PHẦN
PHỤ LỤC
PHỤ
LỤC 1
PHƯƠNG
PHÁP YOGA
VỀ
HERUKA VAJRASATTVA VINH QUANG TỐI THƯỢNG(23)
Quy
y
(Đọc
tụng ba lần :)
Vĩnh
viễn, con quy y vào Phật, Pháp, Tăng và vào Tăng đoàn của
ba thừa, những daka và dakini của yoga mật chú, những anh hùng
nam và nữ, chư thiên nam nữ, chư bồ tát và đặc biệt vào
guru của con.
Phát
Bồ đề tâm
(Đọc
tụng ba lần :)
Tôi
phải trở thành Heruka để dẫn dắt tất cả chúng sanh đến
trạng thái Heruka-tánh cao cả.
(Thiền
định cái bình : Tập thở chín vòng)
Quán
tưởng Heruka Vajrasattva
Từ
cái không, khoảng một tấc rưỡi trên đỉnh đầu tôi, xuất
hiện chủng tự PAM, nó chuyển hóa thành một hoa sen ngàn cánh.
Trên đỉnh hoa sen xuất hiện chủng tự AH, nó chuyển hóa
thành một dĩa mặt trăng. Trong trung tâm dĩa mặt trăng có
chủng tự HUM. Đột nhiên, chữ HUM chuyển hóa thành một chày
kim cương năm chỉa với một chữ HUM ở trung tâm. Những ánh
sáng rực rỡ phóng ra từ chữ HUM và chày kim cương, đến
khắp mười phương và hoàn thành hai mục đích. Toàn vũ trụ
tan thành ánh sáng. Rồi ánh sáng này trở lại và thu vào trong
chữ HUM trong chày kim cương. Chữ HUM và chày kim cương cũng
tan vào ánh sáng và chuyển hóa thành Heruka Vajrasattva.
Vajrasattva
màu trắng. Ngài có một mặt và hai cánh tay. Ngài cầm một
chày kim cương trong tay phải và một cái chuông trong tay trái.
Ngài ngồi trong tư thế hoa sen toàn phần với hai tay trong ấn
ôm choàng. Phối ngẫu của ngài, Dorje Nyem-ma, ôm ngài, hai chân
bà bao vòng thân ngài. Bà màu trắng, có một mặt và hai cánh
tay. Bà cầm một con dao cong trong tay phải và một chén sọ
người trong tay trái.
Cả
hai vị mặc áo lụa của trời và trang sức với châu báu.
(Cả hai có những chủng tự) OM ở luân xa đỉnh đầu, AH
ở luân xa cổ họng và HUM ở trái tim. Ánh sáng chói rực
từ chữ HUM ở tim phóng ra, cầu thỉnh năng lực trí huệ
thiêng liêng tối thượng của tất cả Như Lai.
Dâng
cúng Heruka Vajrasattva
OM
KHANDA ROHI HUM HUM PHAT (Rửa sạch đồ cúng)
OM
SVABHAVA SHUDDAH SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO HAM (Tịnh hóa chúng)
Tất
cả trống không. Một chủng tự AH xuất hiện từ cái không.
Nó biến thành một kapala lớn màu trắng chứa năm thứ thịt
và năm cam lồ. Chúng tan thành một đại dương năng lực cam
lồ của trí huệ thiêng liêng siêu việt.
(Chú
nguyện những đồ cúng bằng cách đọc ba lần :)
OM
AH HUM HA HO HRI
(Dâng
cúng chúng với :)
OM
VAJRASATTVA ARGHAM PRATICCHA HUM SVAHA
(OM
Vajrasattva, xin hãy nhận nước chúc mừng HUM SVAHA)
và
tương tự với PADYAM (nước rửa chân), PUSHPE (hoa), DHUPE (hương,
nhang), ALOKE (ánh sáng), GANDHE (hương) NAIVEDYA (thức ăn), và
SHABDA (âm thanh, nhạc) thay vào chỗ ARGHAM.
JAH
HUM BAM HOH
Trở
thành bất nhị.
Quán
đảnh bởi chư Phật của năm bộ
Lần
nữa ánh sáng rực rỡ phóng từ chữ HUM ở trái tim thiêng
liêng, cầu thỉnh tất cả hóa thần quán đảnh của năm bộ.
(Làm
những dâng cúng cho các ngài với :)
OM
PANCHA KULA SAPARIVARA ARGHAM… SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
“Tất
cả chư Như Lai, xin ban quán đảnh (Heruka Vajra-sattva) cho con.”
Theo lời thỉnh cầu này. Tất cả chư Như Lai cầm lên bình
quán đảnh của các ngài, đầy ắp năng lực cam lồ của
trí huệ thiêng liêng siêu việt, và cam lồ bắt đầu chảy
xuống. Khi thần chú OM SARVA TATHAGATA ABHISHEKATA SAMAYA SHRIYE HUM
được đọc, sự quán đảnh được ban cho.
Thân
thể thiêng liêng của trí huệ hoàn thiện tuyệt đối, Heruka
Vajrasattva, hoàn toàn đầy ắp năng lực cam lồ của trí huệ
đại lạc siêu việt. Một số cam lồ tràn ra và biến thành
Akshobhya, vị này trang hoàng cho đỉnh đầu ngài.
Chủng
tự HUM ở trung tâm dĩa mặt trăng ở trái tim thiêng liêng,
bao vòng quanh bởi thần chú một trăm âm (ngược chiều kim
đồng hồ quanh viền dĩa mặt trăng).
Những
dâng cúng cho Heruka Vajrasattva
OM
VAJRASATTVA ARGHAM… SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
OM
VAJRASATTVA OM AH HUM
Tán
than
Con
đảnh lễ trí huệ thiêng liêng bất nhị, đồ trang sức châu
báu rực rỡ bên trong của tất cả chúng sanh là mẹ ; đại
lạc tối thượng, bất biến, vĩnh cửu ; tâm trí huệ bất
hoại lộng lẫy giải thoát cho tất cả chúng sanh khỏi tất
cả bất thiện của thân, ngữ và tâm, đặc biệt là những
thệ nguyện cam kết bị hư hỏng.
Cúng
dường mạn đà la
(Tùy
ý lựa chọn : mạn đà la dài)
OM
VAJRA-BHUMI AH HUM ! Đất vàng quyền uy / OM VAJRA-REKHE AH HUM !
Bên ngoài, tường vách chu vi bao vòng, ở trung tâm là núi Tu
Di, vua của các núi / châu phía Đông, Videha / châu phía Nam,
Jambudvipa / châu phía Tây, Godaniya / châu phía Bắc, Kuru / (những
lục địa phụ) Deha và Videha / (phía nam) Camara và Apara-camara
/ (phía tây) Shatha và Uttaraman-trin / (và phía bắc) Kuru và Kauvara
/ (Trong bốn châu :) núi quý báu / cây ban cho điều muốn /
con bò đáp ứng nguyện vọng / mùa màng không phải canh tác
/ (trên tầng thứ nhất của Núi Tu Di :) Bánh xe quý báu / Ngọc
quý báu / Hoàng Hậu quý báu / Tể Tướng quý báu / Voi quý
báu / Ngựa quý báu / Tướng quý báu / Cái Bình của Kho Tàng
vĩ đại / (trên tầng thứ hai : tám thiên nữ,) Nữ Thần của
sự Duyên dáng / Nữ Thần Tràng Hoa / Nữ Thần Bài Ca / Nữ
Thần Khiêu Vũ / Nữ Thần Hoa / Nữ Thần Hương / Nữ Thần
Đèn / Nữ Thần Hương Thơm / (trên tầng thứ ba :) mặt trời
/ mặt trăng / lọng báu / cờ phướn chiến thắng ở mọi
góc / Ở trung tâm, những giàu có hoàn hảo nhất của chư
thiên và loài người, không thiếu sót thứ gì, thanh tịnh
và hân hoan / Con dâng cúng tất cả những thứ ấy như là
một cõi Phật đến bổn sư và các guru truyền dòng rất đỗi
từ ái, vinh quang và linh thánh / và đặc biệt đến Guru Vajrasattva
bổn tôn // Xin hãy chấp nhận chúng với lòng bi mẫn vì chúng
sanh luân lạc. Đã nhận chúng rồi, xin ban sự cảm ứng của
các ngài cho con và tất cả chúng sanh luân lạc là mẹ khắp
cả không gian từ lòng đại bi của các ngài.
(Tùy
ý lựa chọn : mạn đà la ngắn)
Đất
này tẩm ướp hương thơm, rải rắc bằng hoa,
Trang
hoàng với núi Tu Di, bốn châu, mặt trời và mặt trăng,
Con
dâng cúng trong quán tưởng như cõi chư Phật.
Nguyện
tất cả chúng sanh thọ hưởng tịnh độ này như vậy.
Mạn
đà la bí mật
Chánh
kiến về tánh Không là một với trí huệ của đại lạc.
Trí huệ này chuyển hóa thành núi Tu Di, mặt trời, mặt trăng,
và mọi hiện tượng khác trong vũ trụ. Con dâng cúng tất
cả những thứ tráng lệ cho ngài, đại dương của đại từ,
bậc giải thoát và giải thoát cho muôn loài.
Mạn
đà la bên trong
Xin
ban phước cho con và tất cả chúng sanh để được giải thoát
tức thời khỏi ba độc, để con dâng cúng không mảy may ngần
ngại hay bám luyến tất cả những đối tượng của tham,
sân, si của con ; bạn bè, kẻ thù, và người xa lạ ; và thân
thể con và tất cả tài sản của con. Xin chấp nhận tất
cả những thứ này.
IDAM
GURU RATNA MANDALAKAM NIRYATAYAMI
Tịnh
hóa
“Thế
Tôn Vajrasattva, xin tịnh hóa mọi bất thiện và những thệ
nguyện bị hư hoại của chính con và tất cả chúng sanh.”
Vì
lời thỉnh cầu này, ánh sáng rực rỡ phóng ra từ chuỗi
thần chú và chữ HUM ở trái tim thiêng liêng. Nó tịnh hóa
mọi bất thiện và che chướng của tất cả chúng sanh và
trở thành một đồ dâng cúng cho tất cả chư Phật chư Bồ
tát. Tinh túy của những phẩm tính toàn thiện của thân, ngữ,
tâm linh thánh của các ngài trở lại thành ánh sáng, ánh sáng
này tan vào chữ HUM và chuỗi thần chú.
(Từ
chữ HUM và chuỗi thần chú) một dòng năng lực cam lồ lạc
phúc màu trắng bắt đầu chảy xuống qua những luân xa của
cặp đôi thiêng liêng. Nó chảy qua luân xa của sự kết hợp
và đi vào luân xa đỉnh đầu của tôi. Dòng cam lồ của trí
huệ siêu việt này tràn đầy toàn thân tôi, phá hủy mọi
bất thiện và che chướng của thân, ngữ, tâm của tôi. Những
cái ấy hoàn toàn được tịnh hóa.
Trì
tụng thần chú
OM
VAJRA HERUKA SAMAYAM ANUPALAYA. HERUKA TENOPATISHTHA. DRIDHO ME BHAVA,
SUTOSHYO ME BHAVA, SUPOSHYO ME BHAVA, ANURAKTO ME BHAVA, SARVA SIDDHIM
ME PRAYACCHA, SARVA KARMA SUCHA ME CHITTAM SHREYAH KURU, HUM ! HA HA HA
HA HOH ! BHAGAVAN VAJRA HERUKA MA ME MUNCHA, HERUKA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA
AH HUM PHAT !
Những
dâng cúng và tán than
OM
VAJRASATTVA ARGHAM… SHABDA PRATICCHA HUM SVAHA
OM
VAJRASATTVA OM AH HUM
Trí
huệ bất nhị thiêng liêng, châu báu trang sức lộng lẫy bên
trong của tất cả chúng sanh hữu tình là mẹ ; đại lạc
tối thượng bất biến thường tồn ; tâm trí huệ tráng lệ
bất hoại giải thoát cho tất cả chúng sanh khỏi mọi bất
thiện của thân, ngữ, tâm, đặc biệt cho những thệ nguyện
và cam kết bị hư hoại : con xin đảnh lễ ngài.
Quy
y Heruka Vajrasattva
Bởi
vô minh và mê lầm, con đã làm hư hoại những cam kết của
con. Hỡi Guru thiêng liêng, bậc có thần lực để giải thoát
cho con, bậc đạo sư bên trong của con, bậc cầm giữ kim cương,
bậc mà tinh túy là đại bi vô ngại, Đấng của tất cả
chúng sanh luân lạc, con quy y ngài.
Hòa
tan
Vajrasattva
nói, “Thiện nam tử (hay thiện nữ nhân), những bất thiện
và che chướng và những cam kết bị hư hoại của con đã
được tẩy sạch và tịnh hóa.” Bấy giờ ngài hòa tan vào
trong tôi. Ba cửa (thân, ngữ, tâm) của tôi trở thành một,
không tách lìa với thân, ngữ, tâm thiêng liêng của Vajrasattva.
Hồi
hướng
Nhờ
công đức này, nguyện tôi nhanh chóng trở thành Heruka Vajrasattva
và dẫn dắt mỗi chúng sanh vào cảnh giới giác ngộ thiêng
liêng.
Lời
bạt
Vì
sự thỉnh cầu khuyến khích từ nhiều người Tây phương
thông tuệ cần đến một bản văn sadhana thực hành Vajrasattva
để tẩy trừ những chướng ngại và làm lợi cho những giai
đoạn của con đường và là một sơ khởi cho thiền định
về hai giai đoạn (của tantra yoga tối thượng) một người
được gọi là Muni Jnana (Thubten Yeshe) đã viết bản văn này
như một đoạn trừ khẩn cấp mê lầm, thế nên người ấy
cầu xin tha thứ.
PHỤ
LỤC 2
DỊCH
VÀ GIẢI THÍCH
THẦN
CHÚ MỘT TRĂM ÂM
OM
VAJRA HERUKA SAMAYAM ANUPALAYA. HERUKA TENOPATISHTHA. DRIDHO ME BHAVA,
SUTOSHYO ME BHAVA, SUPOSHYO ME BHAVA, ANURAKTO ME BHAVA, SARVA SIDDHIM
ME PRAYACCHA, SARVA KARMA SUCHA ME CHITTAM SHREYAH KURU, HUM ! HA HA HA
HA HOH ! BHAGAVAN VAJRA HERUKA MA ME MUNCHA, HERUKA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA
AH HUM PHAT !
OM
là chủng tự được tượng trưng cho thân kim cương thiêng
liêng, đó là thân linh thánh của một bậc giác ngộ. Thân
kim cương là sự kết hợp nhất thể với ngữ kim cương và
tâm kim cương thiêng liêng. Hiện giờ thân, ngữ, tâm của
bạn vận hành một cách riêng lẻ, nhưng khi bạn đạt đến
trạng thái giác ngộ của Heruka Vajrasattva thì thân ngữ tâm
thiêng liêng của bạn sẽ vận hành đồng thời, đồng bộ.
VAJRA
HERUKA. Năng lực thanh tịnh, tinh khiết của trí huệ bất hoại
thiêng liêng của tâm phúc lạc sâu thẳm nhất, vĩ đại nhất,
nó bao trùm tất cả hiện tượng.
SAMAYAM.
Trong một lễ quán đảnh nhập môn, bạn phát ra lời danh dự
thiêng liêng nguyện giữ gìn những thệ nguyện và cam kết
của bạn được thanh tịnh, thì một năng lực vi tế được
phát sanh trong tâm thức bạn và trong hệ thống thần kinh bên
trong của bạn. Năng lực này tự động giải phóng bạn khỏi
cái xấu xa tiêu cực. Đây là ý nghĩa của samaya. Nó chính
là cái ngược lại với những lời hứa nửa vời người
ta thường làm ; những lời hứa quá dễ dàng bị phá vỡ.
Nơi nào có samaya của bạn, bạn chớ nên viện cớ biện minh,
thậm chí với cái giá của cuộc đời bạn.
ANUPALAYA.
Thần lực của lòng từ thiêng liêng, nó đưa bạn đến hạnh
phúc vĩnh cửu.
HERUKA
TENOPATISHTHA. Heruka tráng lệ, xin khắng khít trong lòng con.
DRIDHO.
Bất hoại, vĩnh cửu, không bao giờ biến đổi.
ME
BHAVA. Xin ban cho con trí huệ thiêng liêng bất hoại của sự
chứng ngộ chân tánh tuyệt đối của chính con và tất cả
hiện tượng vũ trụ.
SUTOSHYO
ME BHAVA. Vajrasattva, qua sự khăng khít với con, xin hãy ban cho
con trí huệ vĩ đại, hoan hỷ thiêng liêng, trí huệ ấy đem
lại đại lạc.
SUPOSHYO
ME BHAVA. Nguyện năng lực phúc lạc này khai triển hoàn toàn
trong lòng con.
ANURAKTO
ME BHAVA. Nguyện con được ảnh hưởng bởi sự dính kết thiêng
liêng, phản chiếu của trí huệ bi mẫn, nó rốt ráo vượt
khỏi nhị nguyên.
SARVA
SIDDHIM ME PRAYACCHA. Xin ban cho con trọn vẹn tất cả mọi chứng
ngộ tráng lệ.
SARVA
KARMA SUCHA ME. Xin ban cho con tất cả mọi hoạt động trí huệ
thiêng liêng của Vajrasattva.
CHITTAM
SHREYAH KURU. Mong rằng trí huệ thiêng liêng tráng lệ của ngài
vận hành trong lòng con.
HUM.
Chủng tử tự tượng trưng bản tánh của lòng kim cương thiêng
liêng, trí huệ phúc lạc thiêng liêng vĩ đại nhất.
HA
HA HA HA HOH. Năm âm này tượng trưng năm trí huệ của năm
Thiền Phật (ngũ trí Như Lai).
BHAGAVAN.
Bậc Thế Tôn, bậc Giác Ngộ.
VAJRA
HERUKA. Trí huệ phúc lạc bất hoại vĩ đại tối thượng.
MA
ME MUNCHA. Xin chớ bỏ con.
HERUKA
BHAVA. Xin hãy an trụ bất hoại trong lòng con, do sự giữ gìn
samaya bất hoại của con, như ngài cầm giữ kim cương bất
hoại.
MAHA.
Lớn nhất.
SAMAYA.
Như trên.
SATTVA.
Tư tưởng trí huệ thiêng liêng.
AH.
Chủng tử tự tượng trưng ngữ kim cương thiêng liêng.
HUM.
Như trên.
PHAT
! Hãy phá hủy mọi phóng dật tiêu cực !
PHỤ
LỤC 3
THẦN
CHÚ MỘT TRĂM ÂM
(ÂM
TÂY TẠNG)
Với
các hành giả chưa được nhận lễ quán đảnh Heruka Vajrasattva,
khi thực hành Tịnh hóa, xin đọc bài Thần Chú Một Trăm Âm
(âm Tây Tạng) sau :
OM
BENZA SATOA, SAMAYA MANU PALAYA, BENZA SATOA, TENO PATISTA, DRIDO ME PHAVA,
SUTO KAYO ME PHAVA, SUPO KAYO ME PHAVA, ANU RAKTO ME PHAVA, SARVA SIDI
ME PRA YACHA, SARVA KARMA SUCHA ME CHI TAN SRIYAN KU RU, HUNG HA HA HA
HA HO, PHAGAVAN SARVA TATHAGATA, BENZA MA ME MUNCHA, BENZI PHAVA, MAHA
SAMAYA SATOA A.
CHÚ
THÍCH
1.
Xem Giải thoát trong lòng Bàn Tay Bạn. (bốn năng lực chống
lại) và (nghiệp).
2.
Xem Lạc của Lửa Bên Trong của Lama Yeshe, gồm những chỉ
dạy của ngài về tum-mo từ Sáu yoga của Naropa.
3.
Năm 1981-82 Lama Yeshe sửa soạn mẻ đầu tiên các viên thuốc
chu-len theo những thể thức truyền thống, dùng những nguyên
liệu tự nhiên cực kỳ giá trị có diễn tả chi tiết trong
một cuốn sách nhỏ xuất bản bởi nhà xuất bản Wisdom vào
lúc đó. Những viên thuốc được ban phước gia bị bằng
trì tụng một triệu thần chú Heruka Vajrasattva. Mùa hè 1982,
năm mươi học trò Pháp từ khắp thế giới đã dùng những
viên thuốc này dưới sự lãnh đạo của đại thiền giả
quá cố Geshe Jampa Wangdu và làm những cuộc nhập thất thành
công ở Trung Tâm Ẩn Cư Tushita, Dharamsala, Ấn Độ, chứng
minh sự thực hành này không chỉ dành riêng cho những người
Tây Tạng nữa. Những cuộc nhập thất ngắn ngày này vẫn
còn được hướng dẫn ở một số trung tâm FPMT, dùng những
viên thuốc được làm ở Viện Y Học và Chiêm Tinh Học Tây
Tạng ở Dharamsala
4.
Xem Giới Thiệu vào Tantra.
5.
Xem phụ lục 2, bản dịch và giải nghĩa thần chú này. Xin
xem thêm phụ lục 3, về phương pháp sử dụng thần chú này.
6.
Xem Phương Pháp Trực Tiếp và Không Sai Lầm của Lama Zopa về
những giáo huấn đầy đủ về nhận lãnh những điều luật.
7.
Một số người cũng đặt một torma thứ tư trong chén cúng
tượng trưng sự dâng cúng thức ăn. Nếu không, chén này có
thể chứa một số thức ăn khác hay nước. Dầu nó chứa
gì cũng được dâng cúng mỗi ngày. Lama Zopa Rinpoche nhấn mạnh
rằng những thức ăn khác có thể thay thế cho những bánh
torma truyền thống, như Lama Yeshe đã nói. Có nhiều biến thái
trong những phẩm vật nghi lễ này, và các bạn nên hỏi lama
của bạn để biết cần làm gì.
8.
Một cách gọn để ban phước, gia bị torma là như sau : Trước
hết tụng HA HO HRI ba lần với hai bàn tay bắt đúng ấn, bàn
tay trái trên tay phải, mở ra, đối diện nhau, ngón tay chỉ
thẳng. Với sự trì tụng này, tất cả lỗi lầm về màu
sắc, hương, vị và tiềm năng đều được tịnh hóa, và
torma trở thành cam lồ phúc lạc. Rồi trì tụng OM AH HUM ba
lần. Cam lồ tăng trưởng lớn rộng và được ban phước.
Hãy quán tưởng nó trở thành vô tận. Sau đó, làm sự cúng
dường bên ngoài : OM VAJRASATTVA ARGHAM… SHABTA PRATICCHA HUM SVAHA.
Cuối cùng, tụng đọc tán thán Nyi-me-ye-she… từ bài sadhana,
thay thế …ch’ak-s’ašl-toš (tôn kính và tán thán) bằng
…la-ch’al-ts’ašl trong dòng cuối. Với một nghi lễ ban phước
dài hơn, bạn có thể thực hiện sự cúng dường bên trong,
chẳng hạn từ sadhana Vajrayogini, hay sự ban phước của Heruka
Vajrasattva tsok như đã giải thích trong phần 4 của cuốn sách
này.
9.
Geshe Tsulga, đại học Phật học viện Sera-je (và là thầy
dạy thường trực ở trung tâm EPMT bờ biển phía đông Hoa
Kỳ) giải thích rằng bạn có thể dâng cúng torma này mỗi
ngày, quán tưởng rằng bạn dâng cúng một phần “tươi mới”
của nó mỗi lần ; hay bạn có thể đặt một bánh bít-quy
hay thực phẩm khác với torma và cúng như là torma chính yếu
mỗi ngày. Thời gian tốt nhất để cúng torma là trong thời
chót của mỗi ngày. Sau khi trì tụng thần chú, trước lúc
dâng cúng và tán thán, hãy ban phước gia bị torma như trên
; rồi quán tưởng rằng những chữ HUM trên lưỡi của Heruka
Vajrasattva và Yum Nyem-ma Kar-mo chuyển hóa thành những ống rỗng
ánh sáng cầu vồng bề rộng bằng một hạt lúa mạch. Với
sự trì tụng thần chú OM VAJRASATTVA SAPARIVARA IDAM BALINTA KAKA
KAHI KAHI, những chữ ấy tỏa sáng đến torma và rút ra tinh
túy của nó là đại lạc. Rồi trở lại với sadhana.
10.
Hộ pháp đặc biệt là Mahakala Bốn Tay. Lý tưởng là bạn
dâng cúng torma này ba lần : một lần vào lúc bắt đầu nhập
thất, cái tiếp vào khoảng giữa, và cuối cùng, khi cuộc
nhập thất của bạn đã kết thúc lễ kang-soš (thành tựu
và phục hồi) Mahakala có thể được thực hiện khi bạn làm
sự cúng dường này.
11.
Lama Zopa Rinpoche nói rằng sự dâng cúng torma thứ ba này có
thể làm chỉ một lần, vào lúc bắt đầu nhập thất. Tuy
nhiên, nó cũng có thể được làm mỗi ngày, hay ba lần trong
kỳ nhập thất, cùng với kang-soš Mahakala, như ở trên.
12.
Xem Giải Thoát trong Lòng Bàn Tay Bạn về những lợi lạc của
việc cúng nước.
13.
Việc tương tự áp dụng cho lễ tsok puja Heruka Vajrasattva. Geshe
Tsulga nói rằng trong nhập thất, tốt nếu làm lễ tsok Heruka
Vajrasattva mỗi ngày, chừng nào nó không cản ngại bạn đạt
đến mục tiêu là một trăm ngàn thần chú. Bạn cần nhất
định làm lễ tsok đó vào ngày mười và hai mươi lăm mỗi
tháng Tây Tạng, là những ngày lễ tsok thường lệ.
14.
Geshe Tsulga giải thích rằng để có một tích tập hoàn hảo
và để nhận những ban phước gia bị của Heruka Vajrasattva
một cách nhanh chóng, mạnh mẽ và liên tục, bạn nên trì
tụng ye-she paš-nga. Sau khi bạn đã trì tụng xong một trăm
ngàn thần chú Vajrasattva, hãy trì tụng mười ngàn lần khác
(nghĩa là một phần mười của tổng số), thay thế những
chữ HA ANDZE SVAHA cho chữ PHAT ở cuối thần chú thường lệ.
Như thế, bây giờ nó chấm dứt là …SAMAYA SATTVA AH HUM HA
ANDZE SVAHA. Lễ puja Dorje Khadro bằng lửa có thể làm sau đó.
15.
Geshe Tsulga nói rằng bạn cần đến một trăm ngàn biến thần
chú và làm một puja lửa để đủ điều kiện cho một số
hoạt động, như những hoạt động được đề cập đến
trong một cẩm nang do lama Ngul-chu Dharmabhadra kết tập. Tự
quán đảnh là một ví dụ của các hoạt động đó. Dĩ nhiên,
bạn có thể làm một puja lửa với bất kỳ bao nhiêu biến
thần chú, nhưng nếu nó ít hơn một trăm ngàn biến, bạn
sẽ không đủ điều kiện để làm những hoạt động đặc
biệt ấy. Mỗi hóa thần của những hoạt động riêng (laš-tsok)
của vị ấy.
16.
Tây Tạng : tsa-me-nga ; nghĩa đen “năm cái không có sự chọn
lựa.” Nghĩa là bạn không có sự chọn lựa mà chỉ tái
sanh vào địa ngục khi cuộc đời trong đó bạn đã tạo ra
hành động ấy chấm dứt.
17.
Xem trang 268 trong đó Lama giải thích tại sao ngài đôi khi không
làm điều này.
18.
Đối tượng chánh cho sự quy y cũng có thể là Vajradhara, như
lama giải thích trong phần bình giảng chính.
19.
Xem chú thích 16 ở trên. Trong khi theo những hạn định chung,
năm tội ngũ nghịch là không thể sám hối, thì những phương
pháp đầy năng lực của tantra cho phép bạn tịnh hóa được
chúng.
20.
Xem thêm “Tọa cụ ngồi thiền,” trang 146 và trang 265 chỗ
Lama giải thích làm cách nào để tạo ra một chỗ ngồi thiền
có thể mang đi được.
21.
Lama Yeshe đã tổ chức Kỷ Niệm Kinh Nghiệm Giác Ngộ (EEC)
đầu tiên, một tụ hội quốc tế những đệ tử Tây phương
của ngài ở Bodhgaya, Ấn Độ, vào năm 1982. Khóa sáu tháng
gồm những giảng dạy, quán đảnh và nhập thất này có hơn
hai trăm người học, với gần một trăm tăng và ni. Từ khi
Lama tịch, Lama Zopa Rinpoche đã tổ chức thêm hai khóa EEC, lần
thứ tư vào năm 1995-96.
22.
Buồn thay, đây quả thật là buổi nói chuyện cuối cùng của
Lama ở Viện Vajrapani. Dù nói thế, vài tháng sau, ở Nepal,
sức khỏe ngài xuống nhanh chóng, và ngài ra đi ở Los Angeles
ngày 1 tháng 3 năm 1984. Vài ngày sau, Lama được làm lễ trà
tỳ ở Vajrapani, nơi một cái tháp đẹp đẽ được dựng
lên để tưởng nhớ ngài.
23.
Bản dịch sadhana ở đây phối hợp bản dịch nguyên thủy
của Lama – nằm rải rác trong bài bình giảng – với bản
dịch của Martin Willson trong Heruka Vajrasattva : Sadhana và Lễ
Tiệc (NXB Wisdom, 1984), một bản dịch sát nghĩa bản văn Tây
Tạng của Lama.
THUẬT
NGỮ
Akshobhya
(TT : My-kyoš-pa, “Bất Động”). Một trong năm vị Phật Thiền,
năm vị đứng đầu của năm gia đình Phật. Ngài tượng trưng
các uẩn đã được thanh tịnh hoàn toàn. Akshobhya màu xanh,
tiêu biểu cho thức uẩn đã được thanh tịnh hoàn toàn, và
là chúa tể của gia đình kim cương.
ấn
(mudra). Nghĩa đen, dấu ấn, biểu tượng. Một cử chỉ tượng
trưng của bàn tay, có thần lực không khác với một thần
chú. Một phối ngẫu mật thừa.
Ba
la mật thừa (Paramitayana). Thừa Hoàn Thiện, Thừa Ba la mật
; một trong hai phần của Đại thừa. Đây là con đường tiệm
tiến đến giác ngộ trải qua thực hành sáu ba la mật, qua
mười địa bồ tát, trong vô số kiếp tái sanh trong sanh tử
luân hồi vì lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
bodhicitta
(bồ đề tâm). Quyết định vị tha đạt đến giác ngộ vì
mục đích duy nhất là làm cho tất cả chúng sanh giác ngộ.
bốn
loại tantra. Sự phân chia tantra thành kriya (hành động), carya
(thực hiện), yoga và anuttara yoga (yoga tối thượng).
cái
thấy nhị nguyên. Cái thấy vô minh đặc trưng của tâm thức
không giác ngộ trong đó mọi sự được quan niệm một cách
sai lầm là có sự tự hiện hữu cụ thể. Với một cái nhìn
như vậy, hình tướng xuất hiện của một đối tượng bị
trộn lẫn với hình ảnh sai lầm của sự hiện hữu độc
lập hay tự hữu của nó, bởi thế dẫn đến những cái thấy
nhị nguyên hơn nữa về chủ thể và đối tượng, ta và cái
khác, đây và kia…
chakra
(luân xa). Bánh xe năng lực. Một điểm tập trung năng lực
trên kinh mạch trung ương (shushuma) mà sự tập trung của người
ta hướng đến, đặc biệt trong giai đoạn thành tựu của
tantra yoga vô thượng. Những luân xa chính yếu là đỉnh đầu,
yết hầu, trái tim, rốn và bí mật.
chu-len.
Nghĩa đen, “lấy tinh túy.” Những viên thuốc chu-len được
làm bằng những chất liệu tinh túy ; chỉ dùng một ít viên
mỗi ngày, những thiền giả thành tựu có thể duy trì nhập
thất hàng tháng hay hàng năm mà không phải dựa vào thức
ăn thường.
chủng
tử tự. Trong những quán tưởng mật thừa, một chữ tiếng
Sanskrit khởi lên từ tánh Không và từ chữ ấy hóa thần
thiền định khởi lên tiếp theo. Một chữ đơn đại diện
toàn bộ thần chú của một hóa thần.
con
đường thứ bậc (TT : lam-rim). Một trình bày những giáo lý
của Phật Thích Ca Mâu Ni theo một hình thức thích hợp tu
hành từng bước một cho một người đệ tử. Lam-rim được
lập thành trước tiên bởi đại đạo sư Ấn Độ Atisha (Dipankara
Shrijnana 982-1055) khi ngài đến Tây Tạng vào năm 1042.
cúng
dường bên trong (TT : nang-choš). Một lễ cúng dường mật
thừa mà nền tảng để chuyển hóa của nó là năm uẩn của
người ta được quán tưởng là năm món thịt và năm thứ
cam lồ. Khi thần chú cúng dường bên trong tương ứng với
một hóa thần riêng biệt được trì tụng (ví dụ trong những
thực hành liên hệ với Heruka thì thần chú là OM KHANDA ROHI
HUM HUM PHAT), nền tảng được tịnh hóa, chuyển hóa và làm
trang nghiêm bằng thần chú, ấn và tập trung. Sự hỗ trợ
bên ngoài của thiền định này thường là một viên thuốc
cúng dường bên trong được ban phước (nang-choš ril-bu) hòa
tan trong trà đen hay rượu.
daka
(Skt : kha-dro). Nghĩa đen, một “người đi trên trời.” Một
sinh thể nam giúp cho khởi sanh năng lực phúc lạc trong một
hành giả mật thừa lão luyện.
dakini
(Skt : kha-dro-ma). Nghĩa đen, một “người nữ đi trên trời.”
Một sinh thể nữ giúp đỡ làm cho khởi sanh năng lực phúc
lạc trong một hành giả mật thừa lão luyện.
Dorje
Khadro (Skt : Vajradaka). Một hóa thần tác động để tịnh hóa
những xấu xa tiêu cực qua lễ puja lửa đặc biệt của ngài.
Geluk.
Dòng phái Đức Hạnh. Dòng phái của Phật giáo Tây Tạng do
Lama Tsong Khapa và các đệ tử của ngài sáng lập vào đầu
thế kỷ mười lăm.
giai
đoạn phát sanh (TT : kye-rim). Giai đoạn đầu trong hai giai đoạn
của tantra yoga tối thượng, trong đó người ta trau dồi hình
tướng rõ ràng, trong sáng và kiêu hãnh thiêng liêng của hóa
thần thiền định đã chọn của mình.
giai
đoạn thành tựu hay giai đoạn hoàn tất (TT : dzok-rim). Giai
đoạn thứ hai của hai giai đoạn thuộc tantra yoga tối thượng,
trong đó đạt được sự kiểm soát trên thân kim cương qua
những thực hành như lửa nội nhiệt.
giác
ngộ (Skt : bodhi). Thức tỉnh hoàn toàn ; Phật tánh. Mục tiêu
tối hậu của thực hành Phật giáo, đạt được khi tất
cả mọi giới hạn ngăn che đã được gỡ bỏ khỏi tâm thức
và tất cả mọi tiềm năng tích cực tốt đẹp đã được
thực hiện. Nó là một trạng thái đặc trưng bởi lòng bi,
thiện xảo và trí huệ đều vô giới hạn.
giọt,
hạt. Một bộ phận cấu thành của thân kim cương được
dùng trong sự phát sanh đại lạc. Trong hai loại, vào khi thụ
thai, những giọt đỏ được nhận từ mẹ và những giọt
trắng từ cha mình.
guru
(TT : lama). Một vị thầy, một người hướng dẫn tâm linh.
Người chỉ cho đệ tử con đường đến giải thoát và giác
ngộ. Trong mật thừa, vị thầy được xem là không tách lìa
với hóa thần thiền định và Tam Bảo.
guru
yoga. Sự thực hành căn bản của Mật thừa, nhờ đó guru
của người ta được thấy là đồng nhất với chư Phật,
với hóa thần thiền định của cá nhân mình, và với bản
tánh tinh túy của tâm thức mình.
Heruka
Chakrasamvara (TT : Korlo Dem-chog). Hóa thần thiền định nam trong
loại tantra “Mẹ” của tantra yoga tối thượng. Ngài là hóa
thần chính yếu nối kết với sự thực hành Heruka Vajrasattva
và là yi-dam (hóa thần thiền định bổn tôn) của Lama Yeshe.
kapala
(TT : toš-pa). Chén bằng sọ người, chẳng hạn cái chén bằng
sọ Yum Dorje Nyem-ma cầm.
kiêu
hãnh thiêng liêng. Sự tự tin mạnh mẽ rằng người ta đã
hoàn thành trạng thái của một hóa thần thiền định đặc
biệt.
kim
cương (Skt : vajra ; TT : dorje). Vũ khí thần diệu của vị trời
Indra (Đế Thích) làm bằng kim loại rất nhọn và cứng ; có
tính như kim cương. Một sấm sét. Một dụng cụ mật thừa
tượng trưng phương tiện (đại bi phúc lạc), cầm trong bàn
tay phải (phía thuộc về nam), thường phối hợp với một
cái chuông, tượng trưng cho trí huệ và được cầm trong bàn
tay trái (phía thuộc nữ).
Kim
Cương thừa (Vajrayana). Thừa kim cương ; cái thứ hai của hai
con đường Đại thừa. Cũng được gọi là Tantrayana (Mật
thừa) hay Mantrayana (Mật chú thừa). Đây là thừa nhanh nhất
của Phật giáo, vì nó cho phép những hành giả đạt đến
giác ngộ trong một đời.
kinh
mạch (Skt : nadi). Một bộ phận cấu thành của thân kim cương
qua đó năng lực những khí và giọt tuôn chảy. Kinh mạch
trung ương, phải, trái là ba kinh mạch chính. Tổng số có
72.000 kinh mạch tất cả.
kundalini.
Năng lực phúc lạc ngủ trong thân xác vật chất, khởi lên
qua thực hành mật thừa và dùng để làm phát sinh sự quán
chiếu thấu suốt vào bản tánh chân thật của thực tại.
lòng
bi (Skt : karuna). Ước muốn cho tất cả chúng sanh xa lìa khỏi
khổ đau tâm thức và vật chất của họ. Một tiền đề
cho sự phát triển Bồ đề tâm. Lòng bi được tượng trưng
bởi vị hóa thần để thiền định là Quán Thế Âm.
mahamudra
(TT : chag-chen). Cái ấn vĩ đại, đại ấn. Một hệ thống
sâu xa của thiền định về tâm thức và bản tánh tối hậu
của thực tại.
mạn
đà la (TT : khyil-khor). Một đồ hình tròn tượng trưng cho
toàn bộ vũ trụ. Chỗ ở của một hóa thần thiền định.
niết
bàn (nirvana ; TT : thar-pa). Trạng thái giải thoát hoàn toàn
khỏi sanh tử, mục tiêu của một hành giả tìm kiếm sự
tự do khỏi khổ đau. “Niết bàn thấp hơn” thường được
dùng để ám chỉ trạng thái giải thoát này, trong khi “niết
bàn cao hơn” ám chỉ sự đạt đến tối thượng của giác
ngộ hoàn toàn hay Phật tánh.
ngošn-dro.
Những thực hành sơ bộ trong mọi trường phái Phật giáo
Tây Tạng, thường được làm 100.000 lần mỗi thứ. Bốn cái
chính yếu là tụng đọc quy y, cúng dường mạn đà la, lễ
lạy và trì tụng thần chú Vajrasattva. Truyền thống Geluk thêm
năm cái nữa : guru yoga, cúng chén nước, thiền định tịnh
hóa Damtsig Dorje, làm ra những tsa-tsa (những hình tượng thiêng
liêng cỡ nhỏ, thường bằng đất sét), và lễ cúng Dorje
Khadro bằng lửa (jin-sek).
nhập
môn. Sự trao truyền nhận được từ một vị thầy mật thừa
chấp nhận cho đệ tử đi vào những thực hành về một hóa
thần thiền định riêng biệt. Nó cũng được ám chỉ như
là một quán đảnh truyền pháp.
nội
hỏa (TT : tum-mo). Năng lực trú ngụ tại luân xa rốn, khởi
lên trong giai đoạn thành tựu của tantra yoga tối thượng
và được dùng để đem năng lực khí vào kinh mạch trung ương.
Nó cũng được gọi là nội nhiệt hay nhiệt tâm linh.
Pháp
thân. “Thân chân lý.” Tâm thức của một bậc giác ngộ,
thoát khỏi tất cả che ám, thường trụ trong tri giác trực
tiếp về tánh Không trong khi đồng thời hiểu biết tất cả
hiện tượng. Một trong ba thân của một đức Phật (hai thân
kia là Báo thân và Hóa thân).
puja.
Nghĩa đen, “cúng dường.” Từ này thường được dùng thoáng
rộng, như “chúng ta hãy làm một puja,” để ám chỉ sự
cử hành một nghi lễ, như Guru Puja (Cúng dường cho một Đạo
sư) hay tụng đọc một sadhana, như sadhana Heruka Vajrasattva trong
cuốn sách này.
sadhana.
Phương pháp để thành tựu ; những giáo huấn từng bước
để thực hành những thiền định liên hệ với một hóa
thần thiền định riêng biệt.
samaya
(TT : dam-tsig). Lời danh dự thiêng liêng ; những cam kết và
thệ nguyện của một đệ tử vào lễ nhập môn nguyện giữ
gìn những những thệ nguyện mật thừa trong đời sống hay
nguyện thực hiện vài thực hành liên hệ với hóa thần bổn
tôn, như là sự tụng đọc sadhana mỗi ngày hay cúng lễ Guru
Puja vào ngày mười và hai mươi lăm mỗi tháng theo lịch Tây
Tạng.
shi-dak.
Vị chúa đất ; vị sở hữu một nơi chốn. Phật giáo dạy
rằng
mỗi nơi chốn nối kết với một chúng sanh xem như sở hữu
nơi chốn đó. Những đồ cúng được dâng cúng cho vị ấy
để thỉnh xin sự sử dụng tạm thời nơi chốn ấy để
làm việc đạo, như nhập thất ẩn cư.
shushuma
(hay avadhuti ; TT : tsa uma). Kinh mạch trung ương, hay nadi, nó
chạy từ đỉnh đầu đến luân xa bí mật. Nó là kinh mạch
năng lực chính yếu của thân kim cương, được quán tưởng
như một ống rỗng bằng ánh sáng ở trước xương sống (xem
chương 3).
tantra
(TT : gyušd). Nghĩa đen, tràng chuỗi hay sự tương tục. Những
bản văn của những giáo lý mật chú của Phật giáo ; thường
dùng để ám chỉ chính những giáo lý ấy.
tantra
yoga tối thượng. Phần thứ tư và tối cao của thực hành
Mật thừa, gồm hai giai đoạn phát sinh và giai đoạn thành
tựu. Qua sự thực hành này, người ta có thể đạt đến
giác ngộ viên mãn trong một đời.
tánh
Không (sunyata). Sự vắng mặt của tất cả mọi ý niệm sai
lầm về những sự vật hiện hữu ; đặc biệt, sự không
có sự tự hiện hữu độc lập bên ngoài, tự hữu của những
hiện tượng (vô tự tánh). Thường được dịch là tánh Không.
tập
trung nhất niệm (samadhi). Một trạng thái nhập định sâu
xa, tập trung nhất niệm vào bản tánh thật sự của những
sự vật, thoát khỏi tư tưởng diễn dịch lan man và những
ý niệm nhị nguyên.
thần
chú (mantra). Nghĩa đen là sự bảo vệ cho tâm thức. Những
thần chú là những chữ Sanskrit được trì tụng phối hợp
với sự thực hành về một hóa thần thiền định riêng biệt.
Những chữ, âm ấy hiện thân những phẩm tính của vị hóa
thần.
Thệ
nguyện. Những điều luật được nhận trên nền tảng quy
y trong mọi cấp bậc của thực hành Phật giáo. Những giới
luật pratimoksha (những thệ nguyện để giải thoát cho cá
nhân) là những thệ nguyện chính trong truyền thống Tiểu
thừa và được nhận giữ bởi tăng, ni và cư sĩ ; chúng là
nền tảng cho những thệ nguyện khác. Những giới luật Bồ
tát và mật thừa là những thệ nguyện chính trong Đại thừa.
thiền
định quán chiếu (Pali : vipassana). Thiền định chính yếu
được dạy trong truyền thống Therevada và được đặt nền
trên những giáo lý của Phật về bốn nền tảng của chánh
niệm (tứ niệm xứ). Đôi khi nó được gọi là thiền định
chánh niệm. Trong Đại thừa, vipasyana (Skt) có một ý nghĩa
khác, là sự tham cứu về và làm quen với cách thức thật
sự trong đó những sự vật hiện hữu và thường được
dùng để khai triển trí huệ về tánh Không.
torma.
Một loại bánh cúng được dùng trong những lễ mật thừa.
Ở Tây Tạng, những torma thường được làm bằng tsampa, nhưng
những thức ăn được khác như bánh nướng… cũng đủ.
tràng
hạt thần chú. Một thần chú được quán tưởng thành một
tràng hạt. Những chữ của thần chú đó tượng trưng cho
những hạt ; thường là xoay vòng, như trong những chữ của
thần chú một trăm âm được an vị vòng quanh viền dĩa mặt
trăng.
Trung
đạo (Skt : Madhyamika). Con đường giữa ; một hệ thống phân
tích được sáng lập bởi Nagarjuna (Long Thọ) đặt nền trên
những kinh Bát Nhã ba la mật của đức Phật Thích Ca, và được
xem là sự trình bày tối cao về trí huệ tánh Không.
tsok.
Nghĩa đen, nhóm họp – một nhóm họp những chất liệu để
cúng và một nhóm họp những đệ tử để làm lễ cúng.
Vajradhara
(TT : Dorje Chang). Vị hóa thần thiền định nam ; là hình thức
qua đó Phật Thích Ca Mâu Ni phát lộ những giáo lý của mật
chú thừa.
Vajrasattva
(TT : Dorje Sem-po). Hóa thần thiền định nam tượng trưng cho
sự thanh tịnh bổn nhiên của tất cả chư Phật. Một thực
hành tịnh hóa chính yếu thuộc mật thừa để loại trừ
những chướng ngại do nghiệp xấu và sự phá vỡ những thệ
nguyện tạo ra.
Vajravarahi
(TT : Dorje Phag-mo). Hóa thần thiền định nữ, phối ngẫu của
Heruka.
Văn
Thù (Skt : Manjushri). Vị hóa thần thiền định hiện thân cho
trí huệ giác ngộ viên mãn.
Yamantaka
(TT : Dorje Jig-je). Hóa thần thiền định nam trong loại tantra
“Cha” của tantra yoga tối thượng.
Yi-dam.
Nghĩa đen, “cái ràng buộc tâm thức.” Vị thần chủ yếu
– hay như Lama Yeshe thường nói – được yêu chuộng nhất,
của riêng mình để cho sự thực hành mật thừa. Vị hóa
thần bạn có sự nối kết mạnh mẽ và chặt chẽ nhất.
NHỮNG
KHAI THỊ TỪ ĐỨC LIÊN HOA SANH VỀ CON ĐƯỜNG ĐẠI TOÀN THIỆN
– Padmasambhava
TRÍ
HUỆ VÀ ĐẠI BI – Dalai Lama Thứ 14
MỘT
TIA SẤM CHỚP SÁNG TRONG ĐÊM TỐI – Dalai Lama Thứ 14 1999
KHO
TÀNG TÂM CỦA CÁC BẬC GIÁC NGỘ – Dilgo Khyentse
ĐẠI
TOÀN THIỆN TỰ NHIÊN – Khenpo Nyoshul
CON
ĐƯỜNG ĐẾN TỰ DO VÔ THƯỢNG – Dalai Lama Thứ 14
CON
ĐƯỜNG KIM CƯƠNG THỪA VỀ SỰ TỊNH HÓA – Lama Yeshe
MẬT
THỪA TÂY TẠNG – Tsong Khapa và Dalai Lama Thứ 14
CON
ĐƯỜNG CĂN BẢN ĐẾN GIÁC NGỘ – Chogyam Trungpa
CUỘC
ĐỜI SIÊU VIỆT CỦA 16 VỊ TỔ KARMAPA TÂY TẠNG – Karma Thinley