Tại
Tsaparang
Linh
ảnh của đạo sư
Tu
viện Yi - Gah Tscholing
Katschela,
người bạn vong niên và người hướng đạo
Tu
học và các nghi lễ
Vị
đạo sư xuất hiện
Nhạc
lễ Tây Tạng
Gặp
gỡ đạo sư
Điểm
đạo
Trên
đường mây trắng
Tu
viện đá
Tỉnh
giấc, nhìn tương lai
PHẦN
THỨ NHẤT
NHỮNG
LINH ẢNH
LINH
ẢNH TẠI ĐỀN TSAPARANG
Mặc
chiếc áo hữu hiện
Chân
Như bị hạn chế.
Lấy
dạng hình thi ca,
Vận
động nhẹ như bông.
(Rabindranath
Tagore)
Đó
là một đêm đầy dông bão trên cổ điện hoang tàn tại Tsaparang,
ngày xưa là thủ phủ của một vương quốc hùng hậu của
miền tây Tây Tạng. Mây kéo nhau qua dầy đặc trên bầu trời,
làm vầng trăng tròn khi chiếu rọi khi biến mất, để cho
ánh trăng, như phát ra từ một chiếc đèn ma quái, nhảy múa
trên một sân khấu khổng lồ, diễn lại lịch sử của một
bi kịch bất tử. Tôi nói “bất tử” vì đó là bi kịch
miên viễn của sự hoại diệt, của sự phục hưng trong trò
chơi kỳ diệu của sức mạnh và thiện mỹ, của vẻ rực
rỡ thế gian và của thành tựu tâm linh.
Sức
mạnh đã suy tàn nhưng vẻ đẹp vẫn còn vương trên cung điện
hoang phế, còn nằm yên trong những tác phẩm nghệ thuật,
chúng đã được tạo thành bằng sự kiên trì và nhẫn nhục,
trong bóng tối của một thời thịnh trị. Cái rực rỡ và
hùng mạnh đã trở thành cát bụi, cái thần của văn hóa
và niềm xác tín tôn giáo đã rút lui trong sự độc cư xa
lánh cuộc đời, chúng còn hiện diện trong ngôn ngữ từ hay
tác phẩm của thánh nhân, thi sĩ hay đạo sư và qua đó mà
khẳng định lại lời của Lão Tử, rằng cái mềm yếu mới
sống còn, cái cứng mạnh chỉ thuộc về cõi chết.
Số
phận của Tsaparang đã an bài. Công trình của con người và
tạo tác của thiên nhiên hầu như không còn phân biệt được
nữa. Cổ điện đã biến thành cát đá và cát đá vươn lên
như cung điện uy nghi. Toàn bộ ngọn núi hùng vĩ hiện ra như
một tảng đá cẩm thạch vĩ đại, trong đó khắc họa một
thành quách hoang đường: với lâu đài và cung điện, với
tháp với vách, cao như muốn đụng đến mây, dựng đứng
trên vách đá thẳng cheo leo, như một tổ ong với hàng trăm
hàng ngàn ngăn hộc.
Ánh
trăng mờ tỏ chiếu rọi làm cảnh vật hầu như vô thực
và thêm đáng sợ, trong đó mọi sự đột nhiên biến mất,
nhanh như chúng đã xuất hiện.
Ngôi
đền màu đỏ thờ Phật Thích-Ca Mâu-Ni chìm trong bóng tối
tĩnh lặng. Chỉ riêng khuôn mặt bức tượng vàng to lớn Thích-Ca
Mâu-Ni hầu như tỏa ra một thứ ánh sáng êm dịu, ánh sáng
này được tiếp nhận và phản chiếu bởi tượng của các
vị Thiền Phật ở bên cạnh tả hữu của Ngài.
Bỗng
nhiên tường vách của ngôi đền bắt đầu rung động và
tiếng ầm ầm đáng sợ của đá đổ vang lên. Hộp gỗ đựng
đèn thờ Phật Thích-Ca bỗng vỡ tung và khuôn mặt tượng
Phật rực sáng ánh trăng, cả ngôi đền được chiếu sáng
rực.
Cả
không gian bỗng đầy tiếng than thở, hầu như cả ngôi đền
rên rĩ dưới sức nặng của bao thế kỷ.
Một
kẽ nứt to lớn hiện ra trên bức tượng bên cạnh bức họa
nữ thần sắc trắng Tara và gần đụng một cánh hoa nằm
cạnh tòa sen của thần.
Thần
thức sống trong cánh hoa hoảng sợ nhảy ra khỏi trú xứ của
mình, hai tay chắp lại hướng về thần Tara:
“Hỡi
thần, kẻ cứu độ mọi loài sinh linh, hãy cứu chúng con và
ngôi đền thiêng liêng này, đừng để bị hoại diệt!”
Với
cặp mắt từ bi, Tara nhìn chỗ phát tiếng nói và hỏi: “Ngươi
là ai, thần thức nhỏ bé kia?”
“Con
là thần thức của cái đẹp, trú trong cánh hoa bên cạnh Ngài”.
Tara
nở một nụ cười đẹp như người mẹ và chỉ vào một
góc khác của ngôi đền: “Trong các lời giáo hóa quí báu
hiện được cất chứa trong các bộ kinh có một kinh mang tên
Bát-Nhã Ba-la-mật. Trong đó có lời dạy sau đây của Đức
Thế Tôn.
Cần
phải quán như sau:
như
đám mây trôi nổi,
như
sao sớm bầu trời,
như
ánh lửa vô thường,
như
sóng nước suy tàn,
như
bóng ma, ảo ảnh,
như
giấc mộng chóng tan”.
Thần
thức cánh hoa nước mắt đầy tròng: “Ôi, những lời này
chân thực biết bao, hết sức chân thực, hết sức thiện
mỹ! Và nơi đâu có vẻ đẹp, dù cho chỉ một lần để ánh
mắt ngời sáng, là ở đó có một dây đàn bất tử dã rung
lên trong ta. Vâng, chúng ta đều ở trong cơn đại mộng, và
ta hy vọng cuối cùng sẽ thức tỉnh, như Như Lai, Đức Thế
Tôn, vì lòng từ bi đã xuất hiện trong “dạng mộng” của
Ngài để đưa chúng ta đến giác ngộ”.
Khi
nói như thế, thần thức của cái đẹp nghiêng mình hướng
về Thích-Ca Mâu-Ni, mà tượng Ngài cũng như tất cả mọi
hình tượng khác của ngôi đền, trong phút giây kỳ diệu
này đã trở thành sống động.
“Không
phải vì con thôi”, thần thức nói tiếp, “mà con xin Ngài
cứu độ. Con biết tất cả mọi sắc thể đáng sống nơi
đây sẽ hoại diệt - cũng như những lời dạy của Đức
Như Lai chứa trong các kinh bản bám bụi đã nói. Điều con
mong cầu là: đừng để cho các kinh điển đó mất đi trước
khi chúng ta truyền được thông điệp vĩ đại đã ghi trong
đó.
Con
lạy Ngài, hỡi mẹ của tất cả sinh linh, của tất cả các
vị Phật, hãy có lòng từ bi với tất cả mọi người chỉ
vướng ít bụi trong mắt, những người có thể thấy và hiểu
được, chỉ cần chúng ta ở lâu thêm một chút trong dạng
đại mộng của mình, để cho thông điệp của chúng ta đến
được với họ, hay trao được cho những người có thể phổ
biến thêm ra, vì ích lợi của mọi loài hữu tình.
Đạo
sư của chúng ta là Thích-Ca Mâu-Ni ngày xưa cũng được các
thiên nhân khẩn cầu, khoan hãy nhập Đại Niết bàn khi Ngài
đạt giác ngộ vô thượng. Hãy cho con được cầu khẩn Ngài
với lý do như thế, xin được quy y với Ngài và với vô số
dạng hình của Ngài”.
Thần
thức lại cúi mình, hai tay chắp trước trán, trước hình
tượng uy nghi sáng rực của Phật Thích-Ca Mâu-Ni và tất cả
chư Phật và Bồ-tát tề tựu xung quanh.
Thần
Tara nhắc tay bắt ấn cứu độ và khuôn mặt sáng rực của
Thích-Ca Mâu-Ni mỉm cười đồng ý. “Thần thức của cái
đẹp đã nói lên sự thực, tâm của thần thức đày lòng
thành khẩn. Vì làm sao khác được? Không phải cái đẹp là
kẻ chuyên chở và phụng sự cho Chân như sao? Cái đẹp là
nơi thể hiện của sự hòa điệu mọi dạng hình, dù đó
là sắc thấy được hay âm nghe được, dù đó là vật chất
hay phi vật chất. Dù mọi dạng hình là vô thường nhưng sự
hòa điệu, điều mà các dạng đó trình bày và thể hiện,
thuộc về vương quốc bất tử của tâm, thuộc về quy luật
sâu kín nhất của Chân như mà ta gọi là Pháp.
Nếu
ta không diễn đạt Pháp vĩnh cửu đó bằng sự hòa điệu
hoàn hảo trong ngôn từ và tư tưởng, thì ta cũng đã không
thông qua thần thức của vẻ đẹp mà kêu gọi loài người,
giáo pháp của ta đã không rung động tim óc họ, giáo pháp
đó đã không sống nổi một thế hệ.
Ngôi
đền này sẽ sụp đổ cũng như các kinh sách nằm trong các
góc nọ sẽ tàn tạ, đó là những kinh sách mà các đệ tử
của ta đã chép lại, với sự nghiêm túc và nhiệt thành vô
lượng. Nhưng những người khác cũng đã chép lại, từng
chữ một, cho nên dù các văn bản này có thể bị hủy hoại,
giáo pháp vẫn tiếp tục được truyền bá. Cũng như thế,
mong sao các công trình khác của nghệ sĩ hay thánh nhân, các
vị đã làm nên ngôi đền thiêng liêng này, sẽ được bảo
toàn cho những thế hệ sau.
Hỡi
thần thức cái đẹp, mong ước của ngươi sẽ được toại
nguyện. Dạng hình của ngươi cũng như tất cả các dạng
hình sống trong đền này sẽ không bị hủy hoại, bao lâu
thông điệp cả các ngươi chưa đến với thế gian, thì bấy
lâu mục đích thánh thiện của các ngươi chưa được toàn
vẹn”.
LINH
ẢNH CỦA ĐẠO SƯ
Trên
hàng ngàn ngọn núi,
Nơi
đỉnh cao cô quạnh,
Một
mái lều xa vắng,
Nửa
lều, chỗ sư ở,
Nửa
kia dành cho mây.
Nửa
đêm dông bảo tới,
Thỏi
đám mây đi xa.
Có
bao giờ mây hỏi,
Mình
ở lâu nơi nào?!
Ryowan
Lạt
ma Ngawang Kalsang sống độc cư mười hai năm trong hang động
cheo leo, tu tập thiền định. không ai biết ông là ai, không
ai nghe nói gì về ông. Ông là một trong hàng ngàn tu sĩ vô
danh đã được tu học tại một trong những tu viện lớn nhất
(Garden) gần Lhasa. Mặc dù đạt được học vị Gésché (tiến
sĩ khoa học nhân văn) nhưng ông nhận thức rằng, muốn thực
hiện những gì đã học, mình cần phải sống trong sự cô
tịch và độc cư trong thiên nhiên - xa rời mọi tiếng ồn
ào của chợ búa cũng như đời sống thường nhật của một
tu sĩ trong các tu viện lớn hay trong không khí trí thức của
các đại học tôn giáo.
Thế
gian đã quên ông cũng như ông đã quên thế gian - không phải
ông thờ ơ với thế gian mà ngược lại, ông đã không còn
thấy giữa mình và thế giới có cái gì khác biệt. Điều
mà ông thức sự quên không phải là thế gian mà là chính
bản thân mình - vì “thế giới”chỉ có thật trong quan hệ
với cái “tôi”.
Dã
thú hay đến hang động thăm ông và trở thành bạn với ông.
Tâm ông rộng mở với tất cả mọi sinh vật, với mọi loài
biết đau xót trong sự thông hiểu sâu xa. Vì lý do đó mà
ông không hề cảm thấy bị quên lãng trong cuộc sống độc
cư và hưởng sự an lạc trong niềm vui tự tại, sự an lạc
xuất phát từ tri kiến cao quí do thiền định mang lại.
Ngày
nọ có một người chăn cừu, khi đi tìm thảo nguyên mới
cho đàn cừu của mình, đã lạc trên núi cao, nghe tiếng chuông
damaru đánh nhịp nhàng, đó là tiếng chuông mà các vị lạt
ma và du sĩ khổ hạnh thường đánh lên trong lúc tụng niệm,
lẫn với tiếng khánh bạc. Lúc đầu ông tưởng minh nghe lầm
vì ông cho rằng không người nào có thể sống trong cảnh
cô quạnh thế này được. Đến khi nge rõ tiếng chuông, ông
bắt đầu thấy sợ; vì nếu chuông không phải do người đánh
lên thì chắc hẳn do một sức mạnh huyền bí.
Bị
cuốn hút giữa sợ hãi và tò mò, cuối cùng ông đi theo tiếng
chuông, như có một lực nam châm nào không thể cưỡng lại
kéo mình đi và không bao lâu sau ông thấy hình dáng của một
vị độc cư ngồi thiền định sâu lắng trước hang động.
Thân người đó gầy nhưng không khô héo, khuôn mặt hầu như
chứa đầy sự bình an tươi sáng, sáng rực một thứ lửa
của sự toàn tâm nội tại. Người chăn cừu liền hết sợ
hãi và sau khi vị độc cư chấm dứt thiền quán, ông đến
gần, đầy lòng kính trọng và xin ban phước.
Khi
vị độc cư rờ tay trên đầu thì ông thấy thân mình dường
như có một luồng khí lực chạy qua và một niềm an lạc
không thể tả được đến nỗi ông quên hết những gì mình
muốn hỏi và vội vã chạy về bình nguyên để loan truyền
cho mọi người biết sự khám phá quí báu của mình.
Lúc
đầu mọi người không ai tin chuyện này, nhưng khi ông đưa
họ lên động của vị độc cư thì tất cả đều ngạc nhiên
tột độ. Làm sao con người có thể sống trong cảnh hoang
dã này được? Ông lấy thực phẩm ở đâu, không ai biết
đến ông? Làm sao ông qua nổi giá lạnh của mùa đông, khi
núi rừng đầy ngập băng tuyết, dù cho có chút chất đốt
ít ỏi như rễ cây cũng không đủ, chứ đừng nói đến có
thức ăn hay không. Điều chắc chắn là chỉ một tu sĩ khổ
hạnh với năng lực siêu nhân mới có thể sống trong môi
trường này được.
Mọi
người quì xuống chân ông và khi ông ban phước, họ thấy
mình như được chuyển hóa - như thấy chính bản thân mình
là bình chứa cho một niềm an lạc siêu thế và một hạnh
phúc chưa từng có. Ông đã cho họ nếm vị của cái mà mỗi
người đều có thể đạt đến, khi mà ta ý thức được
năng lực tiềm tàng trong ánh sáng, như năng lực của hạt
giống nằm sâu trong tự thân. Với phước lành, vị lạt ma
độc cư chia sẻ cho mọi người sự chứng thực của chính
mình, để khuyến khích họ đồng hành với mình.
Tin
tức về vị độc cư kỳ diệu đó loan truyền dưới lũng
như một mồi lửa. Thế nhưng chỉ thanh niên khỏe mạnh mới
dám xông pha leo lên hang động xa xôi đó; còn những người
khác vì già yếu không thể đi được, nhưng cũng cần đến
khai thị tâm linh, họ cầu khẩn xin vị độc cư hãy xuống
bình nguyên để ban phước cho những ai cần đến.
Dười
bình nguyên chỉ có một ngôi đền nhỏ, xơ xác với vài tu
sĩ, có tên là “Đền sò trắng” (Dungkar Gompa). Nó nằm trên
một đỉnh đồi đá, giữa một vùng bình nguyên mầu mỡ
lúa mì (vì thế có tên là Tomo, có nghĩa là “đồng lúa mì”).
Ngôi đền này bây giờ được trao cho vị lạt ma độc cư,
vị này từ nay mang tên là Tomo Géshé Rimposché, có nghĩa là
“Bảo ngọc của tri kiến tại đồng lúa mì”.
Không
bao lâu sau nhiều tu sĩ và cư sĩ xa gần đèu kéo đến Dunkar,
để học hỏi dưới chân Tomo Géshé và chỉ sau một thời
gian ngắn thì đền Sò trắng trở thành một nơi tu học tâm
linh và là trung tâm tôn giáo quan trọng, với đền đài xinh
đẹp và phòng ốc rộng rãi. Trong phòng lớn của chính điện
Tomo Géshé cho dựng một bức tượng vàng Di Lặc rất lớn,
vị Phật tương lai, vị Từ thị, là biểu tượng của tâm
linh tương lai và của sự tái sinh chính pháp bất diệt, chính
pháp đó thể hiện trong mọi kẻ giác ngộ và phải được
tìm thấy lại trong trái tim của mỗi con người.
Tuy
thế Tomo Géshé chưa hài lòng với thành quả của mình tại
Dungkar. Ông cho dựng tượng Di Lặc ở nhiều nơi khác, để
nhắc nhở người theo Phật rằng không nên yên nghỉ trong
sự huy hoàng của quá khứ mà còn phải chủ động tham gia
xây dựng tương lai, trong tinh thần đạt tới sự thành tựu
cuối cùng mà ai cũng có, là chuẩn bị cho sự xuất hiện
của vị Phật sắp đến.
Thế
nhưng một biến cố xảy ra, nó cũng bất ngờ và kỳ lạ
như việc khám phá và trở lại thế gian của vị lạt ma độc
cư, biến cố này đã gián đoạn công trình đang được thực
hiện của ông. Nguyên do của biến cố này là một lời tiên
tri cao cấp tại Lhasa, đòi Tomo Géshé phải đi hành hương
tại Tschorten Nyima, một nơi chốn trở nên thiêng liêng nhờ
Liên Hoa Sinh[1]. Liên Hoa Sinh là người đầu tiên đem đạo
Phật đén Tây Tạng, cho đạo Phật một nền tảng vững chắc
hằng cách thiết lập tu viện đầu tiên (Samyé) và đưa kinh
sách Phật giáo vào ngôn từ Tây Tạng. Công trình này được
tiếp tục bởi nhà phiên dịch Rintschen Sangpo, vị này sẽ
được nhắc đến về sau.
Những
điều này đặc biệt quan trọng đối với chúng ta vì chúng
nêu rõ rằng, một trong những biến cố quan trọng trong đời
của Tomo Géshé là liên hệ với thời kỳ thành lập của
Phật giáo Tây Tạng, và tại miền tây Tây Tạng, nhất là
tại Tsaparang, nó đóng một vai trò quan trọng
*
*
*
Tschorten
Nyima nằm ở một trong những vùng cao nhất của cao nguyên
Tây Tạng, gần biên giới Bắc Sikkim, trên một vùng cao nguyên
khoáng đãng, uốn lượn nhẹ nhàng, tiếp cận với phía Nam
của những đỉnh tuyết Hymalaya, những đỉnh này hầu như
xuyên thủng bầu trời xanh đậm tiêu biểu ở đây. Đây là
nơi mà Trời và Đất gặp nhau trong một mức độ vĩ đại
và đáng kính sợ như nhau: nơi mà cảnh vật của Đất có
cái vô tận và nhịp điệu của đại dương và Trời có chiều
sâu của không gian. Đó là nơi mà con người thấy mình gần
hơn với các thiên thể, nơi mà mặt trời mặt trăng là láng
giềng và ngàn sao là bạn.
Và
cũng nơi đây đã xảy ra điều đó, cá vị Phật và Bồ-tát
quả nhiên đã gây cảm hứng cho cá nghệ nhân Tsaparang, để
dưới tay họ xuất hiện những dạng hình thấy được, báo
thân các vị đó đã xuất hiện ra trước mắt của Tomo Géshé.
Trong màu xanh đậm của bầu trời, các vị đã xuất hiện
ở dạng như kết nên bằng ánh sáng, rực rỡ trong mọi sắc
của cầu vồng, di chuyển chầm chậm trong bầu trời, từ
chân trời phía đông qua phía tây.
Sự
xuất hiện này lúc đầu chỉ thấy được với Tomo Géshé.
Nhưng, như một nghệ sĩ lớn biết làm cho người khác thấy
được linh ảnh của mình bằng cách vẽ lại những hình ảnh
xuất hiện trong nội tâm trên giấy mực, thì cũng thế mà
vị đạo sư nhờ sự sáng tạo của tâm mình mà làm cho linh
ảnh này trở nên thấy được với mọi người hiện diện.
Không phải tất cả ai cũng cảm nhận linh ảnh được như
nhau trong các chi tiết, vì mực độ cảm thọ mỗi người
một khác.
Đối
với ai không chứng được điều này - thậm chí cả với
người đã tự mình chứng thực - thật không thể mô tả
vẻ đệp của linh ản này bằng lời hay nói lên được ấn
tượng sâu sắc còn lại trong tâm người thấy.
Trong
kinh Lăng Nghiêm [2] có đoạn mô tả một biến cố tương tự,
nơi đây được ghi lại để độc giả có thể hình dung về
những gì mà Tomo Géshé và các người đi cùng đã thấy.
“Phật
Thích-Ca Mâu-Ni ngự giữa chư Phật và Bồ-tát của mười
phương thế giới và chiếu tỏa hào quang siêu thế của Ngài
trên toàn thể chư vị. Từ tứ chí cũng như báo thân Ngài
toát ra ánh sáng mầu nhiệm, đọng lại trên đỉnh đầu của
chư vị Phật và Bồ-tát.
Và
cũng thế, hào quang phát ra từ tứ chí và báo thân của chư
Phật và Bồ-tát của mười phương thế giới đọng lại
trên đỉnh đầu của Phật Thích-Ca Mâu-Ni, cũng như trên đỉnh
đầu của mọi vị Phật, Bồ-tát và thánh nhân khác đang
hiện diện.
Đồng
thời sóng nước của muôn vàn nguồn suối vang lên bài ca
chính pháp và vô số những ánh hào quang siêu thế đó diệt
nên một tấm lưới ngọc, trùm khắp thế gian.
Con
mắt trần thế chưa ai được nhìn thấy một cảnh quan tuyệt
diệu như thế, cảnh quan giữ mọi người hiện diện trong
sự im lặng kính sợ. Và trước khi mọi người hiểu ngộ
điều gì đang xảy ra thì họ đã được đưa vào trạng thái
an lạc của đại định. một cảm giác hỉ lạc của sự
giải thoát và an bình thấm nhuần tất cả mọi người như
một cơn mưa hoa ngũ sắc, hầu như chúng phản ánh sắc màu
óng ánh của không gian rộng mở trong thân mình.
Tất
cả các dạng hình khác biệt của núi sông, của hoa của đá,
cẻ vạn sự tan chảy hòa chung làm một và biến mất, để
chỉ còn một sự chứng thực cái nhất thể uyên nguyên; nó
không phải là sự cứng nhắc đơn điệu mà chứa đầy sự
rung động của sức sống và ánh sáng, đầy tiết điệu hoàn
hảo, đầy âm thanh của thành hoại, chứa dựng lẫn nhau,
dung thông cho nhau và cuối cùng tan hòa trong thể tịch tịnh
vĩ đại”.
Dòng
tâm thức an tịnh,
tràn
ngập niềm an lạc.
Rỗng
dang và trong suốt,
xuyên
suốt cả không gian.
Đợt
sóng vòng tròn nọ,
không
còn nhấp nhô nữa.
Như
tiết điệu cuối cùng,
buổi
hòa âm thiên nhạc.
Âm
thanh đã ngưng bặt,
tĩnh
lặng thành âm nhạc.
Ánh
sáng chiếu rực rỡ,
bóng
tối đã biến mất [3]
Những
biến cố này tuy hiếm có nhưng không phải duy nhất và có
lẽ tuân theo một qui luật nội tại nào đó, dường như chứa
đựng yếu tố giống nhau. Thế nhưng linh ảnh tại Tschorten
Nyima là một trường hợp lạ lùng trong lịch sử các biến
cố tâm lý, trong đó linh ảnh này không phải chỉ là một
sự chứng thực chủ quan của một cá nhân - và vì thế không
kiểm chứng được - mà được một số lớn nhân chứng xác
nhận và ghi vào sách vở [4]
Điều
này đã xảy ra sau khi những người hành hương Tschorten Nying
về lại, trong đó mỗi người kể lại những gì mình nghe
thấy, theo mô tả của nhân chứng và được sự chấp nhận
của vị đạo sư (sau khi học trò yêu cầu đã đồng ý) thì
những cảnh tượng này đã được một nghệ nhân có tài
tại Tschorten Nyima vẽ lại trong một bích họa lớn tại tu
viện ở Dungkar.
Một
trong những nhân chứng của biến cố đáng ghi nhớ này là
vị sư trưởng cuối cùng của Dungkar Gompa, ông là người
lãnh đạo tu viện này cho tới khi Tomo Géshé Rimpotsché tái
sinh. Không những cho chụp hình bức họa quí báu này, ông
giải thích mọi chi tiết của bức tranh, cũng như kể lại
mọi biến cố trong lần đi hành hương đó. Ông mô tả mình
dã tận mắt thấy như thế nào cũng như kể những điều
mà ông không đủ sức thấy được, chỉ nghe người khác
kể lại. Ông nhắc lại sự thực hiếm có là một linh ảnh
mà thấy được nhiều giờ để cho ai đã thấy đều ghi nhớ
sâu xa được, và để cho mọi người trao đổi và chỉ dẫn
cho nhau.
Tôi
xin nhắc thêm là người Tây Tạng không xem linh ảnh là sự
bày tỏ thiêng liêng của thực tại cuối cùng mà biết đến
tính tương đối và nguồn gốc tâm lý của những linh ảnh
đó. Trong Đại Thừa Khởi tín luận, ta thấy: “Khi người
học đạo thấy linh ảnh của thiên thần, Bồ-tát và Như
Lai, xung quanh là ánh sáng rực rỡ thì họ nên nghĩ rằng,
đó cũng là do tâm tạo và không có thực tính”.
Nhưng
bao lâu nó còn là sự thực tương đối do tâm tạo tác thì
bấy lâu sự sáng tạo đó là “thực”, tức là có một
năng lực thực. Chúng sinh thành và hoại diệt như mỗi một
tác phẩm nghệ thuật, chúng được sinh ra từ chứng thực
cao nhất của tâm và dù chúng không có thực tính, không chứa
thực tại tự thân thì chúng vẫn chứa những biểu tượng,
mà dạng của những biểu tượng đó cứ luôn trở lại để
chỉ đường, để nhắc nhở ta đến cái thành tựu cao tột,
đến sự giác ngộ.
Vì
thế trong các kinh sách (nhất là kinh sách Mật tông Tantra)
luôn luôn ta được nhắc nhở phải tránh hai cực đoan, một
bên cho linh ảnh của những tầng lớp ý thức cao là thực
tại cuối cùng - nếu bị như thế ta sẽ vướng nơi chúng
và kẹt giữa đường, - còn bên kia phủ nhận mọi tính cách
có thực của chúng, cho chúng chỉ hoàn toàn do tâm tạo. Nếu
thế chúng ta sẽ nhận thức sai về vai trò quyết định của
tâm thức cũng như khả năng tiềm tàng cẻ nó và đánh mất
một phương tiện quí báu của sự tiến bộ.
Tomo
Géshé rất ý thức về hai cực đoan này của tư tưởng con
người cho nên khi học trò xin vẽ lại những linh ảnh tại
Tschorten Nyima để truyền lại cho đời sau thì ông đồng ý
nhưng không quên nhắc đến sai lầm khả dĩ là, tưởng một
dạng xuất hiện nào đó là thực thể cuối cùng. Những linh
ảnh này đã có ảnh hưởng lớn lao đến Tomo Géshé và học
trò của ông. Những linh ảnh đó cho ông một thẩm quyền
mà tại Tây Tạng, các vị tái sinh (Tulku) mới có, đó là
những vị chứa tâm Bồ-tát, có thệ nguyện kiên định là
lấy hiện thân làm sinh vật, các vị đó có quyền năng chủ
động tái sinh trong tương lại, có đầy đủ điều kiện
cần thiết, để mang lại lợi ích cho con người.
Kết
quả trực tiếp của linh ảnh tại Tschorten Nyima là Tomo Géshé
cảm thấy mình không chỉ có trách nhiệm với dân tộc và
đất nước mình trong việc trao truyền pháp giác ngộ, mà
cả thế giới bên ngoài, không phân biệt chủng tộc, giai
cấp hay tôn giáo. Vì thế mà ông bỏ bình nguyên yên tĩnh
của mình để đi đến các nước quanh vùng Himalaya. Và bất
cứ nơi đâu đặt chân đến, ông gieo trồng niềm tin và hy
vọng trong lòng mọi người. Ông cứu giúp kể bệnh tật chỉ
băng cách rờ đến họ và bằng sức mạnh tâm ý mình, ông
giảng đạo pháp thiêng liêng, làm cho họ “vui thích lúc đầu,
vui thích lúc giữa, vui thích lúc cuối”[5]; ông khai thị cho
những ai sẵn sàng đón nhận sự thực của Pháp và có khi
phải bỏ lại đồ đệ của mình để lên đường mang chính
pháp đi truyền bá cũng như đã vì thế mà ông đã bỏ thung
lũng hiền hòa của mình ra đi.
TU
VIỆN YI-GAH TSCHOLING
Để
hiểu ý nghĩa của đời sống chúng ta, để nhận rõ những
mối dây và hình ảnh kỳ lạ đan chằng chịt trong số phận
của mình (theo quan điểm Phật giáo, đó là kết quả của
Nghiệp, tất cả tạo tác của ta trong quá khứ), thỉnh thoảng
ta phải nhìn lui để thấy những mối dây của mạng lưới
này, cái mà ta gọi là cuộc đời, xuất phát từ đâu, chạy
như thế nào. Một cái nhìn, vài tiếng nói vô bổ, vài tiết
điệu rời rạc vang lên trong một đêm hè yên lặng; một
cuốn sách tình cờ đến tay ta, một bài thơ, một mùi hương
gọi nhớ - tất cả những ấn tượng dường như tình cờ
đó có thể sinh ra năng lực làm thay đổi và quyết định
cả cuộc đời tương lai của ta hay là chìa khóa mở ra cho
thấy những bí ẩn sâu xa nằm trong quá khứ.
Khi
viết những dòng này, xung quanh tôi là mùi hương dầu của
loại nhang Tây Tạng và gợi cho tôi nhớ lại nơi chốn mà
lần đầu tôi ngửi đến nó. Tôi thấy mình ngồi trong điện
của một tu viện Tây Tạng, được chiếu sáng bằng đèn
dầu, xung quanh mình là một loạt những hình tượng lạ lùng,
một số thì hiền hòa an lạc, số khác thì dữ tợn phẫn
nộ và số khác nữa thì xem ra kỳ dị và bí ẩn. Như xuất
phát từ cõi không gian nào đầy bóng tối, các hình tượng
đó chiếm đầy nội thất của ngôi đền. Nhìn tổng thể,
hầu như các tượng đó có một sự sinh động, một sự hòa
điệu giữa màu sắc và tiết điệu, chúng phản ánh cái đa
diện phong phú của một nhất thể bao trùm.
Tôi
đã vào trú ẩn tại tu viện này trong một ngày dông bão dữ
dội, nó cắt đứt tất cả mói liên lạc với bên n goài
và chôn vùi cảnh vạt mùa hè dưới băng tuyết. Sự bất
ngờ và năgn lực của trận bão đầy tuyết và mưa đá thật
lạ lùng, đến nỗi cả người già cả ở vùng này cũng chưa
hề thấy lần nào tương tự trong đời mình và đối với
tôi là kể vừa đến từ Sri-Lanka, mang y vàng của một tu
sĩ Thượng tọa bộ, choàng chiếc khăn nhẹ, chân mang dép
mỏng, thì tất cả hiện ra có vẻ ma quái hay một cơn mơ
kỳ dị.
Còn
tu viện - nằm trên cao dãy Darjeeling, xung quanh là thung lũng
- trên chỏm núi chơ vơ, như một trái bóng để các đám mây
đang gàm thét xô đảy, chúng xuất phát từ chiều sâu nào
mà mang theo hàng ngàn tia chớp và sau đó là một loạt mây
từ những đỉnh cao băng tuyết Himalaya đổ xuống, sự hỗ
độn đến như thế là cùng. Tiếng sấm động vang lên không
ngừng, tiếng đổ như trống dọi của mưa đá trên nóc điện
và tiếng gầm rú của dông bão tộn lẫn nhau như bản hòa
tấu của địa ngục.
*
*
*
Vì
sẽ nhiều ngày nên tôi không rời tu viện được, vị sư
trưởng vui vẻ mời tôi ở cùng phòng với ông. Ông mang cho
tôi chăn ấm và cố hết sức để tôi được thoải mái.
Căn phòng nhỏ vì thế mà quá nóng và đầy khói nhang cũng
như mùi củi khô mà thỉnh thoảng vị sư trưởng ném vào
lò sưởi lúc tụng niệm làm tôi hầu như ngạt thở và không
ngủ được. May thay ngày hôm sau, ông cho tôi về ở góc của
tu viện lớn này, mà nơi đó có thể băng qua sân tu viện,
nó cách ly ngôi đền và tòa nhà chính của điện.
Tại
sao tôi lại rời bỏ cuộc sống yên lành tại Sri-Lanka, một
thiên đường ấm áp để đi vào một vùng ma quái đầy dông
bão của Himalaya và không khí kỳ lạ của một tu viện Tây
Tạng? Chưa bao giờ Tây Tạng đóng vài trò gì trong kế hoạch
của tôi và có sức thu hút tôi. Đối với tôi, Sri-Lanka đã
thỏa mãn tất cả sự mơ ước và vì tôi đã nghĩ rằng mình
sẽ sống tại đó đến cuối đời nên đã xây dựng ngay
giữa đảo một cái cốc - nằn giữa đường từ Kandy và
Nuwara Eliya - trong một vùng sơn cước yên lành với mùa xuân
trường cửu, không bị ánh nắng màu hè và sức lạnh mùa
đong xâm phạm, cây cối đâm chồi nở lộc quanh năm. Thế
nhưng một ngày nọ tôi nhận được thư mời tham dự một
hội nghị quốc tế về Phật giáo tại Darjeeling với tính
cách là đại biểu của Sri-Lanka và làm chủ tọa điều khiển
tiểu ban kinh sách của hội nghị. Mới đầu chần chừ, cuối
cùng tôi nhận lời tham gia. Tôi được động viên bởi ý
nghĩ, đây chính là dịp để trình bày giáo pháp thuần túy
của Phật đã được Sri-Lanka gìn giữ, tại một nơi mà ngôn
từ của Phật đã bị một hệ thóng thờ quỉ thần và niềm
tin sai lạc bóp méo.
Và
bây giờ tôi ở đây, trong xứ sở kỳ dị của Lạt ma giáo,
không nói được thứ tiếng của họ, không có chút hiểu
biết nào về ý nghĩa của vô số hình ảnh và biểu tượng,
chúng nằm đầy trên các bích họa cũng như tượng hình quanh
tôi. Chỉ các tượng Phật và Bồ-tát là tôi quen. Nhưng khi
ngay đó đến, ngày mà bầu tời xanh lại và người ta có
thể liên lạc với bên ngoài, và không có gì ngăn cản tôi
rời Darjeeling trở về với Sri-Lanka thoải mái thì tôi không
còn muốn đi nữa. Hầu như có ,một sức mạnh không cản
nỏi giữ tôi lại và càng ở lâu trong thế giới huyền hoặc
này mà tôi đã chứng kiến hàng loạt những chuyện kỳ lạ,
tôi càng cảm giác mình đang được vén màn cho thấy một
dạng thực tại mới mẻ và mình đứng bên bờ một cuộc
sống mới.
Làn
này là lần đầu trong đời tôi hiểu được thế nào là
sự liên hệ phi ngôn ngữ với con người và sự vật, sự
liên hệ này lúc đầu sở dĩ có chỉ vì tôi không nói được
tiếng nói địa phương, thế nhưng nó lại sinh ra một khả
năng nhận cảm sâu xa và một chứng thực trực tiếp, mà
thường những chứng nghiệm đó b ị dập tắt ngay vì nói
năng diễn đật quá nhiều mà phần lớn con người đã quen.
Chỉ
tại phương Đông, người ta mới biét một dạng trao đổi
trong sự lặng yên giữa người với người, nó được gọi
là darshan. Darshan có nguyên nghĩa là “quán sát”, vừa mang
nghĩa vật lý tâm linh (thế giơi quan). Theo nghĩa vật lý thì
đó là sự tham dự im lặng vào một con người, chỉ việc
nhìn và ý thức về một người, không thấy cần phải chuyện
trò gì vì câu chuyện sẽ chỉ làm mất tính cách trực tiếp
của ấn tượng đầu tiên hay mất mối liên hệ nọi tại
giữa hai bên hay của sự tham gia trực giác. Thế nên các vị
đạo sư tôn giáo (hay các vị khác tuy không thuyết giảng
nhưng làm gương cho người khác) hay sử dụng darshan đối
với học trò tâm đạo. Nơi đây cần nhắc lại một thí
dụ xứng đáng là bậc thánh nhân Ramana Maharschi tại Nam Ấn
Độ, là người mà hàng ngàn kẻ tầm đạo từ mọi phần
đất Ấn Độ và thế giới tìm gặp, chỉ xin được ngôi
im lặng bên cạnh ông; vì chỉ riêng sự hiện diện của một
thánh là đã mang phước và thành quả sâu xa hơn hẳn một
cuộc thảo luận trí thức hay một buổi thuyết giảng nhiều
lời. Nhiều người đã đến tìm ông, mang theo nhiều câu hỏi,
cuối cùng nhận ra rằng với sự có mặt của ông thì vấn
đề đã tiêu tan, hay ông đã trả lời trước khi họ đặt
câu hỏi. Nhưng đó là chuyện xa, bản thân tôi cũng đã có
dịp thực chứng điều tương tự.
*
*
*
Như
đã nói, tôi ở trong một góc của đền. Đền này gồm một
chính điện hình vuông, ngự trị bởi một bức tượng Di
Lặc vĩ đại. Đầu của bức tượng được ánh sáng từ
một cửa sổ đối diện chiếu vào; nếu không, nó sẽ mất
hút trong bóng tối của đoạn mái cao của chính điện. Cửa
sổ này nằm giữa đoạn mái thấp của phần trước và đoạn
giữa của đền, trên đoạn này là một mái nhà thứ ba, che
chính điện hình vuông có cột. Trên đoạn hình vuông này
là tầng một thờ mười phương chư Phật. Tầng nằm trên
bốn cột cao, sơn son, mang nhiều hình chạm trổ. Buổi tối
khuôn mặt vàng của Di Lặc phản chiếu ánh sáng mờ nhạc
của ngọn đèn vĩnh cửu, ngọn đèn nằm giữa chính điện
trước bàn thờ đá, trên đó là các phẩm vật cúng đường
như chén nước, đèn dầu, bánh cúng hình nón (torma), nhang
cắm trong những chén cơm.
Hai
bên phải trái của bàn thờ đá này là các chỗ ngồi thấp,
nệm cứng và các bàn nhỏ để trà (tschotse). Chỗ ngồi cho
tu sĩ tụng niệm này mà trong cá dịp lẽ lớn phải thêm vài
hàng, nằm từ cổng vào cho đến vách sau của điện. Tượng
Di Lặc chiếm trung tâm của tấm vách đó, hai bên là các tượng
nhỏ của các vị Phật và Bồ-tát khác, kể cả tượng của
Đại lai lạt ma thứ 13 và người sáng lập ngôi đền. Phàn
còn lại của vách sau và một phần quan trong của hai vách
hai bên gồm toàn hàng trăm bộ kinh sách thiêng liêng (Kandschur
và Tanschur), chúng nằm trong các học nhỏ. Sách Tây Tạng gồm
những tờ giấp hẹp bề ngang, làm bằng tay, để rời, in
theo kiểu nằm ngang hoặc viết tay, chúng thường được để
giữa hai miếng gỗ trang trí đẹp, cuốn trong vải đỏ hay
vàng và bề ngang tờ giấy có một miếng vải ghi số hay dấu
cuốn sách. Miếng vải này được gọi là “đầu” cuốn
sách nằm lòi ra khỏi hộc, cho thấy một sự trang trí hài
hòa của một cấu trúc bằng gỗ to rộng, sơn son, có khắc
họa, có khi dát vàng.
Vách
tường nếu không bị tượng hay sách vở che mất thì thường
mang đầy bích họa, diễn tả sinh vật sống ở những dạng
khác nhau: con người và phi nhân, thánh thần và ma quỉ, những
dạng hình hiền hòa và phẫn nộ, từ bi và dữ tợn. Loài
phi nhân nhiều tay ôm nhau trong sự giao phối tình dục, xung
quanh là khói và lửa - và ngay bên cạnh đó là thánh thần
ngồi yên trên tòa sen, hào quang chiếu sáng, dưới chân là
đồ đệ phủ phục. Rồi các nàng tiên nữ với sắc đẹp
dịu hiền và thiên nhân trong điêu múa xuất thần, trang sức
với sọ người và chuỗi hạt đầy những đầu lâu, song
song là tu sĩ khổ hạnh thiền định trong hang động hay dưới
gốc cây và các nhà thông thái thuyết giảng cho học trò.
Giữa những cảnh đó là đồi xanh và thác nước, phía sau
là núi tuyết và mây bay, phía trên là không gian đầy sắc
xanh thẩm với thiên thể và những biểu hiện bí ẩn. Thấp
nhất là nguồn suối của biển sinh tử với ngọc ngà châu
báu, cùng thần rắn giữ cửa cũng như sinh linh dưới đáy
biển
Toàn
bộ vũ trụ hầu như tập hợp lại trong đền này và những
bức vách mở ra một chiều sâu chưa hề biết. Giữa hàng
ngàn hình dạng của vũ trụ đầy những đời sống và vô
số mức độ ý thức khác nhau, tôi sống trong một trạng
thái của sự kỳ diệu; tiếp nhận muôn hình vạn trạng của
cảm thọ, nhưng không hề tìm cách giải thích hay lý luận
về chúng, cũng không “nắm bắt” chúng theo cách tư duy.
Tôi chấp nhận nó cũng như người ta đứng trước cảnh vật
một vùng đất lạ, nơi ta đến lần đầu, thâu nhận nó
và tâm thức của mình.
Nếu
lúc đó có người giảng cho tôi nghe về những chi tiết của
cảnh vật thì có lẽ sự chú ý của tôi sẽ bị hướng về
hình tượng và lịch sử; và cách tiếp nhận lý luận đó
đã làm tôi đánh mất tính trực tiếp của những cảm thọ
ban đầu về sự hồn nhiên của phản ứng nội tâm của tôi
khi gặp thế giới mới. Nơi đây không phải tôi gặp trí
tưởng tượng của chỉ một con người đơn lẻ, mà linh ảnh
của vô số thế hệ những con người thiền định, linh ảnh
của họ xuất phát từ chứng thực nội tâm, trên một thực
tại tâm linh, mà ở thực tại đó, lý luận tư duy của tôi
không vươn tới, không thể đánh giá hết.
Và
dần dần thực tại đó chiếm hẳn tôi. Thực tại đó xuyên
suốt qua hình dung và thang giá trị của tôi về thế giới
vật chất, tra vấn, tạo nên một sự chuyển hóa về thái
độ và ý thức của tôi. Tôi nhận ra rằng, các thực tại
tôn giáo và đời sống tâm linh là một bước đi vượt ra
ngoài biên giới của ý thức bình thường, chứ không phải
chỉ là sự thay đổi ý kiến hay quan niệm, không phải chỉ
là thêm thuyết phục bằng những luận cứ tri thức hay lý
luận tổng hợp; những điều vừa kể này không bao giờ mang
ta ra khỏi vòng vây của khái niệm đã biết, mà với những
khái niệm đó, ta xây dựng nên “thực tại vật chất”
và “lý luận phải trái” của con người. Thế giới của
những điều “hiển nhiên” đó từ xưa đến nay là chướng
ngại lớn nhất ngăn cản cái nhìn sáng tạo và sự tìm kiếm
những tầng mức khác của ý thức hay những chiều sâu khác
của thực tại. Đời sống tâm linh dựa trên khả năng cảm
thọ và chứng thực nội tại. Đời sống tâm linh dựa trên
khả năng cảm thọ và chứng thực nội tại, nó không cần
đến tư duy, vì tư duy là lý luận chỉ là một tiến trình
tâm linh của tiêu hóa và hấp thụ, chúng đi sau khả năng
nói trên chứ không đi trước.
KATSCHELA,
NGƯỜI BẠN VONG NIÊN VÀ NGƯỜI HƯỚNG ĐẠO
Biết
nhiều không phải hay,
cái
Biết che cái Thấy.
Chân
nhân nghe tiếng gọi,
và
biết tin lời Người.
Thỉnh
thoảng nửa đêm tôi tỉnh dậy và nhìn nét mặt từ bi của
khuôn mặt Di Lặc chập chờn trong những dạng hình khác đầy
bóng tối, chúng bao phủ hết ngôi đền trong ánh sáng mờ
ảo của ngọn đèn vĩnh cửu. Và trong khuôn mặt bằng vàng,
sáng một cách dịu dàng thì cặp mắt to xanh đậm của Ngài
hầu như đầy sự sống và tôi cảm thấy cái nhìn của cặp
mắt đọng lại trên tôi, vô cùng êm ái.
Cũng
có lúc nữa đêm tôi tỉnh dậy và nghe tiếng nuốt nước
miếng kỳ lạ cùng với nhịp thở nặng nề. Vì đêm rất
lạnh và vùi mình trong chăn nên một lúc sau tôi mời quyết
định dậy nổi và nhìn xung quanh xem có gì. Tôi tò mò vì
thực tế là ban đêm đền khóa cửa và nghĩ chỉ có mình
tôi trong đền, ngoài tôi ra không có một sinh vật nào khác.
Tôi
đứng dậy dụi mắt và thấy bóng một ông già cử động
chậm chạp trước bàn thờ. Ông chắp hai tay lại trên đầu,
quì xuống và nằm dài trên mặt đất, tay duỗi về phía trước.
Sau đó ông lại đứng lên và lặp lại hành động cúi lạy
này, lần nữa rồi lần nữa, cho đến khi thở hổn hển vì
mệt. Sau khi cúi lạy vô số lần trước tượng Di Lặc, ông
đi dọc theo vách tường ngôi đền, nghiêng đầu trước mọi
bức tượng và kính trọng dùng trán sờ đến các hàng dưới
cùng xếp kinh sách vào chân Di Lặc. Ông đi vòng theo chìêu
từ trái qua phải (tức là chiều mặt trời quay) theo cách
cổ Phật giáo; và khi qua vách tường bên phải, đến góc
của tôi thì tôi nhận ra ông là vị tu sĩ già khả kính, ở
trong một phòng nhờ bên cạnh cửa vào đền.
Tôi
nhận ra ông với cái lưng hơi còng và nhờ bộ râu mà người
Tây Tạng ít có. Ông là tu sĩ già nhất trong viện, quê ở
Schigatse, nơi sống của lạt ma Taschi (tức là Ban thiền lạt
ma), là người mà hồi còn trẻ ông đã phụng sự rất thân
cận. Bây giờ ông còn được một món tiền hưu ít ỏi mà
về sau tôi biết rằng ông dùng phần lớn để sửa chữa
hay trang hoàng cho ngôi đền, trong lúc bản thân ông thì sống
trước cổng như kẻ nghèo và ít ai để ý nhất và không
sở hữu cái gì ngoài miếng thảm để ngồi và quần áo ông
mặc. Ông còng lưng không phải vì tuổi tác mà vì năm này
qua năm khác ngồi thiền định trên tấm thảm. Đời của
ông quả thật là một cuộc đời cống hiến cho tôn giáo.
Thế
nhưng điều này không ngăn cản Katschenla thỉnh thoảng chơi
với trẻ con, chúng hay tụ tập trong sân tu viện, có khi vào
hẳn trong đền để chọc ghẹo ông. Ông vui đùa với chúng
và giả vờ đuổi chúng ra khỏi đền bằng cách rượt bắt
chúng giữa những hàng ghế. Thế nhưng cặp mắtg của ông
ánh lên vui tươi nên thái độ đe dọa của ông mất hết
hiệu lực và cả đứa con nít nhỏ nhất, nghịch ngợm kéo
áo ông cũng gập người lại mà cười khi ông tìm cách chụp
chúng.
Dù
tuổi đã cao nhưng không khi nào Katschenla ngòi yên - khi thì
ông dùng hai miếng vải chùi lui chùi tới cho nền bóng lên,
khi thì chùi hàng trăm cây đèn dầu và chén đựng nước hay
các bình khác trên bàn thờ rồi sắp xếp lại ngay ngắn,
khi thì đọc kinh sách hay tụng niệm cầu an lạc cho mọi người
hay cử hành lễ lạc để cầu an cầu phước - luôn luôn ông
sống phụng sự cho đền hay tu tập tâm linh.
Trong
nhiều dịp đặc biệt ông nắn nhiều hình tượng bằng đất
sét rất đẹp, diễn tả các vị Phật, Bồ-tát hay hộ pháp
được nhiều người tôn thờ. Được xem ông làm thật thích,
từ lúc trộn, bóp đất sét, ép trong khuôn rỗng bằng kim
loại rồi sửa chữa các chi tiết, phơi khô và nung ở nhiệt
độ đều trong một cái lò than nhỏ và sau đó là vẽ màu
hay dát vàng, mỗi một khâu công việc đều có chân ngôn[6]
và cầu nguyện kèm theo, cầu phước của chư vị đã giác
ngộ cũng như tất cả năng lực trong vũ trụ, năng lực đó
hiện diện trong đất và khí, trong lửa và nước, trong tất
cả mọi yếu tố làm nên đời sống chúng ta và sự thành
tựu tác phẩm.
Cho
nên cả công việc thủ công cũng là một nghi lễ với ý nghĩa
sâu xa và là một hành động hiến mình và thiền định. Ông
làm những vật thể vật chất trở thành nơi chuyên chở những
năng lực, mà tác động của chúng đã đóng vai trò quan trọng
luc hình thành những vật thể đó. Đối với người Tây Tạng
thì thế giới không tách làm hai thành vật chất và tinh thần
mà vật chất chỉ là tâm thức đã trở thành thấy được
sờ được, tức là năng lực của vũ trụ đã mang dạng hình
và nhận cảm quan trong tâm thức con người. Cũng như tâm đã
kết tinh thành ngôn từ, như tư tưởng đãbiến thành câu
chữ, thì sự chứng thực đã kết tinh thành h ình tượng
thờ cúng, dù nó là tượng hay hình tô màu, không màu; và
cả hai, ngôn từ hay hình tượng trở thành biểu tượng tích
cực và vật chuyên chở các năng lực siêu nhiên cho những
ai sẵn sàng mở lòng vì những năng lực đó. Mỗi một hành
động sáng tạo đều kết thành một thực tại tâm linh. Vì
thế mà hành động sáng tạo một tác phẩm tôn giáo quan trọng
hơn sản phẩm của nó. Hành động đó cho tác phẩm của mình
một sức mạnh và ý nghĩa huyền bí, chúng tiếp tục tác
động. Đó là ý nghĩa sâu kín của “Vạn Phật Điện”,
thường có trong các ngôi đền tại Tây Tạng và Viễn Đông.
Cũng một lời cầu nguyện hoặc chân ngôn được nhắc hoài
không ngưng vì hành động của tâm thức tụng niệm quan trọng
hơn việc hiểu ý nghĩa hay nội dung của chúng, nên trình bày
ngàn lần một tượng Phật duy nhất không phải chỉ nói lên
tính vũ trụ của Phật quả, thời nào hay ở đâu cũng hiển
hiện được, mà diễn tả hành động sáng tạo ngàn lần.
Tôi
không thể nói hết những điều mà Katschenla đã dạy tôi
một cách giản đơn và kiên nhẫn. Lòng phụng sự quên mình,
sự sẵn sàng giúp đỡ và nhất là sự cố gắng thành tâm
nhằm đưa tôi vào thế giới tâm linh của ông đã chuẩn bị
nội tâm cho cuộc gặp gỡ với vị đạo sư của tôi. Thực
tế là,ông chính là một phần sinh động của vị đạo sư,
vị luôn luôn hiện diện trong tâm ông,không bao giờ lìa xa,
chbo nên khi nói đến lòng biếtg ơn và kính trọng của tôi
đối với đạo sư thì cũng đồng thời nói đến ông.
Ông
lo lắng cho tôi được thoải mái như cho chính con ruột ông.
Ông dạy cho tôi những từ Tây Tạng đầu tiên bằng cách
chỉ những vật thể khác nhau và nói tên của chúng. Mỗi
buổi sáng ông mang nước nóng cho tôi - một sự xa xỉ mà
ông cũng như các tu sĩ khác không dám có - và ân cần ngồi
xuống bên tôi, ông nói: “tschu tsawo” (nước nóng). Ông chia
cho tôi loại trà bơ mà ông ưa thích, được giữ ấm suốt
ngày bằng cách để trên lò than sau chỗ ngồi. Ngay từ đầu,
tôi thích uống loại trà kỳ lạ này, trộn lẫn loại trà
tàu, thêm chút bơ, muối và sôđa - mà phần lớn người không
phải Tây Tạng thấy khó uống - có lẽ là nhờ tình cảm
lớn lao của Katschenla, vì không bao giờ tôi nghĩ có thể từ
chối một món quà ân cần như vậy. Về sau tôi mới biết
mình quen được với trà này là rất quan trọng, vì đó là
một thức uống không gì thay thế được và rất bổ đưỡng
trong những chuyến du hành trên cao nguyên Tây Tạng lạnh giá.
Trước
khi thưởng thức chén trà buổi sáng, Katschenla thường lấy
một nhúm hạt giống màu đen, để trong lòng bàn tay ra dạng
một con bò cạp, vừa đọc chú trừ tà vừa ném vào lửa.
Khi khác ông cầm nhang hoa lên trước cửa sổ, vẽ những ấn
quyết kỳ lạ, xem là phẩm vật tượng trưng dâng lên cho
các bậc giác ngộ, miệng tụng kinh tán thán. Điều này diễn
ra với những cử động mềm mại, đầy ấn tượng làm tôi
hầu như thấy những phẩm vật đó hiện ra trước mắt, rõ
như lòng thành khẩn trong sự dâng cúng. Thế nhưng, những
cử động này không hề có tính chất biểu diễn mà chúng
hiện ra như một cách diễn tả của một coin người nội
tại, như sự nhịp nhàng của hơi thở, như nhịp đập của
các bậc giác ngộ, trước mặt vô số quỉ thần, cũng nhẹ
nhàng tự nhiên như giữa người và thú, bằng cách ông tỏ
lòng kính trọng và ân cần với mỗi đối tượng.
Buổi
tối thường Katschenla tay mang đèn dầu đến với góc đền
yên lặng của tôi, ngồi trước mặt và ra hiệu cho tôi lấy
giấy bút. Với lòng kiên nhẫn vô bờ, ông nhắc đi nhắc
lại cho tôi nghe kinh cầu nguyện, kinh tán thán, bắt tôi lập
lại cho đến lúc tôi phát âm và nhấn chỗ thật đúng. Ông
không quan tâm khi mới đầu tôi không hiểu chữ gì, thế nhưng
nhờ ông chỉ, tôi thấy hình tượng các vị Phật và Bồ-tát
cũng như các vị hộ pháp quan trọng liên hệ với các lời
cầu nguyện và hô triệu thế nào mà tôi được hướng dẫn
thực sự, hiểu mối liên hệ của ngôn từ và hình ảnh nhất
định.
Đối
với ông thì những gì ông chỉ cho tôi có giá trị tột cùng,
không cần biết tôi có hiểu hay không. Và tôi cũng phải nói
thật là mình cũng cảm nhận sự đoán chắc chắc đó và
lòng vui sướng, vì tôi tin drằng một món quà được trao
trong tình thương và sự chân thành như thế, tự nó đã có
giá trị rồi. Tôi cảm nhận có cái gì từ nơi cụ già tốt
bụng này chảy tràn trong tôi, cho tôi một cảm giác an lạc
mà không thể giải thích được. Đây là lần đầu tôi chứng
được sức mạnh của thần chú - phải bỏ mọi khái niệm
lý luận mới hiểu được - trong đó âm thanh của tâm thức
nằm ẩn trong tim đã được chuyển hóa và được nghe thấy.
Và vì đó là “âm thanh của tim” chứ không phải của đầu
óc nên tai không nghe thấy và óc không nắm được.
Chỉ
về sau tôi mới hiểu được nội dung và ý nghĩa của những
lời cầu nguyện này; nhưng sự hiểu biết này không làm quên
những thành quả đầu tiên, vì sau này tôi đã biết, quan
trọng hơn xa sự hiểu biết là trạng thái lúc trao truyền
những ngôn từ đó, là lòng thanh tịnh và sự thành tâm của
người trao truyền.
TU
HỌC VÀ CÁC NGHI LỄ
Dưới
sự dẫn dắt tốt bụng của Katschenla tôi sớm ý thức nhiều
điều nhỏ bé mà ngày trước tôi không mấy quan tâm hay cho
chúng có ý nghĩa gì, những điều rất hữu ích để nâng
tâm thức lên một mức độ cao hơn, nhờ đưa những hành
động và thái độ thường nhật nhất vào trong sự tu học
và thiền định.
Tôi
học cách cầm một cuốn kinh, kính trọng đưa lên trán trước
khi mở bọc lấy ra - cần nhớ rằng trong đó là ngôn từ
của các bậc giác ngộ - làm sao cho các tờ kinh không bị
lộn xộn [7] và mỗi một âm phải được xem là một chú
nên một tờ kinh hư hỏng, không đọc được hay vô ích cũng
không được vứt bừa bãi để cho người hay thú có thể
đạp lên. Vì lý do này mà phía ngoài đền thường có một
bệ thờ để cất chứa những tờ kinh hư hỏng hay dư thừa
và các đồ vật cúng dường hết dùng tới.
Tôi
học cách đi đứng trong tu viện, trước hết là hướng đi,
đó là hướng của thiên thể quay xung quanh mặt trời - điều
đó có nghĩa luôn luôn ta phải thấy đức Phật hiện diện,
Ngài là mặt trời tâm linh và kẻ giác ngộ của nhân loại,
được cung kính bằng cách đi vòng quanh theo chiều kim đồng
hồ.
Ngay
cả khi qua sân trước đền để đến tòa nhà chính nằm bên
trái, tôi cũng phải đi toàn vòng bên mặt của đền. Như
thế tôi đi qua một dọc những bánh xe đồng, trên đó có
khắc sáu âm thần chú OM MANI PADME HUM và
bên trong chứa những cuộn làm bằng giấy Tây Tạng rất bền,
trên đó câu thần chú này được chép hàng trăm ngàn lần.
Cũng
như đã nhắc khi nói về các hình tượng đất sét thì sự
hình thành các cuộn giấy này là một nghi lễ thiêng liêng,
trong đó năng lực tâm linh được tập hợp và vận động,
chúng sẽ mang lại lợi ích cho những ai có tâm sẵn sàng đón
lấy. Khi đi ngang, chỉ cần đụng nhẹ thì bánh xe đã quay,
tôi nhắc lại trong tâm câu thần chú mà Katschenla đã chỉ;
vì không có người Tây Tạng nào thực sự quan tâm đến tôn
giáo của mình và có chút hiểubiết sâu sắc lại có thể
ngây thơ tin rằng một hành động hoàn toàn cơ giới có thể
mang lại lợi ích tâm linh cho họ hay cho ai khác, hay nghĩ rằng
quay bánh xe một cái là hàng ngàn lời cầu nguyện lên tới
trời xanh.
Người
Tây Tạng không có ý muốn “đánh lừa thần thánh” bằng
cách cầu nguyện để kéo các Ngài về phía mình; cũng như
họ không muốn trốn tránh khổ nhọc hay trách nhiệm về việc
làm của mình.
Khi
một nông dân Tây Tạng đem bánh xe cầu nguyện (mani-tschor-khor)
đến một suối nước hay kinh lạch tưới tiêu cho ruộng đồng
mình, là muốn ban phép cho nước và cho những ai ăn thực phẩm
của mình làm ra. Thế nhưng, thêm một điều là âm thanh tiếng
chuông khi quay bánh xe đó sinh ra, sẽ đánh thức thần chú
đầy phước hạnh nằm sẵn trong tâm người.
Nguồn
gốc của mani-tschor-khor là gì? “Quay bánh xe pháp” (chuyển
pháp luân) là một ẩn dụ mà bất cứ Phật tử nào cũng
biết và có nghĩa là “đưa vào vận hành các sức mạnh của
qui luật vũ trụ và đạo lý”. Khi đưa tschor-khor vào vận
hành, anh ta lập lại hành động tâm linh của Phật cách đây
2500 năm, đã “quay bánh xe Pháp”. Hành động này do một
vị giác ngộ làm chưa đủ - mỗi ai muốn giác ngộ cũng phải
tự mình làm một cách sáng tạo và thực hiện trong thâm tâm
mình.
Ta
có thể hiểu ý nghĩa sâu xa và sự song hành trong vũ trụ
của biểu hiện này khi nhớ rằng toàn bộ vũ trụ được
xây dựng trên vận động quay: các vì sao và hành tinh quay
quanh trục của chính mình, các thiên thể quay xung quanh mặt
trời hay các điện tử quay quanh hạt nhân nguyên tử. Nếu
một đy-na-mô quay quanh mà phát ra điện lực[8] và khi sự
quay của tâm con người quanh một đối tượng ý thức hay
một vấn đề sinh ra một tình trạng chú tâm, tình trạng
đó có thể phát minh những điên đảo lộn thế giới hay
dẫn đến một mức độ ý thức cao hơn, thâm chí đến sự
giác ngộ hoàn toàn thì có gì đáng ngạc nhiên khi người
Tây Tạng tin rằng các năng lực cao đẹp được tập trung
lên trong lúc hình thành một mani-tschor-khor sẽ bám giữ trong
thể vật chất của vật đó, theo một cách nào đó, được
động viên và trao truyền lại cho ai quay nó?
Tất
cả những ý nghĩ đó tràn ngập tâm tôi khi hàng ngày tôi
đi vòng quanh đền và tu viện. Mặc dù tu viện cách nhà dân
vùng Ghoom không hơn một dặm, nhưng ở đây dường như thuộc
về một thế giới khác. Giữa làng và tu viện là một ngọn
đồi dốc có nhiều cột cúng đường sơn trắng và một vườn
cây với nhiều phướn trắng bao quanh. Một cột phướn mang
cờ trắng cao khoảng tám mét, mang trên đỉnh biểu hiện của
mặt trời, mặt trăng, lửa, có khi là hình kiếm trí tuệ
hay chĩa ba. Những lá cờ trắng mang chú nguyện hay dấu hiệu
phúc lạc dài khoảng ba phần tư mét, nằm suốt dọc cột
cờ, chỉ trừ một mét rưỡi cuối cột là không. Mỗi một
lá cờ này do một cá nhân cúng dường hay một gia đình qui
y với tu viện. Cờ biểu hiện ân phước cũng như nhắc nhớ
chính pháp cho người từ xa đến tu viện hay những người
sống quanh đó.
Trong
mùa mưa thì đỉnh núi cao khoảng hai ngàn năm trăm mét, mà
trên đó tu viện này được xây dựng, hầu như suốt ngày
bị một đám mây khổng lồ bao phủ, nên buổi trưa mà vẫn
phải thắp đèn trong diện, bên ngoài thì sương mù che kín.
Toàn bộ khu vực dường như trôi bềnh bồng trong mây, bị
gió thổi qua vô số lá cờ trắng xung quanh điện và quanh
các tháp trên núi. Thế nhưng toàn thể không gian và ngay cả
các vật thể chìm đắm trong sương mù không hề tạo ra cảm
giác tuyệt vọng mà chỉ tăng thêm phần bí ẩn của khu vực
và cho một cảm giác an tâm, vững tin và yên lành, một tâm
thức an lạc, sống xa rời tất cả cái hối hả tất bậc
của thế nhân.
Khi
đi vòng quanh ngọn núi kỳ diệu đầy mây mù này, tôi thường
thấy đường như các tòa nhà vừa mới hiện thân trước
mắt và chúng không có thực tính như tư tưởng luôn đổi
thay của tôi; còn bản thân tôi thì hình như vô hình với
người khác, như một thần thức đã thoát khỏi thân. Xung
quanh tôi hình như có một cõi sống siêu nhiên và khung cảnh
tĩnh lặng chỉ làm tăng lên những tiếng động kỳ lạ, nó
vang trong không khí, khi lên khi xuống. Chưa bao giờ tôi nghe
tiếng động này: nó sinh ra từ những ngọn phướn dài và
mỏng rung trong chiều gió thổi lên liên tục từ bình nguyên
Ấn Độ. (Đó chính là luồng khí ấm và ẩm dâng lên, gặp
luồng gió lạnh từ Himalaya mà sinh ra mây mù liên miên trên
đỉnh núi này). Trộn lẫn với tiếng động kỳ lạ này là
tiếng chuông bạc của mani-khor-lo nằm trong một tòa nhà nhỏ
bên cạnh ngôi đền chính, do một ông già mù quay, ông vừa
quay vừa lầm bầm đọc thần chú.
Cao
hơn một chút có một cái đền nhỏ, cứ theo giờ nhất định
trong ngày, nó lại phát ra một thứ tiếng rất trầm ngâm
của lễ nghi tụng niệm. Bị tiết điệu lôi kéo mà thỉnh
htoảng có nghe tiếng kim loại chạm nhau, tôi leo lên đến
đền và nghe tiếng tụng của một tu sĩ, rõ là ông đang tụng
niệm hàng ngày. Sau đó vì sợ phiền tôi vội rút lui. Mấy
ngày sau tôi mới có dịp xin ông được thăm nơi chốn thiêng
liêng này, nơi này khác với ngôi đền chính là mọi người
không được bước vào.
Tôi
thấy ngay lý do. Ngôi đền nhỏ này chứa đầy các vị thần
dữ tợn, hiện thân của năng lượng hoại diệt và thay đổi,
các vị này hiện ra đáng sợ cho những ai bám víu vào vật
thể thế gian và danh sắc của chúng, còn đối với ai đã
hiểu tự tính của sự vật thì đó là năng lượng của giải
thoát khỏi ngục tù, đại diện cho sự chiến thắng của
tự thân - đó là sự chuyển hóa thoát khỏi cái vô minh tối
tăm và vòng vây của cái Ngã. Các vị đó là hiện thân của
tri kiến cao tột, nó như một tia chớp hủy diệt tất cả
những gì đã ngăn cản ta chứng nghiệm một thực tại vượt
trên tư duy khái niệm, như đã xảy ra một kẻ tầm đạo
ở Sais, người vì tò mồ đã lột khăn che mặt của một
pho tượng Isis: “Sự phẫn nội sâu xa đã chôn vùi y dưới
hố sâu”.
Đây
là lý do tại sao nhiều phoi tượng của các vị thần phẫn
nộ (một dạng của thực tại) trong các đền riêng biệt
lại che mặt và chỉ những kẻ đã quán đỉnh rồi mới được
vào; vì chỉ với họ thì lực lượng này hay dạng này của
thực tại cũng chính là biểu hiện của giác ngộ như những
hiện thân từ bi khác của Phật và Bồ-tát - trong tự tính
sâu xa nhất - thì hai dạng này quả là một. Qui luật của
vũ trụ (Pháp) thì hiền hòa và hỗ trợ cho những ai chấp
nhận nó, nhưng lại dữ tợn cho những ai đi ngược lại và
phủ nhận nó. Sức mạnh của ánh sáng hay của giải thoát,
sức mạnh đưa ta đến giác ngộ, hiện ra với kẻ chống
lại ánh sáng và thực tại trong dạng đáng sợ: và vì thế
mà những dạng này được gọi là “hộ pháp” và được
người đã quán đỉnh, người đã hiểu ý nghĩa ẩn mật
của chúng, gọi là “thần bảo hộ” (yidam).
Thêm
một điều bí ẩn nữa cho tôi phải tìm hiểu. Đó là một
tòa nhà có dạng như một ngôi đền, lớn hơn ngôi đền của
các thần bảo hộ nhưng lại nhỏ hơn mọi căn nhà khác của
tu viện. Nó có hình vuông, mái sơn vàng con lên theo kiểu Trung
Hoa và có một mái hiên đóng kín, cột che kín, thành ra không
thể nhìn vào được. Cửa vào duy nhất là cửa sau nhưng luôn
luôn khóa chặt.
Điều
làm tôi tò mò và thấy kỳ diệu là căn nhà này lại thông
với ngôi đền chính nằm thấp hơn bằng một tràng hoa của
những hạt giống gần như trong suốt, trắng bạc của một
giống cây mà tôi không biết đến. Khi hỏi Katschenla, ông
trả lời tôi bằng một giọng đầy kính sợ và bí ẩn rằng
nơi đó có vị “Đại Lạt ma”, người đó là một vị
Phật rồi, đang thiền định. Ông nói giọng thì thào ra chiều
như đang ở gần vị “Đại lạt ma” đó và mặc dầu không
hỏi được vị đó là ai và tất cả mọi chuyện thế nào
nhưng tôi bắt đầu suy nghĩ: phải chăng không khí đầy năng
lượng này của tu viện và sự chuyển hóa tâm thức trong
tôi mà tôi đã thấy, phải chăng những điều đó có mối
liên hệ gì với sự hiện diện của vị lạt ma này? Sự
thực là Katschenla - mà lòng tốt và sự thành thật của ông
đã gây ấn tượng sâu sắc nơi tôi, - đã nói về vị này
một cách kính cẩn, làm tôi ao ước trở thành đệ tử của
vị đó. Khi nói ovứi Katschenla điều đó, ông đồng ý ngay
và hứa sẽ báo cho sư trưởng điều này để sư trưởng
tùy cơ mà báo lại cho vị lạt ma.
VỊ
ĐẠO SƯ XUẤT HIỆN
Một
hai tuần trôi qua. Tôi không rõ vị sư trưởng có báo gì cho
vị lạt ma không. Thế nhưng ngày nọ - khi thiền định trở
về từ một hang động phía bên kia đỉnh núi, dưới Tschorten
- thì tại chỗ của tôi trong đền có một quả xoài thuộc
giống ngon và quí, giống này chỉ mọc ở bình nguyên Ấn
Độ và mùa này bắt đầu chín. Tôi không tin mắt mình khi
nhìn thứ trái cây sang trọng này và càng không thể hiểu
làm sao nó đã đến được đay. Katschenla đến thăm tôi, mặt
hớn hở, chỉ tay hướng nhà thiền định nọ và nói đóù
là tặng vật của vị Đại lạt ma. Chưa bao giờ trong đời
tôi nhận được quà tặng quí báu như thế, vì nó báo cho
tôi rằng mong ước của tôi được chấp nhận và tôi trở
thành học trò (Tschela) do vị đạo sư tâm linh vĩ đại này
đích thân dạy dỗ.
Katschenla
chung vui toàn vẹn với tôi và tôi quyết chí đợi vị đạo
sư, dù kéo dài bao lâu cũng mặc, cho đến khi ông chấm dứt
thiền định mà tôi nghe nói có thể kéo dài hàng tuần, hàng
tháng. Nhưng tôi tin tưởng đáng công đợi, dù cho đời suốt
đời để tìm ra được vị thầy đích thực, tức là người
không phải chỉ truyền cho ta tri kiến suy luận mà là người
thầy, dựa trên chính sự chứng thực của mình mà đánh thức
được sức mạnh tâm linh của trò và dẫn trò đến sự viên
mãn. Từ “Guru” thường được thầy dịch là “thầy”,
nhưng trong thực tế không có từ nào tương đương trong các
ngôn ngữ châu Âu; vì “Guru” cao hơn hẳn “thầy” trong
nghĩa rộng của từ này. Một vị thầy cho kiến thức, còn
một Guru cho hẳn con người mình. Giáo pháp sâu nhất của
một Guru không phải là chữ nghĩa của ông mà là điều không
nói ra được, vì ông vượt lên phạm vi của ngôn ngữ. Vị
Đạo Sư[9] là niềm cảm hứng, nói theo nghĩa đen, có nghĩa
ông là con người đã cho ta tâm thức sinh động của bản
thân mình.
Tương
tự như thế thì từ “Tschela” có nghĩa là cao hơn “trò”
trong nghĩa thông thường, tức là người chỉ học một khóa
học. Đó là người đệ tử, nó có một mối liên hệ tâm
linh sâu kín với đạo sư của mình - một mối liên hệ được
thiết lập bằng lễ điểm đạo, trong dó một sự trao truyền
sức mạnh tâm linh sẽ diễn ra. Sự trao truyền đó hiện thân
bằng một câu thần chú và người đệ tử bất cứ lúc nào
cũng được gọi đến, nhờ thế mà họ giữ được một
mối liên hệ thường xuyên với đạo sư của mình.
Sức
mạnh tâm linh nói ở đây không phải là lực lượng vượt
trên ý thức của trò mà là khả năng của đạo sư cho phép
trò chia sẻ chứng thực của mình, sự chứng thực chỉ có
trong một tình trạng ý thức và chứng ngộ cao hơn thông thường.
Nhờ thế mà trò được trải qua hoặc có được một tri
kiến chớp nhoáng về tự tính của mục đích muốn tới,
để cho trò không chỉ hướng đến một ý niệm mơ hồ mà
một thực tại đã thấy và đã chứng thực. Một khả năng
như thế chỉ đạt được sau một đời chuyên tâm thiền
định và cứ sau mỗi thời kỳ hoàn toàn độc cư và đại
định thì khả năng dó lại tăng trưởng lên, như nước dồn
lại trong hồ sẽ tích thêm năng lượng.
Điều
này rất rõ đối với tôi trong ngày mà vị Đại lạt ma -
hồi đó tên của ông chưa mang ý nghĩa gì với tôi, nhưng
ông không ai khác hơn là Tomo Gésché Rimpotsché - lần đầu
rời ngôi đền sau nhiều tuần thiền định. Từ sáng sớm
tôi đã thấy hoạt động bất thường của tu viện, hầu
như số người tăng gấp đôi gấp ba. Thật là bí ẩn khi
nhiều tu sĩ từ đâu lại nhưng xem ra họ thuộc về tu viện
mà không sống trong các bức tường tại đây. Ngay cả những
người tôi biết trước nhưng hôm nay xem ra thay đổi, không
phải chỉ vì họ mặc áo quần đẹp nhất, mà vì họ hết
sức sạch sẽ, tắm rửa nghiêm túc.
Mọi
người ngồi kín các hàng ghế dài trong đền, dù đã mang
thêm ghế vào. Các nồi nấu trà và xúp sôi sùng sục trong
bếp bên cạnh đền, chuẩn bị được đưa vào trong lúc nghỉ.
Chính điện được chiếu sáng bằng hàng ngàn ngọn đèn dầu
và từng bó nhang cháy bốc lên từng đám mây thơm lừng và
cho một đám khí xanh trên đầu các bức tượng.
Thình
lình có âm thanh tù và trầm như tiếng sấm xen lẫn với tiếng
xạp xỏa và tiếng trống chậm rãi. Hai cánh cửa đền mở
rộng và Tomo Géché Rimpotsché bước vào, hai bên là hai lạt
ma áo quần trang nghiêm, đầu đội mũ cao. Thân choàng một
khăn lụa vàng (áo choàng truyền thống của tu sĩ Phật giáo),
người ta trải dưới chân ông một tấm nệm cầu nguyện.
Ông chắp hai tay cao hẳn trên đầu để cúi chào các bậc
giác ngộ, quì xuống nệm, trán chạm đất. Ông lặp lại
nghi lễ này ba lần trong lúc toàn bộ các tu sĩ tụng niệm.
Tiếng tụng niệm ngân nga trầm lắng tạo nên âm thanh đều
đặn lẫn trong những tiếng xập xỏa thúc giục và xuyên
khắp qua hai cửa vang vọng từ bên ngoài vào.
Sau
khi vị đạo sư tế lễ xong, người ta đội cho ông một cái
mũ vàng, đầu nhọn, tượng trưng cho đạo vị cao thấp. Rồi
ông đi giữa những hàng ghế vào ngồi lên tòa, cao hơn một
chút so với vị sư trưởng, người đại diện cho ông khi
ông vắng mặt. Khi ông đi giữa điện, một sự yên lặng
sâu xa ngự trị trong tất cả mọi người. Tất cả ngồi
bất động và hầu như bị tê dại bởi sự có mặt huyền
bí của một con người, người đã truyền cho cả ngôi đền
một sức mạnh tập trung của tâm thức thanh tịnh sau nhiều
tuần nhập định. Tôi bắt đầu hiểu ngộ điều Katschenla
nói, rằng vị Đại lạt ma là một với các vị giác ngộ,
chư Phật.
Khi
vị đạo sư ngòi trên tòa thì vị sư trưởng bắt đầu tụng
niệm với một giọng rất trầm, trầm đến nỗi ta phải
hỏi đây là tiếng từ lồng ngực con người hay từ tầng
sâu của trái đất. Sau dó là tiếng tụng của tu sĩ và các
tiểu tăng; tiếng cao của người trẻ, tiếng thấp của người
già và tiếng rất trầm xuyên suốt của vị sư trưởng làm
thành một tiết điệu hoàn hảo. Sau đó âm thanh tụng niệm
ngày càng cao, điểm thêm tiếng trống, cao dần rồi ngưng
bặt để chỉ còn nghe thấy tiếng của sư trưởng. Sau đó
toàn bộ tu sĩ lại tụng niệm, âm thanh đạt tới một đỉnh
cao khác, lẫn với tiếng kim khí lao xao và tiếng trống trầm
ấm, lại dứt hẳn để chỉ nghe tiếng của sư trưởng. Tiết
điệu thay đổi lên xuống n ày, khi thì im lặng sâu lắng,
khi thì dồn dập cao tột, trong đó cái im lặng mở đường
cho cái dồn dập, cái vô thanh là tổng số mọi âm thanh, làm
cho người có mặt liên tục bị một áp lực sống động,
ở trong một trạng thái của tâm linh và xả bỏ. Thế nên
sau đó bài giảng và phép lành của Tomo Gésché Rimpotsché hầu
như gặp một vùng đất tốt.
NHẠC
LỄ TÂY TẠNG
Loại
nhạc lễ sâu lắng, đầy tác dụng tâm linh của Tây Tạng,
là âm thanh nền của các buổi giảng đạo, không được xây
dựng nên bởi tiết tấu mà chủ yếu là nhịp điệu và tác
dụng của các chủng âm - tôi dám nói là của các chủng âm
nguyên thủy[10] mà mỗi âm đó được một nhạc cụ
chuyên biệt trình bày. Các nhạc cụ đó không hề bắt chước
các biến hiện của giọng hát hay xúc cảm của con người
mà đại diện cho cách diễn tả trọn vẹn của những hiện
tượng cơ bản của tự nhiên, trong đó thì giọng người
chỉ là một trong nhiều loại dao động, các dao động đó
làm nên những bản hào ca tạo thành âm điệu của vũ trụ.
Bản
hòa ca này không tuân thủ qui luật của phép hòa ca theo nhạc
lý phương Tây, thế nhưng nó mang lại một hiệu ứng tổng
thể, hiệu ứng này không phải không có nhịp điệu, vì cái
tất cả thực ra cũng có phép tắc nhất định và cho thấy
một sự song song giữa các yếu tố âm thanh ở các mức độ
khác nhau.
Mặc
dù bị âm nhạc tác động sâu sắc, nhưng tôi không đủ trình
độ để có một phân tích chuyên môn hay một mô tả khách
quan về kỹ thuật cả âm nhạc Tây Tạng. Thế nên tôi chỉ
có thể nói về quan sát và phản ứng cảm tính của mình
bằng những câu đơn giản. Điều đáng nói là tính cách sơ
lược của các tường trình ngắn ngủi về nhạc Tây Tạng
mà tôi đọc thấy trong các sách chỉ dẫn du lịch làm tôi
tin rằng, hoặc là ngôn ngữ âm nhạc phương Tây không phù
hợp để diễn tả tính cách độc đáo của nhạc Tây Tạng,
hoặc là những người muốn trình bày nó không đủ sức nắm
lấy cái thần của nó.
Muốn
làm được điều này, người ta phải quen với thực tế tôn
giáo và tự nhiên tại nơi mà nền âm nhạc này lớn lên.
Người ta phải sống lâu tại đây, phải tham dự vào cuộc
sống tinh thần và cảm xúc, mà âm nhạc là cách diễn tả
trực tiếp.
Phật
giáo Tây Tạng xem con người không phải là một thể sống
riêng lẻ, mà nằm trong mối liên hệ với cái nền vũ trụ.
Thế nên, âm nhạc tế lễ của Tây Tạng không nói đến những
cảm xúc nhất thời của một cá thể mà thể tính vô thủy
vô chung, miên viễn của đời sống vũ trụ, trong đó cái
vui buồn riêng tư của ta không đóng vai trò gì. Với thể
tính đó, ta gặp lại suối nguồn của thực tại trong tự
tính sâu kín nhất của ta. Đây không phải chỉ là cái cốt
yếu của thiền định Phật giáo mà cũng là của âm nhạc
tế lễ Tây Tạng, nó xây dựng trên sự rung động sâu xa
nhất mà một nhạc cụ hay giọng người đủ sức diễn tả:
những âm thanh hầu như tiếng sấm động - chủng âm thiêng
liêng của tự nhiên, mà sự dao động của nó đại diện
cho nguồn sống của hết thảy mọi vật trong vũ trụ. Chúng
tạo ra cái nền móng mà trên đó âm thanh cao hơn hay những
tiếng đập của nhạc cụ bằng gỗ mới trổi dậy, như dạng
hình của loài hữu tình xuất hiện từ các năng lực cơ bản
của tự nhiên - người ta ý thức những năng lực đó không
nơi đâu mạnh bằng các dãy núi hùng vĩ và các cao nguyên
ngút ngàn và cô tịch ở Tây Tạng.
Như
giọng trầm của người chỉ huy đã cho đoàn nhạc công nền
móng và mở đầu bài giảng, rồi cuối mỗi đoạn lại trở
về với giọng trầm; thì tương tự thế, chiếc kèn tù-và
bằng đồng dài bốn mét là gốc gác, là điểm xuất phát
của dàn giao hưởng. Loại kèn luôn luôn được thổi từng
cặp, để cho chiếc này vừa dứt thì chiếc kia thổi lên.
Và như thế mà ta luôn luôn có một tiếng kèn liên tục, có
lên có xuống, trong sức mạnh và chiều sâu của nó nghe như
một đại dương của âm thanh tràn trong không gian. Và trên
mặt đại dương đó mà chủng âm của nó là OM, gốc của
mọi âm thiêng liêng, thì gió đã tạo ra đời sống cá thể
bằng cách làm thành vô số những sóng lớn sóng nhỏ, như
những âm thanh của nhạc cụ gỗ, chúng sinh động và đầy
tiết điệu.
Giọng
trầm mà vị sư trưởng bắt đầu và làm nền cho buổi lễ
không gì khác hơn chính là sự nhắc lại của chủng âm thần
chú này, vì buổi giảng đạo chủ yếu (dù không phải mọi
lúc) có tính cách chú nguyện, nhất là trong phần đầu và
phần cuối của mỗi đoạn. Tất cả những câu chú nguyện
quan trọng của phần tụng niệm được sự tham gia của chuông
và trống nhỏ.
Ngược
với tiếng kèn không nhiều thì ít có tính tĩnh tại thì tiếng
đập và tiếng xập xỏa đại diện cho yếu tố động của
dàn nhạc. Tiết điệu dĩ nhiên phải thay đổi theo từng đoạn
tụng niệm, nhưng - đây là điều quan trọng về tính chất
âm nhạc và cảm xúc, vì là một cảm giác của sự giải
thoát sinh ra từ áp lực lúc đầu còn chậm về sau nhanh dần
- đến đoạn cuối cùng của buổi lễ thì tiết điệu nhạc
nhanh dần - đến đoạn cuối của buổi lễ thì tiết điệu
nhạc nhanh dần lên, đến lúc nó trổ vào đoạn chung cuộc.
Nơi đó thì tiếng xập xỏa magn lại một âm thanh kim loại,
quay cuồng, thắng lợi, vươn cao hơn tất cả tiếng đập
chạy ầm ầm phía dưới và chấm dứt bằng một tiếng xập
xỏa vang dội. Sau đó lại bắt đầu một chu trình mới, chậm
rãi của một đoạn tế lễ khác.
Khi
tiếng kèn hay giọng trầm của con người bắt chước chủng
âm vũ trụ, trong đó ta chứng cái vô cùng của không gian thì
tiếng trống đại biểu cho tính hữu hạn của cuộc sống
và vận động, chúng tuân thủ nguyên lý cao nhất của mọi
sinh cơ, tuân thủ chu trình nội tại của chúng, đó là chu
trình sáng tạo và phân hủy, phân tích và tổng hợp, hóa
hiện và thu hồi, sinh thành và hoại diệt; chúng đạt đỉnh
cao trong hữu hiện và giải thoát.
Nếu
tiết điệu trong lễ nhạc Tây Tạng đóng vai trò quan trọng
của âm hưởng vô thường trong đời sống cá thể thì nhịp
điệu của âm nhạc lại nói lên cơ cấu và ý nghĩa đích
thực của nó. Với tiếng trống hay tiếng đập, người Tây
Tạng (hẳn là cả người phương Đông nói chung) nói lên cảm
xúc hoàn toàn khác với ở phương Tây, là nơi không thấy
đó là một nhạc cụ cơ bản hay độc lập. Trong thời đầu
của văn hóa Ấn Độ, ý nghĩa của tiếng trống có thể được
thấy qua một ẩn dụ quan trong của Phật, trong đó Ngài so
sánh qui luật trường cửu của vũ trụ như nhịp điệu của
tiếng trống, đó là lời đầu tiên sau khi giác ngộ, Ngài
noí về “tiếng trống bất tử” (amata dundubhin) vang lên
cho toàn thế giới.
Chính
vì không theo dõi được hết tất cả chi tiết của buổi
tế lễ dưới sự hướng dẫn của Tomo Géshé Rimpotsché, nên
sáng hôm đó tôi tập trung nghe tiếng ca nhạc và lưu ý tác
động của buổi lễ đó làm tôi có khả năng cảm thụ lớn
nhất. Trong những tuần trước dù đã tham gia nhiều buổi
lễ nhưng chưa bao giờ tôi được sống trong một tình trạng
hoàn hảo và hòa điệu như thế. Tất cả những người tham
dự ngày hôm đó hầu như tràn đầy sự hiện diện của một
tâm thức cao hơn – như tôi cảm nhận, là thống nhất trong
ý thức bao trùm tất cả của một vị đạo sư, để cho tất
cả hành động của họ đều hòa hợp với nhau, tụng kinh
hay niệm chú, hầu như tất cả đã tan chảy, hòa chung vào
một thân duy nhất.
GẶP
GỠ ĐẠO SƯ
Tôi
vui mừng biết bao khi được gặp hiện thân của ý niệm xa
vời đó thật sự ở ngay trước mắt mình: một con người,
mà bất cứ những ai được tiếp xúc đều được học hỏi,
chỉ sự hiện diện của ông đã gây ấn tượng và đúng
như kinh sách thường nói, hãy chứng thực ngay tại đây và
bây giờ như trong những ngày Phật còn tại thế.
Số
phận đã dành cho tôi một cơ hội lớn lao được gặp một
người như thế, được tiếp xúc sống động với cái tâm
thức đã tạo nên tâm chư Phật và các vị thánh nhân trong
quá khứ cũng như sẽ tạo nên tâm các vị khác trong tương
lai.
Tôi
được gặp vị đạo sư sớm hơn mình chờ đợi. Lần gặp
đó diễn ra trong một phòng thờ nhỏ tại lầu trên của Labrang
(tòa nhà chính của tu viện), nơi ở của vị đạo sư mỗi
khi ông lưu lại Yi-Gah Tschor-Ling; và những lúc ông vắng mặt,
nơi đó vẫn được xem là chốn thiêng liêng không ai được
ngồi, dù chỉ rất ngắn và lúc ông vắng mặt thì được
thay đổi bởi bộ áo lễ dựng đứng, biểu hiện sự hiện
diện tâm linh của ông. Vì nơi đây là chỗ ông hằng ngày
quán tưởng và trải qua vô số giờ thiền định. Ngay ban
đêm ông cũng ngồi thiền định trong thế liên hoa. Chỗ ngồi
này không cho phép ông nằm hay duỗi chân. Đó là một khung
hình vuông, trong đó có nhiều gối cứng. Phía dưới chỗ
ngồi có đường viền che ba phía, phía thứ tư là lưng dựa
có trang trí bằng bánh xe chính pháp và các biểu tượng khác.
Phía trên chỗ ngồi là hình bầu trời với bảy màu, tượng
trưng cho hào quang của Phật.
Toàn
bộ gian phòng này toát ra không khí của an bình và vẻ đẹp,
là hơi thở của một nhân cách, của sự hòa hợp không những
về mặt thiện mỹ mà sự bày tỏ tự nhiên của một cuộc
sống hoàn toàn hướng về tâm linh. Ngoài ra các bức tranh
tôn giáo đẹp chi li kỹ lưỡng, lòng trong khuôn đem từ Trung
Quốc qua, hòa hợp với màu sắc thanh nhã của loại thảm
Tây tạng bọc các ghế ngồi xung quanh bàn nhỏ uống trà.
Phía kia của gian phòng là các bức tượng thếp vàng với
trình độ thủ công xuất sắc để trong các lồng kính, xung
quanh khắc họa hình rồng và các hình nổi khác. Phần dưới
của bệ thờ gồm có nhiều cửa, nhô ra một chút để có
thể đặt trên đó chén đựng nước và đèn dầu, tất cả
đều bằng bạc. Trong phòng không có một vật gì mà không
mang biểu tượng hay chức năng của một đời sống tâm
linh và cũng không có gì gọi là của riêng của bậc đạo
sư [11]. Sau khi ông đã rời bỏ thân người lần này, theo
chỉ thị của ông, người ta cho tôi đặc quyền vô song là
được ở trong phòng này – và tôi thấy lại tất cả những
gì như hồi ông còn hiện diện. Ngay cả một tách trà bằng
ngọc để trên một đĩa bạc mà mỗi ngày người ta còn rót
trà nóng cũng như các pháp khí khác như kim cương sử, chuông,
bình bát và các thứ khác cũng còn nằm tại chỗ cũ, trước
chỗ ngồi của ông.
Nhưng
tất cả chi tiết này đều hòa nhập trong một ấn tượng
chung của an bình và hòa hợp của ngày đầu tiên đó. Tôi
cúi mình trước đạo sư và ông đặt hai tay trên đầu tôi:
hai bàn tay mà chỉ cần đặt nhẹ lên đầu là đã có môt
luồng điện của sự an lạc chạy khắp người và phủ khắp
tôi, để tất cả những gì tôi định nói hay hỏi ông bỗng
biến mất khỏi tâm mình như sương mù dưới ánh mặt trời.
Chỉ riêng sự có mặt của con người này đã đủ để phá
tan mọi sự thể, biến nó thành không – như bóng đêm gặp
ánh sáng.
Khi
ông ngồi trước mắt tôi, dưới hình vẽ bầu trời, trong
bộ áo đơn giản đỏ sậm của một tu sĩ Tây Tạng, thật
khó đoán tuổi ông, dù lúc đó chắc ông không dưới tuổi
65. Tóc cạo ngắn của ông vẫn còn đen và thân ông khỏe
mạnh, thẳng người. Khuôn mặt ông cho thấy một tính cách
mạnh mẽ, nhưng cái nhìn thân thiện và khóe miệng hướng
lên hầu như sắp mỉm cười làm tôi thấy tin tưởng.
Điều
đáng lạlùng là không ai chụp hình được Tomo Géché Rimpotsché,
mặc dù trong thời gian ông đi hành hương tại các thánh địa
Ấn Độ, nhiều người đã lén chụp hình vì biết ông không
đồng ý. Kết quả luôn luôn như nhau: hoặc là người ta thấy
phim không ảnh hay hình mờ hẳn đi, hay là có điều gì xảy
ra. Dù nguyên nhân thế nào thì khuôn mặt của vị đạo sư
không thể ghi lại trên phim. Ông từ chối mội sự thần thánh
hóa và không muốn con người mình là đối tượng của một
sự tôn thờ.
Trong
ngày nhận tôi làm đệ tử, ông nói: “Nếu con muốn ta là
thầy thì hãy đừng nhìn vào cá nhân ta, vì mỗi một cá nhân
đều có hạn cuộc và bao lâu ta còn quan sát thấy sự thiếu
trọn vẹn ở một người khác, thì bấy lâu ta còn tự đánh
mất khả năng học hỏi từ người đó. Hãy nhớ rằng, mỗi
loài đều mang trong mình tia sáng của Phật quả, thế nhưng
khi ta chú ý đến sai trái của người khác thì ta tự đánh
mất ánh sáng toát ra từ người đó, thông qua người đó
mà đến với ta, dù cường độ của nó có khác nhau giữa
người này người kia.
Hiển
nhiên khi tìm một vị đạo sư ta phải tìm người đáng tin
cậy; nhưng khi đã tìm ra người đó, ta phải xem tất cả
những gì mà thầy dạy cho ta đều là ơn phước của Phật
cả. Ta không xem lời nói của thầy từ thầy mà ra, mà là
tiếng của Phật, đáng được tôn quí. Khi con cúi đầu trước
thầy, không phải con tôn thờ xác thân có hạn mà thờ Phật,
tôn quí vị đạo sư vĩnh cửu, người đã truyền chánh pháp
thông qua ngôn từ của một người thầy mang nhân trạng, đó
là một đơn vị sinh động trong một chuỗi những vị nhập
dòng, người truyền pháp từ thầy qua trò, từ thuở của
Thích-Ca Mâu-Ni cho đến ngày hôm nay. Những người truyền
giáo pháp chính là bình chứa và nếu họ thông hiểu và tự
chứng thực thì họ chính là hiện thân của pháp.
Cái
làm nên vị đạo sư không phải là trình độ tâm linh, chẳng
phải thân thể, chẳng phải ngôn từ mà chính là thực tại,
cái tuệ giác, thứ ánh sáng nằm trong người đó. Người
đó càng chứa nhiều thứ đó, khi thứ đó càng sinh động,
thì hình dạng lẫn hành động người đó càng phù hợp với
nó, người học trò càng dễ nhận ra vị Phật trong thầy
mình. Vì thế mà học trò hết sức cẩn trọng trong việc
lựa đạo sư cho mình; cũng như thế, mà htầy lựa trò cho
mình.
Thế
nhưng ta không bao giờ quên rằng, trong mỗi con người có một
tâm bồ đề luôn luôn hiện diện (vì thế mà tôi hay gọi
“tia chớp” của tâm giác ngộ thay vì gọi tư tưởng giác
ngộ, tia chớp đó sinh ra khi tiềm năng này trở thành ý thức)
và chỉ sự mù quáng của chính ta ngăn trở mình nhận rra
nó. Ta càng bất toàn thì càng có khuynh hướng thấy sai trái
nơi người khác, trong lúc những người đã đạt tri kiến
sâu xa thì lại thông qua những sai trái đó mà thấy tự tính
của mọi loài khác. Thế nên những người vĩ đại nhất
cũng là người thấy cái linh thể nơi người khác, là người
luôn luôn tôn kính cả những người tầm thường nhất.
Bao
lâu ta coi khinh mọi người, xem người là thấp kém, bấy lâu
ta không có tiến bộ. Vì thế khi ta hiểu rằng, mình sống
đúng trong thế giới xứng đáng cho mình, ta sẽ cảm nhận
sai trái của mọi người là của chính mình – dù nó có xuất
hiện không trực tiếp từ nơi ta mà ra. Đó chính là nghiệp
của mình phải sống trong thế giới bất toàn này, nó cho
cùng thì thế giới này là do ta tự tạo. Chỉ có thái độ
đó mới giúp ta vượt được khó khăn của mình, vì nó thay
sự phủ định vô bổ bằng một năng lực tích cực để
tới sự hoàn thiện, nó không những làm cho ta xứng đáng
với một thế giới tốt đẹp hơn, mà còn đưa ta trở thành
người tạo tác cho sự sáng tạo đó”.
Sau
đó vị đạo sư tiếp tục giải thích các điều kiện tâm
linh tiên quyết và các phép thiền định để tạo nên được
thái độ tích cực và sáng tạo đó. Lòng từ bi thương người
– không phải chỉ biết đau khổ theo người mà cũng biết
vui sướng cùng người – đối với tất cả loài hữu tình,
theo ông là sự chuẩn bị đầu tiên cho phép thiền định
vì nó sẽ loại bỏ những giới hạn thuộc về cảm tính
và tư duy do ta tự tạo. Muốn được thái độ này ta phải
biết xem mọi loài là mẹ đẻ hay con ruột của chính mình
– trong vũ trụ này không có sinh vật nào mà không từng là
bà con ruột thịt với ta trong vô lượng kiếp. Để biết
quý từng khoảnh khắc của đời sống, ta cần luôn tâm niệm
rằng, mỗi một chớp mắt có thể là giây phút cuối của
đời mình, không dễ gì có lại. Ngoài ra ông chỉ thêm rằng,
những gì ta biết về thiền định qua sách vở không hề so
sánh được với sự chứng thực trực tiếp và với tác dụng
tâm linh của đạo sư, miễn là ta biết thành tâm rộng mở
tấm lòng với ông.
Vì
thế mà trong Bồ Đè hành kinh[12] có đoạn: “Khi tư tưởng
giác ngộ đã bắt rễ thì kẻ khổ đau bị trói buộc trong
tù ngục của đời sống trở thành con đẻ của sự giác
ngộ, được trời và người tôn kính. Khi tư tưởng này đã
chiếm thân bất tịnh của người đó thì nó sẽ biến thân
đó thành viên ngọc cao quý của một vị Phật. Vì thế hãy
tới với thứ nước cam lồ đó,nó có thể chuyển hóa tuyệt
diệu và mang tên là tâm bồ đề”.
ĐIỂM
ĐẠO
Thật
may mắn cho tôi không những được chuẩn bị bởi sự dạy
dỗ kiên trì của Katschenla mà còn được một người bạn
là một vị lạt ma Mông Cổ biết Anh ngữ, đã giúp tôi học
hỏi kinh sách Tây Tạng, bù lại tôi chỉ cho ông tiếng Pali
và thêm Anh văn. Ông đã học tập hai mươi năm trong một tu
viện đại học gần Lhasa, đạt được học vị Géché và
về sau cùng làm việc với nhà Đông phương học Stael-Holstein
tại Bắc Kinh. Tên ông là Tubden Scherab, nhưng thường ông được
gọi là “Géchéla”.
Nhờ
ông làm thông dịch mà tôi không gặp khó khăn gì để hiểu
giáo pháp của đạo sư và trao đổi riêng với ông, mặc dù
– tôi sớm biết – vị đạo sư không cần đến thông dịch
viên vì ông đọc tư tưởng của tôi như đọc một cuốn
sách đang mở. Vì biết tôi đã dành phần lớn thời gian trưởng
thành của mình để nghiên cứu Phật giáo, ông không phí giờ
mà giảng cho tôi những giáo lý tổng quát nữa mà đến ngay
với đề tài của phép tu thiền định, điều đối với ông
hệ trọng hơn mọi ý kiến thức lý thuyết. Đối với tôi,
điều này từ xưa đến nay chính là khía cạnh chủ yếu của
đạo Phật cũng như đời sống tôn giáo.
Tới
nay thì tôi dựa vào trực giác của riêng mình và các khai
thị trong hệ Pali về việc hành trì thiền định, nhất là
kinh Tứ Niệm Xứ [13](thời đó được phổ biến không phải
theo phương pháp mới mà theo cách đơn điệu của trường
phái Mynamar). Vì thế mà tôi hết sức quan tâm được đưa
vào các phương pháp truyền thống, từng bước đi sâu vào
sự chứng thực thiền định.
Trong
ngày mà Tomo Géché Rimpotsché chính thức nhận tôi làm đệ
tử và quán đỉnh cho tôi bằng một buổi lễ điểm đạo,
trong đó tôi nhận được thần chú đầu tiên của mình, thì
một điều quan trọng trở nên rõ ràng, điều mà tôi chưa
có trong cuộc đời tôn giáo của mình. Đó là một biến cố
tâm linh, nó không cần bất cứ triết lý hay lý luận phải
trái gì vì nó không hề dựa trên sự hiểu biết lý thuyết
mà là những sự thực xảy ra và sự chứng nghiệm trực tiếp
và nhờ đó mà tôi chắc rằng, mục đích mình theo đuổi
không phải là một ý niệm trừu tượng do đầu óc hư cấu
ra, mà là tình trạng ý thức có thể đạt tới thực, một
thực tại có thể nắm bắt.
Thế
nhưng biến cố đã cho thấy thực tại có thể nắm bắt này
lại quá tinh tế, vượt qua mọi so sánh, nên sự mô tả quá
trình điểm đạo và những biến cố trong đó sẽ hết sức
thiếu sót như ta tìm cách mô tả cảm thụ âm nhạc bằng
ngôn từ. Đúng là sự mô tả chi tiết kỹ thuật và những
cái gọi là “khách quan” sẽ hủy hoại cái chủ yếu, tính
chất xúc cảm và nội dung đích thực của sự cảm thụ,
vì sự “cảm xúc” trong nghĩa đích thực chính là cái làm
tâm ta lay động, đào sâu, đánh thức nó, đưa lên một đời
sống cao hơn, tới một khả năng nhận biết rộng hơn. Biểu
hiện cao nhất của điều này là sự giác ngộ, sự chứng
thực tự tính ánh sáng của ta, đồng thời đưa tới sự
vận động tự tại, vô ngại, thanh tịnh nhưng lại bất động
của tâm là vô minh – dù chúng ta do loại tư tưởng khái
niệm, tham muốn hay bám giữ tạo ra. Sự bất động lại không
đồng nghĩa với cái dừng chết, không có nghĩa kềm lại
tư tưởng mà là dòng tâm thức không bị cản trở bởi những
khái niệm tự tạo và ước muốn ích kỷ hay dòng chảy tự
nhiên của nó bị chia cắt ra từng phần với hy vọng phân
tích tìm hiểu nó. Điều này không có nghĩa là ta phải từ
bỏ mọi tư duy khái niệm – đó là điều bất khả – mà
đừng lạc lối trong đó để trở thành nô lệ của nó.
Cũng
như từng âm thanh của một tiết điệu tự nó không mang ý
nghĩa gì, nó chỉ có nghĩa trong mối liên hệ với những âm
trước nó và sau nó – chúng là thời khắc của một sự
vận động đầy ý nghĩa sinh động, không bị ngăn chận,
những âm thanh đó cũng như bản thân tiết điệu không bị
phá hủy; cũng tương tự như thế mà ta không thể tách những
khái niệm hay biến cố đơn lẻ ra khỏi khung cảnh hay dòng
chảy của tư tưởng hay cảm xúc được biến cố của lễ
điểm đạo, tìm cách hiểu nó bằng khái niệm và suy luận
thì ta chỉ có những phần tử chết trong tay chứ không phải
“sợi dây tâm thức”, cái làm cho chúng có sức sống. “Sợi
dây tâm thức’ này được người Tây Tạng gọi là dam-ts'hig.
Đó là mối liên hệ nội tại giữa thầy với trò (cũng như
mối liên hệ giữa những cái thiêng liêng và con người –
dù nó xuất hiện dưới bất kỳ dạng nào), biểu thị sự
vận động nội tại và chứng thực mà trên đó mối liên
hệ được xây dựng.
Quá
trình của lễ điểm đạo không chứa đựng điều gì bí
ẩn, nhưng nó không thể trao truyền vì mỗi người phải tự
nếm trải. Khi cố trình bày những điều vượt quá ngôn từ,
ta chỉ kéo những điều thiêng liêng hạ xuống mức tầm thường,
đánh mất cái “sợi dây” đó và không lợi gì cho ai. Với
lời nói, ta chỉ hủy phá cái nhiệm mầu, cái thanh tịnh và
sự hồn nhiên của tâm tư nội tại mình cũng như làm mất
lòng kính sợ vốn là chìa khóa cổng đền cho sự mở hiện.
Như bí ẩn của tình yêu chỉ có thể nẩy nở khi vắng bóng
đám đông cũng như những kẻ yêu nhau không ai thảo luận
tình yêu với người ngoài cuộc; thì cũng như thế, sự kỳ
diệu của chuyển hóa nội tâm chỉ xảy ra khi những năn g
lực bí ẩn của nó nằm ngoài mắt nhìn tầm thường và phiếm
luận vô bổ của thiên hạ.
Điều
có thể trao truyền được chỉ là kinh nghiệm thuộc về lĩnh
vực của ý thức thông thường; và ngoài ra là kết quả và
kết luận của những kinh nghiệm đó hay là những giáo pháp
tập hợp những chứng thực qua nhiều thế hệ hay qua các
vị thầy. Trong một tác phẩm trước đ