PHẦN
4
HERUKA
VAJRASATTVA TSOK
16
TSOK
LÀ GÌ ?
“Tsok”
có nghĩa tụ tập lại. Chúng ta cùng nhau gom góp lễ vật để
cúng dường và bản thân chúng ta tụ tập lại để thực
hành tu tập. Tụ họp với các người tu tập khác, tập trung
tâm chúng ta vào một không gian, tất cả sẽ cho chúng ta sự
cảm ứng lớn lao. Sự tập họp lại sẽ tốt hơn nhiều so
với việc làm lễ puja một mình trong phòng riêng. Đây là
ý nghĩa rộng của chữ “Tsok” theo người Tây tạng.
Một
ví dụ, nhóm puja ở đạo tràng của tôi ở Sera được so
sánh với cây chổi bằng cọng rơm. Bạn không thể quét được
nhiều cái sàn phòng học với chỉ một cọng rơm, nhưng khi
gom nhiều cọng rơm làm nên một cây chổi thì bạn có thể
quét cả phòng rất nhanh. Chúng ta không thể kiên định mãnh
liệt như các hành giả nổi tiếng như Ngài Milarepa. Ngài rất
ổn định dù ở một mình. Chúng ta chưa được như thế.
Cho
nên sẽ rất tốt khi chúng ta cùng nhau tập họp lại, cố
gắng triển khai sự nhất tâm và tâm của một trăm người
đều gặp ở cùng một chỗ. Điều này sẽ trở nên rất
mạnh.
Trong
truyền thống Tây tạng “Tsok” là một phương pháp tịnh
hóa sâu xa nhất, một con đường sâu sắc để đạt tới
những chứng ngộ. Khi bạn tụng kinh bằng tiếng Anh bạn có
thể thấy biết bao nhiêu chủ đề bao gồm trong việc thực
hành. Chẳng hạn, Guru Puja bao gồm trọn vẹn con đường đưa
tới giác ngộ từ đầu tới cuối. Có thể xảy ra chuyện
là vào những thời thiền định lam-rim mỗi ngày, bạn không
tạo nên một tiến bộ rõ rệt nhưng trong Puja, nhờ vào bầu
không khí khai dẫn mà các bạn tạo ra, chợt bất thình lình,
ầm ! – một chứng ngộ xảy đến trong tâm bạn. Nhiều người
đã đạt được những chứng ngộ trong thời Puja đơn giản
là nhờ vào bầu không khí đó.
Thông
thường, chúng ta tự mình thúc ép để đạt cho được nhưng
rồi không có gì xảy đến, bởi vì chúng ta không tạo nên
một khoảng trống cho nó xảy đến. Nhờ vào cơ hội tụ
tập với nhau lại để dâng lễ Tsok, chúng ta tạo ra khoảng
trống. Khi khoảng trống đích thực mở ra, ầm ! – các chứng
ngộ xuất hiện như bị hấp lực từ trường. Thật đúng
như vậy.
Do
đó, điều quan trọng là tự đặt mình vào bầu không khí
đúng thực khi bạn thực hành sadhana hay một pháp nào khác.
Có lẽ trong quá khứ bạn đã thực hành một lễ Puja đặc
biệt được một trăm lần rồi nhưng dù thế bạn vẫn chưa
bao giờ hoàn toàn đạt tới chỗ đúng. Và rồi, ở một điểm
nào đó, bạn đạt tới đúng chỗ, ầm ! – điều gì đó
xảy đến. Để triển khai, chúng ta cần bầu không khí đúng.
Trong
thuật ngữ giáo lý đạo Phật, chúng ta nói về nghiệp như
là : “Hãy tạo ra nghiệp thiện và rồi bạn sẽ có được
quả lành.” Tôi chỉ có ý định muốn nói với các bạn
rằng để có được quả mà bạn muốn có bạn phải tạo
ra bầu không khí đúng. Nếu bạn lập một vườn rau có mái
che thì hoa quả sẽ xuất hiện và cơn mưa đó cũng không làm
hư hại chúng được. Cũng y như vậy đối với tâm non trẻ
của chúng ta. Chúng ta cần tạo ra môi trường thích hợp để
tâm trẻ con đó nẩy nở và chúng ta cũng phải che chở cái
tâm non trẻ đó. Việc chúng ta tụ họp nhau cho lễ Puja, cung
cấp năng lực cho nhau chính là cách che chở cho tâm thức chúng
ta.
Trong
truyền thống Tây Tạng của Phật giáo Đại thừa, chúng ta
luôn nói tới lợi lạc mà chúng ta có được từ tất cả
chúng sanh là những người mẹ của chúng ta. Hãy lấy ví dụ
trà Darjeeling chúng ta đang uống. Hãy nghĩ đến không biết
bao nhiêu người liên quan đến để có trà ở đây : người
trồng trà, người hái, người phân loại, đóng gói, chuyên
chở, người bán, người đun nước trà… cuối cùng để
cho chúng ta uống ở đây. Từ sự nghiên cứu lam-rim chúng
ta biết rằng hoặc trực tiếp hay gián tiếp, mỗi chúng sanh
hữu tình đã giúp để bạn có tách nước trà. Và không chỉ
tách trà mà thôi : Tất cả hạnh phúc chúng ta từ sự vui
thú mang tính sanh tử ở mức thấp nhất cho tới niềm phúc
lạc tối thượng của sự giác ngộ giải thoát tất cả đều
đến từ mỗi người trong chúng ta hay bao người khác.
Do
đó, để đạt được chứng ngộ chúng ta cần tạo ra bầu
không khí đúng. Để làm điều này chúng ta tụ hợp nhau lại
và hướng tâm chúng ta đến cùng một chỗ. Oai lực của sự
tu tập này sẽ mang đến sự thấu hiểu. Tôi cho rằng điều
này rất vĩ đại : Chúng ta là một tập hợp quốc tế, mỗi
người đã phát triển trong một phương cách riêng, độc đáo
; nhưng bất chấp sự khác biệt đó, tâm chúng ta vẫn có
thể gặp nhau ở một chỗ chung và chúng ta có thể tương
thông. Tôi thực sự nghĩ rằng điều đó rất tuyệt vời.
Cha mẹ có thể không có khả năng trao đổi thông hiểu được
con cái họ nhưng tại nơi này, đến từ nhiều quốc gia trên
thế giới chúng ta lại có thể thông hiểu lẫn nhau, xuất
phát từ tim chúng ta.
Một
hàm ý khác của thuật ngữ “Tsok” là “bữa tiệc” mà
ở đó chúng ta chia xẻ đại trí huệ và đại lạc phát sanh
đồng thời. Giờ đây chính là bữa tiệc !
17
HERUKA
VAJRASATTVA TSOK :
BÀI
GIẢNG THỨ NHẤT
Khi
tôi định chọn tựa đề cho sự cúng dường Tsok này tôi
đã có nhiều tên để chọn nhưng dù gì tôi cũng đã nghĩ
rằng, tên “Một liều thuốc giải độc cho các địa ngục
Vajra” có lẽ là thích hợp nhất. Nhiều đệ tử của tôi
đã thực hiện các đợt ẩn tu Heruka Vajrasattva – đó là
một phương pháp oai lực diệu kỳ để tịnh hóa tất cả
năng lực bất tịnh của một người. Do đó, khi có người
hỏi xem coi chúng ta có thể dâng cúng Tsok dưới tán cây bồ
đề ở Bodhgaya này,(21) tôi đã nghĩ rằng sẽ thích hợp để
viết một Tsok ngắn cúng dường Heruka Vajrasattva. Chúng ta gọi
sự cúng dường này là một bữa tiệc lớn vì nó giống như
một đại tiệc hỷ lạc mà chúng ta mời đến từ mươi phương
các chư Phật, chư Bồ tát, các daka, dakini và những biểu
hiện trong sạch khác mà chúng ta mong muốn có ở đây.
Các
thực đơn dâng cúng
Bất
cứ loại thức ăn thức uống nào cũng được coi là tsok và
có thể dâng cúng. Bạn không cần phải dâng cúng loại bánh
torma bằng tsampa theo kiểu Tây tạng – Thời xa xưa, trong thời
ngài Long Thọ ở Ấn Độ cổ xưa người ta đã không làm
vậy. Bạn có thể dâng cà rốt, chô-cô-la, bánh sữa, thậm
chí cả thức ăn “đen” như hành, tỏi, củ cải – bất
cứ thứ gì bạn thích ; những thứ ăn sạch, có sẵn nơi
bạn sống. Nếu bạn là hành giả Kim Cương thừa đặc biệt
mãnh liệt bạn thậm chí có thể dâng cúng những thứ không
sạch như phân, nhưng bởi vì bạn không được tinh tấn như
các ngài nên tốt hơn, bạn dâng cúng những thứ sạch.
Ruộng
phước
Đoạn
một. Bởi vì đây là pháp thực hành Kim Cương thừa, trước
khi bạn thực sự cúng dường Tsok, trước hết chúng ta phải
chuyển hóa cái thấy biết thường ngày của chúng ta đối
với môi trường xung quanh cũng như đối với tất cả các
chúng hữu tình. Hãy quán tưởng bản thân mình,những người
khác nữa đang dâng lễ Tsok với bạn, những thực đơn dâng
cúng – thực vậy hãy quán tưởng mọi chúng sanh, mọi thứ
như là biểu lộ của đại trí huệ bất nhị và đại lạc
được hợp nhất toàn bộ. Rồi trong khoảng không trước
mặt bạn, từ Lạc và Không bất nhị, mạn đà la Vajrasattva
xuất hiện với ngài Heruka Vajrasattva và người phối ngẫu
ở giữa mạn đà la.
Theo
xu hướng tự nhiên, tâm chật hẹp của chúng ta sẽ quán tưởng
mạn đà la này nhỏ và đông đúc, nhưng không phải vậy.
Mạn đà la chiếm cả không gian và chứa đầy với những
thứ lễ vật cúng dường nhiều vô hạn, các lễ vật này
ở trong bản chất là cam lồ phúc lạc và trí huệ siêu việt.
Bạn phải chuyển hóa lễ vật cúng dường của bạn – có
thể chỉ là một trái cam hay một bàn đầy thức ăn – thành
ra những lễ vật nhiều vô hạn tràn đầy không gian : hàng
tỉ trái cam, táo, vân vân. Đôi khi tôi quán tưởng và dâng
cúng một siêu thị Tây phương rất lớn – một lễ vật
cúng dường tốt hơn nhiều so với các chợ rau nhỏ ở các
nước thuộc thế giới thứ ba ! Lễ vật cúng dường của
bạn phải vô lượng. Ngay cả nếu bạn đang dâng cúng chỉ
một lễ vật thôi thì bây giờ vô lượng đối tượng của
năm giác quan tất cả đều ở trong bản tánh phúc lạc, sẽ
lưu xuất từ nó.
Đoạn
hai. Nhận thức mà chúng ta có thường ngày về mình hay những
người khác thì rất bình phàm. Chẳng hạn khi chúng ta tụ
hợp nhau để dâng lễ Tsok chúng ta tự cho mình là một con
người thống khổ, vô vọng, và những người xung quanh ta
cũng thế, tất cả đều rất thiết tha dâng lễ vật cúng
dường. Theo quan điểm Kim Cương thừa, sự dâng cúng như vậy
sẽ không có tác dụng. Đó không phải cách dâng lễ Tsok.
Bạn phải cảm thấy rằng tất cả những ai ở quanh bạn
đều là những người bạn thân thiết của bạn – dù với
những địch thủ của bạn – và bạn phải coi họ là Vajrasattva
có ánh sáng trắng rực rỡ. Bạn có thể làm như vậy được.
Một trong những điều tốt đẹp nhất của con người là
bạn có thể thay đổi tâm bạn được ở bất kỳ lúc nào.
Tâm rất dễ uốn nắn, và bạn có thể triển khai kỹ năng
thay đổi tình huống xấu sang tốt.
Do
đó, trong cảnh giới đại lạc bất nhị tất cả chúng hữu
tình xuất hiện như là các daka và dakini. Hình tướng của
họ giống như một huyễn ảnh như thể nó được tạo ra
bởi một nhà pháp thuật. Có bao giờ bạn đã có một kinh
nghiệm là đã ở một nơi nào đó, đã mục kích thấy rất
nhiều người từ nhiều đất nước khác nhau, có những hình
dạng kích cỡ thân thể con người khác nhau đang đi qua trước
mặt bạn và bạn cảm thấy như thể trong giấc mơ hay trong
một ảo giác ? Khi dâng cúng Tsok này bạn phải chuyển hóa
tất cả hữu tình thành ra sắc thân Vajrasattva và coi toàn
bộ quán tưởng của bạn như là huyễn. Thực ra thì cái cách
chúng ta nhìn thấy những người khác đã là huyễn rồi cho
dù chúng ta có cho rằng tất cả chúng ta là có thực, rắn
đặc và cụ thể.
Một
số daka và dakini mà chúng ta quán tưởng về hình tướng rất
an bình, phúc lạc, một số trong hình dạng ban cho sự tăng
ích, một số biểu hiện thần lực, số khác biểu lộ rất
hung nộ. Tất cả dường như đang nhảy múa. Bạn phải tự
coi như mình khiêu vũ bất cứ khi nào bạn đi đâu đó. Nói
gì thì nói, bất cứ khi nào bạn đi xi-nê, nhà hàng, về lại
nhà, bạn cũng đang nhảy múa. Khi dâng cúng Tsok, bạn phải
quán tưởng daka và dakini rất linh hoạt, sống động – đang
thực sự làm một việc gì đó cho lợi ích của chúng hữu
tình – chứ không phải ở dạng bất động, đờ đẫn hay
cứng đờ. Họ (daka, dakini) xuất hiện trong nhiều cách khác
nhau này cho lợi lạc của tất cả chúng hữu tình, họ thể
hiện phương tiện và trí huệ phát triển viên mãn, thống
nhất hoàn toàn chứ không có tính cách đặc thù và rời rạc.
Tất
cả sự tụ họp Tsok chẳng hạn như Guru Puja, đều dựa trên
sự chuyển hóa. Trước tiên bạn phát sanh đại lạc và trí
huệ bất nhị siêu việt và sau đó làm mọi thứ – tất
cả hành vi, các thực đơn dâng cúng, bản thân bạn, vị thầy
mà bạn đang cúng dường – tất cả đều khởi lên từ đó.
Và vào lúc này đây bạn đừng nhìn thấy các chúng hữu tình
như những con người đang đau khổ, những sinh vật què quặt,
ma đói vân vân. Mọi sự xuất hiện phải trông như siêu việt
và gợi lên đại lạc. Do đó, tốt nhất là bạn quán tưởng
tất cả hữu tình như là Vajrasattva. Và điều tuyệt vời
nhất là trong suốt một giờ đồng hồ bạn dâng cúng lễ
Tsok hay bất cứ lúc nào trong lễ Tsok, bạn làm sao có thể
điều khiển được tâm bạn và ngăn ngừa không cho những
ý niệm “rác-rưới-thường-ngày” nổi lên. Các khởi niệm
đó thường xuyên có đầy trong tâm bạn gây cho bạn mê lầm
và khiến bạn bị lừa dối mãi. Tuyệt vời biết bao nếu
chỉ trong một giờ đó mà tâm bạn không có chỗ trống cho
“ái-ngã” (tự thương xót) nổi lên.
Chú
nguyện các lễ vật cúng dường ở bên trong
(OM
KHANDA ROHI…) Ở đây chúng ta chú nguyện các thực phẩm cúng
dường. Vị Hóa Thần Khandarohi có một mặt và bốn tay và,
nếu có thể, phải được quán tưởng là xua tan các hồn
linh gây trở ngại và vân vân. Nếu bạn không quán tưởng
như vậy thì cũng không sao, nhưng ít nhất bạn phải rắc
một ít cam lồ dâng-lễ-ở-bên-trong lên các vật cúng dường
và cảm thấy rằng tất cả các hồn linh xấu ác, tiêu cực
đã được xua tan hết. “Hồn linh” không chỉ ám chỉ đến
những chướng ngại từ bên ngoài nhưng cũng ám chỉ cho bất
kỳ năng lực tiêu cực bất thiện ở trong bạn làm ô uế
lễ vật cúng dường. Và năng lực này cũng được tịnh hóa
nữa.
(OM
SVABHAVA…) Chúng ta gọi mật chú này là mật chú tánh Không.
Nhận ra tánh Không, sự trống không, không có hiện hữu nội
tại của các thực phẩm dâng cúng, sự nhận thức này là
một phương thức rất mãnh liệt để tịnh hóa các khởi
niệm thường ngày và năng lực bất thiện. Nhận thức này
– sự nhận ra tánh Không – là hết sức quan trọng để
thực hiện một lễ dâng cúng Tsok cho thích hợp.
Chủng
tự OM tượng trưng cho thân Kim cương thiêng liêng, là sự
nhất như với tâm và khẩu Kim cương thiêng liêng. SVABHAVA
có nghĩa là tự nhiên (thuộc bản tánh) chứ không phải nhân
tạo ; SHUDDHA (và SHUDDHO) có nghĩa là tinh sạch ; SARVA có nghĩa
là tất cả ; DHARMA có nghĩa là các hiện tượng hiện hữu
; và HAM có nghĩa là “tôi là” và sẽ dược cảm nhận với
sự kiêu hãnh thiêng liêng. Những từ Sanskrit này hàm chứa
một giải thích sâu xa rằng bản chất căn bản của con người
và tất cả mọi hiện tượng hiện hữu khác là tinh sạch.
Nghĩa của câu chú là : tất cả các hiện tượng hiện hữu
vốn là tinh sạch (không phải nghĩa tương đối mà là nghĩa
tuyệt đối) và tôi cũng như vậy.
Bạn
phải hiểu cho được bản tánh chân thật của bạn. Đa số
thời gian bạn sống, bạn sống trái với bản tánh tự nhiên.
Với trí thông minh, “cái tôi” của bạn tạo ra sân hận
và tham ái. Đấy là loại thông minh lệch lạc. “Cái tôi”
của bạn tạo ra một hình ảnh giả tạo về bản thân và
bạn tin là : “Đây là tôi, tôi đẹp (hay xấu) làm sao !”
Rồi bạn bày ra hình ảnh sai lệch này của chính bản thân
cho người khác xem. Bao lâu bạn vẫn còn bị cái tôi của
bạn điều khiển bạn, thì bạn vẫn không tự nhiên, không
thật tánh. Do đó bạn phải lắng nghe và chạm được vào
bản tánh uyên nguyên chân thật của bạn. Nếu bạn có thể
làm được điều này bạn sẽ chạm được sự tinh sạch.
Cho nên quan điểm sai lầm, tự ái, mang cá tính con người
thông lệ như “tôi thật vô vọng, tôi bất tịnh, tôi xấu
ác, tôi không thể làm gì cả, tôi không thể tự lo cho mình”
là hoàn toàn sai trái và đích thực đối nghịch lại với
điều mà mật chú tánh Không nói tới.
Bản
tánh của bạn không phải là cái mà các phóng chiếu tiêu
cực của bạn nghĩ ra và tin vào. Đức Phật dạy rằng điều
rất sai lầm là nghĩ rằng bạn thật xấu ác hay tội lỗi.
Bản tánh uyên nguyên của bạn là tinh sạch. Đám mây nhân
tạo do “cái tôi” của bạn tạo ra, không phải là bản
tánh chân thật của bạn, nó chỉ là cái mà “cái tôi”
của bạn mơ tưởng giả tạo. Cho nên hãy là bản tánh chân
thật tự nhiên.
Rất
dễ để thấy được như thế nào gọi là không bản tánh
(không tự nhiên). Hãy quan sát cách xử thế của con người
thay đổi như thế nào với các ý tưởng của họ. Lấy một
ví dụ đơn giản, là cách thức người ta đi bộ. Khi hình
ảnh về mình thay đổi, thì cách họ cuốc bộ cũng thay đổi.
Tự bạn cũng thấy được điều này. Thanh niên phóng chiếu
một loại hình ảnh bản thân theo cách nào đó, họ tin là
họ phải hành động cho tương xứng, họ đi bộ hay ăn mặc
theo một kiểu cách phải như vậy. Người già không hiểu
được tại sao thanh niên lại hành động như thế, nên người
già phê phán người trẻ và sự cách biệt hai thế hệ nới
rộng thêm.
Tất
cả chuyện này đều là giả tạo. Hãy hành động một cách
tự nhiên (như bản tánh). Mật chú tánh Không cho thấy rằng
bản tánh chân thật của loài người là thiện, có tính tích
cực. Bạn đừng nên tin vào hình ảnh bản thân tiêu cực
được phóng chiếu bởi cái tôi của bạn. Đức Phật dạy
rõ bằng cách nào mà tất cả những đau khổ của bạn đến
từ “cái tôi,” và đó là lý do tại sao đạo Phật luôn
luôn dạy rằng các phóng chiếu của cái tôi mang tính phá
hoại rất mãnh liệt.
Trong
thiền định tánh Không bạn lắng nghe được cái bên trong
sâu xa của bạn, bạn vượt lên trên các khởi niệm nhân
tạo, bạn trở nên tĩnh lặng an bình và chạm vào sự thật
uyên nguyên của con người bạn. Do đó thiền định tánh Không
cắt đứt tất cả các ý niệm làm bạn đau khổ, đặc biệt
cái ý tưởng rằng dù gì thì bạn cũng thường hằng và bẩm
sinh tự hiện hữu. Nếu các loại tin tưởng sai lầm này không
được cắt đứt mà chỉ bị đè nén thôi thì các triệu
chứng do sự lầm tin mà sanh ra sẽ tiếp tục quay trở lại.
Bạn có thể có khả năng kiểm soát được một loại đau
khổ nhưng loại khổ đau khác sẽ xuất hiện.
Dù
bạn có trì chú tánh Không hay không, thì điều kiện tiên
quyết là bạn phải thấy rằng hình ảnh tự thân mình do
từ sự thương mình, cái tự thân đó không hiện hữu. Tôi
có thể giải thích điều này bằng những thuật ngữ giáo
lý sâu sắc nhưng tôi thích giải thích về nó một cách đơn
giản hơn. Hãy suy nghĩ lại về một năm trước, ở thời
điểm mà bạn đang ôm giữ cái “Tôi là người thế này”
và bạn so sánh với cái “Tôi là người thế này” mà bạn
đang ôm nó vào hôm nay. Cái “Tôi” bạn cảm nhận đó đã
thay đổi hết, hay không thay đổi ? Nếu bạn phân tích kỹ
lưỡng sẽ thấy được rằng mặc dầu sự việc đã thay
đổi, nhưng cái “Tôi” bạn cảm nhận hôm nay vẫn giống
hệt như cái “Tôi” bạn cảm nhận cách đây một năm. Bạn
tự thấy sự cảm nhận này thật sai lầm biết bao, ở cả
hai mặt tương đối và tuyệt đối.
Tất
cả các hiện tượng đang thay đổi theo từng sát na – như
vậy nhất định không thể nào cái “Tôi” của chúng ta
cố định, bất di bất dịch được. Khi bạn nhận ra được
sự “vô-minh-ôm-giữ-cái-tôi” của bạn đã đang bám chặt
như thế nào với sự tin tưởng, sự tự đồng nhất hóa
bản thân một cách vô lý ví dụ như sự vô minh cho rằng
cái “tôi” của bạn mười năm trước vẫn còn đây bây
giờ, thì bạn sẽ bật cười rằng mình đã quá mê lầm,
quá ảo tưởng, bị dối gạt biết bao nhiêu. Đức Phật luôn
dạy rằng chúng ta bị lừa dối, chúng ta đang ảo tưởng.
Bị lừa dối đồng nghĩa với việc ôm giữ các quan niệm
ảo tưởng vô lý, lố bịch. Mặc dù bạn đã và đang thiền
định được hai mươi hay ba mươi năm nhưng nếu sự thiền
định đã không bắt đầu lay chuyển “cái tôi” của bạn
và không phá hủy được các ý tưởng này thì bạn đã không
thiền định một cách đúng đắn, thích hợp. Sự tự đồng
nhất hóa cái tôi của bạn càng cực đoan, cái tôi của bạn
xuất hiện càng cứng chắc hơn và bạn càng bị cột dính
vào nó hơn. Nhưng khi bạn làm lung lay tận gốc cái tôi của
bạn thì bạn sẽ tạo ra một cuộc động đất gây cho núi
Meru (Núi Tudi) của mạn đà la sanh tử của bạn bị bể thành
từng mảnh vụn.
Giáo
lý của đức Phật về sự thật vũ trụ thì thật sâu sắc.
Giáo lý đó chỉ cho loài người cách tốt nhất để trở
lại khỏe mạnh. Giáo lý đó phá nát tất cả mọi quan niệm,
làm vỡ tan mọi ảo tưởng. Thậm chí Đức Phật đã nói
rằng nếu bạn ôm giữ một khái niệm cố định về Ngài
thì bạn cũng bị mắc bẫy. Ngày nay những người theo đuổi
tâm linh, bị cái tôi của họ khống chế, đã bám chặt vào
các vị guru tự-hiện-hữu-như-một-cái-tôi của họ, nói
rằng : “Con yêu thương Thầy, Thầy là một vị guru tuyệt
vời. Thầy có thương con không ? Thầy phải như vầy.” Nếu
có đệ tử nào đã nghĩ như vậy thì Đức Phật cũng không
chấp nhận đâu. Đức Phật không muốn ai bám chặt Ngài cũng
như giáo lý của Ngài. Nếu bạn bị mắc dính vào thậm chí
là con đường ba la mật – hay con đường mật thừa thì bạn
cũng bị sập bẫy, mê muội. Bạn không khỏe mạnh. Bạn không
nên bám dính vào mọi sự – không có một ngoại lệ nào.
Bạn không nên bám víu vào các hiện tượng luân hồi sanh
tử, bạn không nên bám víu vào Pháp. Đó là toa thuốc của
Đức Phật để có được “sức khỏe” hoàn hảo.
Ngày
nay nhiều guru dường như bị dính mắc vào các đệ tử và
họ muốn các đệ tử dính mắc vào họ. Điều này hoàn toàn
sai lầm. Rất có hại cho sự mạnh khỏe của đệ tử nếu
họ bị dính mắc hoặc vào thầy họ hoặc vào con đường
đạo của họ. Đức Phật muốn bạn được “khỏe mạnh,”
hạnh phúc mãi mãi, thoát khỏi mọi ý niệm, học thuyết,
thoát khỏi mọi sự nô lệ. Do đó, bạn phải nhận ra rằng
mọi ý niệm quan điểm về “cái tôi” của bạn trong quá
khứ mà ngay giờ đây bạn đang ôm giữ đều sai lầm và bạn
đập bể các quan điểm đó. Trong bóng tối vô minh bạn bị
lừa dối bởi điệu múa cám dỗ của các đối tượng của
năm giác quan. Nhưng khi bạn nhận ra được cách thức cái
tôi của bạn lừa bịp bạn thì cái tôi đó sẽ không còn
lừa bạn được nữa. Nếu bạn thực sự hiểu điều này
thì bạn hiểu được tánh Không.
Mật
chú tánh Không uyên thâm nói cho bạn biết rằng bản tánh
chân thật của chính bạn và của các hiện tượng khác đều
là một. Nhưng cái tôi của bạn chia cách, tách rời và phân
loại mọi thứ sao cho bạn không bao giờ có thể thực sự
gần gũi với bất kỳ sự vật gì. Thậm chí sau cả một
đời sống bên nhau, vợ chồng cũng không thực sự gần gũi,
và họ không hiểu được nhau bởi vì cái tôi của họ đã
giữ mỗi người tách biệt ra nhau.
Mật
chú (tánh Không) khẳng định rằng trong thực tại tất cả
hiện tượng hiện hữu đều là một và là “HAM,” “Tôi
là như vậy.” Rốt ráo bạn là thanh tịnh, tinh sạch, là
một với tất cả hiện hữu, do đó, phát sanh sự hãnh diện
thiêng liêng. Khi bạn kinh nghiệm được tánh Không, bạn trở
nên là một với tất cả mọi hiện tượng, không tách rời,
giống như sữa đổ vào sữa. Khi bạn nhận ra được tánh
Không thì tâm nhị nguyên của bạn biến mất. Nó được gọi
là nhị nguyên bởi vì nó chia mọi thứ ra làm hai – chẳng
hạn là “tôi” và “anh.” Khi bạn chứng ngộ được bản
tánh rốt ráo của bạn và của tôi thì sẽ không có sự khác
biệt nào giữa chúng ta.
Con
người trên thế gian đã đấu tranh dữ dội với chủ nghĩa
phân biệt chủng tộc và đã tổ chức các cuộc biểu tình
chính trị chống lại nó, đôi khi trong quá trình đấu tranh
đã có người bị giết. Đối với quan điểm Phật giáo,
chủ nghĩa phân biệt chủng tộc sẽ tiếp tục hiện diện
bao lâu mà tâm nhị nguyên phân biệt chưa bị nhổ tận gốc.
Đến khi nào bạn khám phá được thực tại tối hậu, sự
thống nhất của tất cả sự hiện hữu, còn thì mọi cuộc
thảo
luận về việc dẹp bỏ chế độ phân biệt chủng tộc chỉ
là chuyện khôi hài. Đức Phật đã ban cho phương pháp hội
nhập thống nhất rất hoàn chỉnh và thực tế mà chúng ta
có thể kinh nghiệm được trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta. Cái tốt đẹp lớn lao của con người là ở chỗ
chúng ta có thể vượt lên trên thế giới tương đối và
kinh nghiệm được cái tuyệt đối.
“Tất
cả trở nên trống không…” Cái tách bằng sọ người mà
bạn quán tưởng ở đây không phải là một trong những đồ
dùng nhỏ chúng ta dùng trong lễ puja. Nó phải rất to, càng
lớn bao nhiêu càng tốt. Nó chứa năm thứ thịt và năm thứ
cam lồ. Bạn đang ở trong sắc thân Vajrasattva. Từ chữ HUM
ở tim bạn một tia sáng chiếu vào cái tách đun nóng những
thứ ở trong đó và làm tan những thứ đó thành ra một đại
dương bao la bằng cam lồ phúc lạc không bao giờ cạn kiệt.
Bất
cứ khi nào bạn dâng lễ Tsok bạn phải nhận ra bản tánh
phúc lạc của bất cứ thứ gì bạn dâng cúng. Chẳng hạn,
cam bày ra trước mắt là cam nhưng trong tinh chất, nó là cam
lồ phúc lạc. Và vị hóa thần mà bạn cúng dường lễ Tsok
– trong trường hợp đang nói đây là ngài Vajrasattva – không
nhai thức ăn như chúng ta ăn – thay vì vậy, ngài rút tinh
chất của Tsok, tức là đại lạc – thông qua tia sáng mỏng
mà ngài phát ra từ lưỡi. Bạn cũng vậy, bạn phải nhận
biết tất cả các lễ vật cúng dường, và trên thực tế,
tất cả thức ăn thức uống của bạn hàng ngày, đều ở
trong bản chất đại lạc.
Rồi
thì, đọc câu chú OM AH HUM HA HO HRI ba lần, bạn chú nguyện
Tsok.
“Lễ
vật cúng dường tinh sạch này…” Việc đọc đoạn này
giúp tâm bạn tránh khỏi việc kích thích những điều mê
tín lầm lạc.
Đoạn
một
Ở
đây chúng ta dâng cúng Tsok với lời khẩn cầu phát triển
bên trong ta đại lạc và trí huệ phát sanh đồng thời, con
đường kim cương độc nhất vô nhị đưa tới giác ngộ.
Hãy
đọc mật chú Hekura Vajrasattva một lần sau mỗi đoạn. Nếu
bạn đọc mật chú đó một cách rõ ràng, đều đặn (âm
độ ngang nhau) với một tốc độ đúng thì bạn sẽ tịnh
hóa hàng triệu điều bất thiện trong các kiếp. Đôi khi bạn
cảm thấy sự xấu xa đè bạn nặng đến nỗi bạn không
thể nhúc nhích được, bạn cảm thấy như thể đang bị nhận
chìm trong đại dương của các điều bất thiện. Và một
khi bạn tự khẳng định là bạn cảm thấy nặng nề thì
bạn thấy nặng nề thật. Giáo lý nhà Phật chỉ ra rằng
hễ bạn tin là bạn tiêu cực thì bạn trở nên tiêu cực.
Khi tôi phóng chiếu nhận xét rằng bạn đã vô hy vọng thì
đối với tôi bạn biểu lộ là vô hy vọng. Chúng ta chớ
suy nghĩ như vậy. Chúng ta có những phương pháp rất có oai
lực để tịnh hóa ngay cả những điều tệ hại nghiêm trọng
nhất – như phá bỏ giới nguyện kim cương. Kinh nghiệm của
các đại hành giả du già cho biết rằng việc tu tập Vajrasattva
có thể tịnh hóa tất cả các năng lực tiêu cực, xấu xa.
Không có điều tiêu cực nào mà sự thiền định Vajrasattva
không thể tịnh hóa. Việc bạn nhận thức được điều này
là rất quan trọng. Bạn đã có sẵn một quan niệm rất tệ
về bạn. Bạn đừng khiến cho nó tệ hơn nữa khi bạn theo
đường đạo. Như vậy rất sai lạc. Dĩ nhiên, bạn phải
nhận ra những khiếm khuyết của bạn nhưng đồng thời bạn
phải tự cho mình một nguồn cảm hứng bằng cách luôn luôn
nhớ rằng tiềm năng của bạn là một vị Phật.
Đoạn
hai
Bằng
cách nào mà chúng ta làm cho sự tái sanh kiếp người quý báu
của chúng ta trở nên vô dụng ? Bằng cách bám chặt vào những
thú vui với các đối tượng của năm giác quan. Tại sao vậy
? Bởi vì các thức giác quan của chúng ta đang gây ra ảo tưởng.
Chúng ta phải tịnh hóa cái thấy nhị nguyên bất tịnh của
chúng. Chúng ta quá lo lắng về sự an ninh của chỉ kiếp nầy
thôi. Chẳng hạn, bạn hãy quan sát chuyện gì xảy ra khi bạn
bay tới Ấn Độ để tham dự lễ hội Phật pháp. Lòng bạn
tràn đầy các ý định tốt đẹp nhưng khi bạn tới nơi bạn
thấy khó chịu bực bội vì không có thức ăn ngon, trà hay
cà phê thơm. Dĩ nhiên bạn phải bảo đảm sức khỏe của
mình, nhưng khi sự việc đưa tới, các tiện nghi cuộc sống
không được như ý sẽ bị xáo trộn, làm bạn lo lắng. Bạn
nói bạn muốn giải thoát, giác ngộ và muốn giúp đỡ người
khác, nhưng trên thực tế, tâm bạn hoàn toàn bị ám ảnh,
không ngừng nghĩ tới những thú vui riêng đã tính trước
và không nên có. Việc lo nghĩ quá đáng như vậy đối với
sự sung sướng cho cuộc sống này thôi, phải được loại
bỏ đi, vì nó chỉ làm cho bạn càng ngày càng chật hẹp thêm.
Thật hoàn toàn không đúng khi tin rằng sự sung sướng của
cuộc đời này là tất cả và cần phải nỗ lực vì nó.
Sinh
viên đặt một nỗ lực lớn lao vào việc học hành tận lực
sao cho họ có thể qua được kỳ thi và xin được việc làm.
Họ có thể hưởng thụ những thứ vui khác nữa ngoài mục
đích trong khi đang học nhưng đó chỉ là những thú vui phụ
so với mục đích chính của họ. Họ không cho phép những
thứ vui nhỏ cản trở không cho họ đạt được mục đích
chính. Cũng y như vậy, bạn là người đang tìm kiếm mục
đích tối thượng là sự thỏa mãn vĩnh cửu bất diệt, bạn
phải nên cương quyết toàn lực hiến dâng cho mục đích đó
và sẵn sàng hy sinh tiện nghi của cuộc sống này cho sự bất
diệt đó. Nếu bạn không hy sinh sự gắn bó vào thú vui luân
hồi sanh tử thì bạn không thể có được sự giải thoát.
Cũng vậy, khi bạn quyết định dứt khoát là nỗ lực cho
sự giải thoát, và biết rằng sẽ có những sự hy sinh cần
phải làm, bạn sẽ kinh nghiệm được một loại hỷ lạc
bất cứ khi nào bạn đương đầu với các chướng ngại.
Tất cả những sự xung đột và đau khổ thuộc “cái tôi”
đều đến từ chất độc của sự bám chặt vào những ý
niệm và những hình tướng bình thường phàm tục. Khi chúng
ta dâng cúng lễ Tsok với đoạn này, chúng ta khẩn cầu ban
phước gia hộ để chúng ta có khả năng từ bỏ sự bám chặt
đó.
Đoạn
ba
Đoạn
này chỉ cho thấy bằng cách nào bạn đã tạo ra nghiệp xấu
và tăng thêm vào các ảo tưởng lầm lạc của bạn. Sự quan
tâm không đúng chỗ – mà bản chất của nó là mê tín –
sẽ tạo ra thêm mê tín. Khi hành động chịu sự chia phối
của mê lầm bạn sẽ tạo ra nghiệp xấu. Tất cả sự việc
này giống như một cái mền dầy bao trùm tâm bạn và cùng
với con ma của cái thấy nhị nguyên và bất tịnh ; vâng,
tất cả phải được tịnh hóa.
Ở
đây chúng ta khẩn cầu sự gia hộ để triển khai sự từ
bỏ luân hồi sanh tử một cách hoàn toàn trong lòng chúng ta.
Để đạt được sự buông bỏ thật sự, nếu chỉ có việc
ghét luân hồi sanh tử thì chưa đủ. Bạn còn cần phải dò
xét xem bằng cách nào mà sự quan tâm không đúng chỗ đã
phát sanh mê tín – loại nhiên liệu cho ngọn lửa sanh tử
này. Sự quan tâm không đúng chỗ và có tính nhị nguyên này
cần phải được tịnh hóa. Bấy giờ bạn mới có thể phát
triển sự từ bỏ.
Một
số tăng ni dường như nghĩ rằng họ đã trở thành A la hán
ngay lúc họ xuất gia thọ giới. Bạn không thể trở thành
A la hán trong một ngày. Một số người tục gia dường như
cũng nghĩ rằng các tăng ni phải là A la hán, nên những người
tu tại gia phê phán các tăng ni khi họ làm những điều sai
trái : “Ồ ! Hãy trông các ông tăng kia, các ông ấy đâu
có tốt hơn tôi !” Rất dễ khi phê bình tăng đoàn. Thậm
chí bạn có thể phê phán Phật : “Vị ấy đã rất ích kỷ,
ông ta đã bỏ đi một mình để thiền định trong sáu năm.”
Tôi không tin là sự buông bỏ của các tăng ni nhất thiết
phải tốt hơn sự buông bỏ của các người tục gia. Nhưng
ít nhất tăng ni đã nhận ra được họ cần làm gì để vượt
qua các chướng ngại luân hồi sanh tử của họ và họ đang
cố gắng phát triển sự buông bỏ. Đó là điều đúng đắn
để làm. Họ chưa chắc là A la hán nhưng họ đang làm điều
tốt nhất mà họ có thể làm.
Từ
sự nghiên cứu các giáo lý trung đạo trong “con đường có
thứ bậc đưa tới giác ngộ” (lam-rim) – trong đó có giải
thích các nguyên nhân của luân hồi sanh tử và làm sao để
thoát khỏi nó – bạn đã biết là rất khó để đạt được
sự buông bỏ trọn vẹn. Chúng ta có khó khăn khi buông bỏ
luân hồi sanh tử bởi vì các điều mê lầm của chúng ta
càng ngày càng tạo ra thêm nghiệp, và do kết quả đó, tấm
màn che phủ trở nên càng ngày càng dầy hơn. Do đó, chúng
ta khẩn cầu Guru Vajrasattva giúp đỡ chúng ta tịnh hóa tất
cả điều đó.
Đoạn
bốn
Từ
giáo lý trong kinh điển bạn cũng biết rằng bằng cách nào
mà cái tâm tự thương mình – cái tâm nhị nguyên đó –
chính là cơ sở của tất cả khổ đau và các điều xấu
ác. Chúng ta dâng lễ cúng dường này để tịnh hóa sự tự
thương xót mình và để phát sanh Bồ đề tâm toàn thiện
nhất trong tim chúng ta.
Đoạn
năm
Tất
cả các hiện tượng đều được dán nhãn – được đặt
tên – bởi sự mê tín lầm lạc ; và do kết quả đó, các
hiện tượng đó hiện hữu. Nhưng tâm mê tín của chúng ta
không chịu để cho hiện tượng đó được ở đúng trạng
thái của nó. Chẳng hạn khi chúng ta trông thấy một đối
tượng đẹp, nó hiện diện như một đối tượng đẹp chỉ
như là một phóng chiếu của tâm mê lầm của bạn. Bạn không
để cho nó y như chính nó, bạn cố làm cho cái đẹp của
nó thành cụ thể, tự hiện hữu, đặc biệt. Thêm một lần
nữa, đây là cái thấy nhị nguyên và phải được tịnh hóa.
Do đó, chúng ta dâng lễ cúng dường này, cầu xin sao cho chúng
ta chứng ngộ được mahamudra, đại ấn của tánh Không.
Đoạn
sáu
Trong
cuộc sống ngay khi tôi vừa xem người khác là thường tục
và gây khó chịu, thì các vấn đề của tôi nổi lên. Tôi
bắt đầu thiếu kính trọng họ, xem thường họ. Tất cả
điều này nổi lên từ những ý niệm tầm thường, từ tâm
mê tín của tôi. Theo giáo lý Kim Cương thừa, có đến tám
mươi sự mê lầm, một số thuộc dạng thô, còn lại là vi
tế. Tất cả các sự mê lầm đó cần được tịnh hóa. Chúng
ta cần phải tịnh hóa cái thấy biết nhị nguyên bất tịnh
nó giống như một cơn giông mạnh làm cho máy bay rớt và nó
phá hủy nhà cửa tài sản. Do đó, chúng ta cúng dường lễ
Tsok cam lồ – mà bản chất của nó là bản chất trí huệ
của Ngũ Trí Như Lai. Chúng ta dâng lễ này cho Guru Vajrasattva
khẩn cầu Ngài gia hộ cho bốn lễ quán đảnh hiện thực.
Tại
sao chúng ta khẩn cầu thêm các lễ quán đảnh khi chúng ta
đã nhận được nhiều lễ rồi ? Thực ra, vấn đề ở chỗ
là : chúng ta đã thực sự nhận được lễ quán đảnh nào
chưa ? Rất gian nan để nhận được một lễ quán đảnh thực
sự. Nó không phải là một cái gì đó như bạn nhận từ
một vị Lama một cách đơn giản. Theo quan điểm tôi – và
tôi hy vọng là không quá cực đoan – trong một lễ quán đảnh,
người đệ tử quan trọng hơn vị thầy (guru).
Mặc
dầu tôi nói rất khó nhận được bốn lễ quán đảnh đúng
thực tôi không có ý nói rằng nhất định bạn chẳng nhận
được gì. Sự quán đảnh mà bạn nhận được sẽ được
xác định bởi mức độ hiểu biết của bạn. Trong một nhóm
hai trăm người tụ hợp lại cũng không có lấy được hai
người có cùng một kinh nghiệm y nhau. Và mặc dầu vị lama
ban bốn lễ quán đảnh, rất có thể chẳng ai nhận được
cả bốn lễ đó. Một số người có thể cảm thấy rằng
họ đã không nhận được gì, họ hỏi bạn bè “Có phải
tôi đã nhận được lễ quán đảnh không ?” Đó là việc
mà tự bạn phải thẩm định lấy, không ai khác có thể nói
cho bạn là bạn đã nhận được cái gì. Tuy nhiên, rất hiếm
hoi có được một người thật sự nhận được bốn lễ
quán đảnh.
Cũng
vậy, mức độ mà bạn nhận dược lễ quán đảnh tùy thuộc
vào vị hóa thần liên hệ và những điều kiện của buổi
lễ. Bạn có một mối quan hệ nghiệp báo rất mạnh với
một số vị Hóa thần và có thể yếu hơn với các vị kia.
Và tôi nói rằng các điều kiện sẽ ảnh hưởng tới kinh
nghiệm của bạn vì tôi đang nói tới sự quán đảnh tương
đối chứ không tuyệt đối. Do đó, kinh nghiệm của bạn
có khác nhau.
Điều
chủ yếu đối với bạn là nâng tâm thức mình khỏi những
ý niệm chấp tướng cụ thể bình thường hàng ngày. Ít nhất
nếu bạn có thể làm được như vậy thì bạn đang tinh tấn.
Người ta đa phần không bao giờ tự đặt mình vào một tình
huống để họ có thể thiền định, hay được nhạy cảm
hay tỉnh giác. Nếu sự tham dự vào lễ quán đảnh sẽ cho
bạn một cơ may để làm được như vậy thì bạn nên lợi
dụng tối đa tình huống đó. Bạn không phải tìm kiếm kinh
nghiệm thật đặc biệt. Trong thế kỷ hai mươi này, có thể
nói là đủ nếu bạn chỉ cần cố gắng kinh nghiệm được
sự tĩnh lặng, phúc lạc và sự siêu việt. Tại sao tôi nói
sẽ coi là đủ nếu chỉ cố gắng ? Hãy chỉ quan sát so sánh
cuộc sống bạn có hàng ngày trong cái ổ sanh tử này với
những gì bạn đang làm ở lễ quán đảnh. Ăn uống, nhảy
đầm không bao giờ có thể so sánh được với việc cố gắng
phát triển tâm thức.
Một
số người nói rằng : “Tôi đã nhận được quán đảnh
này còn bạn thì không.” Tôi không tin vào loại tự cao tự
đại này. Những người Tây Tạng, những người Tây phương,
trong số họ có ai có thể nói là ông nào bà nào đã nhận
được sự quán đảnh nào ? Chỉ có chính cá nhân đó có
thể nói đã nhận hay chưa nhận quán đảnh. Bạn không thể
xác định việc này cho người khác. Đó là lý do tại sao
tôi thường cho phép những người thành khẩn đến lễ quán
đảnh. Tôi không thể nói được tâm linh của người nào
đó là cao hay thấp. Tôi cũng không thể nói quán đảnh sẽ
có lợi cho họ hay không. Hãy thận trọng. Cứ cho là bạn
chứa sẵn một ý nghĩ tự cao là bạn đã nhận được lễ
quán đảnh này hay lễ quán đảnh nọ, nhưng bạn có thể
chắc chắn không ? Bạn có thể đỏ cả mặt ở đó khi lễ
quán đảnh được tổ chức, nhưng có lẽ bạn chẳng nhận
được gì.
Nếu
bạn đi tới lễ quán đảnh với một thái độ đúng đắn
và với một tâm mở rộng, tôi bảo đảm rằng bạn sẽ nhận
được một sự rung động đặc biệt. Như vậy là đủ. Bạn
không cần phải có một tri thức siêu đẳng và hỏi : “Tại
sao tôi làm điều này ? Nó có tác dụng như thế nào ? Tất
cả mấy công chuyện này của người Tây Tạng để làm gì
? Tôi sẽ không tham dự lễ quán đảnh cho đến khi nào tôi
hiểu biết tất cả những việc này.” Thật là vô nghĩa.
Đoạn
bảy
Chúng
ta phá bỏ giới nguyện và các việc cam kết thực hiện một
cách có ý thức hay không có ý thức do ta không kiểm soát
được ; việc phá bỏ này bị xui khiến thúc đẩy bởi một
sức lực giống như cơn bão thịnh nộ. Chúng ta thấy quá
khó tự kiềm chế mình để khỏi vi phạm. Tôi cho rằng trong
mức độ nhất định nào đó thì người nào tự tin rằng
mình trong sạch thánh thiện có thể bất thiện hơn những
người nhận ra được mức độ bất tịnh họ phạm phải.
Người trước sẽ không bao giờ nỗ lực tịnh hóa bản thân
như lạy sám hối, ẩn cư nhập thất… trong khi người sau
sẽ tu tập mãnh liệt để tịnh hóa tâm họ. Các điều bất
thiện đổ ập tới mà không kiềm chế được, sự phá bỏ
các giới nguyện cam kết, cảm giác bị bất tịnh và cái
thấy không thật huyễn hóa về kết quả, những địa ngục
Vajra, tất cả đều là nhị nguyên và phải được tịnh hóa.
Chúng ta cúng dường lễ Tsok với lời khẩn cầu được gia
hộ để thấy biết độc nhất sự thanh tịnh.
Dâng
lễ cúng dường cho vị sư Kim Cương
Trong
tựa đề “Vòng các lễ vật cúng dường tinh sạch,” chúng
ta gọi là “vòng” bởi vì những vị hóa thần nam và những
vị hóa thần nữ cùng tụ hội với nhau để dâng lễ Tsok.
Khi chỉ có hoặc những hóa thần nam hoặc những hóa thần
nữ riêng biệt thì chúng ta không coi Tsok như là một vòng.
Theo Kim Cương thừa, việc họ (nam và nữ) cùng đến khiến
cho sự cúng dường được mãnh liệt hơn. Dòng kế tiếp nói
rằng cam lồ chúng ta dâng cúng thoát khỏi hình tướng nhị
nguyên của chủ thể và khách thể.
“Các
sự đáp ứng của vị sư Vajra.” Mỗi lần bạn nếm Tsok,
nó đi tới luân xa rốn của bạn, gây nên một sự bùng nổ
niềm phúc lạc không thể hình dung được, đó là sự nổ
bùng phúc lạc của năng lực “tum-mo” ở bên trong kinh mạch
trung ương của bạn.
Dâng
cúng lễ Tsok còn lại
Các
vị hộ pháp mà chúng ta dâng cúng lễ này là các vị hộ
pháp bên ngoài, bên trong, bí mật, và chúng ta khẩn cầu chư
vị gia hộ cho chúng ta thực hành Pháp để làm lợi lạc cho
những chúng sanh khác trong nhiều cách khác nhau có thể.
18
HERUKA
VAJRASATTVA TSOK :
BÀI
GIẢNG THỨ HAI
Tôi
đã viết một bản văn ngắn có đầu đề : “Một bữa tiệc
của vòng đại lạc với những lễ vật tinh khiết dâng cúng
: Thuốc giải độc cho Địa ngục Vajra,” bởi vì tôi đã
nghĩ rằng chúng ta cần một phương pháp mãnh liệt để tịnh
hóa các điều bất thiện tiêu cực của chúng ta, và tôi cũng
nghĩ rằng đây là phương pháp tốt để tịnh hóa. Cho dù
bản văn ngắn nhưng nó bao gồm toàn bộ con đường có thứ
bậc (lam-rim – tiệm đạo), bắt đầu với phần buông bỏ
cho đến phần kinh nghiệm Kim Cương thừa về giác ngộ.
Trong
các giáo lý như Guru Puja phần cúng dường được thực hiện
trước nhất và phần tóm lược con đường thứ bậc đưa
đến giác ngộ tiếp theo đến lúc chót. Ở đây tôi đã cố
bao gồm các chủ đề của con đường có thứ bậc vào trong
các đoạn dâng lễ Tsok. Mỗi đoạn chứa đựng một chủ
đề “lam-rim” bởi vì tôi cho rằng cách này là cách trực
tiếp hơn để giao tiếp thông tin những gì mà cuộc sống
chúng ta bị thiếu, những gì làm hủy hoại cuộc sống và
bằng cách nào để chúng ta có thể làm cho cuộc sống tốt
hơn. Chúng ta bắt đầu với “guru goya” rồi tiếp tới chủ
đề sự tái sanh thân người quý báu, đến chủ đề tính
vô thường và sự chết, sự buông bỏ, phát Bồ đề tâm,
tánh Không và Kim Cương thừa.
Các
đệ tử phương Tây đang tu tập Pháp cũng đã thực hành rất
nhiều lễ Puja như Guru Puja, Tara puja, Jor-choš, và vân vân,
cho nên tôi nghĩ rằng tôi sẽ viết về một Puja mới mẻ
để họ thực hiện khi họ thấy nhàm chán với các puja khác,
nhưng không phải chỉ có thế. Bởi vì các Puja thường lệ
khá dài và trong thế giới ngày nay chúng ta luôn thiếu thời
giờ nên tôi giữ cho Puja này được ngắn gọn. Việc ấy
cũng dễ làm, và nó hoàn tất nhanh chóng. Dù sao nó là một
sản phẩm của sáng tạo ngoại lệ của riêng tôi.
Bây
giờ, thuật ngữ “Địa ngục Kim Cương” (Vajra Hells) có
nghĩa gì ? “Vajra – Kim Cương” có nghĩa tương đối hoặc
tuyệt đối, ở đây tôi đề cập tới Vajra tương đối như
trong chày Kim Cương và chuông – các đạo cụ Kim Cương thừa
mà chúng ta sử dụng. Từ “Kim Cương” có nghĩa không bị
hủy diệt, giống như chất kim cương. Kim cương cứng chắc
hơn hầu hết các vật liệu khác ; nên rất khó đập bể
kim cương. Đó là nghĩa bao hàm của từ Varja. Rất có thể
có một thế giới bất hạnh tồn tại mãi, không hủy diệt
được ? Ồ ! Điều đó là một kiểu nói phóng túng thơ văn,
một sự phóng đại chút đỉnh. Không có một cái gì như
thế được coi là một hiện tượng thường hằng không thể
thay đổi. Tuy nhiên khi bạn bị cực khổ bất hạnh trong một
thời gian lâu bạn có thể cảm thấy : “Tôi không bao giờ
có thể vượt qua được sự cực khổ này.” Đối với đa
số trong chúng ta, sự tuyệt vọng – suy sụp tinh thần –
chỉ kéo dài vài tiếng đồng hồ, nhưng có người chịu đựng
sự suy sụp này suốt cả cuộc đời. Họ chắc chắn cảm
thấy sự bất hạnh của họ không thể kết thúc được.
Đó là một kinh nghiệm : “địa ngục kim cương.” Dù gì
thì “địa ngục kim cương” chỉ là một cách nói mà thôi,
bạn không thể hiểu theo nghĩa đen của từ ngữ này.
Phước
điền
Thông
thưòng khi chúng ta dâng lễ vật cúng dường, chúng ta quán
tưởng đối tượng mà chúng ta dâng lễ, trong phép thực hành
này đối tượng dâng lễ là ngài Guru Vajrasattva. Chúng ta cũng
quán tưởng và thiền định về mạn đà la Vajrasttva, ở đó
Guru Vajrasattva trú ngụ.
Hai
dòng đầu của đoạn này nói về phẩm chất của sự quán
tưởng bạn thực hành. (Xin trích ra từ phần phụ lục : De-tong
nyi-su me-paši nam-rošl-laš, Jung-waši Dor-je Sem-paši zhašl-yaš-Kang).
Đó là sự chuyển hóa của ánh sáng. De có nghĩa là niềm
phúc lạc, tong có nghĩa thực tại tánh Không của vũ trụ
; nyi-su là không có thực thể nhị nguyên. Mạn đà la Vajrasattva
thể hiện từ một hình tướng có những phẩm chất như vậy.
Điều này thực sự hoàn toàn thâm diệu. Các đệ tử cũ
học đạo lâu có thể hiểu điều này, nhưng các đệ tử
mới mẻ, đông đảo tham gia rất có thể sẽ thấy nó như
một giấc mơ thoáng qua, một loại ý niệm mới và trống
rỗng.
Về
cơ bản, tất cả chúng ta có một quan niệm hạn hẹp về
bản tánh của chính mình và bản tánh thế giới mà chúng
ta đang sống. Thêm vào dó chúng ta đặt để một phóng chiếu
phóng đại lên trên mặt quan niệm hạn hẹp sẵn có của
chúng ta về thực tại. Chúng ta không thâm nhập vào trong tâm
của thực tại và thậm chí chúng ta cũng không chạm được
vào thực tại của mặt đất mà chúng ta đang đứng. Đó
là vấn đề của con người. Chúng ta không có được cái
thấy hiểu sâu sắc thực tại bên trong lẫn bên ngoài của
mình.
Chúng
ta luôn nói rằng chúng ta muốn cải thiện phẩm chất của
cuộc sống, muốn có một cuộc sống có ý nghĩa, hạnh phúc,
sâu sắc và hoan hỷ. Chúng ta dùng tất cả những loại từ
ngữ để mô tả một cuộc sống hoàn chỉnh mà chúng ta muốn
có. Để dẫn tới một cuộc sống hoàn chỉnh, toàn thiện,
bạn phải hiểu được bằng cách nào bạn sẽ thấy được
cả hai : bản tánh của riêng bạn và bản tánh của hiện
tượng bên ngoài. Việc bạn có thể làm được như vậy hay
không sẽ quyết định cuộc sống của bạn sẽ hạnh phúc
hay không.
Một
mạn đà la là một cái thấy về một thế giới toàn diện
hoàn chỉnh trong đó bạn nhận ra bản tánh nền tảng mà không
có sự phóng chiếu nhân tạo, không có ảo tưởng. Rồi, bạn
có sự linh hoạt, sống động, một sự lựa chọn tự do nào
đó. Những thành kiến và sự ôm giữ quan điểm khái niệm
có tính nhị nguyên về sự tự hiện hữu nội tại, đã làm
cho cuộc sống của bạn vô vọng, không chịu đựng nổi.
Khi bạn quán tưởng một mạn đà la, bạn thấy mọi thứ
– bản thân mình và môi trường, mọi thứ chung quanh – trong
bản tánh phúc lạc ; bạn chạm đến thực tại căn bản của
tất cả mọi cái hiện hữu. Với loại nhận thức này, sự
thấu biết này – bạn có thể loại bỏ sự thất vọng và
những bất hạnh khác và do đó bạn hưởng thụ cuộc sống.
Rồi
thì có thể nổi lên câu hỏi : “Làm sao thầy có thể nói
rằng mọi thứ đều phúc lạc.” Tôi được phúc lạc, hoa
lá phúc lạc, bạn bè tôi phúc lạc ? Có những việc rất
bất hạnh, làm sao thầy nói những việc đó có thể được
chuyển hóa thành ra các đối tượng phúc lạc ?”
Khi
bạn chạm đến bản tánh căn bản, thực tại tối thượng
của bất kỳ hiện tượng nào, thì có lạc thú. Mọi thứ
hiện hữu đều có khả năng mang lạc thú vào tâm bạn. Nhưng
tự bạn quá chật hẹp. Tâm bạn có những mối ám ảnh tâm
thần như là : “Tôi chỉ thích những thứ có màu tím than.”
Đối với bạn chỉ có những thứ gì màu tím than là đẹp.
Kiểu suy nghĩ này kém thực tế, nhị nguyên, tâm thần, chỉ
làm cho bạn gặp khốn khổ. Nhưng đó là những gì chúng ta
làm suốt cả đời người, phải không ? Hãy rà soát lại
những gì mà tâm của bạn cho là đẹp. Cái đẹp chân thật
thì ở khắp mọi nơi. California không phải là nơi duy nhất
có sự vui thú và môi trường hấp dẫn. Mọi nơi đều có
cái đẹp riêng nó.
Bạn
có thể thấy rằng khả năng ban tặêng phúc lạc của một
đối tượng không tùy thuộc vào chính bản thân đối tượng
đó. Theo quan điểm khoa học, mọi đối tượng có một thứ
thực tại chung, một bản chất căn bản được san sẻ. Cái
bản chất chân thật này là cái thực sự đẹp. Đây là cái
thực sự ban tặng cho bạn sự thỏa mãn.
Cách
chúng ta giải thích cái đẹp của một đối tượng bằng
hình dạng, màu sắc, vân vân – thì quá ư tương đối, quá
ước lệ. Cái đẹp như vậy giống như một thứ ba phải,
cơ hội : buổi sáng tôi thấy một đối tượng đặc biệt
nào đó, tôi cho là đẹp, buổi chiều hôm đó nó có vẻ xấu
đi. Tự mình thất thường, lên xuống. Đó là rắc rối chính.
Chúng ta cần có một cái nhìn rộng rãi về cái gì đã tạo
nên một đối tượng phúc lạc.
Về
phương diện triết học và tâm lý học của Kim Cương thừa,
khi bạn có được trí huệ phúc lạc hiểu thấu được bản
tánh căn bản hay thực tại chân thật của tất cả những
gì hiện hữu thì mọi sự sẽ biểu hiện thành ra đối tượng
phúc lạc. Nhưng nếu bạn không có trí huệ đó, thì riêng
bản thân đối tượng không thể làm cho bạn có được phúc
lạc. Kinh nghiệm loài người đã cho thấy điều này đúng.
Khi bạn đang đau khổ, thất vọng, bất cứ cái gì bạn trông
thấy đều không thể làm bạn hạnh phúc. Khi bạn đang bị
suy sụp tinh thần kinh khủng nếu tôi đưa bạn xem một món
đồ đẹp thì liệu nó có làm cho bạn vui sướng được không
? Không. Không có một năng lực từ tính nào như vậy. Thông
thường thì đối tượng và chủ thể thu hút với nhau để
phát sanh ra một bầu không khí lạc thú hay khổ đau. Các phẩm
chất của cuộc sống không đến từ bên ngoài mà đến từ
mức độ thỏa mãn của bạn. Nếu bạn có phẩm tính giàu
có sung mãn ở trong bạn thì mọi thứ bên ngoài sẽ làm bạn
hài lòng.
Một
cuộc sống gia đình hạnh phúc, hài lòng sẽ đến từ tâm
của con người chứ không từ những sở hữu vật chất. Bạn
có thể thấy được làm sao mà cuộc sống nhiều gia đình
giàu có ở Mỹ lại bất hạnh hơn những người nghèo. Có
lẽ các bạn sẽ không công nhận điều này bởi vì bạn ở
bên nước Mỹ. Nhưng tôi không có ý định thảo luận công
chuyện ở Mỹ vì tôi là người nước ngoài. Tôi không có
công việc gì đặc biệt ở đây. Tôi chỉ đến tham quan.
Có lẽ tôi hơi khắt khe vì tôi không có gì liên hệ với
lối sống của Mỹ. Nếu tôi đã sống lối Mỹ, ắt hẳn
tôi không để ý thấy được những gì mà giờ đây tôi thấy.
Nếu
bạn sanh ra trong xã hội này (xã hội Mỹ) thì rất khó nhận
ra rằng các sở hữu vật chất không mang lại hạnh phúc bởi
vì sự quan tâm nổi bật nhất của dân Mỹ là bằng cách
thức nào để sự giàu có mang lại hạnh phúc. Tuy nhiên, thái
độ này hoàn toàn đi ngược lại sự thật. Rủi thay, xã
hội Mỹ xây dựng trên tiền đề sai lầm này nên các bạn
phải giải quyết việc đó.
Sự
thỏa mãn chân thật đến từ bên trong bạn. Điều này không
có nghĩa rằng bạn phải từ bỏ những lạc thú của người
Mỹ. Nhưng những lạc thú kiểu Mỹ đó có làm cho bạn lạc
thú hay không là tùy thuộc vào tâm bạn. Những lạc thú đó
có thể làm cho bạn khổ đau, bất hạnh, nếu có như vậy
là do lỗi của chính bạn chứ không phải do xã hội Mỹ.
Thái
độ của Phật tử là : “Tôi có trách nhiệm với phẩm chất
của cuộc sống của tôi. Tôi có trách nhiệm với sự thỏa
mãn của riêng tôi.” Bạn không thể đổ tội cho cha mẹ
bạn, cho chồng hay vợ. Cái kiểu đổ lỗi như vậy, không
bao giờ chấm dứt. Nó không có chỗ dứt bởi vì nó không
hợp luận lý và không thể giải quyết được vấn đề.
Các người chủ trương duy vật hay tư bản đã có những tư
tưởng sai lầm không thể ngờ được. Theo quan điểm Phật
giáo, những tư tưởng sai lầm là nguyên nhân chính của khổ
đau.
Tư
tưởng sai tạo ra nghiệp bất thiện, nó đưa tới khổ đau.
Về cơ bản, tư tưởng sai lệch là gì ? Chẳng hạn, cách
suy nghĩ : “sự vui thích và sự thành công của tôi tùy thuộc
vào những người khác” hay “một mức-sống-cao-hơn và các
sở hữu vật chất nhiều hơn sẽ mang lại sự thỏa mãn cho
tôi” hay “các đối tượng vật chất là tất cả những
gì tôi cần có cho sự hạnh phúc của tôi.” Những ý tưởng
như vậy hoàn toàn sai lệch. Nếu bạn biết cách suy nghĩ,
bạn sẽ biết cách để tự mình hưởng thụ cuộc sống cho
dù mức sống của bạn là cao hay trung bình hay thấp đi nữa
cũng không thành vấn đề. Đây là điều quan trọng nhất.
Hãy
quán tưởng rằng ở trước mặt của mạn đà la Vajra-sattva,
toàn khắp không gian tràn ngập các đối tượng tuyệt vời
của năm giác quan, các đối tượng đại lạc của các lễ
vật cúng dường (của Samantabhadra : Phổ Hiền) như có nói
trong câu số bốn của đoạn đầu. Trong sự tu hành của người
Phật tử, các lễ vật được dâng để cúng dường không
chỉ cho chư Phật, các chư Thánh, mà cũng cho tất cả chúng
hữu tình nữa. Bạn phải nên nhận ra tính cách thiêng liêng
bên trong những người khác như là : khả năng giác ngộ tiềm
tàng hay “Phật-sẽ-thành” của họ. Trong Kim Cương thừa
chúng ta chuyển hóa tất cả chúng sanh hữu tình thành ra các
daka và dakini có hình tướng đại hoan hỷ và đẹp tuyệt
trần. Trong không gian đại lạc bất nhị, các chúng hữu tình
xuất hiện như là các daka và dakini trong nhiều hình tướng
khác nhau : hoan hỷ, an bình, mãnh liệt, hung nộ ; một tổng
thể đa dạng của các sự biểu lộ khác biệt nhưng hoàn
toàn thống nhất. Chúng ta coi họ như là hiện thân của phương
tiện và trí huệ được hợp nhất chứ không phải như là
ngạ quỷ hay hình tướng thể hiện khổ đau. Nếu bạn quán
tưởng những hình tướng trông vẻ đau khổ bạn sẽ tự
mình cũng cảm thấy đau khổ – và như vậy dù gì cũng không
thuận lợi.
Do
đó, điều quan trọng là chuyển hóa bản chất đối tượng
mà bạn quán tưởng thành ra đại lạc và nhận ra thực tại
căn bản của đối tượng đó, và bằng cách đó bạn loại
bỏ được tất cả các khởi niệm nhị nguyên. Bạn cũng
quán tưởng và dâng cúng bất kỳ đối tượng giác quan nào.
Về phương diện tâm lý, đa số chúng ta bị “câu móc”
với những ý nghĩ hạn hẹp và đau khổ như là : “Ồ ! Tôi
không đủ tiền để thực hiện chuyến đi nghỉ.” Chúng
nghĩ như vậy ngay cả khi chúng ta có đủ tiền. Khi bạn đang
thực hành pháp cúng dường lễ Tsok này, bạn nên quán tưởng
các đối tượng nhiều vô hạn của các giác quan, quán tưởng
chúng càng đẹp càng hỷ lạc càng tốt và không hề cạn
kiệt, rồi dâng các lễ vật đó cho tất cả – chư Phật
và chúng sanh hữu tình – mà không hề có sự phân biệt.
Chúng ta cần loại u hành này.
Thông
thường chúng ta chỉ cho cái gì đấy cho người mà ta ưa thích
và không cho người mà ta không ưa. Đấy là cách Tây phương.
Ít ra thì ở Đông phương chúng tôi có nhiều, có thừa người
ăn xin để giữ cho chúng tôi luôn có xu hướng bố thí cho
người lạ. Những người dư tiền cho hàng ngàn “rupi” cho
người nghèo. Họ không phải là bạn bè của người giàu,
phải vậy không ? Chính môi trường hoàn cảnh khiến xui tạo
ra việc bố thí như vầy. Nên có thể nói ở phương Đông
chúng tôi có những điều tốt. Vài người nghĩ rằng ở thế
giới thứ ba chúng tôi chẳng có gì để cho đi. Thậm chí
họ cũng không có não trạng để làm giàu và được sung sướng.
Dĩ
nhiên, nước Mỹ cũng có người nghèo nữa. Có nhiều người
đói khổ suốt ngày lục lọi thùng rác của người khác và
ăn những thứ mà người khác đã ném bỏ. Bạn có thể thấy
việc này trên truyền hình và ở các thành phố lớn. Người
giàu không cho người nghèo không phải vì họ không có gì
để cho nhưng vì họ không thích người nghèo. Họ để cho
người nghèo bị đói. Như vậy đấy, rõ ràng không phải
tôi đang bàn tới chính trị hay tôn giáo ở đây. Thái độ
này thật là tệ. Tâm ích kỷ chỉ bố thí cho người mà tâm
đó thích chứ không cho những người mà nó không thích, bất
chấp đến nhu cầu của người khác. Sự cần thiết cho riêng
mình là điều quan trọng nhất, sau khi lo cho mình xong, chúng
ta mới cho người khác. Đó là luân hồi sanh tử.
Chúng
ta phải rèn luyện tâm ta trong việc bố thí vô tư và hào
phóng. Nhưng bố thí không có nghĩa là chỉ việc trao tay một
số tiền hay một cái gì. Đừng nghĩ rằng : “Bản thân tôi
rất nghèo, làm sao tôi cho ai được ?” Sự bố thí chân thật
là sự có được một thái độ bố thí. Và thái độ tiêu
cực như “tôi không muốn bố thí” chính là sự không bố
thí. Và đó là ích kỷ. Việc dâng lễ Tsok là một sự rèn
luyện tuyệt vời để vượt qua được những thái độ như
vậy. Trong việc dâng lễ Tsok, tất cả chúng sanh hữu tình
đều là khách mời ở bữa tiệc dâng lễ của bạn, và bạn
thực hiện buổi lễ cúng dường rộng khắp đến tất cả
hữu tình. Việc rèn luyện tâm chúng ta theo cách này rất quan
trọng nếu chúng ta muốn thành đạt trong con đường thực
hành pháp và cả trong đời sống nữa.
Chú.nguyện
những lễ vật dâng cúng ở bên trong
Bạn
hãy nhớ rằng phương pháp cúng dường những lễ vật là
để nhận ra bản tánh hay cách thức hiện hữu căn bản của
bất cứ cái gì bạn đang cúng dường. Điều này áp dụng
cho những lễ vật thực tế mà bạn đã đặt trên bàn thờ
và cũng áp dụng cho những lễ vật đẹp lộng lẫy mà bạn
quán tưởng và đầy ắp không gian.
Chủ
đề rộng lớn về sự dâng cúng ở bên trong đã được giảng
giải ở bài khác nên tôi không có ý bỏ nhiều thời giờ
đề cập ở đây. Tuy nhiên, hãy lấy ví dụ, bạn đang dâng
một chén trà. Hãy quán tưởng trong cùng không gian ở trên
chén trà, các mẫu tự từ dưới lên trên : OM, AH, HUM. Ánh
sáng trắng rực rỡ tỏa ra từ mẫu tự OM, chiếu ra mười
phương không gian thu hút mãnh liệt các phẩm tính tối thượng
của sắc thân của tất cả các đấng giác ngộ, những đấng
đó có đại huệ, đại từ, đại bi và có đời sống hoan
hỷ tuyệt trần. Các phẩm tính này quay trở lại chữ OM ở
dạng ánh sáng và rồi chìm vào trong chữ OM đó. Chữ OM tan
thành ra năng lực phúc lạc và tan vào trong trà.
Tia
sáng đỏ phát ra từ chữ AH cầu gọi lời nói tinh sạch của
các đấng Vô thượng ở mười phương. Tia sáng quay trở lại
và chìm vào trong chữ AH rồi chữ AH tan thành ra năng lực
ánh sáng phúc lạc và cũng hòa tan vào trong trà. Tương tự,
tia sáng xanh tỏa ra từ chữ HUM mời gọi trí huệ, từ và
bi thiêng liêng của các đấng Vô thượng ở mười phương.
Các phẩm chất giác ngộ này quay trở lại chữ HUM trong dạng
ánh sáng. Chữ HUM cũng tan vào trà.
Bạn
có thể chú nguyện bất cứ cái gì bạn ăn, uống theo cách
này. Với những thức ăn, thức uống mà bạn đã đặt tư
tưởng chú nguyện tập trung vào trong các thức đó, thì năng
lực sẽ giao tiếp và hòa hợp với hệ thần kinh của bạn.
Có một kiểu hài hòa đồng bộ giữa hệ thần kinh vật lý
của bạn và tâm thức của bạn.
Ở
Tây phương chúng ta dùng (ăn uống) hầu như mọi thứ, cho
dù có cái chúng ta chẳng hề quen. Chúng ta không tương giao
được với những gì chúng ta ăn uống. Những thức ăn, uống
đó khi vào hệ thần kinh chúng ta, có thể trở nên mang tính
phá hoại. Nó có thể gây ra ung thư. Đó là chuyện thường
xảy ra khi chúng ta chẳng để ý tới những gì chúng ta ăn,
uống. Các bạn có thể khó tin điều này, nhưng thân thể
chúng ta giống như một cái hoa, chứ không giống hòn đá hay
bê tông. Bạn có tin rằng thân thể con người có đặc tính
hữu cơ nhạy cảm như cái hoa không ? Khi bạn bón phân quá
liều cho một cái hoa chuyện gì xảy ra ? Nó bị cháy, úa tàn
ngay. Những sự vật hữu cơ cần sự quân bình, cân bằng.
Tôi thật sự tin rằng ở phương Tây, ngoài sự suy hoại mối
quan hệ giữa con người với nhau còn có sự suy hoại mối
quan hệ giữa người với thực phẩm họ dùng và môi trường.
Có
lẽ tôi không biết mình đang nói cái gì. Hẳn các bạn cho
rằng một tăng sĩ “bạo phổi” như tôi rõ ràng là đang
ngủ mơ khi cố gắng mô tả cuộc sống ở Mỹ. Vâng, tôi
chỉ đùa chơi một ít, nhưng trong một chừng mực nào đó
tôi cảm thấy rằng trong những quốc gia phát triển kỹ nghệ
hiện đại, người ta không đánh giá cao sự quan trọng bản
chất của thực phẩm. Họ chỉ việc ăn nhanh những gì để
trước mặt họ. Nếu họ không thích một món nào đó họ
sẽ lấy một món khác. “Không, tôi không thích cái này, mang
đến cho tôi coca cola. Không mang đến cho tôi seven-up.” Mọi
thứ loạn xạ lên. Điều này có thể làm cho cơ thể bị
sốc ; hệ thần kinh của bạn không thích nghi được và sẽ
la hét lên phản đối. Bạn phải để ý tới bản chất hữu
cơ của cơ thể bạn. Hãy có ý thức tới những gì bạn ăn
và uống. Với sự nhận biết sâu sắc bạn có thể phát triển
một mối quan hệ giao tiếp, hiểu biết lẫn nhau với những
gì nuôi sống bạn với bạn.
Bây
giờ, hãy trở lại (chủ đề) các lễ vật cúng. Các đối
tượng của năm giác quan phải được nhìn nhận như là năm
trí huệ có các màu sắc tương ứng và trong bản tánh chân
thật bất nhị, hỷ lạc. Chúng kích thích đại lạc và thỏa
mãn ở bên trong bạn. Việc nhận ra được điều này rất
có ích lợi để bạn phát triển được đại lạc.
Sự
dâng cúng các lễ vật và trì chú
Kế
tiếp là một loại yêu cầu được thực hiện cho vị guru,
người mà bạn dâng lễ vật này. Trong đoạn này, cam lồ
phúc lạc, năng lực toàn thiện căn bản cho sự đạt được
tất cả các chứng ngộ. Đó cũng là cái thấy thanh tịnh
của các bậc Du già (yogi và yogini) và do đó vượt khỏi cái
thấy của các chúng hữu tình thông thường. Lễ vật dâng
cúng để vị guru hưởng thụ với trí huệ đại lạc không
mê tín của ngài. Có một ý ẩn cần nói ở đây : Khi thưởng
thức các lạc thú giác quan, lúc đó ở chúng ta toàn là sự
mê tín lầm lạc, hay còn gọi là những quan niệm sai lầm.
Khi các chúng sanh ở cấp cao hơn hưởng thụ lạc thú, các
vị không phản ứng với các lạc thú đó với sự mê tín.
Ý
tôi muốn ám chỉ “mê tín” là gì ? Nó như thế này : chẳng
hạn tôi nhìn một cái hoa và dần dần, tôi phát triển mối
liên hệ với cái hoa đó. Tôi rờ nó, nhìn rất kỹ vào màu
sắc của nó. Tôi nghĩ cái hoa tuyệt vời làm sao, rất dễ
thương làm sao ! Nó đem đến cho tôi sự thú vị lớn lao biết
bao ! Không có gì khác làm cho tôi vui thú như vậy. Cái hoa
đó trở thành người bạn thân thiết nhất của tôi. Sự
đóng góp những tính chất tốt đẹp này cho cái hoa là sự
mê tín. Tôi áp đặt thêm lên mối tương quan nhiều phẩm
chất, nhiều tính cách mà chúng thực ra không có ở đó. Sự
đặt chồng lên đó đã tạo sức ép lớn đối với mối
quan hệ ; ngay khi bạn mô tả cái hoa như thế này, thế nọ,
như một cái nào khác, bạn đang tạo sức ép trên mối quan
hệ. Mỗi khi bạn thấy hoa đẹp đẽ, xinh tươi, tuyệt vời
biết bao tức là bạn tự trói buộc mình càng lúc càng chặt
lại hơn. Toàn bộ sự việc trở thành một sự tưởng tượng
; sự tiếp xúc tương quan này không hiện thực. Nó quá ư
phiếm diện, và bề ngoài. Nó tạo ra sự căng thẳng, nên
thay vì được thư giãn, được cởi mở thì bạn lại bị
cột trong những cái gút. Đó là sự mê tín. Sự thiết lập
mối quan hệ có tính tưởng tượng với người và vật theo
kiểu này chỉ có thể đưa tới rối loạn, phiền não.
Ngược
lại chư Phật và chư Bồ tát hưởng thụ lạc thú theo một
cách hợp lý hơn nhiều. Chư vị không có cách liên hệ với
các lạc thú như kiểu phóng đại, quy ước và phiếm diện
của chúng ta. Họ rất hiện thực (thực tế) hơn ; họ đạt
tới được bản tánh nền tảng của thực tại. Những lạc
thú của họ ổn định hơn, được điều phục hơn, và mang
lại tình thương và bình an vĩ đại. Đó là lý do tại sao
ở dòng cuối của đoạn này chúng ta khẩn cầu Guru Varjasattva
hưởng thụ cam lồ vô thượng với trí huệ không mê tín
và đại lạc.
Nên
giờ đây bạn có thể thấy rằng “mê tín” là tâm thức
nó đã dẫn dắt bạn đi lầm đường bằng sự phóng đại
các phẩm chất của các đối tượng, bằng sự nhìn thấy
các sự vật mà chúng thực ra không có ở đó. Mê tín là
không thực tế và làm cho cuộc sống của bạn thành ra một
sự tưởng tượng điên đảo. Nhưng nếu bạn hiểu rõ ràng
về mối quan hệ của bạn với những cái khác, y đích thực
nó như vậy, thì sẽ không có quá nhiều căng thẳng giữa
các bạn. Nếu bạn vượt qua được sự mê tín, bạn sẽ
luôn hạnh phúc. Đó là lý do tại sao chúng ta có những thiền
định để loại bỏ mê tín : Để làm cho bạn khỏe mạnh
và mang lại sự tỉnh giác trong sạch sáng suốt, sao cho bạn
không bị ô nhiễm hay mê lầm.
Bất
kỳ mối quan hệ nào cho dù đem lại vui sướng hay khổ đau
cũng đều vô thường và tạm bợ. Bản thân chúng ta cũng
đã tạm bợ, cho nên các mối quan hệ của chúng ta nhất thiết
phải tạm bợ. Chúng ta phải chấp nhận điều này. Tôi cho
rằng việc hiểu được bản chất của các mối quan hệ –
đối với người Mỹ – là đặc biệt quan trọng. Các mối
quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, giữa bạn bè, giữa bất
kỳ ai đều luôn luôn thay đổi bất kỳ lúc nào. Trong thời
gian đó, người ta đau khổ. Chính sự thay đổi gây ra đau
khổ. Tôi hy vọng bạn hiểu được điều này. Mọi sự đều
thay đổi, nên dĩ nhiên tình bạn của bạn cũng sẽ thay đổi.
Nếu bạn hiểu được rằng các mối quan hệ có bản chất
là tạm thời thì bạn sẽ không cảm thấy một sức ép nào
; bạn sẽ có một chỗ trống để giao tiếp, để cho sự
việc diễn tiến. Bạn sẽ thấy được bằng cách nào mà
các mối quan hệ luôn thay đổi đó làm cho bạn không hạnh
phúc. Nhưng đừng nghĩ rằng chính đối tượng luôn thay đổi
làm bạn đau khổ. Không ! Chính sự tương giao không hợp lý
của bạn bên trong mối quan hệ là nguồn gốc của sự mê
lầm, ảo tưởng.
Khi
người gần gũi nhất thân thuộc nhất của bạn bị chết
bạn than khóc và cảm thấy tuyệt vọng kinh khủng. Thậm chí
bạn có thể tuyệt vọng trong thời gian rất lâu. Điều đó
chẳng ích lợi gì. Chết là chết. Chết là tự nhiên, chết
cũng được thôi, bạn phải chấp nhận nó. Dĩ nhiên, tôi
chỉ đang đề cập tới khía cạnh lý trí ở đây.
Hưởng
thụ mà không mê tín thì thật khó. Đạo Phật dạy rằng
bạn phải có sự hưởng thụ lớn lao và một cuộc sống
phúc lạc. Điều gì ngăn không cho bạn có được kinh nghiệm
này ? Chính là sự mê tín. Vì mê tín, bạn không tiếp xúc
được với thực tại nền tảng.
Đoạn
một
Thân
cầu vòng của Vajrasattva ở trong không gian. Sắc thân nầy
ở trong bản tính của người hướng dẫn tâm linh cho bạn,
vị hóa thần, daka và dakini của bạn, vị hộ pháp của bạn.
Có một sự tương tự giữa phương cách người Kitô giáo
thừa nhận Chúa là Chúa duy nhất và chúng ta, người Phật
tử, công nhận bản tánh tinh túy của Vasjrasattva như là bậc
giải phóng chân thật. Trong đoạn này, chúng ta khẩn cầu
Vajrasattva tịnh hóa nhận định lầm lạc, mê tín, ảo tưởng
của chúng ta cho rằng Vajrasattva không phải là thể tánh của
vị thầy (guru), vị deity (hóa thần), daka và dakini và vị
hộ pháp. Trušl-nang có nghĩa là ảo tưởng, bị lừa dối.
Dù gì đi nữa, nhận định lầm lạc này là một sự mê tín,
không hiểu được cũng là một sự mê tín. Chúng ta đang ảo
tưởng, chúng ta phải tịnh hóa ảo tưởng này. Dâng cúng
tất cả đối tượng tuyệt vời của các giác quan cho Guru
Vajrasattva, chúng ta khẩn cầu các ban phước, hay sự cảm ứng
rằng trí huệ đại lạc phát sanh đồng thời sẽ nẩy nở
trong lòng chúng ta.
Trong
khi dâng lễ cúng dường, hãy thiền định tịnh hóa cái thấy
hay ý niệm nhị nguyên ảo tưởng. Nó không nhận ra được
tính nhất thể của các đấng thiêng liêng đó, mà thấy họ
là khác biệt riêng rẽ. Rồi thì, hãy trì chú Vajrasattva –
dùng một trong ba kỹ thuật thiền định thông thường (yašn-de,
mašn-de, phung-de) để tịnh hóa các điều bất thiện. Việc
làm này sẽ trừ tận gốc tất cả sự mê tín và các biểu
hiện tiêu cực nói chung cũng như cái thấy nhị nguyên ảo
tưởng đã đề cập đặc biệt trong đoạn này.
Pháp
thực hành này rất mãnh liệt bởi vì bạn thiền định trong
khi dâng lễ cúng dường, cầu nguyện và trì chú. Điều này
có một tác động mạnh đến tâm bạn : “Tôi đang ảo tưởng
khi tôi không nhận ra được sự nhất thể của Vajrasattva
với thầy tôi (guru) với vị Hóa thần của tôi (deity) các
vị daka, dakini, và vị hộ pháp của tôi. Họ đều là một
thể, nhưng tôi đã coi họ khác nhau – là hai. Đây là một
ảo tưởng, một biểu hiện được phóng chiếu bởi các quan
niệm nhị nguyên của tôi. Đây là điều mà tôi phải tịnh
hóa.”
Đoạn
hai
Kiếp
người của chúng ta thật quý hóa và có ý nghĩa nhất, nhưng
chúng ta hủy hoại kiếp làm người, khiến cho nó trở nên
vô ích, nguyên nhân là vì chúng ta khao khát ôm giữ các đối
tượng lạc thú và làm ô nhiễm năm thức giác quan. Do đó
chúng ta khẩn cầu Vajrasattva tịnh hóa các hình tướng nhị
nguyên ảo tưởng đã xui khiến chúng ta bám chặt các đối
tượng của các giác quan và chúng ta dâng lễ cúng dường
để khẩn cầu được các sự gia hộ và cảm ứng để buông
bỏ sự mắc dính với các lạc thú phàm tục của cuộc sống
kiếp người này.
Tôi
cho rằng điều quan trọng là phải mô tả cách thức chúng
ta hủy hoại kiếp người hoàn hảo của chúng ta. Ngay lúc
này đây, về phương diện vật chất, thân thể chúng ta không
có gì trục trặc, sai sót ; thậm chí trong lúc đau ốm chúng
ta cũng vẫn sử dụng được, vẫn thực hiện các hoạt động
với thân, khẩu, ý của mình. Nhưng đa số thời gian của
cuộc sống của chúng ta bị trôi qua đi bởi những hành động
vô ích, làm những chuyện chẳng có ý nghĩa. Ăn, ngủ, bài
tiết chưa đủ. Cái gì khiến cho kiếp người vô nghĩa ? Cái
gì phá hủy kiếp người ? – Chính là năm tri giác giác quan
của chúng ta. Chúng nó là vấn đề chính. Không có một trí
huệ mãnh liệt sáng suốt ở đằng sau chúng, cho nên chúng
đến để khống chế và điều khiển cuộc đời chúng ta.
Chúng
ta đi theo đuôi các thức giác quan một cách mù quáng. Chúng
nó bảo chúng ta : “Kem đá ngon tuyệt !” Nên chúng ta ăn
kem để tìm thấy thoả mãn. Rồi thì chuyện gì xảy ra ? Đa
số nhiều người ăn quá nhiều kem và bị bất hạnh. Họ
mập phì và họ nghĩ rằng các người khác không ưa thích
họ. Điều đó chưa chắc trúng nhưng đó là thứ mộng tưởng
mà chúng ta phóng chiếu.
Năm
thức giác quan của chúng ta khao khát và ôm giữ các đối
tượng cảm giác. Chúng nó phá hoại cuộc sống chúng ta bằng
cách làm cho chúng ta hẹp hòi, bủn xỉn. Chúng ta không sống
phục vụ những người khác và cuộc đời chúng ta trở nên
không có ý nghĩa, mất hẳn sự hài lòng, và thiếu hạnh phúc.
Nguyên nhân của toàn bộ sự bất hạnh khổ đau này chính
là chỗ chúng ta bận bịu nghĩ đến các lạc thú của các
giác quan của đời này. Sự ám ảnh này cần phải được
tịnh hóa.
Chẳng
hạn, nhiều người trong chúng ta thiền định và tất cả
đã có một số kinh nghiệm thiền định nhưng những kinh nghiệm
đó đã luôn luôn biến mất, phải không ? Bạn có một số
kinh nghiệm lớn trong kỳ nhập thất nhưng khi bạn trở về
nhà thì thói quen cũ lại nổi lên trên mặt và các kinh nghiệm
từ thiền định biến mất. Tôi biết những người họ đã
có được những kinh nghiệm thiền định lớn lao nhưng các
kinh nghiệm đó chỉ là những tia chớp lóe lên và như ánh
chớp sáng chúng nó không kéo dài được. Tất cả những gì
còn lại là một con ma đói !
Tôi
tin bạn cũng đã có những kinh nghiệm trong thiền định nhưng
tại sao bạn lại rơi trở lại vào trong đau khổ khi bạn
ngừng thiền định ? Tại sao khi bạn không thiền định thì
kiếp người quý báu của bạn trở nên vô ích, không có ý
nghĩa ? Tại sao bạn rơi trở lại vào đống rác cũ trước
đây ? Bởi vì bạn thất bại, không hiểu được rằng tất
cả các hiện tượng vui thú của thế giới này đều là như
huyễn. Bao lâu bạn cho rằng các hiện tượng lạc thú đó
là chân thật thì theo cách này, bạn sẽ tiếp tục làm tàn
lụi cuộc đời của bạn. Bạn cho các sự vật là có thật
bởi vì bạn có thể dùng tay chạm vào chúng được : bạn
có thể cảm giác được một cái gì đó, thế nhưng đấy
không phải là thực tại.
Tất
cả chúng ta đều đã thoáng thấy một cái gì đó có giá
trị trong khi thiền định, nhưng rồi sau đó chúng ta đã rơi
vào các thói quen cũ của chúng ta và rồi các kinh nghiệm có
giá trị đó đã biến mất. Đó là bởi vì chúng ta không
nhận ra rằng tất cả các kinh nghiệm từ các giác quan đều
là như huyễn. Chúng nó thuần túy là các phóng chiếu của
tâm, nhưng chúng ta thiết lập một mối quan hệ tưởng tượng
xung quanh các kinh nghiệm đó. Chúng ta tưởng tượng hóa. Hãy
lấy cái hoa làm ví dụ. Tôi nhắm mắt lại và chộp lấy
cái hoa, giữ chặt nó không để cho nó tự là nó. Nếu tôi
để nó ở một mình, nó sẽ vẫn đẹp đẽ, nhưng khi chạm
vào nó càng lúc càng sát vào hơn thì tôi phá hủy nó. Chúng
ta không nên như vậy. Chúng ta có thể xem, thưởng thức cái
hoa nhưng đồng thời nhận ra nó như là một sự tưởng tượng,
một ảo ảnh thị giác, không thực sự hiện hữu y hệt như
nó xuất hiện trước mắt chúng ta. Thị giác của chúng ta
hoàn toàn bị lừa dối. Theo quan điểm của một người Phật
tử, bạn chớ nên tin cậy vào cái gì mà các thức giác quan
nói cho bạn biết, không tin cậy rằng các sự vật thực sự
hiện hữu y như chúng nó xuất hiện cho các giác quan của
bạn.
Làm
sao để bạn loại bỏ được sự khát khao ôm giữ những
lạc thú của các thức giác quan của bạn ? Bằng cách nhận
ra rằng các đối tượng xuất hiện cho các giác quan là ảo
tưởng. Bạn phải nhận thức rằng bạn đang ảo tưởng hóa,
cho dù bạn có uống thuốc xì-ke hay không. Đây là sự thật.
Bạn không hiểu được đích xác cái gì xuất hiện trước
các căn của bạn. Chính việc cho rằng sự tưởng tượng
là thật đã làm nhiễm độc tri giác giác quan của bạn và
làm tàn lụi đời bạn. Đó là mấu chốt.
Lúc
nào cuộc sống của bạn cũng chao đảo. Bạn không thể chỉ
việc đổ thừa cho nghiệp lực của bạn. Chính thức giác
quan đóng vai trò quyết định, “Tốt, xấu ; tôi thích cái
này ; tôi không thích cái kia.” Các quyết định này không
xuất phát từ một cái gì đó trong nền tảng sâu xa của
bạn, mà giống như nghiệp lực. Thực ra, thị giác của bạn
có lỗi trong việc này. Nó làm hiện lên một ảo ảnh thị
giác và quyết định bạn đưa ra dựa trên ảo ảnh đó. Bạn
có thực sự nghĩ rằng trong cuộc đời bạn đã làm những
quyết định dựa trên những gì mà mắt đã bảo cho bạn
biết, những gì các tri giác giác quan vật chất đã bảo cho
bạn biết ?
Do
đó, từ quan điểm một người Phật tử, bạn không thể
có được sự tin cậy hay lòng tin chân thật vào những gì
mà các giác quan của bạn tri giác. Bạn cho rằng chính bởi
vì bạn có thể chạm hay ngửi được một cái gì đó, nên
cái đó nhất định có thật, ngược lại nếu bạn không
thể chạm vào hay ngửi được mùi của nó nên nó không có
thật – bởi vì “Tôi không cảm giác được nó.” Như vậy
thì cũng y như những người đã đến một trung tâm học Pháp
để tham dự một khóa thiền. Khi họ còn đang ở trung tâm
học Pháp, họ cảm thấy rằng họ đang có được một điều
gì đó có giá trị, họ đang đạt được sự điều khiển
đối với cuộc sống họ, nhưng khi họ quay về nhà họ mất
tất cả những thứ đó. Tại sao như thế ? Tại sao khi đang
thiền định ở trung tâm bạn cảm thấy bạn đạt được
một điều gì, bạn cảm thấy bạn đang ở trên con đường
đưa tới giải thoát, nhưng chỉ sau một đêm trở lại với
môi trường bình thường của bạn, tâm bạn hoàn toàn thay
đổi. Hãy kiểm tra việc này ! Tôi cho rằng điều này có
nghĩa rằng bạn thật sự không hiểu Pháp.
Cũng
vậy, khi bạn đến một trung tâm tham dự khóa thiền, bạn
có một loại tưởng tượng về môi trường nơi đó và bạn
ôm giữ nó coi như có thật. Khi bạn rời môi trường đó
thì sự “có thật” đó biến mất và được thay thế bằng
cái “có thật” của nơi ở mới. Do đó, những điều có
giá trị mà bạn đạt được ở trung tâm thiền, biến mất
và bạn kết thúc với sự khổ đau, sự không hạnh phúc của
các thói quen cũ của bạn. Điều bạn không hiểu được là
: Không cần biết bạn đang ở đâu, ở trung tâm học Pháp,
ở thành phố, ở nhà, v.v… bất cứ điều gì bạn nhận
thức được đều như huyễn, cái phóng chiếu của tâm riêng
của bạn. Chẳng hạn, cả hai người bạn gái : bạn cũ và
bạn mới đều huyễn hóa. Bạn đã không nhận thức được
rằng hình tướng dung mạo của người bạn gái cũ đã là
huyễn hóa, và dĩ nhiên, giờ đây bạn không thấy được
rằng hình tướng của người bạn gái mới cũng huyễn hóa
nữa.
Nếu
bạn có thể ngộ được – thực sự thấu hiểu – rằng
môi trường trung tâm học Pháp là huyễn với sự thấy biết
tỉnh táo mãnh liệt, bạn hãy giữ sự nhận biết này với
bạn khi bạn ở nơi nào bất kỳ, thì các kinh nghiệm của
bạn sẽ rất khác biệt với những kinh nghiệm thông thường.
Dù ở thành phố lớn, hay đang ở bãi biển, hay ở trong núi
Himalaya thì bạn cũng duy trì được cùng một năng lực, đều
ở trong cùng một không gian.
Đạo
Phật rất thực tế trong sự mô tả bản chất con người.
Tôi bảo đảm tất cả các bạn đã nghe được rằng bạn
đừng nên phán xét, đừng phân biệt giữa tốt và xấu, vân
vân. Chúng ta thường hay nói : “Ồ ! Niết bàn ! Tuyệt diệu”
và chúng ta ôm giữ nó, hay “Ê, sanh tử thật kinh khủng !”
và chúng ta cố đẩy nó ra khỏi tâm bạn, Chúng ta nói : “Guru
của tôi tuyệt diệu. Pháp thật tuyệt diệu !” và “người
đàn ông đó quá kỳ cục !” Tất cả các luận điệu phán
xét này đều dựa trên sự diễn giải của tâm mê tín của
riêng chúng ta đối với các tri giác bị lừa dối của riêng
chúng ta. Chúng ta phải nhận ra điều đó.
Nhưng
bằng tri thức thôi thì cũng không đủ tin tất cả điều
đó đâu. Cần phải kinh nghiệm nó. Thực ra, bạn đã có sẵn
và đủ kinh nghiệm – đủ để làm vỡ tim bạn ! Cho nên
đạo Phật lúc nào cũng đi vào cuộc sống, kinh nghiệm, và
đó là cách mà đạo Phật chỉ cho bạn thấy làm sao để
được khỏe mạnh, làm sao để có được một tâm thức khỏe
mạnh. Bạn biết cách để nói với chính mình khi bạn bắt
đầu đến chỗ cực đoan.
Có
lẽ đạo Phật chỉ đúng ở đây, tu viện Vajrapani này, và
bạn khi về đến San Francisco, thì đạo Phật sẽ trở nên
không đúng nữa. Dù gì các kinh nghiệm thiền định ngắn
ngủi ở các trung tâm học Pháp thì không đủ. Chúng ta phải
duy trì sự tỉnh giác liên tục với cái thấy đúng, ở bất
kỳ nơi đâu.
Đoạn
này nói về cách thức chúng ta đã để cho đời sống trở
nên vô ích. Đa số chúng ta muốn cuộc sống có ích lợi cho
mình và cho người khác. Tất cả chúng ta tìm kiếm sự thỏa
mãn từ trong cuộc sống. Điều khiến cho cuộc sống chúng
ta không có ý nghĩa và không thỏa mãn, chính là tâm muốn
bám níu vào các lạc thú giác quan và vào các hình tướng
cụ thể, thường hằng của các dục lạc đó. Chúng ta phải
từ bỏ trọn vẹn hai lỗi lầm này. Nếu chúng ta muốn cuộc
sống hạnh phúc và thỏa mãn chúng ta phải cương quyết loại
trừ mãi mãi các lỗi lầm này. Để làm được như vậy,
chúng ta cần hiểu một cách thấu đáo rõ ràng rằng cái cách
mà các lạc thú xuất hiện là huyễn hóa, hư dối. Không có
gì thường hằng và cố định. Đó là lý do tại sao nhiều
kinh điển Phật giáo nhấn mạnh việc buông bỏ tất cả các
đối tượng ôm giữ. Chúng ta không biết cách có được sự
thỏa mãn từ mối quan hệ của chúng ta với các đối tượng
thích thú của giác quan. Thông thường, chúng ta phóng đại
các phẩm chất tốt của các đối tượng dục lạc. Đó là
lý do tại sao tôi nói rằng chúng ta đang ảo tưởng, đang
mê lầm. Các nhận định phán xét của chúng ta không thực
tế tí nào cả.
Khi
bạn hiểu được bản tánh – tức thực tại – của các
lạc thú giác quan, bạn có không gian cho chúng diễn tiến.
Các dục lạc đến và đi. Nó như vậy đấy, và bạn chấp
nhận sự việc đó. Bởi vì chúng ta ôm giữ lạc thú với
các quan niệm bị ảo tưởng hóa mỗi khi khoái lạc biến
đi thì chúng ta bị sốc và cảm thấy bất hạnh. Như vậy
là không hợp lý. Nên nói là chúng ta đang tạo ảo tưởng.
Bao
lâu tâm ảo tưởng của bạn vẫn tiếp tục phóng đại các
phẩm chất tốt của một đối tượng dục lạc thì sẽ không
có cách nào để bạn được thực sự thỏa mãn mãi mãi.
Do đó, đạo Phật nhấn mạnh rằng dục lạc cần được
thấu hiểu như bản thân nó vậy, bằng cách hiểu được
phẩm chất của cái hiện tượng của nó. Rồi thì, bạn có
khoảng trống. Như vậy sẽ làm cho bạn bớt bị xúc động
: Khi bạn có lạc thú, như vậy cũng được thôi ; bạn nhận
biết điều vui thú đó là huyễn. Khi bạn không có lạc thú,
như vậy cũng tốt thôi. Chỉ có sự bám víu của những ý
niệm chấp thực vào lạc thú của bạn làm cho bạn bị lừa,
nhầm lẫn, không được thỏa mãn và bị xáo trộn vì phiền
não.
Hãy
đọc chú Vajrasattva, giữ trong đầu ý nghĩa của đoạn này.
Đồng thời hãy thực hiện ba kỹ thuật thiền định thông
thường để tịnh hóa các quan niệm chấp tướng cụ thể
của bạn, các hình tướng của tưởng, và bất kỳ năng lực
bất tịnh nào đã kết hợp với hệ thống thần kinh vật
chất của bạn, và sự vô minh – nó chính là nền tảng,
là gốc của tất cả các vấn đề này. Sâu ở bên trong tâm
linh của mình, bạn có thể cảm thấy : “Không thể nào tịnh
hóa được tất cả các khuyết điểm lỗi lầm của mình,
sự tham luyến bám níu, thái độ ích kỷ. Làm sao tôi thoát
khỏi được tất cả những chướng ngại đó ?” Cho dù về
mặt lý trí, lý luận, bạn có thể công nhận rằng việc
tịnh hóa có tác dụng hiệu quả, rằng giáo lý đạo Phật
là đúng, nhưng tận đáy lòng bạn có sự nghi ngờ. Sự tu
tập theo thiền định Vajrasattva cũng có thể nhổ tận gốc
tất cả các mối nghi ngờ bất tịnh đó bằng cách cho bạn
thấy khả năng có thể nhổ tận gốc, trọn bộ tất cả
năng lực bất thiện và mang đến cho bạn nguồn cảm hứng
lớn lao để làm việc đó.
Đoạn
ba
“Xin
gia hộ cho tôi, để tôi phát sanh được sự buông bỏ hoàn
toàn thanh tịnh.” Cuộc sống chúng ta bắt đầu trong bất
hạnh, khổ đau, và xuyên suốt cuộc đời này, chúng ta tiếp
tục mỗi ngày mỗi thêm vào cuộc sống sự mê lầm. Phải
có lý do cho điều này, một nguyên nhân cho điều mà trong
đạo Phật chúng ta gọi là nghiệp. Nguyên nhân đó là sự
mê lầm, sự ảo tưởng. Với ảo tưởng, chúng ta tạo ra
nghiệp, cứ thế lập đi lập lại, nó dẫn dắt chúng ta vào
bất hạnh và mê lầm. Chúng ta bị nhốt trong một cái bẫy
sập gần như không thể hủy hoại, của các quan niệm và
các xúc động thần kinh. Những gì đang xảy ra được giải
thích bởi cụm từ tsušl-min-yi-je trong đoạn này. Cụm từ
đó có nghĩa rằng bạn đang tưởng tượng một điều, một
vật gì đó chẳng dính dấp, chẳng thuộc về sự thật của
các đối tượng bạn nhận thức, cho dù sự thật tương đối
hay sự thật tuyệt đối ; điều mà bạn đang tưởng tượng
cũng chẳng quan hệ gì tới bản chất đặc trưng của hiện
tượng. Điều mà bạn thấy chỉ là sự vọng tưởng của
bạn thôi.
Trên
cơ sở của vọng tưởng này, bạn phát triển các ý niệm
chấp thực hư dối, tâm ôm giữ cái “tôi” và các ý niệm
nhị nguyên. Đó là cách nó khởi sự. Bạn dựng lên một
vọng tưởng không có thực của đối tượng trong trí tưởng
tượng của bạn, rồi các ý niệm chấp thực cụ thể của
bạn trở nên chắc chắn và bạn quyết định rằng : “Vâng.
Cái này tốt, việc kia xấu.” Bạn giữ gìn một cách mãnh
liệt những gì bạn gọi là tốt và tiếp tục phát triển
thêm nữa. Bạn phát triển nó với cường độ mạnh. Nó có
một quá trình diễn tiến lâu dài. Bạn dựng lên cái này,
bạn tạo ra cái kia, bạn đưa ra quyết định về các sự
việc, và theo cách này bạn tạo nên một chủ nghĩa riêng
cho mình, một thế giới riêng, một núi Meru riêng. Rồi thì,
người ta sẽ gặp khó khăn khi bảo cho bạn biết là bạn
sai, bạn lầm lẫn. Bạn đã triển khai quá chắc chắn một
vọng tưởng điên đảo. Ngay từ đầu tất cả những vọng
tưởng này chỉ là kinh nghiệm riêng của bạn nhưng rồi đối
với bạn, các vọng tưởng đó là thực tại. Theo quan điểm
Phật giáo, tất cả chúng sanh hữu tình bị mắc bẫy bởi
các quan niệm nhị nguyên, thường hằng và quy ngã của họ,
các quan niệm đó đều dựa trên những vọng tưởng được
tưởng tượng, không thực tế của chúng sanh. Đó là cái
cách mà tất cả chúng sanh bị nhốt trong mạng lưới luân
hồi sanh tử.
Trên
mức độ thực tại thì tâm mê lầm này cực kỳ cạn cợt,
bề ngoài. Nó có thể được pha trộn với một ít sự thật
tương đối nhưng đa số các hình tướng là rất ảo tưởng
rất ư hư dối. Tất cả các quan niệm mê tín và bị lừa
dối đó đều là nhị nguyên – tất cả đều là các chướng
ngại cần được tịnh hóa.
Mỗi
khi bạn đọc lời cầu nguyện, bạn phải nghĩ – một cách
hoàn toàn chính xác nghiêm túc – về hiện trạng của riêng
bản thân bạn, về hoàn cảnh đời sống của chính bạn.
Với một sự hiểu biết mãnh liệt về kinh nghiệm của riêng
mình, như “Tôi thật là bị lừa dối biết bao ! Bằng cách
nào tôi đã lừa dối mình một cách nhị nguyên như thế !
Mọi thứ tôi làm trong cuộc đời đều là phiến diện bề
ngoài. Dù tôi làm công việc cho mình hay cho bạn bè, người
khác, tất cả những sự việc như vậy luôn được làm với
sự mê tín, hoàn toàn rời xa sự thật. Tôi luôn luôn tạo
lập một vọng tưởng do tưởng tượng ra, rất không đúng
với thực tế, tôi luôn phát triển vọng tưởng đó đối
với trần cảnh mà tôi nhận thức qua các giác quan. Đây là
cách thức mà tôi tự nhốt mình trong chốn sanh tử.” Với
sự hiểu biết mạnh mẽ như vậy, bạn hãy đọc mật chú
với ba kỹ thuật thiền đ