đã tới đỉnh của ngọn đồi tháp và trước
mắt vùng đầm lầy với chất magnesiim. Căn cứ duy nhất cả
tôi là một vì sao nằm về hướng núi tuyết, giúp tôi nhắm
hướng. Tôi không dám tách lạc hướng và vì còn ở trong
trạng thái xuất thần nên tôi đi luôn trên dầm trắng bạc,
nhưng lại không hề bị lún lần nào.
Nhưng
trại ở đây? Chắc không còn xa và cách hai dặm phải thấy
được trại rồi. Tôi lên một ngọn đồi có cây và nhìn
quanh nhưng khắp nơi không có chỗ nào có ánh lửa. Chắc chắn
họ không bao giờ rời trại, để tôi chết trong hoang vu, không
thực phẩm, không áo ấm, dù không có ai xét xử họ - còn
tôi thì chỉ rời trại có một ngày mà chưa về. Tôi xấu
hổ vì đã có ý nghĩ này, nhưng trong tình trạng gần như
kiệt sức, tôi không sao chế ngự nổi sợ. Có lẽ tôi lầm
hướng rồi chăng và tốt nhất là tiếp tục đi, cho đến
bờ sông rồi đi ngược dòng thì phải tới trại.
May
thay được đi thật ra đúng hướng và khi tôi bắt đầu bỏ
hy vọng tìm lại trịa thì đột nhiên thấy ánh lửa trong
một khoảng đất thấp. Tôi cố gọi nhưng cổ đã khô, không
ai nghe thấy tiếng của tôi ở khoảng cách này. Nhưng lòng
tin đủ mạnh cho tôi thêm sức, rồi vài phút sau tôi đã đến
trại và quỵ xuống bên đống lửa; trong lúc bạn đồng hành
vui mừng thấy tôi không hề hấn gì, họ cho tôi ăn uống.
Tôi thấy mình như kẻ lạc loài trở về chưa bao giờ mà
lửa trại và vòng tay con người lại mang đến niềm vui lớn
như buổi tối khó quên đó.
Tới
hôm nay tôi vẫn chưa giải thích được sự bí ẩn của những
chiếc móng ngựa, mặc dù đã thảo luận với nhiều người
với hy vọng có câu trả lời thích đáng. Nhưng những điều
khác liên quan trực tiếp đến tôi trong ngày hôm đó thì đã
được lý giải đầy đủ về tình trạng xuất thần mà tôi
đã nhập vào, khi biết thêm về hiện tượng tâm lý của
lugn-gom. Trong một cuốn sách của Alexadra David-Neel(24), lần
đầu tôi đọc, có mô tả chuyện này và nhiều năm sau tôi
được thấy tận mắt trong tu viện nổi tiếng Nyang-to Kyi-phug,
ở một lũng của sông Nyang-Tschu, không xa Schigatse, một trong
những trung tâm giáo huấn du già nổi tiếng, vào năm 1947,
lúc cùng đi với Li Gotami.
PHI
HÀNH XUẤT THẦN VA PHÉP LUNG-GOM
Ghi
chép của chứng nhân đầu tiên về phép phi hành xuất thần
mà phương Tây được biết, cũng là mô tả ấn tượng nhất,
là bà Alexandra David-Neel trong tác phẩm nổi tiếngMistiques et
magiciens du Tibet (Đạo học và các nhà huyễn thuật Tây Tạng).
Một ngày nọ, lúc du hành trên cao nguyên Tây Tạng, bà thấy
từ xa xa một bóng đen chuyển động làm bà chú ý. Vùng bà
đi bấy giờ là một vùng hoàn toàn không người ở, suốt
hai tuần bà không gặp người nào. Qua ống nhòm bà thấy đó
là một người, “đi một cách kỳ lạ và với một tốc
độ phi thường”. Khi người đó tới gần, bà thấy “rõ
ràng khuôn mặt hoàn toàn an tĩnh, xa vắng và hai mắt mở to,
hình như một cái gì xa xôi, vô hình, ở trên cao. Người đó
gần như có cái đàn hồi của một trái banh cao su và cứ
mỗi lần đụng đất lại dội lên. Những bước của người
đó có cái đều đặn của một quả lắc”.
Vài
năm sau biến cố xảy ra đã mô tả trong chương trước, khi
đọc những dòng này tôi liền nhớ lại chuyện bên bờ hồ
Panggong. Sự mô tả này đúng hoàn toàn với kinh nghiệm của
tôi. Những người tập phép lung-gom thường được khuyên
là không những chỉ nên tập trung tâm thức mình về một
linh ảnh, mà ban đêm còn nên hướng mắt nhìn một vì sao
nhất định, vì thế có lúc sinh ra một tác dụng như bị
thôi miên. Về khía cạnh này, tôi cũng làm đúng như vậy
mà không biết và đã tới với một tình trạng như không
còn trọng lực và đôi chân dường như có một ý thức hay
bản năng riêng; chúng tự tránh mọi chướng ngại, tự tìm
chỗ dựa cho mình mà trong đêm tối với tốc độ đó chỉ
có nhà tiên tri mới thấy được được.
Bà
Alexandra David-Neel cho rằng phải có một sự gây mê nào đó
mới làm người ta khỏi đau khi đụng phải đá hay chướng
ngại vật. Tôi thấy điều này không phải, vì nếu thế thì
người phi thân này phải bị sưng chân hay bị thương tích,
điều này bản thân tôi không bị. Tôi cũng thấy không đúng
khi cho rằng việc tránh chướng ngại vật là nhờ phần còn
lại của thức thông thường. Ngược lại, chính nhờ thức
thông thường không can thiệp mà kẻ mộng du không bị hề
hấn gì mà lại có sự an toàn nhờ bản năng. Đối với kẻ
mộng du thì không có gì đáng sợ hơn nếu thức thông thường
đột nhiên thức dậy. Đó là lý do mà người đi xuất thần
phải tránh nói năng hay nhìn ngó vì chỉ một chút phân tâm
là đủ để cắt đứt trạng thái xuất thần thậm chí mất
hẳn.
Ý
nghĩa sâu xa của lung-gom là, vật chất có thể bị tinh thần
chế ngự. Điều này được chỉ rõ trong các phép tập luyện
phần lớn có tính chất tâm linh. Các phép tu tập đó thường
được thực hành hết sức cẩn mật và nhằm tập trung lên
một số năng lực cơ bản nhất định cũng như các biểu
tượng thiêng liêng của chúng, song song với trì niệm mật
chú, nhờ đó mà các trung khu tâm lực (cakra) của thân thể
được đánh thức và vận hành, biến thành sức mạnh siêu
nhiên.
Cũng
như trong phép tum-mo phép sinh nội hỏa, hành giả tập trung
lên yếu tố lửa qua một trung khu nhất định, đồng thời
ý thức mọi hiện tượng và bản chất liên hệ với lửa;
hành giả lung-gom phải ý thức mọi hiện tượng, khía cạnh
và chức năng của năng lực gió, hương tâm về đó.
Gom
vừa có nghĩa thiền định, tập trung, quán tưởng tát cả
năng lực tâm thức lên một đối tượng nhất định, đồng
htời nó con mang ý nghĩa dần dần từ bỏ sự phân biệt chủ
thể - khách thể, đến mức chủ và khách thể trở thành
đồng nhất với nhau.
Lung
là yếu tố “gió”, nó ám chỉ sức sống tinh tế và năng
lực tâm lý. Cũng như từ Hy Lạp pneuma vừa là không khí vừa
là tinh thần, thì về mặt thể chất lung là khí, đó là mặt
vật chất của nguyên lý sống của chúng ta, thí dụ bộ phận
hô hấp và khả năng di động và mặt kia là những luồng
năng lực tâm lý mà qua đó những trạng thái ý thức được
sinh ra hay biến mất.
Với
gom thì từ lung chỉ có nghĩa prana (khí) trong du già Ấn Độ,
nó liên hệ vứi các phép tu nhằm diều khiển khí lực của
thân người thông qua năng lực tinh tế của tâm thức. Nói
cách khác: Lung-Gompa không phải là người có khả năng bay
trong không (do có nhiều người hiểu sai từ lung) mà là người
biết cách chế ngự khí lực của mình bằng phép du già pranayanma.
Phép này bắt đầu bằng cách kiểm soát hơi thở và dùng
nó làm khởi điểm của một sự chứng thực tâm linh, nó
chuyển biến toàn bộ cơ chế tâm vật lý và toàn bộ tính
cách của con người hành giả. Năng lực và sức mạnh nằm
sẵn trong mỗi con người sẽ được tập hợp, tăng cường
và đưa vào đúng hướng.
Vì
thế mà lung-gom có thể được đinh nghĩa chính xác là “tập
trung lên nguyên lý động”. Nó chứa tính cách động của
cơ chế vật lý và tất cả hoạt động của thân, nhưng không
gói gọn trong nghĩa nội tại mà là tác động hỗ tương của
nhiều tiến trình và nhất là phụ thuộc vào những sức mạnh
uyên nguyên và tính chất bao trùm của tâm thức. Thế nên
nó có thể có ảnh hưởng trực tiếp lên các bộ phận của
thân và chức năng để tạo thành một sự hòa nhịp tâm vật
lý: một sự song hành giữa tư tưởng và cử động, một
sự hòa nhịp mà tất cả năng lực của hành giả tham gia
vào.
Khi
ta đến điểm đó rồi, khi mà một lực hay một dạng vật
chất có thể chuyển hóa qua một dạng khác thì có nhiều
điều tưởng chừng như siêu nhiên có thể thực hiện được,
ví dụ dùng ý chí mà vận động khối lượng (một sự kỳ
diệu mà thật ra chúng ta thường làm trong phạm vi nhỏ mà
không hề hay biết) hay sự chuyển hóa vật chất thành năng
lượng, làm giảm thiểu sức nặng hầu như loại bỏ được
cả lực trọng lượng.
Trong
các kinh sách cổ của phép thiền định đạo Phật thì việc
đạt các thần thông được xem là sản phẩm phụ, chúng gây
nên hiểm nguy chứ không ích lợi gì trong sự giác ngộ. Việc
biểu diễn thần thông là đáng chê trách từ thời xa xưa.
Thế nhưng trong một số trường hợp, vì những điều kiện
đặc biệt của Tây Tạng, cần thiết phải sử dụng thần
thông này, nhất là khi phải vượt qua những chướng ngại
tự nhiên, nếu chúng có lợi cho việc chứng thực tâm linh
và phục vụ con người.
Thế
nên tum-mo là phương tiện tiến bộ tâm linh và là cách chống
lại cái lạnh của mùa đông Tây Tạng mà các tu sĩ du già
phải chịu trong hang đá hay khi nhập thất, thất này nằm
cao trong dãy núi, vì các vị đó không mấy người kiếm được
củi lửa. Thế nhưng cần tránh cách suy nghĩ ngây thơ là tum-mo
có mục đích sinh nhiệt; mà đó là chính là phép tu hòa nhập
tâm linh, dẫn đến giác ngộ và chứng thực.
Tương
tự, lung-gom chỉ là một trong nhiều cách đưa đến giải
thoát, trong nhiều trường hợp nó giúp hành giả di chuyển
với tốc độ cao mà trong một xứ với phương tiện đi lại
và truyền thông sơ khai, đó là điều quan trọng. Cũng có
thể óc nhiều người mới đầu chỉ có tham vọng muốn có
năng lực siêu nhiên đặc biệt. Thế nhưng sự khổ công để
đạt được điều đó lại cũng rất lớn, nên những kẻ
dám tu tập phép đó cũng chính là những người có tính cách
mạnh mẽ và phẩm chất tinh thần cao. Và những ai chịu khó
tuân thủ các phép tu tập này một cách nghiêm túc thì đó
lại là người sớm bỏ cái tự hào hay tham vọng ban đầu,
vì toàn bộ phép tu là một sự tự chiến thắng không hề
làm tăng trưởng cái ngã, nguồn gốc của sự tự phụ.
Điều
này được minh họa bằng nhiều truyện nhân gian, như truyện
Tám mươi bốn vị Thánh tựu giả(Siddhas), sống trong khoảng
thế kỷ thứ 7 đến 10 của kỷ nguyên chúng ta. Nhiều người
trong số đó bắt đầu với mục đích đạt những thần thông
siêu nhiên vì lợi ích của riêng mình. Trong lúc họ hướng
tới mục đích đó và nhất là sau khi đã đạt được thì
họ lại đánh mất mọi quan tâm về thế gian, vì trong quá
trình tu tập họ đã vượt lên cái tự ngã, nguyên nhân của
mục đích vị kỷ ban đầu.
Ta
có thể kể thí dụ của vị Khadgapa. Ban đầu ông ta là một
tên cướp, ông gặp một vị du già sư và hỏi làm thế nào
để trở thành nhà vô địch. Vị du già sư đáp: “Có một
bảo tháp không xa thành Benares. Hãy đến đó và đi vòng quanh
thánh thất ba tuần, nơi đó có một tượng Quán Thế Âm,
vừa đi vừa niệm chú và thiền định theo phép ta dạy ngươi.
Nếu ngươi thành khẩn và liên tục tập trung, không để tâm
tán loạn thì cuối tuần thứ ba sẽ có một con rắn độc
sắc đen từ tháp bò ra. Ngươi phải chụp đầu rắn ngay,
nếu không nó sẽ cắn ngươi. Nếu ngươi thực hành đúng
phép thiền định thì con rắn không làm gì được ngươi và
sẽ đạt được sức mạnh của nhà vô địch”.
Tên
cướp cám ơn vị du già sư và làm theo lời dạy. Ông hết
lòng hết dạ làm điều căn dặn và khi con rắn bò ra khỏi
tháp, ông chụp nó ngay và nhìn lại thì chính là lưỡi kiếm
tuệ giác vô địch.
Ông
không cần dùng đến năng lực siêu nhiên này nữa vì ông
đã trở thành một thánh. Từ ngày đó ông được gọi là
Thành tựu giả Khadgapa, “bậc thánh với lưỡi kiếm”.
NYANG-TO
KYI-PHUG TU VIỆN CỦA NGƯỜI NHẬP THẤT
Tất
cả những gì mà tôi nghe thấy ở trung tâm tu phép Lung-gom
tại Nyang-to Kyi-phug (hang động phước lại tại Nyang) xác
định lòng tin của tôi là, mục đích của lung-gom, như phép
thần túc thông hay bay bổng lên không, vượt xa tham vọng đạt
thần thông, và trung tâm này không phải là nơi tụ họp của
những kẻ tham vọng hay ích kỷ, vì cái đầu tiên đòi hỏi
một người học phép lung-gom là hoàn toàn ẩn danh.
Khi
nhập thất thì người đó đã chết đối với thế gian: không
ai được biết tên tuổi, quyến thuộc hay quê hương người
đó. Người đó đã bỏ luôn cái quá khứ của mình và sau
nhiều năm khi ra khỏi động thì không còn gì của ngày xưa
tồn tại với mình nữa, không ai biết người đó là ai. Đó
là một người như mới sinh ra kẻ không những quá khứ đã
chết, mà là người đã chủ động đi qua cánh cửa của thần
chết và tái sinh lại, sống cuộc đời xả bỏ mọi tham chấp
riêng tư. Con người mới đó sẵn lòng vì lợi ích của sự
giác ngộ của mọi người mà còn giúp họ thoát vòng vô minh.
Điều
này còn được lòng tin của quần chúng xác nhận rằng gốc
của lung-gom là mong ước của một vị thánh nhân, muốn vượt
lên cái chết bằng cách từ bỏ chính tự ngã mình. Vị này
là nhà sử học danh tiếng Buston, sinh năm 1289 gần Schigaste
và là tu viện trưởng của Schalu. Nơi đó là trung tâm khổ
luyện phép lung-gom. Cách đó không xa có một nhà đại huyễn
thuật tên Yung-ton Dorje Pal, trong một buổi lễ đặc biệt
đã khẩn cầu thần chết, đừng bắt ai phải chết trong một
thời gian mười hai năm. Thần chết đồng ý nhưng với điều
kiện là phải có ai hy sinh thân mình để đổi mạng (ý này
dễ chấp nhận vì một cái chết để cúng dường có giá
trị bằng hàng ngàn mạng người chết vì phải chết). Trong
buổi lễ đó không ai dám chịu cả chỉ trừ Buston. Cũng vì
thế mà nhà huyễn thuật phải thừa nhận vị thánh nhân này
là người duy nhất có thể cử hành buổi lễ, nên thay vì
nhận sự hy sinh của Buston, ông trao cho Buston các đệ tử
trách nhiệm cứ mười hai năm cử hành buổi lễ một lần.
Trong
buổi lễ vì phải mời các vị phẫn nộ thần của các chính
điện tại trung tâm Tây Tạng và chỉ có sứ giả không biết
sợ và có tài đi nhanh đến các thánh thất đó trong vòng
hai mươi bốn tiếng mới thực hiện được sứ mạng, nên
người ta thiết lập trung tâm đào tạo Lung-Gom tại Samding
và Nyang-to Kyi-phug, từ đó mà các sứ giả được gửi đi,
cứ mười hai năm thay đổi lẫn nhau.
Câu
chuyện này tôi được nghe tại Kyi-phug cũng được Alexandra
David-Neel kể lại trong cuốn sách của bà. Tôi không có dịp
thăm Samding nhưng cách đây vài năm tôi đọc một bài của
Sven Hedin, trong đó ông nói về một cái hang “nằm cao hơn
Linga và Pesu”, trong hang đó có một vị lạt ma nhập thất
bít kín cửa. Ông thăm chỗ này vào một ngày mùa đông. Hang
động này nằm dưới chân một vách đá cao, mang tên Samde-phug.
Hang động có cửa sổ, cửa lớn; nhưng có một nguồn suối
phun nước từ trong ra, dưới vách tường bít kín cửa ra vào.
“Khi
vị lạt ma Rimpotsché bí ẩn này đến liga cách đâyba năm,
ông nguyện với các sư trong viện sẽ sống vĩnh viễn trong
bóng tối. Qua nghiên cứu kinh sách, người ta xác định ngày
tốt sẽ bít cửa. Đến ngày đó thì tất cả các sư tề
tựu đông đủ để tiễn ông vào mồ. Câm lặng và chậm
rãi như trong một đám tang, các sư từ bình nguyên tụ về
cao nguyên, đi từng bước, gần như muốn kéo dài phút giây
cuối cùng để cho vị này còn được thấy mặt trời, ánh
sáng và màu sắc. Ông biết rằng mình sẽ rời thế gian này
vĩnh viễn, không bao giờ được thấy các ngọn núi đứng
canh mồ mình. Ông biết mình sẽ chết trong hang, không còn
ai nhớ tới.
Sau
khi hang được bịt kính, ánh sáng sẽ tắt mãi mãi với ông.
Ông sẽ cô đơn, không bao giờ nghe được tiếng người, chỉ
còn vang vọng giọng nói của chính mình. khi ông cầu nguyện
không còn ai nghe thấy ông, khi ông gọi không còn ai thưa đáp.
Đối với bạn đồng môn đã chôn sống ông thì ông đã chết.
Họ im lặng xuống tu viện và làm công việc hàng ngày của
mình. Mối đây duy nhất giữa họ và người trong động chi
là trách nhiệm mỗi ngày phải mang cơm nước cho ông. Một
chén nhỏ gồm có tsampa, trà và bơ được chuồi vào khi nhỏ
dưới vách, nhưng khe này nhỏ tới mức mà tiếng động, ánh
sáng khó vào được với ông. Cách duy nhất để biết ông
còn sống hay không là xem ông có ăn uống không. Khi thức ăn
suốt sáu ngày liền không được đụng đến thì người ta
phá cửa. Nhiều nhà sư kể lại đã có nhiều trường hợp
xảy ra: “Cách đây ba năm có vị lạt ma chết sau khi ở trong
thất mười hai năm, trước đây mười lăm năm có vị chết,
vị này vào thất lúc hai mươi tuổi và sống trong bóng tối
bốn mươi năm”.
Sven
Hedin cố tưởng tượng những năm tháng vô tận mà kẻ nhập
thất phải chịu đựng trong bóng tối: “Người đó không
thể đếm ngày nhưng cứ tới mùa hè thì biết một năm đã
trôi qua. Về sau chắc người đó không còn nhớ mình đã ở
bao nhiêu năm. Cái duy nhất mà người đó đếm được là
những hạt của tràng hạt và các lời cầu nguyện… Cuối
cùng, sau những năm dài đằng đẵng có ai gõ cửa hang, người
đó duỗi tay để đón bạn. Đó là cái chết đã đến ngưỡng
cửa. Người tu hành đui mù này suốt chục năm chìm trong bóng
tối, đột nhiên thấy ánh sáng rực rỡ… Người đó đã
thoát khỏi cảnh luân hồi và đi vào ánh sáng của ân phước
vĩnh viễn”.
Câu
chuyện xúc động này theo đuổi bên tôi mãi, làm tôi thán
phục liệu có ai và làm sao được, suốt một đời sống
trong bóng tôi, không có khí trời trong lành, thiếu vận động
mà chịu nổi - đó là chưa nói tới sự cùn lụt tâm trí
bắt buộc không có khi không tiếp xúc với người. Có thể
tin được chăng, khi loại bỏ ánh sáng mặt trời người ta
tìm được ánh sáng tự thân hay thậm chí sự giác ngộ? Không
phải chính Đức Phật cũng lên án cách tu hành khổ hạnh
ép xác cũng như sự hưởng thụ dục lạc thế gian?
Sự
tự hủy diệt tâm lý không bao giờ được đạo Phật xem
là phương tiện thay đức hạnh. Và người Tây Tạng, dù họ
tin nơi sức mạnh siêu nhiên và năng lực chuyển hóa, nhưng
từ xưa đến nay trong cuộc sống thường ngày cũng như trong
phương pháp tu hành, luôn luôn là người có đầu óc tỉnh
táo. Tính chất của họ là thực tiễn và quan niệm tôn giáo
của họ không hề hắc ám hay tách rời cuộc sống.
Điều
này thì khi đến tại Nyang-to Kyi-phug, tôi hoàn toàn rõ, dù
nơi đây có lỷ luật cao độ và tu hành nghiêm túc, tất cả
những gì hiện diện nơi đó đều ngược lại với ý niệm
cho rằng lung-gom phải tu trong bóng tối (điều mà bà David-Neel
hình như cũng tin) và trong điều kiện thiếu vệ sinh không
xứng hợp với con người. Ngược lại! Tôi vui mừng thấy
các thất thiền định nằm trên dốc núi cao hơn các tu viện
hay đền đài, được chăm sóc kỹ lưỡng, chúng được xây
dựng hết sức thích hợp để bảo toàn cho sức khỏe vật
lý cũng như tâm lý của hành giả, tạo cho họ một sự an
tĩnh tuyệt đối, không bị quấy rầy. Nơi đây đúng là”tinh
thần minh mẫn trong thân tráng kiện”.
Mỗi
một thất đều xây sao cho không khí, nước và mặt trời
đều vào được và người ở trong đó phải được vận
động. Dù cách ly với thế giới bên ngoài, hành giả vẫn
liên hệ được với không gian rộng lớn và có thể theo dõi
vận động của trời mây và thiên thể cũng như quang cảnh
của bốn mùa. Thất không phải là nơi hành xác hay hay chịu
tội mà là chốn của an vui và đi sâu vào quán tưởng. Hoàn
toàn không phải là một nấm mồ, thất đưa con người đến
tâm an lạc, cũng như gọi tên của Kyi-phug (hang động an lạc).
Ấn tượng chung đó làm tôi cũng ước muốn một ngày kia
sẽ thiền định và quán tưởng không bị quấy rầy trong
một cái thất như thế, trong một thời gian dài.
Kẻ
nhập thất có thể mang theo sách vở, hình tượng, tranh thanka,
tùy theo phép tu của họ, cũng như vật dụng để cử hành
nghi lễ hàng ngày như kim cơnưg chử, chuông, đèn, bình đựng,
kể cả tschoktse - một loại bàn thấp để bày biện các thứ.
Từ những điều đó ta biết rõ, thời giờ của hành giả
được chia rất cẩn thận, gồm học hỏi kinh sách, lễ nghi
cầu nguyện và thiền địnhh, chỉ bị gián đoạn bởi sự
tập luyện thân thể và các công việc cần thiết như nấu
nướng, giữ gìn thân thể và áo quần sạch sẽ, lau chùi
các vật dụng tế tự. Với trình độ ngày càng cao thì những
hành động đó cũng trở thành các bước thiền quán, rồi
cuối cùng toàn bộ cuộc sống của hành giả chỉ là hoạt
động đơn thuần của thiền định.
Các
thất này thường có một bếp nhỏ với vài cái nồi chảo
để nấu trà bơ, đó là phần không thể thiếu được trong
thực phẩm Tây Tạng (vì hầu n hư không thể nuốt tsampa khô
rốc xuống họng được) và các món đơn giản khác. Các cứ
sĩ đến thăm tu viện thường chỉ cúng dường các thứ chưa
nấu và một ít thực phẩm khác, chuồi dưới khe bên cạnh
cửa đã niêm phong. Bên cạnh bếp thường có một khoảng
nhỏ, dưới dó là một con lạch tách từ một dòng suối chảy
qua, dùng cho mọi nhu cầu quan trọng, kể cả vệ sinh cá nhân.
Chỗ
thiền định thật sự thì rộng và thoáng - nhờ một khoảng
trần trống hình vuông nên thành một cái sân nhỏ, xung quanh
có mái. Mái che xung quanh một bên rộng, ba bên kia hẹp. Dưới
mái rộng là chỗ ở chính của hành giả. Nơi đó gồm có
một cái bệ hơi cao bằng đá và đất, dùng làm chỗ ngồi
và nằm, trải trên đó là một tấm chiếu mỏng. Đối diện
với chỗ ngồi là bàn thờ với tranh tượng, đèn, chén nước
và các vật dụng khác. Vách tường đối diện, dưới mái
che hẹp là nơi dùng để chứa chất đốt, vật dụng quan
trọng trong thời tiết lạnh lẽo của Tây Tạng mà trà nóng
hầu như là phương tiện duy nhất để giữ ấm. Tại Tây
Tạng chất đốt quá quí, không ai dùng để sưởi phòng, mà
trong trường hợp này lại càng không thể, vì trần mở phía
trên.
Chất
đốt sử dụng trong các thất không phải là phân trâu thông
thường vì trong đó hay có sâu bọ - vì thế không phù hợp
cho kẻ tu hành có lòng từ bi thương mọi chúng sinh - mà thường
là tro trấu hay một loại thảo có hình nấm, có xơ gỗ, giống
như một loại rêu cứng mọc trên các triền núi. Người ta
cho rằng trong chất đốt này không có loại động vật nào
cả.
Từ
sân nhỏ có thang lên mái xung quanh và mỗi ngày hành giả có
thể lên đó mà không ai thấy; nhờ có vách tường cao che
kín có thể lên đó mà không ai thấy; nhờ có vách tường
cao che kín nên có thể thiền hành mà không bị quấy rầy.
Nhờ thế, hành giả có thể đi cả dặm mỗi ngày tùy thích
mà không phải rời thất.
Cách
đi này được gọi là “kinh hành” của thời Phật giáo
nguyên thủy, ngày nay còn được thực hành trong các nước
theo Thượng tọa bộ. Khi đi kinh hành các vị sư nhẩm đọc
kinh sách. Còn các hành giả lung-gom thì đi trên mái nhằm giữ
sức khỏe thân thể, vì đối với người nhập thất suốt
cả tháng cả năm thì đó là cách duy nhất được vận động
trong khí trời và ánh sáng.
TU
LUYỆN THÂN THỂ
Có
những phép tu luyện lung-gom, chủ yếu là nhảy từ thế ngồi
hai chân tréo, nhưng không dùng tay. Trước khi nhảy, hành giả
lung-gompa hít không khí đầy ngực. Cứ áp dụng phương pháp
này hàng ngày thì hành giả nhảy được ngày càng cao và thân
thể ngày càng nhẹ dần. Quan trọng nhất là hít thở thật
sâu, phối hợp với kỷ luật thuộc thân. Tôi chưa tập phép
này bao giờ và cũng không nhớ có ai nhắc đến nó tại Nyang-to
Kyi-phug hay không. Thế nhưng theo bà Alexandra David-Neel thì phép
này được xem là một cách thử nghiệm cho lung-gom.
“Người
ta đào một cái hố, chiều sâu khoảng bằng chiều cao của
thí sinh. Trên hố có một cái vòm với chiều cao cũng khoảng
như thế. Trên đỉnh vòm có một cái lỗ. Như thế khoảng
cách giữa đáy hố và đỉnh vòm khoảng chừng gấp đôi chiều
cao cơ thể của thí sinh. Thí sinh phải ngồi xếp bàn tròn,
nhảy dựng lên và lọt qua lỗ trên đỉnh vòm. Tôi được
nghe người Khampa kể trong xứ họ phải đạt được như thế,
nhưng chưa bao giờ thấy tận mắt (26).
Như
đã nói, tôi không nghe tại Nyang-to Kyi-phug xác nhận điều
này, lạ một điều là có sự trùng hợp với mô tả của
John Blofeld về nhà huyễn thuật Meng Goong tại làng Miao ở
bắc Thái Lan. Nhà huyễn thuật này ngồi trước bàn thờ tổ
tiên “… trên cái ghế cao khoảng một mét, tay đập trống
và giọng của ông khỏe mạnh nhưng đáng sợ, nghe không phải
tiếng người, vang lên trong buổi lễ. Thỉnh thoảng xảy ra
những điều phi thường, có thực và khiếp đảm. Với một
tiếng rống ghê gớm ông bắn mình lên cao một mét hay mét
rưỡi và rơi thịch xuống băng ghế làm nó rung rinh muốn
gãy. Vận động này của một người, hai chân vẫn khoanh tròn
không hề duỗi ra, đối với tôi đáng sợ đến mức toát
mồ hôi lạnh(27).
Sự
mô tả của một tác giả tiếng tăm và đáng tin cậy chứng
minh hai điều: thứ nhất, phép tu của người Tây Tạng không
phải là hoang tưởng nhưng nhiều độc giả có thể nghĩ;
thứ hai, không phải chỉ có sức mạnh cơ bắp trong chuyện
này. Nơi đây người Tây Tạng thấy có sự hiện diện của
phép bay bổng(28), dù ngắn ngủi nhưng được sinh ra bởi cái
nhẹ nhàng phi thường và sức mạnh tâm linh của một nhà
Lung-gompa.
Dù
gì đi nữa, những thuật tương tự như thế được thực
hành ở đông Tây Tạng vàbắc Thái Lan đã xác nhận cảm
giác đầu tiên của tôi là tại Tây Tạng, phép nhảy đó
không phải của riêng mà cũng chẳng là điều chủ yếu, nó
được một truyền thống khác bổ túc vào. Gốc gác đích
thực là phép Long-gum, như đã nói, là phép niệm hơi thở
pranayana của Ấn Độ cổ(cũng là phần chủ yếu của phép
tu du già của Ấn Độ giáo và Phật giáo), trong đó phép luỵen
thân thể không hề có vai rò gì. thế nên ta cũng không thể
nói kẻ luyện lung-gom là những người chịu “chôn sống”
hay nguyện “vĩnh viễn sống trong bóng tối”. Trong thế gian
không có gì mà không chịu sự biến đổi hay chuyển hóa;
ý muốn và ước vọng, tư tưởng và cảm xúc con người lại
càng không. ngay cả thệ nguyện sống đời tu sĩ cũng không
hề “vĩnh viễn” hay không được xét lại. Những ai tự
thấy đời tu sĩ không hợp với mình hay không mang lại tiến
bộ tâm linh đều có quyền quay trở lại cuộc sống bình
thường. Đời sống trong tu viện, trong cảnh độc cư hay nhập
thất cách ly hoàn toàn chỉ là phương tiện đưa đến mục
đích, tự nó không phải là cứu cánh.
*
*
*
Thời
gian mà một nhưng nhập thất phải sống cách ly tùy thuộc
phép tu(29) và trình độ tu luyện. Người đó không bao giờ
bị ép phải tiếp tục tu luyện nếu sức khỏe hay năng lực
giảm sút. Tại Nyang-to Kyiu-phug thì các thời kỳ nhập thất
được tính toán kỹ lưỡng và hiển nhiên là không ai tu tập
mà không được thầy của mình chuẩn bị chu đáo. Thời gian
ngắn nhất kéo dài khoảng một tới ba tháng, thời gian trung
bình từ một tới ba năm và thời gian dài nhất là chín năm.
Thời gian dài nhất đó xem như để hoàn tất phép lung-gom,
hành giả có thể tăng lên mười hai năm như truyền thống
để lại. Để tránh chuyện khai dối thời gian tu luyện (thường
thì uy tín của hành giả lung-gom dựa trên thời gian đó),
cửa vào thất được niêm phong bởi các cơ quan tôn giáo hay
thế tục, thí dụ của tu viện trưởng hay chức sắc Nhà
nước (vì Tây Tạng là một xứ sở của tăng lữ, các công
việc thế tục và tinh thần không tách rời hẳn). Bảng niêm
phong nếu không được phép của các vị chức sắc thì không
được mở ra. Vì chỉ có sức mạnh ý chí và lòng thiết
tha cao độ mới chịu nổi sự cách ly tuyệt đối trong một
thời gian dài mà không bị nguy hại, nên thời gian đó được
coi trọng. Nó được xem là thử nghiệm của sự kiên trì
va tính chất mạnh mẽ của hành giả.
Trong
thời gian tôi nghiên cứu tại đó thì có sáu người nhập
thất ở Nyang-to Kyi-phug. Một trong số đó đã ba năm tịnh
khẩu và thiền định, và người ta đoán là ông sẽ không
ra khỏi thất trước sáu năm tới đây.
Không
ai được phép nói chuyện với một hành giả Lung-gom, cũng
như không được nhìn thấy thân thể, dù chỉ chút ít. Quy
luật đó là để bồ đề tính chất vô ngã ẩn danh. Vì lý
do mà tay của hàng giả được vải che kín khi ông thò ra lấy
thức ăn nơi khe cửa, không cho thấy hình dạng đặc biệt
của tay mình, như có vết sẹo hay xăm tay, cho nên không ai
biết được người đó là ai. Khe hở đó, tôi đo là 22,5x25cm,
cũng chính là nơi mà hành giả lung-gom chui qua sau chín năm
tu luyện.
Người
ta nói rằng, sau thời gian đó thì thân hành giả nhẹ và mềm
dẽo tới mức có thể chui lọt lỗ đó, lỗ không to hơn bao
nhiều một bàn tay của một người bình thường và hành giả
có thể chạy nhanh như ngựa phi nước đại, chân hầu như
không đụng đất. Nhờ khả năng đó mà hành giải có thể
đến các thánh thất tại trung Tây Tạng (U-Tsang) trong một
thời gian không thể tin được.
Và
người Tây Tạng cũng tin rằng sau khi thực hiện xong s