PHẦN
3
NHỮNG
BÀI THUYẾT PHÁP
10
KHÔNG
CÓ ĐIỀU BẤT THIỆN NÀO
KHÔNG
THỂ TỊNH HÓA HOÀN TOÀN
Ngay
giây phút mặt trời mọc lên, bóng đêm tự động biến mất,
tương tự như vậy, khi ánh sáng trí huệ xuất hiện trong
tâm bạn thì tự nhiên bóng tối vô minh sẽ biến mất.
Bất
cứ khi nào bạn thất vọng, lo lắng, sợ sệt thì cái nhìn
của bạn với thế giới sẽ trở nên méo mó hơn bao giờ
và các ý niệm sai lệch của bạn tăng trưởng nhanh lên. Khi
cái tâm hoang mang, bất mãn của bạn nổi lên, bạn trở nên
mơ hồ như đám sương mù. Lúc đó tâm bạn thật đen tối
cho dù bạn đang ở ngoài nắng hay trong ánh sáng đèn pha.
Cho
nên việc thực hành một pháp yoga Kim Cương thừa có sức
mãnh liệt như pháp yoga Heruka Vajrasattva là rất ư lợi lạc
vì nó tạo thuận lợi làm nảy nở trí huệ trong tâm bạn.
Đa
số các hành giả tâm linh đã phát những lời thệ nguyện,
và các lời cam kết đó coi như một phần của việc thực
hành tín ngưỡng của họ. Những người thiếu trí huệ, cảm
thấy rằng khi họ không còn giữ được sự cam kết thọ
giới, họ tưởng như mình đã làm một việc bất thiện không
thể thay đổi được nữa và cảm thấy như bị phạm tội
vĩnh viễn : “Ồ ! Tôi đã hứa không làm việc đó và bây
giờ tôi đã phạm, đã thất hứa. Tôi sẽ không bao giờ được
cứu vãn.” Đó là một vọng tưởng lớn lao. Tất cả các
hiện tượng tương đối trong thế giới giác quan này đều
vô thường, thay đổi luôn. Và bởi bản chất vô thường
đó, các hiện tượng sẽ tự chúng kết thúc.
Một
vọng tưởng khác nữa là bạn có ý nghĩ thất vọng rằng
bạn sẽ không còn hy vọng nữa. “Tôi đã cố gắng như thế,
nhưng tôi luôn luôn phạm lỗi lầm.” Điều này không đúng.
Không có ai hoàn toàn sai trái. Tất cả chúng ta đều có mặt
tích cực và mặt tiêu cực.
Trong
giáo lý Kim Cương thừa, Đức Phật dạy rằng những thất
bại căn bản trong Kim Cương thừa là từ những thệ nguyện
cao nhất, nhưng các giới nguyện đó vẫn lập lại được
khi bị phá bỏ. Những sự phạm tội như thế rất là bất
thiện, tệ hại nhưng vì nó là các hiện tượng tâm lý nên
nó có thể được tịnh hóa.
Trong
giới luật tăng ni (Vinaya), một phần của kinh giáo, Đức
Phật dạy rằng những hành vi rõ ràng là xấu xa như giết
người chẳng hạn, không thể nào được tịnh hóa trong một
kiếp được. Do đó, nếu bạn đã không giữ được một
trong năm giới, bạn có thể cảm thấy rằng bạn trở nên
thường xuyên bị bất tịnh và rất lo lắng. Nhưng bạn phải
nhớ rằng Đức Bổn sư đã dạy nhiều giáo lý khác nhau tùy
theo những nhu cầu tâm lý khác biệt của rất nhiều đệ
tử. Kinh giáo đã được giảng dạy cho các đệ tử đã có
được mức độ hiểu biết nhất định.
Trong
Kim Cương thừa Đức Phật dạy rằng không có những hành
vi bất thiện nào không thể được tịnh hóa trọn vẹn bởi
các pháp yoga Kim Cương thừa rất mãnh liệt. Do đó bạn đừng
bao giờ cảm thấy rằng vì bạn đã bỏ phá giới luật, hay
chẳng hạn, đã dính líu vào một trong năm tội lỗi được
coi là không thể chuộc lại được, nên bạn sẽ trở thành
kẻ phạm tội vô hy vọng được chuộc lại lỗi lầm.(16)
Ngược
lại, bạn không thể suy diễn thuần lý luận rằng vì các
hành vi bất thiện đều có thể được tịnh hóa nên bạn
tha hồ muốn làm cái gì bạn thích. Một cái ly bị vỡ có
thể hàn gắn lại được nhưng sẽ không bao giờ giống y
như cái mới. Do đó, mặc dầu các giới nguyện, cam kết của
bạn có thể chuộc lại khi bị phạm, nhưng bạn cố giữ
trong sạch thì vẫn tốt hơn.
Cách
tốt nhất để tu tập sự tịnh hóa theo Heruka Vajra-sattva là
tham dự ba tháng ẩn tu, trong thời gian đó bạn sẽ trì chú
một trăm ngàn lần. Tôi thường yêu cầu các người tu tập
tham dự một kỳ ẩn tu ba tháng khi họ muốn được nhận
sự quán đảnh theo Heruka Vajrasattva. Và họ nhập thất ẩn
tu ở phương Đông dễ hơn ở phương Tây, nơi khó tìm được
thời giờ.
Việc
ẩn tu phải được xúc tiến trong những điều kiện đúng
đắn, như đã giải thích trong chương ẩn tu của sách này.
Rất ít người tu hành đã có khả năng tuân theo những sự
hướng dẫn này sát theo từng chữ. Việc theo sát chặt chẽ
các kỷ luật ẩn tu lý tưởng thì thật là rất khó được.
Tuy nhiên rất nhiều hành giả Tây phương rất tận tâm và
chân thành, đã cố làm được như vậy và mặc dù sự tập
trung tâm linh của họ chưa thể mãnh liệt thế, nhưng đợt
ẩn tu ba tháng của họ nhất định đã làm thay đổi tâm
thức họ được tốt hơn.
Do
đó, việc thực hành việc ẩn tu này rất có lợi lạc, nhưng
bạn phải đảm bảo rằng bạn đã tạo được những điều
kiện dẫn tới thành công. Nếu tôi đang ngồi đây, rồi có
người lấy kim đâm vào da tôi và nói : “Thầy ơi ! hãy thiền
định đi !” Thì như vậy không thể nào thiền được. Cũng
y như vậy, thật là rất khó để ẩn tu giữa một thành phố
đang có những rung động của các năng lực gây hấn và ham
muốn. Đó là lý do tại sao các lama Tây Tạng luôn cố tìm
chỗ cô độc hoang vắng yên tĩnh để tu ẩn. Những rung động
tốt tự nhiên sẽ giúp bạn tu tập.
Nếu
bạn có thể thực hành phương pháp yoga Vajrasattva tương ưng
với bài giảng này thì không nghi ngờ gì bạn sẽ nhận được
sự tịnh hóa mạnh nhất. Tại sao bạn thiếu trí huệ-hiểu
biết và các chứng ngộ ? Bởi vì tâm bạn bị che lấp dày
đặc bởi các rung động hư dối bất thiện. Chướng ngại
nặng nề của những ý niệm của cái ngã của bạn và một
sự bất lực mang nhiều xúc cảm khi đương đầu với các
khó khăn đã che lấp tâm thức bạn. Trí huệ không thể nảy
sanh trong bầu không khí mù mịt đó.
Truyền
thống Đại thừa đặt trọng tâm vào sự phối hợp giữa
sự tịnh hóa và thiền định phát sanh trí huệ, hơn là đặt
nặng một bên này mà nhẹ bên kia. Khi bạn tịnh hóa được
các chướng ngại che ám, trí huệ vỗn sẵn có đó sẽ có
cơ hội khai triển. Như vậy, đã không phải đối kháng nhau,
mà việc thiền định về con đường có thứ bậc (lam-rim)
và sự tịnh hóa theo Vajrasattva còn có tính tương đồng hỗ
trợ nhau, và nếu bạn thực hành hai việc này chung với nhau
bạn sẽ nhanh chóng đạt những chứng ngộ.
Tôi
cũng biết dĩ nhiên không phải ai ai cũng có khả năng tìm
ra được hoàn cảnh thích hợp để thực hành ẩn tu ba tháng
vào lúc này. Mỗi một chúng ta đều có những trách nhiệm,
những ràng buộc quan trọng hơn tùy theo nghiệp lực riêng
của mình. Nếu bạn không thể thu xếp để tham dự ẩn tu
được thì cũng đừng nên nhận sự quán đảnh rồi sau đó
cảm thấy như thể – bằng cách nào đó – bạn là một
tù nhân của Pháp. Giáo Pháp của Đức Thế Tôn là để cho
sự giải thoát, sự tự do chứ không phải sự nô lệ ! Và
những ai trong số các bạn hiện giờ không thể dành thời
giờ cho việc tu tập miên mật thì cũng đừng cảm thấy thua
sút so với những người có thể tham dự. Bạn phải chấp
nhận hoàn cảnh hiện tại của bạn. Sẽ đến một lúc nào
đó, bạn có khả năng thu xếp được thời giờ cho điều
kiện ẩn tu lý tưởng. Và vào lúc đó bạn sẽ nhận sự
quán đảnh nhập môn Vajrasattva kết hợp với việc tham dự
ba tháng ẩn tu. Đừng cảm thấy là bạn kém may mắn hay tồi
tệ. Điều này không đúng, không có thật. Bạn vẫn rất
may mắn. Hàng ngày, bạn có thể tu tập theo “con đường
có thứ bậc đưa tới giải thoát” (lam-rim) và thực hiện
các đợt ẩn tu ngắn hơn, khi thời gian cho phép.
Để
phát triển lòng từ bi của bạn, bạn có thể tham dự đợt
ẩn tu theo Avalokiteshvara (Quán Thế Âm). Để có trí huệ, bạn
có thể ẩn tu theo Manjushri (Văn Thù Sư Lợi). Để vượt qua
sự yếu kém và cảm giác thiếu sót, bạn có thể ẩn tu theo
Vajrapani. Có nhiều cách ẩn tu khác nhau để phù hợp với
sự cần thiết của bạn. Ẩn tu cũng giống như phép chữa
bệnh. Ở Tây phương khi bạn ốm bạn cần một cách chữa
bệnh để giúp chữa lành bệnh của bạn. Việc ẩn tu cũng
vậy : bạn tự đặt bản thân mình vào trong một tình huống,
hoàn cảnh nhất định nào đó tùy theo điều trở ngại đặc
biệt của bạn là điều gì. Đó là lý do tại sao tôi nói
sự ẩn tu cũng giống như dược phẩm, thuốc giải độc cho
cả hai : bệnh và triệu chứng.
Tại
sao việc tịnh hóa rất mạnh ? Bởi vì trí huệ và phương
tiện đều rất mạnh. Không có một lực siêu nhiên nào trên
trời rửa sạch được tội lỗi của bạn. Lực này phải
đến từ sự tiếp cận tâm linh của bạn, đó là chiều khóa
tâm lý của pháp yoga.
Như
tôi đã nói, phương pháp yoga Kim cương Heruka Vajrasattva có
thể tịnh hóa những bất thiện tồi tệ nhất bạn có thể
tưởng tượng được, bao gồm việc phá hư các giới Kim Cương
thừa, Bồ tát và biệt giải thoát. Nó cũng tịnh hóa các
triệu chứng của sự bất toại nguyện như tâm thần quá
lo lắng, những mặc cảm tự ti, những sự tự kiêu tự đại.
Do đó, khi nào bạn thấy bạn đã bỏ lời nguyện, bạn đừng
quá xúc động bối rối lo ngại rồi cảm thấy suy sụp tuyệt
vọng. Như vậy không khôn ngoan. Thay vì vậy, bạn hãy nhận
biết cái gì đã xảy ra, bạn nên hiểu được sự phụ thuộc
lẫn nhau (duyên sanh) giữa tâm bất thiện và không kiềm chế
của bạn với các điều kiện (duyên) đã khiến bạn bỏ
lời nguyện và rồi bạn hãy khéo léo áp dụng các phương
pháp tịnh hóa.
Bạn
có thể học rất nhiều từ các kinh nghiệm như vậy. Hãy
phân tích tâm của bạn ! Về phương diện lý trí, bạn đâu
có muốn phạm vào những tội lỗi mà bạn đã hứa không
phạm, nhưng tâm không kiềm chế của bạn đã tương tác với
các điều kiện và đã ép buộc bạn phạm vào. Do đó, bạn
sẽ hiểu được nghiệp lực của bạn và biết xem nó mạnh
như thế nào. Từ sự nghiên cứu giáo lý của “con đường
có thứ bậc” (lam-rim), bạn biết rằng việc tái sanh làm
người rất quý báu này sẽ cho bạn một tiềm năng để làm
bất cứ điều gì. Vậy thì làm sao bạn lại cảm thấy tuyệt
vọng suy sụp ?
Đừng
hạ thấp giá trị các giáo huấn của “con đường có thứ
bậc,” nghĩ rằng các giáo huấn đó quá đơn giản đối
với bạn, một hành giả vĩ đại của Kim Cương thừa. Các
giáo huấn đó không đơn giản tí nào cả mà trái lại, thực
sự sâu sắc nhất. Đây không phải là sự phóng đại của
một tín đồ chân chính mà là một sự kiện rất khoa học
mà bạn có thể tự mình chứng minh bằng cách thấu hiểu
và thực hành “con đường thứ bậc” (lam-rim). Bằng cách
này bạn có thể rút ra được cái cốt lõi từ đời người
quý báu của bạn và thay vì lui sụt, bạn có thể có được
sự tinh tấn. Việc này hoàn toàn trong tầm tay bạn.
Một
khi bạn hiểu “con đường thứ bậc” một cách thấu đáo,
rõ ràng, bạn có thể thấy được những lợi lạc của việc
ẩn tu tịnh hóa. Đến lúc đó bạn coi như đã sẵn sàng,
thỏa mãn các tiêu chuẩn cho một đợt ẩn tu tịnh hóa. Nếu
bạn không biết bạn là ai, là gì, thậm chí bạn không thể
tu tập “con đường có thứ bậc” một cách thỏa đáng
thì hãy bỏ mặc các phương pháp thâm mật của yoga Kim Cương
thừa.
Một
khi bạn hiểu được bản chất của cuộc đời bạn và những
khả năng mà sự tu tập Pháp đưa đến cho bạn, với trí
huệ bạn có thể chọn lựa phương hướng của bạn thay vì
bạn mù quáng đi theo những vọng niệm mê muội của bạn
như trong vô số kiếp trước đây. Bạn có thể chọn tương
lai cho bạn bởi vì bạn biết cách tạo nhân cho tương lai
đó. Quá khứ đã chấm dứt, mọi chuyện cũng đã làm rồi.
Tại sao lại phải cứ xúc động hoảng hốt với những sự
phá giới đã làm, và những hành vi phi đạo đức khác ? Bạn
không chỉ làm lãng phí thời gian mà còn chồng chất điều
bất thiện này lên trên điều bất thiện khác mà thôi. Nếu,
thay vì dùng thuốc giải độc khi bạn nhận thức một điều
phi đạo đức, bạn lại xúc động hoảng hốt, như vậy bạn
nhân đôi nghiệp ác xấu của bạn. Bạn phải nên tịnh hóa
các điều bất thiện đó, chứ đừng trở nên bệnh hoạn
hơn nữa.
Mới
đây tôi đọc được một tin chủ nhà băng đã tự tử vì
ông ta bị bắt tội đã biển thủ tiền quỹ. Đó có phải
là lối thoát không ? Ông ta ăn cắp tiền, cảm thấy có tội,
xúc động đến mức rối trí hoảng hốt, rồi tự sát. Đó
là một ví dụ cho điều tôi đang nói ở đây : ông ta đã
tạo nghiệp xấu là ăn cắp, nhưng họ sắp sửa làm gì với
ông ta ? Có lẽ họ bỏ tù ông ta. Cũng có lẽ họ tịch thu
tài sản ông ta. Nhưng họ không định giết ông ta, phải không
? Tuy nhiên, ông ta không thể chịu đựng nổi việc ông ta
mất uy tín nên ông ta tự sát. Chúng ta cũng thế. Chúng ta
tạo nên điều bất thiện rồi thì gần như tự giết mình
bằng tội lỗi và phiền muộn. Như vậy có đáng để làm
không ? Chỉ là hoàn toàn tự hủy hoại mình.
Giờ
đây những kinh nghiệm mới đang chờ ở tương lai, và bạn
có thể thay đổi hướng đi để gặp hay để tránh những
kinh nghiệm đó theo như ý bạn. Tôi không muốn nói bạn có
được một sức mạnh tâm linh để thấy theo kiểu thần giao
cách cảm các chi tiết của tương lai bạn, nhưng tôi ngụ
ý rằng bằng việc phân tích các kinh nghiệm quá khứ và dựa
theo sự hiểu biết luật nhân quả (nghiệp) bạn có thể rút
ra kết luận về những gì bạn nên làm và không nên làm.
Bằng cách này thì việc kiểm điểm phân tích sẽ rất có
lợi, còn việc lo âu bối rối thì vô ích, kỳ cục.
Nếu
cảm thấy buồn rầu và muốn tịnh hóa các việc ghê tởm
đã làm thì cũng chưa đủ. Bạn cũng nên nghĩ rằng nếu bạn
tiếp tục làm những việc như vậy nữa bạn nhất định
sẽ kinh qua những khổ đau to tát hơn trong tương lai. Do đó
ngoài việc tịnh hóa nghiệp bất thiện trong quá khứ, bạn
còn phải tránh tạo ra các hành vi được phát sanh từ sự
ngu si, tham lam, sân hận. Nếu bạn tịnh hóa các hành vi không
đạo đức đã tạo ra trong quá khứ và kìm hãm, không tạo
thêm nữa trong tương lai thì bạn có thể tránh được quả
khổ đau. Yếu tố chính để xác định loại nghiệp đã tạo
ra bởi hành động của bạn chính là động cơ của bạn.
Nó tùy thuộc vào việc bạn có động cơ thiện hay bất thiện.
Mặc dầu tôi đã đề cập ở trước về sự tồi tệ của
việc phá giới, bạn chớ nên cảm thấy rằng bằng cách giữ
giới bạn đã tự bỏ tù mình. Điều này hoàn toàn ngược
lại. Giới luật làm cho bạn tự do. Vài người có cảm giác
mất mát sau khi họ thọ giới. Họ cảm thấy như một gánh
nặng đè trên vai họ. Nếu bạn hiểu giới luật một cách
đúng đắn thì bạn sẽ cảm thấy vui sướng khi bạn thọ
giới vì bạn biết rằng bạn sẽ rất khoan khoái, khỏe mạnh
trên con đường đi tới bến bờ phúc lạc.
Nếu
tâm bạn bị trói buộc giới hạn, bạn rất có thể sẽ cảm
thấy tội lỗi tuyệt vọng khi bạn phạm giới. Chẳng hạn
trong một ngày bạn hứa thọ tám giới Đại thừa. Trong lễ
buổi sáng bạn phát Bồ đề tâm và tha thiết kiên định
giữ lời thề giới luật và lợi ích chúng sanh hữu tình.
Nhưng chiều tối hôm đó, có người đến cho bạn miếng chô-cô-la.
Bạn ăn miếng chô-cô-la theo thói quen, hoàn toàn vô ý thức.
Rồi bạn trực nhớ, hoảng sợ nói : “Ôi trời ơi ! Sáng
nay tôi đã hứa sau bữa cơm trưa sẽ không ăn gì nữa mà
bây giờ tôi bỏ lời hứa. Nhưng nó đã đi qua mất rồi.”
Nhiều người phản ứng như vậy. Nhưng cái gì mất rồi ?
Không có một cái gì “hoàn toàn mất rồi” như vậy. Bạn
đã giữ giới trọn vẹn từ lúc bạn phát lời hứa cho đến
khi bạn đã bỏ lời hứa nhưng không chủ định làm vậy.
Bạn đã không cố ý bỏ lời hứa. Và, không có một năng
lực thiện nào bị mất.
Thay
vì tự dằn vặt mình một khi bạn phá giới, thì bạn nên
thoải mái tự nói : “Không thể tin được ! Tôi thực sự
không có ý định ăn, nhưng thói quen cũ của tôi đã lẻn
vào và đánh lừa tôi khi tôi không canh chừng đó.” Hãy cảm
thấy vui về thời gian bạn đã giữ giới trọn vẹn trong
sạch, và cũng cảm thấy vui khi biết được cách thức tâm
bất thiện của bạn nảy sanh và hoạt động. Bằng cách này
kinh nghiệm của bạn trở nên trí huệ. Việc giữ giới tăng
cường sự tỉnh giác của bạn : nó giúp bạn hiểu được
nghiệp ở mức độ sâu nhất bằng cách đem lại cho bạn
sự ghi nhận đường lối tinh vi nó tự thể hiện. Nếu bạn
không giữ giới bạn sẽ không tỉnh biết những hành vi bất
thiện của bạn, cũng như bạn không bao giờ biết rằng chúng
nằm sâu trong tiềm thức của bạn.
Không
có sự hiểu biết này bạn sẽ không bao giờ hạnh phúc thực
sự. Bạn có thể đã hứa giữ giới rồi sau đó lại hối
tiếc. “Ồ ! Tôi đã làm một điều sai. Khi về nhà ở Tây
phương, tôi mới nhận ra điều sai lầm đó. Chắc chắn ông
lama ở Kopan đã thôi miên tôi.” Tôi đã nói đùa. Nhưng chắc
vài người có những ý nghĩ tương đồng như vậy. Thực sự,
việc hứa giữ giới đáng cần phải làm cho dù bạn có thể
thỉnh thoảng bị phạm. Nếu bạn khôn ngoan kiểm điểm, bạn
sẽ nhận ra rằng bạn thực sự may mắn đã phát thệ giữ
giới. Bạn không chủ đích phạm giới và bạn sẽ thấy cách
thức mà thói quen cũ đẩy bạn đến chỗ phạm giới một
cách bất ngờ, không cố ý. Đó là một phát hiện rất có
ích. Đó là cách thức bạn triển khai trí huệ của bạn.
11
MỘT
QUÁN ĐẢNH NHẬP MÔN
HERUKA
VAJRASATTVA
Yêu
cầu cơ bản để được thực hành Kim Cương thừa, như phương
pháp yoga tịnh hóa của Heruka Vajrasattva, là sự hiểu biết
thấu đáo ba khía cạnh tối quan trọng của con đường đưa
tới giác ngộ : đó là sự buông bỏ, phát Bồ đề tâm và
một cái nhìn đúng – tức tánh Không. Tôi chắc chắn các
bạn có được sự hiểu biết thỏa đáng về ba vấn đề
này, nhưng từng ngày, từng năm các bạn nên liên tục nỗ
lực thâm nhập các vấn đề đó.
Cũng
có nhiều phương diện để tịnh hóa như lạy, tụng kinh,
hay thực hành phương pháp yoga của các vị hóa thần bổn
tôn khác. Nhưng có lẽ phương pháp Heruka Vajrasattva là phương
pháp mãnh liệt nhất. Đây đích thị là cách chúng ta cần.
Và trong khi truyền thống Geluk của Phật giáo Đại thừa nhấn
mạnh sự quan trọng lớn lao của việc tịnh hóa, thì chúng
ta cần nhiều hơn thế nữa. Chúng ta phải phối hợp các hoạt
động khác – như nghiên cứu các giáo phái của con đường
có thứ bậc đưa tới giác ngộ và giúp đỡ các người khác
– vào việc thực hành thiền định tịnh hóa của phương
pháp yoga. Vài người dường như nghĩ rằng chỉ việc thực
hành thiền định này là đủ, nhưng họ lầm. Chúng ta phải
áp dụng cách trung đạo để các việc tu hành cân bằng, hỗ
trợ. Các người học đạo cũ đã qua ba tháng ẩn tu theo Vajrasattva
thực sự đã biết phương pháp tịnh hóa thâm mật như thế
nào. Các người học mới sẽ tìm thấy sự việc đó. Dĩ
nhiên không phải dễ dàng nhưng thực sự xứng đáng để
cố gắng đương đầu vượt qua các khó khăn.
Giờ
đây cùng với việc trao quán đảnh cho các bạn tham dự ẩn
tu, tôi sắp thêm vào một điều kiện nữa. Căn cứ vào kinh
nghiệm mà tôi đã để ý quan sát các người học đạo qua
nhiều năm, tôi đi đến kết luận rằng, ẩn tu theo nhóm rất
tốt cho bạn hơn là ẩn tu một mình. Trong mức độ nhất
định thì kết luận này đã thấy rõ ràng. Tất cả chúng
ta có một mức độ trí huệ hiểu biết nhất định – đừng
nghĩ rằng hiểu biết là lãnh vực riêng của các lama Tây
Tạng. Trong từng mỗi người chúng ta một số khía cạnh hiểu
biết phát triển tốt hơn một số khía cạnh khác nên khi
chúng ta hợp thành nhóm, trí huệ chúng ta được tập hợp
lại sẽ tạo nên một sự tích lũy sâu sắc mà chúng ta có
thể chia xẻ cho nhau.
Chẳng
hạn vào một ngày nào đó, bạn có thể cảm thấy rất lành
mạnh còn tôi thì bị ngập chìm trong mớ ảo tưởng mê lầm.
Tôi đến nói với bạn : “Tôi đang bị mê muội, tôi phải
làm gì đây ?” Bạn sẽ cho tôi câu trả lời. Đây là ý
nghĩa Tăng đoàn. Ví dụ bạn đang gặp khó khăn, bạn trình
bày điều mà bạn cảm thấy cho người cùng tu, họ sẽ giúp
bạn trí huệ, sức mạnh và giải pháp đối với trở ngại
bạn đang có. Đó là lý do tôi thêm vào điều kiện là nên
tu theo nhóm. Tôi hy vọng bạn sẽ hiểu. Ở đây không phải
là chuyện quyền hành : “Đây là việc quán đảnh của tôi,
các anh phải làm theo cách của tôi !” Nhất định là không.
Tôi chỉ muốn kinh nghiệm này đem lại lợi lạc cho bạn càng
nhiều càng tốt.
Khi
chúng ta tu tập Pháp, chúng ta nên hành động thiện xảo với
sự hiểu biết. Việc ẩn tu theo Vajrasattva đã được giảng
dạy cho sự lợi lạc tối đa của con người, cho nên bạn
nên tu tập cho thỏa đáng. Nhưng như đã nói, tôi muốn nhấn
mạnh rằng bạn chỉ nên ẩn tu theo mức khả năng tốt nhất
của bạn. Trong các bài hướng dẫn giảng dạy của tôi, tôi
có hơi cứng rắn một ít, và sự thật thì nghiêm túc sẽ
tốt hơn. Nhưng nếu bạn không thể thực hành chính xác y
như tôi đề nghị thì bạn cũng đừng chán nản từ bỏ tất
cả. Bạn không thể luôn luôn làm những gì bạn muốn bởi
vì nó tùy thuộc vào mức độ riêng của mỗi người. Bạn
hãy chấp nhận theo khả năng của mình và hãy bắt đầu ở
mức độ đó. Hãy tự khích lệ mình : “Hôm nay có hơi khó,
vì tôi không thể quán tưởng chính xác y như vị lama đề
nghị. Nhưng rõ ràng tôi đang làm đúng : tôi đã không bỏ
thời thiền nào, và tôi đã thiền định theo hết mức của
tôi. Quả thực sự tập trung của tôi có hơi xao lãng.”
Tôi
biết các người Tây phương học đạo của tôi muốn thực
hành một trăm phần trăm như tôi nói và đó là phẩm chất
tốt đẹp. Làm việc hoàn chỉnh thì tốt. Nhưng bạn phải
thực tế. Khi bạn gặp phải khó khăn, hãy chấp nhận nó.
Được sáu mươi phần trăm thì tốt hơn là không có gì, còn
tốt hơn là chạy quanh thế giới giống như một con thú hoang
với tâm mê loạn. Hãy nghĩ rằng : “Tôi có thể không được
toàn vẹn, nhưng tôi vẫn còn khôn ngoan hơn khi cố gắng trì
chú với hết sức mình và đem năng lực mình đến cho các
huynh đệ học Pháp.”
Và
nếu bạn không thể thiền định được như đã giảng giải
thì bạn hãy phát sanh lòng trắc ẩn, thương xót. Hãy nhớ
lại tâm trắc ẩn mà bạn cảm xót cho chính bản thân bạn
khi bạn gặp thời điểm khó khăn và chuyển lòng trắc ẩn
đó đến các chúng sanh hữu tình là mẹ của bạn. Rất là
tốt nếu đang khi trì chú Vajrasattva mà bạn khóc vì thương
xót những người khác. Rõ ràng như vậy sẽ tốt hơn nhiều
so với việc bạn ngồi đó nghĩ ngợi như : “Tôi rất tệ,
tôi xấu xa…” Thiền định với Bồ đề tâm trong khi trì
chú Vajrasattva thì tốt. Bao lâu bạn có một phần của tâm
bạn vẫn đang thấy được sự tỉnh táo quán sát thì như
vậy việc trì chú là đúng. Thay vì thực hiện những sự
quán tưởng phức tạp hơn, bạn có thể phát sanh lòng bi mẫn
đối với chúng sanh. Tôi muốn những người mới học đạo
nên nhận thấy rõ ràng minh bạch loại kỹ thuật thiện xảo
này – hướng dẫn bất kỳ năng lực nào nổi lên vào kinh
mạch đúng – là đáng nên làm.
Những
người nào đã ẩn tu, giờ có thể nhận lễ quán đảnh mà
không phải ẩn tu lại. Đối với người mới, chẳng có sự
du di nào ; bạn phải tham dự ẩn tu. Nhưng khi bạn tham dự
ẩn tu, bất chấp những gì tôi đã nói, tôi thật sự không
muốn bạn cho nó là thoải mái, pha trộn một ít sanh tử và
niết bàn của bạn. Điều này không thể đưa đến hiệu
quả được. Đợt ẩn tu của bạn phải là một hành trình
niết bàn, giải thoát, trong sạch tinh khiết y như bạn có
thể đạt tới được. Xu hướng của chúng ta ưa pha trộn
các thứ – nhưng lúc này không phải để làm việc đó, được
không ?
Một
điều làm cho đợt ẩn tu của bạn dễ dàng hơn là hãy hết
sức tận tụy để tu tập thật tốt. Nếu bạn có phần nào
chểnh mảng trong việc thực hành như : “Có lẽ tôi nên,
có lẽ tôi chẳng nên” – hay nếu tâm của bạn bị xao động
hoặc bạn đặt quá nhiều mong đợi thì rồi bạn sẽ thực
sự mê muội. Bạn sẽ luôn cảm thấy như bạn thiếu cái
gì : “Tại sao tôi đang ngồi đây ? Nếu phải chi tôi đang
ở Melbourne thì tôi sẽ có một thời gian thích thú. Tại sao
tôi phải ngồi lại đây ?” Các loại câu hỏi như vậy sẽ
nổi lên. Tôi muốn bạn hết sức nhất tâm vào việc ẩn
tu – dứt khoát rõ ràng và tận tụy. Rồi bạn sẽ thoải
mái : chỉ mỗi việc được ngồi trên cái nệm lót để thiền
định bạn cũng nhận được một kinh nghiệm hỷ lạc. Và
nếu những ý niệm mê tín lung lạc, gây rối bạn thì bạn
hãy nhớ lại các kỹ thuật để giải quyết chúng như sự
thiền định hít thở có dạng cái bình như được giảng
giải trong phần giảng giải. Hãy thực hiện cách thiền hít
thở đó và khi tâm bạn được điềm tĩnh trở lại, hãy
trở lại những gì bạn đang làm.
Tôi
cũng đưa ra thêm một nhận xét về việc trì chú đối với
những gì tôi đã nói trong phần giảng giải chính, mặc dầu
tôi chẳng nên khẳng định một cách công khai trong trường
hợp bạn bắt đầu phân biệt lý lẽ. Tuy nhiên, nếu sau vài
tháng ẩn tu bạn thấy được rằng bạn có sự tập trung
nhất tâm rất tốt và theo kinh nghiệm, bạn biết rất chính
xác bạn đã trì bao nhiêu chú trong một thời thiền thì bạn
có thể trì chú thầm, không dùng xâu chuỗi nữa. Nhưng trước
khi làm điều này. Bạn phải chắc chắn rằng bạn đã đạt
được mức độ tinh tấn đó và đừng để cho tâm phân biệt
lý lẽ đó nó lừa bạn.
Các
người học đạo đã ẩn tu rồi và đã trì đủ số mật
chú thệ nguyện nhưng giờ muốn ẩn tu trở lại thì có thể
ẩn tu một mình, không tham dự vào nhóm. Họ cũng có thể
đọc thầm chú trong miệng hay thậm chí có thể tập trung
thiền định mà không (trì) tụng. Sau khi đã tu hành qua suốt
sadhana và bạn trở thành Vajrasattva, bạn tập trung vào chủng
tự HUM màu xanh ở tim bạn và tập trung vào một mình chủng
tự đó thôi. Bạn có thể hoàn chỉnh đến mức đó bằng
cách ban đầu đọc chú ra lời, sau đó đi vào sâu hơn, sâu
hơn nữa đến mức đọc chú bằng tâm và cuối cùng không
đọc bằng tâm nữa nhưng chỉ tập trung nhất tâm vào chủng
tự HUM. Điều này sẽ rất có lợi lạc.
Giờ
đây trước khi tôi ban lễ quán đảnh, tôi sắp cử hành một
nghi lễ để tịnh hóa các chướng ngại. Các chướng ngại
này là những biểu hiện không hình tướng, rất vi tế của
năng lực cái “tôi”, chúng ngăn không cho chúng ta thọ lãnh
sự quán đảnh trọn vẹn, chúng phải được xua tan trước
khi chúng ta tiến hành quán đảnh. Chúng ta chuyển hóa năng
lực cái “tôi” này thành ra một dạng hình tướng phẫn
nộ và quán tưởng ngài lama Heruka Vajrasattva xua đuổi nó đi
mất, ra khỏi hệ thống quỹ đạo mặt trời nơi mà nó không
bao giờ có thể trở lại được. Do đó, trong khi tôi cử
hành nghi lễ, các bạn quán tưởng như vậy đấy.
Quán
đảnh Heruka Vajrasattva
[Lama
Yeshe đã ban lễ quán đảnh từng giai đoạn một theo cách
đặc biệt độc đáo sau đây : đầu tiên ngài giải thích
việc quán tưởng mà các đệ tử phải thực hiện, rồi ngài
đọc kinh bằng tiếng Anh trong khi các người học đạo quán
tưởng như đã giải thích, cuối cùng ngài đọc kinh bằng
tiếng Tây Tạng. Những điều ghi lại dưới đây là phần
giảng giải được in phổ biến cho người đọc một khái
niệm về quá trình quán đảnh. Về phương diện kỹ thuật
đây không phải là một lễ quán đảnh đầy đủ (wang), thay
vì vậy, đây chỉ là kiểu thường được gọi là “sự
cho phép tu tập” (je-nang).]
Tinh
túy của Heruka Vajrasattva là năng lực tinh khiết được tập
hợp lại từ tất cả các bậc giác ngộ. Năng lực này biểu
lộ ở sắc thân trắng, phúc lạc, tỏa sáng của vị bổn
tôn. Cho nên khi bạn thọ lễ quán đảnh, thay vì nhìn vị
lama như một con người bình thường, bị mê lầm, thì bạn
hãy chuyển hóa vị lama thành ra hình siêu việt của vị bổn
tôn.
Sau
đó, theo truyền thống, bạn phải khẩn cầu ngài ba lần,
xin được ban cho sự truyền pháp quán đảnh. Có việc này
bởi vì chúng ta không cho phép người ta táo bạo nói rằng
: “Này này ! Tôi có được một phương pháp thần tốc, mãnh
liệt, toàn vẹn để đạt được giác ngộ. Hãy đến đây
! Và tôi sẽ trao nó cho bạn.” Trước khi thọ lãnh quán đảnh,
người học đạo phải có được phẩm chất đủ, thích hợp
và phải khẩn cầu thọ lãnh quán đảnh một cách hết sức
chân thành. Vậy nên bạn hãy lập lại ba lần theo tôi : “Ngài
lama Vajrasattva, xin hãy ban cho con sự quán đảnh Vajrasattva thiêng
liêng !”
Rồi
thì bạn phải phát sanh trạng thái giác ngộ của Bồ đề
tâm. Điều này để bảo đảm rằng việc bạn thọ lãnh quán
đảnh không trở thành động cơ quyền lực ích kỷ, nhưng
thay vì vậy, việc bạn thọ lãnh quán đảnh là một hành
động thiết tha hồi hướng cho sự giác ngộ của tất cả
chúng sanh hữu tình. Tuy nhiên hôm nay các bạn không thọ nhận
thọ giới Bồ tát đầy đủ với sáu mươi bốn lời thệ
nguyện, bạn đơn giản chỉ phát sanh động cơ mãnh liệt
để sử dụng phương pháp yoga cho mục đích duy nhất là làm
lợi lạc cho người khác chứ không phải cho lạc thú tạm
thời, và cá nhân nào. Với tư tưởng hồi hướng thiêng liêng
mong đạt tới mức cao nhất là sự chứng đắc giác ngộ
phúc lạc vĩnh cửu, bạn hãy lập lại ba lần theo tôi : “Lý
do duy nhất mà con muốn thọ lãnh quán đảnh là làm sao để
con có thể thực hành pháp môn yoga để đạt tới trạng thái
giác ngộ an lạc vĩnh hằng cho lợi ích của các chúng sanh
hữu tình khác.”
Bây
giờ các bạn hãy nhớ rằng bạn thọ lãnh sự quán đảnh
đích thực chỉ khi nào tâm bạn giao tiếp, gặp gỡ cùng với
tâm của lama Heruka Vajrasattva trong cùng không gian hay ở cùng
mức độ tâm thức. Để phát sanh kinh nghiệm đó, điều rất
quan trọng là sự tập trung của bạn luôn luôn mãnh liệt
suốt trong toàn bộ lễ quán đảnh.
Từ
chủng tự HUM ở tim của lama Heruka Vajrasattva, ánh sáng tỏa
sáng màu trắng rất mạnh vào trong tim bạn, năng lực điện
từ của ánh sáng đó đốt cháy ý niệm cái “tôi” của
bạn, đốt cháy hình ảnh bạn, toàn bộ hệ thần kinh vật
lý của bạn, chuyển hóa nó thành ra ánh sáng trắng rực rỡ.
Ánh sáng này tan ra, và cô đọng lại, trở nên càng lúc càng
nhỏ cho đến khi nó hoàn toàn biến mất vào trong hư không
rỗng rang. Hãy tập trung vào cái rỗng rang đó.
Bất
thình lình trong hư không rỗng rang đó, một hoa sen quý báu
xuất hiện. Trên hoa sen xuất hiện một mặt trăng. Ở trong
tâm mặt trăng xuất hiện một chày kim cương trắng tỏa sáng
rực rỡ – đó chính là bản thể của tâm thức của bạn.
Ánh sáng trắng rực rỡ phát ra từ mặt trăng và chày kim
cương bao trùm khắp cả hư không. Ánh sáng rực rỡ bao trùm
khắp cả đó trở lại chìm vào chày kim cương, bản thể
của tâm thức của bạn. Sự hấp thụ ánh sáng vào lại chày
kim cương thực hiện như là nguyên nhân phối hợp khiến tâm
thức của bạn chuyển hóa thành ra sắc thân cầu vồng siêu
việt của Heruka Vajrasattva – không thịt, không máu, không
xương.
Tay
phải của bạn cầm chày kim cương và tay trái bạn cầm quả
chuông tượng trưng cho sự giác ngộ trọn vẹn của bạn về
phương tiện và trí huệ. Bạn được Nyem-ma Kar-mo, người
nữ thiêng liêng, ôm bạn mà sắc thân thiêng liêng siêu việt
của người cũng làm bằng ánh sáng trắng rực rỡ và các
chứng ngộ của người cũng tương đương với bạn, kích
phát kinh nghiệm phúc lạc, siêu việt của tâm thức tỉnh
trọn vẹn trong bạn.
Bạn,
(là) Heruka Vajrasattva, được trang hoàng bằng chữ OM trắng,
rực rỡ ở luân xa đỉnh đầu bạn, chữ AH đỏ rực rỡ
ở luân xa cổ họng, và chữ HUM xanh ở luân xa tim.
Từ
chủng tự OM và mật chú Heruka Vajrasattva bao quanh chữ OM ở
luân xa đỉnh đầu của lama Heruka Vajrasattva, nguồn ánh sáng
trắng rực rỡ mãnh liệt phát xuất ra, lan tỏa khắp hư không
vũ trụ và khẩn cầu tất cả năng lực tinh khiết của tất
cả các đấng tối cao, năng lực tinh khiết này chuyển hóa
thành ánh sáng rực màu trắng, phúc lạc và chìm vào trong
luân xa đỉnh đầu của bạn (là) Heruka Vajrasattva. Giống như
một thác nước tuôn xuống mãnh liệt, năng lực này đi vào
trong sắc thân Heruka Vajrasattva của bạn, tràn đầy hệ thần
kinh của bạn với ánh sáng trắng sáng rực phúc lạc, đặc
biệt là ở luân xa đỉnh đầu của bạn. Kinh nghiệm phúc
lạc này tịnh hóa được các việc bất tịnh của thân đã
kết tụ lại trong vô số kiếp.
Từ
chủng tự AH đỏ và mật chú Heruka Vajrasattva bao quanh chữ
AH ở luân xa cổ của lama Heruka Vajrasattva, một ánh sáng đỏ
rực mãnh liệt xuất phát lan tỏa khắp hư không khẩn cầu
lời nói thiêng liêng của tất cả của đấng tối cao, lời
nói đó chuyển hóa thành ra ánh sáng đỏ rực phúc lạc và
chìm vào trong luân xa cổ họng của bạn, Heruka Vajrasattva.
Hệ thần kinh Heruka Vajrasattva của bạn được tràn đầy với
ánh sáng đỏ rực phúc lạc, đặc biệt ở luân xa cổ họng.
Kinh nghiệm phúc lạc này tịnh hóa các điều bất tịnh của
lời nói được tích tụ trong vô số kiếp.
Từ
chủng tự HUM màu xanh và mật chú Heruka Vajra-sattva bao quanh
chữ HUM ở luân xa tim của lama Heruka Vajrasattva, một ánh sáng
xanh rực rỡ mãnh liệt xuất phát ra lan tỏa khắp không gian
vũ trụ khẩn cầu trí huệ siêu việt thiêng liêng của tất
cả các đấng tối cao, trí huệ này chuyển hóa thành ra ánh
sáng xanh rực rỡ phúc lạc và chìm vào trong luân xa tim của
bạn, Heruka Vajrasattva. Hệ thần kinh Heruka Vajrasattva của bạn
hoàn toàn được tràn đầy với ánh sáng xanh rực phúc lạc,
đặc biệt là luân xa tim của bạn. Kinh nghiệm phúc lạc này
tịnh hóa các điều bất tịnh của tâm ý được tích tụ
trong vô số kiếp.
Bây
giờ, cùng lúc, ánh sáng trắng rực rỡ hỷ lạc đến từ
luân xa đỉnh đầu của lama Heruka Vajrasattva, ánh sáng trắng
đó đi vào luân xa đầu của bạn, Heruka Vajrasattva ; một ánh
sáng đỏ rực phúc lạc đến từ luân xa cổ họng của lama
Heruka Vajrasattva, nó đi vào trong luân xa cổ họng của bạn
; ánh sáng xanh rực phúc lạc đến từ luân xa tim của lama
Heruka Vajrasattva, nó đi trong luân xa tim của bạn. Thông qua
điều này, bạn và lama Heruka Vajrasattva hợp nhất không gì
phá hủy được.
Một
bản sao mật chú xuất phát từ mật chú ở tim của lama Heruka
Vajrasattva, đi qua miệng của ngài và đi vào trong miệng của
bạn (là) Heruka Vajrasattva, và chìm vào trong tim bạn. Việc
này xảy ra ba lần. Lần đầu, nó đi vòng quanh chủng tự
HUM ở tim bạn, lần thứ hai nó tan vào trong mật chú gốc
ở đó, làm tăng sức mạnh và oai lực, lần thứ ba nó tan
vào trong chính nó làm cho nó được bất diệt từ giờ đến
mãi mãi.
Hãy
quán tưởng mật chú như xâu chuỗi năng lực điện. Mật
chú như là lửa. Lửa có đặc tính là tự động đốt cháy
bất kể cái gì mà nó tiếp xúc. Tương tự, năng lực trí
huệ điện của mật chú tự động đốt cháy tất cả những
điều bất tịnh của năng lực bất thiện. Hãy lập lại
mật chú theo tôi ba lần. Sau lần thứ ba, hãy nghĩ rằng những
ban phước của lama Heruka Vajrasattva đã làm cho nó bất diệt.
Giờ
đây, từ lama Heruka Vajrasattva, một Heruka Vajra-sattva y hệt
xuất hiện đi đến đỉnh đầu bạn, đi xuống qua kinh mạch
trung ương và vào tim bạn. Thân, khẩu, tâm của bạn được
hoàn toàn hợp nhất với thân, khẩu, tâm thiêng liêng của
Heruka Vajrasattva.
Ngang
đây, các lama Tây Tạng có một phương tiện để giúp cho
những ai không tập trung được mãnh liệt. Chúng tôi chạm
vào đầu bạn bằng một cái bánh cúng dường có sơn vẽ
hình vị bổn tôn ở trên đầu một cái bánh đó. Khi bạn
đi hàng một ngang qua, tôi dùng bánh đó chạm vào đầu bạn,
lúc đó bạn hãy tập trung mạnh, nghĩ rằng Heruka Vajrasattva
đi vào kinh mạch trung ương đến tim bạn và rằng thân, khẩu,
tâm của bạn, (là) Heruka Vajrasattva được hợp nhất trọn
vẹn, bất nhị, với thân, khẩu, tâm thiêng liêng của Vajrasattva.(17)
Giờ
đây, lễ quán đảnh đã xong. Trong khi bạn lập lại những
cầu nguyện hồi hướng theo tôi, bạn hãy tha thiết cầu mong
cho nhóm ẩn tu được thành tựu viên mãn.
Từ
kinh nghiệm có được trong lễ quán đảnh này bạn có thể
thấy rằng đối với người có sự tập trung tốt thì quá
trình quán đảnh có thể là một kinh nghiệm giác ngộ. Điều
này làm nổi bật sự khác biệt giữa Vajrasattva và Tiểu thừa
và thừa Ba la mật đa. Ở Tiểu thừa và Ba la mật đa điếu
cốt yếu là tránh các sự hưởng thụ mà chúng ta mắc dính
vào ; nhưng ở Kim Cương Thừa chúng ta có phương tiện và
trí huệ mãnh liệt để chuyển hóa năng lực thông thường
này vào trong con đường phúc lạc đưa tới giác ngộ.
Nguyên
tắc này không hoàn toàn khác với phương cách mà kỹ thuật
khoa học hiện đại sử dụng nguồn tài nguyên quả đất
trong nỗ lực cải thiện mức sống nhân loại. Dĩ nhiên, những
nhược điểm của biện pháp khoa học giờ đây trở nên rõ
ràng, bằng chứng là ngay cả các chính trị gia đang phản
đối việc làm suy kiệt các nguồn tài nguyên và làm ô nhiễm
môi trường chúng ta – các nhược điểm này không hề thấy
xảy ra thông qua sự tu tập Pháp. Khi chúng ta sử dụng năng
lực và thông qua phương tiện và trí huệ, chúng ta chuyển
năng lực đó vào con đường phúc lạc đưa tới giác ngộ
mà không tạo ra bất kỳ một rung động tiêu cực bất thiện
nào cả.
Điều
quan trọng nhất là trong suốt thời gian ẩn tu bạn duy trì
mãnh liệt kinh nghiệm siêu việt là toàn bộ tâm thức của
bạn đã được chuyển hóa thành ra thân ánh sáng trắng rực
rỡ phúc lạc của Heruka Vajrasattva. Bạn phải thực sự tin
tưởng điều này. Lợi ích tâm lý của điều này ở chỗ
bạn sẽ bỏ đi hết tất cả những ý niệm như : “Tôi là
Thubten Yeshe, do đó tôi đói. Tôi là Thubten Yeshe do đó tôi
khát nước. Tôi là Thubten Yeshe do đó tôi cần các trần cảnh
đẹp đẽ.” Sự tin tưởng này sẽ giúp nhổ tận gốc toàn
bộ các phóng chiếu cái “tôi” của bạn. Thật là kỳ diệu.
Đại thừa có những phương tiện mãnh liệt rất kỳ diệu
để vượt qua tất cả các rung động xấu xa của cái tôi
của bạn. Điều này là một phần cực kỳ quan trọng trong
đợt ẩn tu của bạn.
Giờ
đây, khi tôi nói bạn nên tin tưởng mãnh liệt rằng bạn
là Vajrasattva, thì tôi không ám chỉ rằng bạn phải tin là
thân vật chất của bạn đã thay đổi. Tôi biết bạn sắp
nêu ra luận cứ phản đối mang tính khoa học giả hiệu của
người Tây phương như : “Thân tôi được cấu tạo bởi
thịt và xương. Làm sao tôi chuyển hóa nó thành ra ánh sáng
?” Đích thực bạn có thể nói như thế nhưng tôi trả lời
rằng ngoài thân vật lý bạn còn có thân tâm linh, thân của
tâm thức vi tế của bạn. Bạn chuyển hóa chính cái tâm thức
vi tế này thành ra thân có ánh sáng cầu vồng siêu việt,
trắng rực rỡ của vị hóa thần thiêng liêng và bạn phát
sanh sự kiêu hãnh tự hào thiêng liêng về điều đó.
Sự
kiêu hãnh thiêng liêng rất quan trọng. Để tôi nói lý do tại
sao vậy. Thông thường bạn nghĩ rằng : “Tôi rất tồi tệ.
Tôi như thế này nên tôi tồi tệ.” Bạn có biết được
ý tôi muốn nói gì không ? Tôi đang đề cập đến sự việc
là “bạn cảm thấy tội lỗi” ngay cả khi bạn không có
tội. Mặc dù bạn không có tín ngưỡng bạn vẫn cảm thấy
tội lỗi. Đừng nghĩ rằng người có tín ngưỡng mới thấy
có tội mà thôi. Tôi có đủ kinh nghiệm để biết rằng người
Tây phương luôn thấy có tội về việc này việc nọ cho dù
họ không có tín ngưỡng. Có lẽ các bạn nghĩ rằng : “Ồ
! Tôi chỉ thấy có tội bởi vì tôi đang cố gắng trở thành
Phật tử. Nếu tôi không tu tập Pháp tôi sẽ không cảm thấy
tội lỗi tí nào cả.” Đấy không phải là phương cách tránh
được tội lỗi. Ngay cả người không tín ngưỡng vẫn cảm
thấy có tội lỗi.
Phương
pháp để từ bỏ cảm giác tội lỗi và tự hạ thấp mình
xuống như “Tôi xấu xa, tôi bất thiện,” là hãy phát sanh
sự kiêu hãnh thiêng liêng sự tự hào mình là vị thần thiêng,
và – bằng cách đó – chuyển hóa tất cả những ý niệm
bất thiện thành ra năng lực trí huệ phúc lạc. Với kỹ
thuật này, bạn có thể đương đầu giải quyết mọi tình
huống phát sanh : sử dụng năng lực này và chuyển nó ra thành
ánh sáng trắng rực rỡ tỏa sáng như vị thần thiêng. Đó
là lý do tại sao tôi đã nói đến chữ “mãnh liệt” ở
đoạn trước – bạn phải thực sự tin rằng bạn là Heruka
Vajrasattva thay vì “tôi là Thubten Yeshe sinh ra ở Tây Tạng,
đã có người cha này, người mẹ kia, tôi đã trốn thoát…
là người tỵ nạn… đói.” Bạn phải vượt qua khỏi cuộc
chơi thuốc kích thích của cái ngã (“tôi”). Bất cứ khi
nào ý niệm thế tục “tôi là” nổi lên thì thân, khẩu,
tâm thế tục liền biểu lộ ngay tức thì. Nhưng ngay khi bạn
phát sanh kiêu hãnh thiêng liêng và đang kinh nghiệm sự chuyển
hóa siêu việt thì bạn loại bỏ được tất cả các ý niệm
thế tục thông thường. Dĩ nhiên, việc này rất cần thiết
bạn phải làm trong các thời thiền định, nhưng cũng sẽ
cần thiết khi ngoài thời thiền nữa. Bạn hãy duy trì năng
lực của kiêu hãnh thiêng liêng này thay vì để năng lực
đó giảm xuống khi bạn chấm dứt thời thiền, đi ăn trưa
và
cho
phép thói quen cũ nổi lên, nhìn nhau bằng sự sân hận, tham
lam.
Bạn
có thể thấy được bằng cách nào mà phương tiện và trí
huệ như vậy, có thể giúp bạn điều khiển được năng
lực mê vọng của bạn. Và bạn có thể thấy được sự
việc này nhờ kinh nghiệm riêng của bạn chứ không phải
nhờ vào lời nói của tôi. Nếu tôi nói quá nhiều về việc
bằng cách nào mà Kim Cương thừa chứa đựng tất cả các
phương tiện kỳ diệu này thì bạn sẽ nghĩ ngay rằng : “Ồ
! Ông ta tự cao tự đại quá. Ông ta chỉ khoe khoang phóng đại
oai lực mà các lama Tây Tạng tự cho là đã có.” Nó sẽ
quá nhiều cho bạn mất. Nhưng nếu bạn tự kiểm tra coi lại
chính mình bạn sẽ nếm được những lợi lạc. Và trước
khi bạn ẩn tu, bạn hãy nghiên cứu kỹ bài giảng này. Hãy
đọc kỹ từng câu, nên ngừng lại để kiểm tra và thiền
định về từng câu. Nếu bạn biết thấu đáo rõ ràng về
những gì bạn làm thì bạn sẽ không còn nghi ngờ, dao động
và bạn cảm thấy rất thoải mái. Điều đó rất quan trọng
và còn rất cần thiết để bạn có thể thành công khi ẩn
tu.
Nếu
bạn bắt đầu gặp các khó khăn trong khi nhập thất, đừng
nghĩ rằng : “Tôi rất tệ ; tôi không phải là người ẩn
tu tốt.” Thay vì vậy, chỉ việc tự hỏi mình : “Tại sao
việc ẩn tu của tôi không tiến triển tốt ?” Bạn sẽ có
câu trả lời : “Đó là bởi vì những ảo tưởng mê lầm
kỳ quặc của tôi. Và tôi không phải là người duy nhất
như vậy. Tất cả chúng sanh hữu tình, những người mẹ của
tôi đều có cùng hoàn cảnh như vậy.” Hãy chăm sóc thương
yêu các người khác thay vì bản thân mình, và hãy cảm thấy
xót xa với những nỗi khổ đau của tất cả chúng sanh hữu
tình. Thay vì khùng điên mà than khóc khi gặp trở ngại trong
lúc ẩn tu, có một kỹ thuật hoàn hảo là chuyển hóa năng
lực của mật chú thành ra lòng thương xót bi mẫn. Dĩ nhiên
những giọt nước mắt xúc động không phải tất yếu là
xấu ; khóc cũng có thể là kinh nghiệm phúc lạc.
Chẳng
hạn, lần đầu tiên người ta phát hiện tánh Không họ bàng
hoàng như thể không tin được và họ có thể hoàn toàn trống
trải ra. Ở bên trong, họ kinh nghiệm một rung động phúc
lạc ; về phương diện tâm lý, như thể họ được chở đi
vào không trung rồi bất thình lình bị rơi xuống. Họ gần
như không biết sẽ ra sao. Về phương diện triết lý, điều
này có vẻ là rất nghịch lại với kinh nghiệm trí huệ tánh
Không bởi vì kinh nghiệm tánh Không hẳn là hoàn toàn tách
biệt với cảm xúc. Nhưng mỗi người lần đầu khám phá
thực tế về tánh Không đều có kinh nghiệm cá nhân hoàn
toàn khác nhau.
Giống
như người đệ tử thân cận của lama Tsong Khapa, lần đầu
kinh nghiệm được tánh Không trong khi nghe lama giảng pháp.
Ông ta cảm thấy như ông ta bị biến mất và ông ta chộp
nắm áo của thầy. Lama Tsong Khapa cười và nói, “Cái gã
đệ tử của ta đã vừa mới tìm thấy được mình trên cái
áo của hắn.” Rồi vị lama tiếp tục giải thích kinh-nghiệm-như-vậy
được coi là như thế nào. Cho nên khóc không phải nhất thiết
là xấu.
Khi
những khó khăn nổi lên, bạn hãy nhớ đến lý do : “Tất
cả chúng sanh hữu tình kể cả tôi đều ở trong tình huống
này. Tất cả chúng ta đều là đối tượng của lòng bi.”
Nếu bạn chứng ngộ được lòng đại bi trong kỳ ẩn tu thì
bạn có thể đòi hỏi gì hơn nữa ? Như thế là tuyệt rồi.
Sau đợt ẩn tu, mọi hành vi của bạn đều thấm nhuần lòng
từ bi. Có thể được như vậy. Nhưng cũng phải thiện xảo
nữa. Hãy biết thư giãn trong kỳ nhập thất và khéo léo thiện
xảo trong cách bạn thư giãn. Tôi không ám chỉ rằng bạn
chỉ nên nằm thôi.
Sau
đợt ẩn tu bạn hãy thực hiện đơn giản lễ cúng lửa Dorje
Khadro, tôi có bài giải thích ngắn ở chương kế tiếp. Có
nhiều cách phức tạp trong lễ dâng cúng lửa theo truyền thống
Tây Tạng, nhưng cách này sẽ tốt cho chúng ta. Bạn có thể
thực hiện việc dâng cúng mỗi ngày, bất cứ khi nào về
phương diện tâm lý, bạn cảm thấy không được tốt, nặng
nề hay bất tịnh. Hãy thắp ngọn lửa và làm lễ dâng cúng
Dorje Khadro và thiền định nhiều. Nó giống như cách thiền
định tum-mo – nó đốt cháy tất cả những điều bất tịnh
của bạn.
Câu
hỏi : Ở cuối sadhana chúng tôi thiền định về việc coi
bản thân mình như là Heruka Vajrasattva. Bằng cách nào để
chúng tôi tập trung được vào điều này ?
Trả
lời : Loại thiền định này rất sâu sắc – sâu sắc hơn
nhiều so với loại thiền định về đối tượng bên ngoài
dễ hơn và người ta hay làm hơn. Với thiền định về Heruka
Vajrasattva này đôi khi bạn có bị đau một ít ở tim hay tim
đập nhanh khi bạn thiền định. Sở dĩ như vậy vì bạn không
được thư giãn hoặc giả bạn không nhận thức được đối
tượng thiền định là ở trong bản tánh của tâm thức. Khi
bạn thiền định bản thân mình là Heruka Vajrasattva và tập
trung ở chữ HUM ở tim bạn lúc đó nếu bạn cứ nghĩ thân
bạn là vật chất cụ thể thì tim bạn bắt đầu bị đau
bởi vì như vậy sự suy nghĩ đã quá ư cụ thể. Việc nhận
thức thân bạn vô hình như là thân tâm linh, rất ư quan trọng.
Nếu tôi đang ngồi thiền định ở đây và cố đặt chữ
HUM cụ thể, vật chất vào tim tôi thì sẽ không có chỗ cho
chữ HUM đó đặt vào. Không gian bị choán chỗ hết rồi.
Nhưng nếu tất cả mọi thứ đều ở trong bản chất tâm
thức thì việc đặt chữ HUM đó có thể được. Cho nên điều
quan trọng là quán tưởng chữ HUM siêu vật chất, phúc lạc,
mà bản chất là tâm thức.
Thường
thì với một người tham ái, mê muội có thể sẽ cảm thấy
một loại phúc lạc có tính sanh tử luân hồi khi ngắm nhìn
một người đàn bà đẹp. Tương tự như vậy, chữ HUM xanh
ở tim của Vajrasattva là một đối tượng phúc lạc hay nó
phát sanh phúc lạc. Bất cứ khi nào bạn quán tưởng chữ
đó, bạn cảm giác được phúc lạc. Đây là một điều quan
trọng. Do kết quả đó, bạn sẽ có được sự tập trung
nhất tâm rất tốt. Tại sao vậy ? Bởi vì tự bản thân đối
tượng thiền định – trong trường hợp này là chữ HUM xanh
– cho bạn một kinh nghiệm phúc lạc. Khi bạn có được một
kinh nghiệm phúc lạc bạn cảm thấy thỏa mãn. Khoảng trống
trong bao tử tâm lý của bạn được no đầy. Khi bao tử tâm
lý được thỏa mãn, bạn sẽ không còn cảm thấy cô đơn
hay bất mãn.
Các
Tăng, Ni thường cảm thấy cô đơn… vâng, tất cả chúng
ta đều cảm thấy cô đơn. Đó là sự thật. Chúng ta cần
phải biết những sự việc này. Nó cần thiết – đấy là
Pháp. Có lẽ bạn cho rằng tôi đang nói về những việc dơ
bẩn nhưng chúng ta phải hiểu những việc dơ bẩn trong cuộc
sống để mà biết phải tẩy rửa cái gì. Thế thì tại sao
chúng ta cảm thấy cô đơn và không mãn nguyện ? Bởi vì chúng
ta đang tìm kiếm sự thỏa mãn – nhưng không có những kinh
nghiệm phúc lạc, cho nên bao tử tâm lý của chúng ta bị đói.
Tôi chắc chắn các bạn hiểu được ý tôi muốn nói cái
gì.
12
BÀI
GIẢNG TÓM LƯỢC VỀ
SADHANA
VAJRASATTVA
Đạo
Phật Tây Tạng xem việc tu tập Vajrasattva là rất quan trọng.
Chúng tôi gọi Giáo Pháp này là Gel-kyen dig-drib jong-wa dor-je
sem-pai tri.
Gel-kyen
có nghĩa là chướng ngại ; dig có nghĩa là điều bất thiện,
chỉ kiểu hành vi phi đạo đức ; drib là sự che tối. Sự
khác biệt giữa hai chữ cuối này chỉ tính cách kỹ thuật
nhưng tựu trung cũng có nghĩa là chướng ngại. Đối với
một hành vi dẫn tới sự bất thiện phải có một động
cơ bất thiện như một trong ba thứ tâm độc là ngu si, tham
lam, sân hận. Sự che tối không nhất thiết được tạo ra
bằng một động cơ bất thiện. Chẳng hạn tâm nặng đục,
buồn ngủ, hôn trầm đã ngăn chặn bạn không triển khai được
sự tập trung nhất tâm, tâm này là một sự che tối nhưng
không cần thiết có một động cơ bất thiện nào ở sau lưng
nó. Có rất nhiều mức độ thiện và bất thiện ở cùng
với tâm. Do đó, khi chúng tôi nói rằng phương pháp thiền
định Vajrasattva rất mãnh liệt trong việc loại bỏ các điều
bất thiện thì chúng tôi không ám chỉ những hành vi bất
thiện phi đạo đức mà còn ám chỉ đến bất kỳ loại chướng
ngại nào.
Chẳng
hạn vài người trong chúng ta thực hiện giữ giới. Chúng
ta phát lời thệ nguyện trước Tam Bảo quy y là Phật, Pháp,Tăng.
Chúng ta hứa sẽ làm và không làm một số việc cụ thể.
Khi phát lời thệ nguyện chúng ta tha thiết quyết tâm và hoàn
toàn tự tin rằng chúng ta có khả năng thọ giới một cách
trong sạch. Nhưng rồi thì hoàn cảnh xung quanh mình đổi thay,
bức tường nội tâm của chúng ta tan ra từng mảnh vụn và
chúng ta phạm giới. Không sao đâu ; chúng ta có thể tịnh
hóa những phạm giới như vậy.
Ngược
lại, khi những người Tây phương học đạo đã đến gặp
tôi với mớ cảm xúc rằng họ rất có tội, họ đang nghĩ
rằng họ đã phạm một giới này hay một giới nọ, nhưng
khi tôi hỏi họ là họ đã chính xác phạm giới như thế
nào thì tôi phát hiện họ chẳng phạm giới nào cả. Họ
có một kiểu nhận định cụ thể : “Tôi đừng nên làm
việc này bao giờ,” khi bản thân hành vi đó không phải là
phạm giới nhưng chính thái độ hay động cơ ở sau lưng hành
vi đó mới phạm giới. Do đó, cho dù bạn đã làm bất cứ
hành vi nào dù ngoài mặt là đối nghịch lại giới luật
nhưng nếu động cơ hành động của bạn không bất thiện
thì như vậy bạn không nhất thiết đã phạm giới.
Điều
quan trọng nhất mà bạn cần biết là dù bạn có bất cứ
loại biểu hiện bất thiện nào thì tất cả những thứ đó
đều có thể được tịnh hóa bởi pháp yoga của Heruka Vajrasattva.
Đạo Phật, đặc biệt Kim Cương thừa, xác nhận rằng bạn
có thể tịnh hóa bất kỳ điều bất thiện nào.
Khi
chúng ta nghĩ về một số điều bất thiện nhất định nào
đó rất nặng nề, thì dường như chúng còn mãi, không thay
đổi được và vô phương tịnh hóa. Ý nghĩ này về sự bất
thiện là tự hữu, độc lập là nguy hiểm nhất. Xét về
căn bản, tất cả các hiện tượng thiện hạnh và bất thiện
đều phụ thuộc lẫn nhau và có bản chất biến đổi. Một
số triết gia Hindu chủ trương rằng các đối tượng của
năm giác quan được kết hợp bởi những nguyên tử tự hiện
hữu, bất biến và tồn tại vĩnh viễn. Các nhà khoa học
phương Tây trước đây cũng đã từng tin tưởng như vậy,
và một số người đến bây giờ có thể vẫn còn nghĩ vậy.
Những điều đó là những quan điểm sai lầm.
Điều
quan trọng mà bạn cần biết là bản thân chúng ta và tất
cả các hiện tượng khác như các đối tượng của giác quan
hay các phẩm chất bất thiện hay thiện, tất cả đều lệ
thuộc tương tác và đều thay đổi. Đặc biệt trong phạm
trù việc tịnh hóa, bạn nên nhận thức rằng các biểu hiện
bất thiện như sự ham muốn, giận dữ, hay bất cứ thứ gì
khác bạn có thể nghĩ tới, tất cả đều không bao giờ giữ
y nguyên. Chẳng hạn bạn lọt vào một môi trường nào đó
và bất ngờ tâm bạn thay đổi và bạn bắt đầu dao động.
Điều đó chứng minh cho thấy tính chất vô thường của những
cảm xúc này. Những cảm xúc đó đến rồi đi. Và bạn không
chỉ tạm thời giải quyết được các vấn đề bất thiện
đó, mà bạn cũng có thể loại bỏ chúng trọn vẹn và vĩnh
viễn.
Tôi
tin rằng người nào thực hành việc tịnh hóa là can đảm
: “Tôi có thể đương đầu và vượt qua được bất kỳ
vấn đề gì, bất kỳ khó khăn nào.” Đừng cho rằng họ
đang thực hành việc tịnh hóa bởi vì họ đang bất hạnh.
Nhiều môn đồ của một số tôn giáo phương Tây công nhận
triết lý về sự có tội vĩnh viễn do đó họ cảm thấy
tội lỗi. Bạn phải tránh thái độ khi nghĩ rằng bạn không
thể nào chiến thắng được điều bất thiện. Đối với
quan điểm của Kim Cương thừa người tu tập phép tịnh hóa
là người can đảm : “Tôi có thể làm việc đó. Mặc dù
tôi đã phạm lỗi lầm nhưng tôi tin chắc sẽ có cách giải
quyết cho vấn đề của tôi.” Đó là thái độ đúng đắn
: bạn không sợ phải công nhận những điều bất thiện của
mình. Bạn nghĩ rằng : “Vâng, đó đã là điều bất thiện
; đó đã là tâm không được kiềm chế của tôi.” Bạn
chấp nhận nó, nhưng bạn không cảm thấy vô hy vọng. “Tôi
có thể thay đổi tâm tôi. Dù gì thì nó cũng đã thay đổi
liên tục không ngừng kể từ khi tôi sinh ra. Giờ đây tôi
có thể làm cho nó thay đổi được tốt hơn.” Sự hiểu
biết như vậy rất quan trọng – rất quan trọng.
Giờ
đây, ngoài việc can đảm nhận ra khả năng tịnh hóa các
chướng ngại, bạn cũng nên hiểu biết rằng bạn có thể
tịnh hóa các dấu in (các ấn tượng) mà các hành vi bất
thiện đã để lại trong tâm thức của bạn. Ở Tây Tạng
người ta gọi là pag-cha. Trong vô số kiếp bạn đã tạo đi
tạo lại hết nghiệp xấu ác này đến nghiệp xấu ác khác,
và mỗi nghiệp xấu đó đã đều để lại dấu in trong tâm
bạn. Dù hành động đã dứt rồi nhưng dấu in của nó vẫn
còn ở đó và nó sẽ thúc đẩy bạn lập lại hành động
đó nữa. Nhưng với trí huệ đúng đắn, tất cả các dấu
in bất thiện có thể hoàn toàn được tịnh hóa.
Các
chướng ngại xuất phát từ đâu ? Chúng nó đến từ tâm
chấp ngã, nhị nguyên, đen tối, ô nhiễm và không thiện xảo.
Phương pháp để hàng phục các thứ tâm đó là thực hành
yoga Heruka Vajrasattva nhiều lần lập đi lập lại. Pháp này
sẽ tạo lập hay tăng cường năng lực trong sạch siêu việt
ở trong bạn, sao cho bạn sẽ trở nên thấy mọi sự vật
một cách bất nhị, trong bản tánh rỗng rang chân thật của
chúng, tức là tánh Không. Theo Kim Cương thừa, khi bạn thấy
những sự vật một cách hiện thực hơn thì chúng không còn
có vẻ cụ thể mà là phúc lạc. Và khi một sự vật trở
nên phúc lạc, nó trở thành một vị hóa thần thiêng liêng
; nó xuất hiện ở trong hình tướng thiêng liêng.
Đôi
khi chúng ta cho rằng người khác là xấu, phải không ? Những
cái xấu làm ta khó chịu. Vấn đề là vậy. Khi chúng ta nhìn
thấy sự vật hiện thực hơn – chẳng hạn bản chất sâu
xa hơn của những chúng sanh khác – thì chúng ta đã được
chuyển hóa. Hạnh phúc và phúc lạc được sạc điện ở
trong chúng ta. Do kết quả đó, chúng ta thấy được các phẩm
tính của vị thần thiêng ở trong các chúng sanh khác. Những
phẩm tính này là gì ? Đó là trí huệ và lòng bi. Và vị
Hóa thần thiêng liêng là gì ? Đó là trí huệ và lòng bi mẫn
phát triển toàn vẹn, là các phẩm tính của giác ngộ. Điều
này ứng dụng cho bất kỳ vị hóa thần thiêng liêng nào.
Sadhana
Quy
y và phát Bồ đề tâm
Chúng
ta quy y vào Phật, Pháp, và Tăng, tức là Tăng đoàn của Ba
thừa. Điều này có nghĩa là bạn không còn có thể nói được
rằng : “Tôi là người theo Đại thừa, tôi không quy y các
A la hán Tiểu thừa.” Chúng ta quy y vào Tăng đoàn mà không
được có sự phân biệt nào cả. Chúng ta cũng quy y vào các
daka và dakini. Bạn không thể nói rằng : “Tôi sẽ quy y các
daka, nhưng không quy y các dakini.” Chúng ta quy y vào tất cả
chư vị Bồ tát. Và đặc biệt bạn quy y với người (lob-pošn)
đã trao cho bạn lễ quán đảnh Heruka Vajrasattva.
Đấng
chủ đạo mà bạn quy y là ngài Heruka có hai tay và đang đứng,
ngài cầm một chày kim cương và một chuông, đang ôm Vajravarahi
người phối ngẫu của ngài. Chắc hẳn bạn sẽ rất khó
quán tưởng hình tướng với tất cả tay và chân. Ngài Heruka
và người phối ngẫu được vây quanh bởi tất cả các hình
ảnh các vị đông khắp trong vũ trụ như đã được đề
cập trong bài giảng chính. Những vị đó tan vào trong ánh
sáng và tan biến vào Heruka, rồi Heruka cũng chìm tan vào trong
bạn. Bạn trở thành Heruka. Hãy tập trung vào điều này càng
lâu càng tốt.(18)
Khi
bạn phát Bồ đề tâm bằng cách nghĩ rằng : “Tôi phải
trở thành Heruka…” thì bạn gửi đi ánh sáng rực rỡ đến
mười phương thế giới, tịnh hóa tất cả chúng sanh trong
sáu cõi và biến họ thành ra Heruka. Rồi tất cả Heruka này
chìm tan vào trong bạn. Đó là một kỹ thuật để thực hiện
Bồ đề tâm.
Phương
pháp yoga thực sự
Khi
tu tập pháp yoga Heruka Vajrasattva, bạn có thể quán tưởng
bản thân bạn là Heruka hay Vajrapani hay bất kỳ vị thần bổn
tôn ưa thích nào của bạn. Nhưng ở đây nổi lên một câu
hỏi : “Nếu tôi là Heruka, thì cần gì phải tịnh hóa ?”
Dĩ nhiên nếu bạn thực sự là Heruka, chắc chắn bạn không
cần sự tịnh hóa nào cả. Ở đây khi bạn chuyển hóa mình
thành ra hình tướng thiêng liêng của Heruka cho dù bạn có
được sự tập trung rất tốt thì tâm phân biệt nhị nguyên
của bạn cũng đang ẩn nấp đâu đó trong sâu thẳm của tâm
thức, nó chỉ chờ lúc nhảy ra ngoài và làm cho bạn mê lầm.
Việc
này nhắc tôi nhớ lại một câu chuyện về một hành giả
tu tập Yamantaka (hình tướng phẫn nộ của Văn Thù Sư Lợi)
ở Tây Tạng. Như bạn biết, ngài Yamantaka có tất cả những
cánh tay này, mỗi tay cầm một món đồ. Vào một ngày vị
tăng này đang quán tưởng bản thân mình trong hình tướng
đó, và đương nhiên ông ta đã hoàn toàn tin được như vậy
bởi vì khi vị thầy cố đưa cho ông một vật gì thì ông
ta trả lời : “Xin lỗi, tôi không thể, vì tay tôi cầm các
đồ vật rồi.” Do đó vị thầy nói : “Được rồi, thay
vì vậy, con hãy cầm món đồ ta đưa chỉ với bàn tay thông
thường bất tịnh của con.”
Cho
dù bạn có thể quán tưởng chính bạn là Heruka với một
niềm tin tưởng hoàn toàn, không có một ý niệm bình thường
nào đi nữa, thì bạn vẫn phải cần sự tịnh hóa. Không
phải lý do là Đức Phật đã dạy như vậy, nhưng bởi vì
tâm nhị nguyên của bạn vẫn còn ở đó. Do đó, ngay cả
nếu bạn đã biểu lộ được như là một Heruka bạn vẫn
phải thực hành pháp Heruka Vajrasattva. Tuy nhiên khi bạn thực
hành bạn chỉ việc duy trì hình tướng thiêng liêng mà không
cần chú trọng đến sự tự hào thiêng liêng.
Hãy
quán tưởng Heruka Vajrasattva phía trên đỉnh đầu của bạn
cách đầu một khoảng sao cho tiện lợi với bạn, nhưng đừng
quá cách xa hàng dặm, có lẽ vừa một bàn tay là đủ, thân
của ngài không giống thân vật chất cụ thể như thân chúng
ta, mà là một sắc thân có màu cầu vồng : rõ ràng và trong
suốt, đó là sắc thân tâm linh. Ngài hoàn toàn hợp nhất
với người phối ngẫu của ngài. Bà tượng trưng cho trí
huệ giác ngộ và ngài tượng trưng cho phương tiện giác ngộ.
Ánh
sáng tỏa ra từ tim ngài đến mười phương khẩn cầu tất
cả chư Phật và chư Bồ tát. Ánh sáng trắng rực rỡ này
là năng lực trí huệ giác ngộ thiêng liêng, tức trí huệ-hiểu
biết tinh khiết, hiểu thấu đáo tột cùng bản tánh của
tất cả. Đó là tâm tinh khiết. Tâm bất tịnh thì ngược
lại, nó chật hẹp, nó thiếu trí huệ thiện xảo và nó phát
sanh ra các hành vi bất tịnh.
Ánh
sáng trắng rực rỡ của năng lực trí huệ tối thượng đã
được khẩn cầu, ánh sáng đó chìm vào trong tim Heruka Vajrasattva,
đi xuống theo kinh mạch trung ương đến luân xa bí mật của
ngài, rồi đi vào luân xa bí mật của Dorje Nyem-ma và rồi
tràn đầy khắp kinh mạch trung ương của bà. Cả hai thân
của hai ngài được ngập tràn với ánh sáng trắng rực rỡ
phúc lạc. Từ mật chú ở tim của mỗi vị hóa thần này,
một năng lực kundalani màu trắng phúc lạc, ào xuống dọc
theo kinh mạch trung ương của hai vị, đi qua chỗ luân xa bí
mật và đi vào luân xa đỉnh đầu của bạn. Năng lực này
rất mạnh, nó như một thác nước. Trong việc quán tưởng
yašn-de này, ánh sáng trắng tuôn xuống theo kinh mạch trung
ương của bạn, đẩy ra ngoài, qua luân xa bí mật của bạn,
tất cả những điều bất tịnh và năng lực bất thiện trong
dạng hình tướng con heo, con gà, con rắn… Những con vật
này và những con khác như bò cạp, khỉ, bò cái đều tượng
trưng cho tất cả các loại bất thiện trong hệ thần kinh
bạn. Tất cả được tẩy rửa sạch hoàn toàn. Sự không
mãn nguyện, cảm giác cô đơn của bạn cũng được tịnh
hóa, kể cả những triệu chứng bất thiện quấy phá mà bạn
có thể nghĩ tới.
Bạn
cũng có thể thực hành cách quán tưởng mašn-de ở điểm
này. Với cách này, bạn quán tưởng các rác rưởi nội tâm
của bạn nổi lên trên mặt của năng lực kundalini phúc lạc
khi năng lực này làm đầy thân bạn bắt đầu từ dưới
lên trên. Rác rưởi này rời khỏi thân bạn thông qua các
cửa như lỗ mũi, mắt, miệng, tai và nó nổi thành bọt ra
ngoài luân xa đỉnh đầu của bạn.
Rồi
thì bạn cũng có thể thực hành thiền định thứ ba tức
là phung-de, quán tưởng ánh sáng tỏa sáng rực rỡ. Từ tim
của Vajrasattva ánh sáng chiếu rọi qua luân xa bí mật của
ngài, xuyên qua đỉnh đầu của bạn và tịnh hóa toàn bộ
hệ thống thần kinh của bạn. Đây là ba pháp quán tưởng
bạn thực hiện trong khi bạn đọc mật chú.
Cuối
cùng Heruka Vajrasattva chìm tan qua kinh mạch trung ương của bạn
vào trong tim bạn. Thân, khẩu, ý của bạn được hợp nhất
với thân, khẩu, ý thiêng liêng của ngài. Bạn trở thành
Heruka Vajrasattva. Từ nơi tim thiêng liêng của bạn, rất nhiều
ánh sáng tỏa chiếu qua khắp sáu cõi luân hồi, tịnh hóa
tất cả chúng sanh và chuyển hóa họ thành ra sắc thân Heruka
Vajrasattva. Rồi tất cả Heruka Vajrasattva này chìm tan vào trong
chính bạn.
Điều
này rất quan trọng. Chúng ta luôn luôn có quan hệ với những
người khác và thường có những nghiệp nặng nề với nhau.
Chúng ta giận ghét những người khác, chúng ta dính bám mạnh
mẽ với những người khác. Đa số các vấn đề của chúng
ta là với những người khác. Chúng ta bị liên kết với nhau
mạnh đến nỗi trong suốt cuộc đời chúng ta không ngừng
quan hệ hay tình cờ gặp nhau. Khi bạn thực hiện pháp thiền
định nói trên, bạn chuyển hóa bản thân bạn và bạn cũng
chuyển hóa tất cả đối tượng. Như thế đối với bạn,
không có đối tượng nào khao khát thèm muốn mà cũng không
có đối tượng nào sân hận, cho nên bạn giữ được sự
tinh tấn. Pháp Vajrasattva đặc biệt nhấn mạnh đến sự chuyển
hóa các đối tượng sao cho bạn có thể kích phát phúc lạc
thay vì kích hoạt ba độc là ngu si, tham luyến và sân hận.
Cũng
từ tim Heruka Vajrasattva của bạn, bạn gửi đi đến mười
phương vô số hình thể Heruka Vajrasattva và bất cứ thứ gì
bạn cho là hấp dẫn hay đáng ưa chẳng hạn như những người
đàn ông đẹp trai, phụ nữ đẹp hay các trần cảnh tuyệt
mỹ, tất cả các đối tượng của năm giác quan, bạn cúng
dường tất cả những thứ đó cho các bậc tối cao. Bạn
hãy quán tưởng rằng việc cúng dường này mang đến đại
lạc cho chư Phật chư Bồ tát. Trên thực tế, nghĩa cốt tủy
của từ “cúng dường” là cái kích thích, làm phát khởi
phúc lạc siêu phàm trong người nhận sự cúng dường đó.
Và đó mới là sự cúng dường đúng nghĩa. Nếu bạn dâng
một cái gì mà gây ra đau khổ thì đó không phải là sự
cúng dường. Bởi vì hàm ý Phật giáo của sự cúng dường
là sự việc đó mang đến hạnh phúc, và so với ý nghĩa đó,
bạn có thể thấy rằng hầu hết thời gian các món quà của
chúng ta không thể hiện theo kiểu đó, và ngay dù chúng ta
có ý muốn tốt, món quà của chúng ta thường khiến cho người
ta bất hạnh.
Có
rất nhiều điều cốt tủy trong sadhana. Bạn phải hiểu mục
đích thực sự của việc chuyển hóa mà chúng ta đang thực
hành ở đây. Nếu có ai hỏi tại sao bạn thực hành pháp
môn yoga này bạn có thể trả lời : “Để tịnh hóa chính
mình.” Câu này về cơ bản chấp nhận được, nhưng câu
trả lời thực sự phải nên là : “Tôi cần thấu hiểu bản
tánh chân thật của tất cả những gì hiện hữu, tôi muốn
hiểu thực tại đó.” Đó là mục đích thực sự của pháp
yoga Heruka Vajrasattva. Pháp môn này chỉ cho bạn thấy cái gì
là sự thật và cái gì là không phải nó giúp bạn nhận ra
tánh Không, tánh bất nhị, nó chấm dứt cho bạn khỏi phải
tiếp tục ở trong ảnh hưởng của những quan niệm đông
cứng lại của cái ngã của bạn.
Bạn
càng hiểu thấu nhiều hơn về bản tánh nền tảng của tất
cả những gì hiện hữu thì bạn càng trải nghiệm nhiều
phúc lạc hơn. Và nếu bạn trải nghiệm phúc lạc càng lớn
hơn thì bạn càng gần với sự đạt tới hình tướng đẹp
đẽ của vị hóa thần. Đó là điểm chính.
Nhiều
người Tây phương cho rằng cách nhận thức về vòng luân
hồi sanh tử được giải thích trong Phật giáo quả thật
bi đát : “Đạo Phật cho rằng cuộc sống là đau khổ mà
không cách nào thoát khỏi !” Như vậy có vẻ như là giáo
lý và thiền định Phật giáo đã được khám phá giảng dạy
nhằm mục đích đặc biệt là làm cho con người khốn khổ
! Đó là một thái độ hoàn toàn sai lầm. Họ không hiểu
thực sự họ cần cái gì.
Điều
tôi đang nói là, toàn bộ mục đích việc thực hành Heruka
Vajrasattva là chứng nghiệm tánh bất nhị – sự thật rốt
ráo của chính bạn và của tất cả mọi hiện tượng. Sự
chứng nghiệm này là một kinh nghiệm phúc lạc cực độ.
Một khi bạn kinh nghiệm được niềm phúc lạc này, bạn có
thể thấy cái đẹp của vị hóa thần thiêng liêng trong những
con người khác và sẽ ngưng gán ép các phóng chiếu bất thiện,
tiêu cực lên người khác.
Giáo
lý Kim Cương thừa dạy rằng bất kỳ ai thực hành Kim Cương
thừa phải xem những con người khác như các vị Hóa thần
thiêng liêng. Đó là giáo lý. Những ai đã chứng biết được
bản tánh nền tảng, tánh bất nhị, của các chúng sanh khác
thì sẽ có được kinh nghiệm siêu việt về sự thấy được
các phẩm tính giác ngộ của vị Hóa thần trong những chúng
sanh khác. Các hành giả như vậy không có chỗ cho các ý niệm
bất thiện và tiêu cực.
Những
điều đó là những điểm chính. Tôi hy vọng như vậy là
đủ. Có ai hỏi gì không ?
Câu
hỏi và trả lời
Câu
hỏi : Giả sử chúng tôi coi những người khác là Heruka Vajrasattva,
nhưng phải làm sao đây khi chúng tôi thấy họ làm những điều
bất thiện ?
Trả
lời : Ý bạn có nên ngăn cản họ lại, phải không ? Hãy
nhớ câu chuyện một vị tăng quán tưởng bản thân mình là
ngài Yamantaka. Nó cũng tương tự như vậy. Nếu bạn thấy
ai đó làm điều sai trái, bạn có thể nói : “Này ông, việc
gì đang xảy ra ?” Tuy nhiên, sự việc là bạn vẫn phải
thấy được Heruka Vajrasattva ở đâu đó trong ông ta. Ông ấy
đích thật đã quên ông ấy thực sự là ai, ông ấy cũng
quên là ông ấy đang hành động dưới ảnh hưởng của tâm
con gà, con rắn độc của ông ta. Cho nên bạn có thể nói
: “Ông bạn ơi, con gà của bạn đang hiện ra đó !” Hay
đại loại những câu như vậy.
Theo
kinh nghiệm của tôi thì khó quán tưởng người đàn bà như
là các Hóa thần nam như Vajrasattva hay Vajrapani chẳng hạn.
Nhưng tôi cố thấy được ở một nơi nào đó trong bầu không
khí ở thân người nữ có thân tâm linh trong sáng như pha lê
của ngài Vajrasattva hay Vajrapani. Bạn có thể hiểu được
việc đó. Mỗi người trong chúng ta đều có phẩm tính Vajrasattva
hay Vajrapani nên chúng ta có thể quán tưởng sắc thân thiêng
liêng cùng hiện hữu với chúng ta.
Câu
hỏi : Đôi khi, lúc tôi thiền định tôi thấy một loại ánh
sáng xanh đằng trước mặt tôi. Ánh sáng đó có là thật
hay do tưởng tượng ? Và điều đó có ý nghĩa gì ?
Trả
lời : Điều này tùy thuộc một phần vào vấn đề là bạn
cảm thấy như thế nào khi bạn thấy ánh sáng đó – bạn
cảm thấy thư giãn hay cảm thấy kích động ? Nhưng nó không
nhất thiết chỉ là một phóng chiếu tâm thức. Đôi khi, lúc
tâm thức bạn đã phát triển trong một cách thức nhất định
bạn có thể thấy ánh sáng một cách vật chất với nhãn
quan của bạn. Tôi cho là rất tốt nếu có ai đó đã có được
sự mục kích ánh sáng tự nhiên như vậy. Thông thường khi
chúng ta thiền định chúng ta chỉ thấy một màn đen chứ
không thấy bất kỳ ánh sáng nào cả. Nếu tôi thấy ánh sáng
xanh dương hay xanh lá cây dù trong tưởng tượng thì tôi cũng
cảm thấy sung sướng. Về phương diện nào đấy, thì ánh
sáng xanh liên quan đến sự vô tận nên việc mục kích ánh
sáng xanh gợi lên tâm mở rộng ra chứ không còn chật hẹp.
Câu
hỏi : tôi nên quán tưởng ngài Vajrasattva to lớn bao nhiêu
?
Trả
lời : Nó thay đổi tùy theo mỗi người. Có người thích
quán tưởng ngài lớn, những người khác thích ngài nhỏ.
Ngài không nên quá lớn, đa số chúng ta có xu hướng ưa thích
có khổ người tương tự với kích cỡ bản thân họ. Ngài
cũng không nên có dáng dấp nặng nề và bằng vật chất và
cũng nên quán tưởng Ngài cách đỉnh đầu bạn một khoảng.
Bạn cũng không cần phải ép buộc sự quán tưởng. Chỉ đơn
giản là ngài hiện lên trong không gian ở trên đầu bạn một
cách tự nhiên. Bởi vì trí huệ thiêng liêng của ngài Heruka
Vajrasattva có khắp mọi nơi nên năng lực của ngài xuất hiện
hết sức rõ ràng không cần sự cố sức, nhanh như sự phản
chiếu hình tướng trong gương. Nếu bạn không có một thấu
hiểu nào về tánh Không, thì ngài có vẻ như là thực sự
nặng nề : “Ồ ! Vajrasattva đối với tôi nặng nề quá sức.
Đợt ẩn tu này quá sức nặng nề và ngài cũng quá nặng
nề !” Điều đó chỉ cho thấy rằng bạn thực sự không
hiểu trí huệ bất nhị.
Dù
gì đi nữa, hãy quán tưởng ngài Vajrasattva với kích cỡ nào
mà bạn cảm thấy thỏa mãn nhưng phải trong sạch, rõ ràng,
như pha lê, hay như ánh sáng cầu vồng, sao cho hễ khi bạn
vừa nhìn thấy ngài là bạn được kích thích ngay bởi một
kinh nghiệm về kundalini rất hỷ lạc và trong sạch. Đôi khi
các kinh nghiệm này có thể cảm thấy giống như một cảm
giác khoái cảm tột độ nhưng đó không phải là những phản
ứng xác thịt. Nếu bạn đang thiền định với sự thấy
biết sâu sắc thì sẽ không có vấn đề gì, nhưng nếu bạn
không hiểu biết tánh bất nhị thì mọi thứ trở nên quá
vật chất và điều đó có thể nguy hiểm.
Câu
hỏi : Xin thầy nói về phẩm tính của Heruka Vajra-sattva ?
Trả
lời : Heruka Vajrasattva là trí huệ tinh khiết phát triển
đầy đủ của ba đời chư Phật Bồ tát, biểu lộ trong sự
phát ra tia sáng trắng rực rỡ và tinh khiết. Do đó cốt tủy
của ngài là trí huệ bất nhị. Bất cứ khi nào bạn thực
hành pháp môn yoga này, thì sắc thân thiêng liêng của ngài
sẽ biểu thị thực tại cho bạn. Ngài là trạng thái lạc
phúc vĩnh viễn của trí huệ tinh khiết.
Câu
hỏi : Heruka có ý nghĩa là gì ? Heruka Vajrasattva khác với các
Vajrasattva khác như thế nào ?
Trả
lời : về nghĩa đen, “Heruka” có nghĩa là sự uống máu
nhưng Heruka biểu tượng sự kinh nghiệm niềm phúc lạc vĩnh
cửu. Niềm hỷ lạc này có phẩm tính của sự hợp nhất
năng lực nam nữ trong chính bản thể mỗi người được đạt
tới mức trọn vẹn. Dorje Nyem-ma cầm một cái tách kalapa có
chứa một thứ dường như là máu. Điều đó biểu trưng cho
việc là ngài ban phát năng lực phúc lạc vĩnh cửu. Khi bạn
tu tập pháp Heruka Vajrasattva, bạn uống máu của niềm cảm
xúc của kinh nghiệm sự phúc lạc vĩnh cửu. Màu đỏ tượng
trưng cảm xúc. Là con người, chúng ta cần diễn đạt niềm
cảm xúc với người chung quanh. Có vài người hoàn toàn không
có cảm xúc. Họ giống như gỗ. Như vậy không tốt. Ngay cả
khi bạn là người đã giác ngộ hoặc đang ở trong đại định,
bạn vẫn có thể biểu lộ cảm xúc. Đó chính là vì bạn
không bị dính mắc vào những tình huống ngột ngạt theo cảm
xúc.
Heruka
Vajrasattva có một loại năng lực độc nhất vô nhị và nhấn
mạnh vào sự phát triển trí huệ. Có bốn loại tantra ; và
Heruka Vajrasattva là từ yoga maha-anuttara, hay tối thượng, là
loại cao nhất.
Câu
hỏi : Khi quán tưởng hai vị Hóa thần ở trong thế hợp nhất,
có phải tôi quán tưởng bản thân mình là người đàn ông,
hay như là người đàn bà, hay như cả hai được kết hợp
?
Trả
lời : Bất cứ cách nào mà bạn cảm thấy thuận lợi
là được. Như tôi đã nói trước, đôi khi đàn bà thấy
khó để tự quán tưởng mình như là nam thần và ngược lại
đàn ông cũng thế. Nhưng tất cả chúng ta đều có năng lực
nam và năng lực nữ bên trong chúng ta. Đôi khi nó không được
cân bằng. Vài người đàn ông lại có nhiều nữ tính, người
khác quá nam tính. Người đàn bà cũng có tình huống như thế.
Chúng ta phải khai triển toàn bộ năng lực nam phái-nữ phái
nằm bên trong mỗi người chúng ta.
Cũng
vậy, khi bạn ngắm nhìn Vajrasattva trong thế phối hợp với
Dorje Nyem-ma, người phối ngẫu, bạn không thể nói rằng vị
này cao hơn và vị kia thấp hơn. Cả hai vị đều cùng mức
độ và hoàn toàn hợp nhất trong bản tánh. Nếu cảm thấy
dễ dàng hơn thì bạn có thể quán tưởng bản thân mình là
Yum Dorje Nyem-ma Karmo, với mật chú Heruka Vajrasattva ở tim bạn.
Nhưng không thành vấn đề bạn quán tưởng vị thần thiêng
như thế nào, cái mấu chốt chính là quán tưởng với sự
tỉnh giác mãnh liệt về bản tánh nền tảng của tánh bất
nhị. Nếu bạn không có sự tỉnh biết đó thì rất có nguy
cơ là sự quán tưởng của bạn sẽ có tính vật chất và
sẽ kích thích những ham muốn dục vọng. Mục đích của việc
thực hành quán tưởng này là để loại sạch ham muốn.
Câu
hỏi : Tôi quán tưởng vị thần thiêng ở trên đầu với
khoảng cách cao bao nhiêu ? Tôi thấy dễ có được hiệu quả
thác nước với năng lực tịnh hóa khi vị thần thiêng ở
trên đỉnh đầu chừng bề rộng vài ngón tay.
Trả
lời : Nếu được dễ hơn thì bạn có thể quán tưởng
vị Hoá thần hơi cao hơn một chút. Rồi một ống ánh sáng
cầu vồng tỏa ra từ tim ngài và nối với luân xa đỉnh đầu
của bạn và năng lực kundalini phúc lạc chảy tuôn xuống.
Câu
hỏi : Chúng tôi sử dụng sự thiền định Vajrasattva như thế
nào để giải quyết những cảm giác tội lỗi có thể xảy
đến trong ngày ?
Trả
lời : Khi bạn cảm thấy tội lỗi nổi lên, hãy chuyển
hóa nó thành ra Heruka Vajrasattva. Bạn là Heruka Vajrasattva từ
đầu tới ngón chân. Ngoài những hiệu quả tâm lý của các
cảm xúc bất thiện còn có những hiệu quả vật chất vi
tế kích thích sự không mãn nguyện. Khi bạn cảm thấy có
năng lực tội lỗi ở trong bạn, hãy chuyển hóa khía cạnh
vật chất vi tế của năng lực tội lỗi đó thành ra mật
chú Heruka Vajrasattva. Bằng cách này nó trở thành giải pháp
để giải quyết các vấn đề khó khăn của bạn.
Chúng
ta cần những giải pháp năng động như vậy đối với các
thói quen bất thiện gây phiền nhiễu cho chúng ta. Dùng lý
trí để biết được các thứ đó là bất thiện thì cũng
không đủ sức để chấm dứt chúng. Ở đây chúng ta tu tập
phương pháp thực hành, xây dựng một phòng thủ chống lại
chúng thay vì chỉ biết mơ mộng. Đó là cách hợp nhất Pháp
với cuộc sống hàng ngày.
Việc
ẩn tu
Khi
bạn ẩn tu, bạn đừng nên tự thúc đẩy mình quá mức. Đôi
khi sự ẩn tu có vẻ hoàn toàn nặng trĩu, ba tháng ẩn tu dường
như dài bất tận. Lại nữa, người Tây phương thường không
biết cách ẩn tu. Tôi đã giải thích rất chi tiết về bất
kỳ giai đoạn nào trong đợt ẩn tu, nhưng nếu thái độ là
điều mà bạn quan tâm rất nhiều, tôi nghĩ rằng bạn nên
coi sự vui thích tham dự ẩn tu cũng giống như sự vui thích
trong một hộp đêm. Bạn đang có được trí huệ phúc lạc
– bạn hãy thưởng thức nó !
Hãy
thoải mái ! Hãy lập một chương trình ! Nếu một thời thiền
rất khó thực hiện, bạn không thích ứng được, hay các
kỹ thuật rất khó tu tập, sự hít thở theo dạng cái bình
rất khó làm, thì bạn hãy tạm ngưng. Hãy ra ngoài phòng. Người
ta cảm thấy rằng : “Ôi việc nhập thất ! Nào là tôi phải
nên nghiêm túc ; tôi phải trung dung ; tôi phải chiến đấu
; tôi phải hy sinh bản thân tôi cho một giai đoạn gian khổ.”
Nhất định không phải như thế. đừng có ép buộc.
Bạn
nên giữ bản thân sạch sẽ, hãy tắm rửa đều đặn. Và
hãy ăn các thức ăn bổ dưỡng. Đừng cố gắng là một nhà
khổ hạnh cực lực. Đạo Phật Tây Tạng dạy bạn sử dụng
tất cả năng lực của bạn – sự giàu có, sắc đẹp, bất
cứ thứ gì – để đem bạn đến gần sự giác ngộ hơn.
Đời sống là để được giác ngộ.
Lý
do mà tôi nêu ra tất cả những việc đó là bởi vì người
Tây phương hình như nghĩ rằng ẩn tu đồng nghĩa với việc
không ăn ngon, không ăn chô-cô-la. Thật là ngốc ! Hãy ăn ngon
– bạn đang làm việc cho sự giác ngộ. Đừng có đối xử
bản thân mình như một con bò. Hãy tự khích lệ mình ! Tôi
phải nói cho bạn biết rằng các đợt ẩn tu đã là những
kinh nghiệm vui thú nhất của đời tôi. Tôi thực sự hưởng
thụ chúng. Tôi không thuộc loại làm khó. Lần mới đây nhất
ở Tushita tại Dharamsala, tôi có một cái võng. Trong giờ giải
lao tôi ra ngoài và nằm lên võng. Các người học đạo thường
tụ tập lại và nhìn tôi : “Đó là cách ẩn tu sao ?” Họ
không thể tin nổi.
Ẩn
tu là để hưởng thụ, không phải trong ý nghĩa mê muội,
sanh tử của từ ấy. Phải có cái gì đó lành mạnh để
đạt được, như sự thỏa mãn, sự viên mãn trọn vẹn nào
đó. Đừng làm cho các thời ẩn tu trở nên khó khăn không
cần thiết.
Lễ
Puja bằng lửa
Khi
bạn đã chấm dứt đợt ẩn tu bạn nên thực hiện lễ Puja
bằng lửa Dorje Khadro. Việc này rất có ích. Nó có phần nào
giống với sự thiền định tum-mo.
Bạn
quán tưởng ngay ở tim bạn một chủng tự màu đen nó thu
vào trong bạn tất cả bệnh tật, đau ốm và tất cả triệu
chứng hay hiện tượng bất thiện của bản thân bạn và của
tất cả hữu tình. Ở nơi luân xa ở rốn có một ngọn lửa.
Từ bàn chân, năng lượng gió đi lên và quạt ngọn lửa cho
đến khi ngọn lửa kêu ào ào như một lò sưởi. Ngọn lửa
càng lúc càng mạnh hơn và bùng nổ lên trong kinh mạch trung
ương của bạn, đẩy tất cả năng lực bất thiện từ chủng
tự màu đen ở tim ra ngoài qua lỗ mũi của bạn và đi vào
miệng của vị Hóa thần. Đó là kỹ thuật thiền định cơ
bản.
Ngọn
lửa hiện tại đang cháy trước mặt bạn làm cho tâm bạn
sinh động sao cho việc thiền định trở nên sâu sắc và hiện
thực và giúp bạn nhận ra tánh Không. Đây là điểm chính
của lễ puja lửa Dorje Khadro. Không bắt buộc phải thực hiện
việc đọc chú sau đợt nhập thất Vajrasattva, nhưng nếu bạn
đọc được 110.000 hay 115.000 chú Dorje Khadro thì sẽ rất lợi
lộc và có sức mạnh.
Hãy
thực hiện bốn thời thiền định trong một ngày. Trước
bữa sáng nên thực hiện một thời ẩn tu Vajrasattva, nhưng
bởi vì bạn đã hoàn tất xong số lần đọc chú rồi, nên
thay vào đó, bạn sử dụng thời này để tham thiền. Nhờ
vào việc trì tụng tất cả những mật chú trong thời gian
nhập thất, bạn đã tạo lập trong bạn một năng lực cơ
bản nhất định – đó là “năng lực hạt nhân” của mật
chú. Cho nên giờ đây, bạn chỉ đơn giản tham thiền.
Sau
bữa sáng, hãy thực hiện một thời thiền Dorje Khadro hai giờ
đồng hồ. Rồi dùng bữa trưa, sau đó nghỉ và nghiên cứu
Pháp. Vào buổi chiều hãy làm một thời thiền hai giờ nữa
về lễ puja lửa. Cuối cùng vào buổi tối, thực hiện một
thời thiền tập trung nhất tâm, không đọc ra lời mật chú
Vajrasattva.
Thực
ra bạn có thể thực hiện lễ puja lửa Dorje Khadro bất kỳ
lúc nào bạn cảm thấy bị buồn phiền, bị phiền nhiễu
liên tục, bị rối loạn, hay không cảm thấy thoải mái. Bạn
không cần phải ở trong kỳ nhập thất. Vào buổi sáng, xế
chiều hay ban đêm – nó rất có ích, rất mãnh liệt. Nó có
thể làm ngưng ngay các tình cảm bất thiện nói trên. Đó
là kinh nghiệm của lama Tsong Khapa ; nó là một trong những
thời thiền định ưa thích của lama Tsong Khapa. Khi bạn thực
hành, bạn sẽ nhận được mùi vị thật của kinh nghiệm
của ngài. Nó giống như vàng, một Giáo Pháp vàng ròng.
Đôi
khi chúng ta cần thực hiện những cách thiền định năng động
này. Hãy quán tưởng Dorje Khadro, một hình tướng biểu lộ
của Guhyasamaja với miệng mở rộng giống như một lỗ đen
thần lực, hút hết mọi thứ vào trong. Tất cả năng lực
bất thiện biến mất vào trong miệng đó mãi mãi.
13
SỰ
THỰC HÀNH VAJRASATTVA VÀ
TANTRA
YOGA TỐI THƯỢNG
Trước
khi bạn có thể thực hành giai đoạn hoàn tất của tantra
yoga maha-anuttara trong số những pháp môn khác như yoga guru,
bạn phải thực hành pháp yoga Vajrasattva.
Ngài
Panchen Lama (Ban Thiền Lạt Ma) đã nói rằng để hiểu được
thực tại của tâm bạn, bạn phải thực hiện việc tịnh
hóa mãnh liệt và làm một số công đức lớn lao. Cả hai
đều quan trọng.
Hãy
lấy ví dụ về kinh nghiệm riêng của chúng ta. Chúng ta rất
nhiệt tình tha thiết và tự đáy lòng mình, chúng ta rất muốn
hưởng được sự thiền định sâu xa nhưng bất chấp chúng
ta nỗ lực bao nhiêu đi nữa, chúng ta vẫn cứ đương đầu
với thứ rác rưởi tâm thức, những sự phân tâm xao lãng,
và cái tâm buồn ngủ, hôn trầm. Không kiểm soát, hàng triệu
những ý niệm, những suy nghĩ bất thiện và những tâm mê
tín dị đoan v.v… phóng nhanh qua tâm bạn. Điều đó có nghĩa
rằng một cái gì đó đang hỏng mất. Đó là cái gì ? Sự
tịnh hóa. Chúng ta cần tịnh hóa rất nhiều.
Bạn
không thể đổ lỗi cho những sự thực hành mà bạn đã làm
như là : “ Tôi đã thiền định được hai năm nhưng tôi
vẫn không hoàn tất được sự tập trung thiền định nhất
tâm. Có đáng để thiền định không ?” Bạn không thể nói
như vậy. Mỗi ngày tâm mê tín của bạn đưa bạn đi trên
chuyến phiêu diêu thật là không ngờ được. Trong một đêm
nó có thể đưa bạn đi khắp thế giới. Mỗi chuyến đi nó
để lại những dấu in nghiệp rất sâu đậm trong tâm bạn.
Và sẽ mất rất nhiều thời gian để nhổ tận gốc các dấu
in đó. Cho nên bạn đừng tự cao nghĩ rằng : “Tôi đâu có
làm gì bất thiện. Tôi gần như trong sạch. Tôi chưa bao giờ
giết chết ai cả. Tôi không nói dối. Cha mẹ đã chăm sóc
lo lắng cho tôi, nên tôi không phải cật lực giành giựt hay
lừa dối để kiếm cái ăn cái mặc. Tôi không cần sự tịnh
hóa.” Đó đích thực là trò phiêu diêu của cái ngã.
Điều
bất tịnh đến từ tâm và thân nữa. Hãy coi lại, kiểm tra
lại các chuyến phiêu diêu của tâm bạn từ lúc bạn sanh
ra đến giờ. Và thật không thể tin được ! Nếu bạn nhìn
vào những kinh nghiệm đó trong ánh sáng của mười hai duyên
khởi thì bạn sẽ thấy mình chìm trong đại dương mê lầm.
Đó là lý do tại sao chúng ta cần rất nhiều sự tịnh hóa.
Chẳng
hạn, rất khó trồng rau diếp loại ngon ở đây, vùng Dharamsala.
Đất ở đây toàn là đá, và cỏ mọc rất nhiều. Rõ ràng
cần cày sâu cuốc bẩm trên nền đất này. Tương tự như
vậy, tâm của chúng ta cần rất nhiều sự tịnh hóa để
nhổ tận gốc của mê lầm thô thiển đã ngăn cản tâm thức
vi tế nhất của chúng ta làm việc. Đôi khi chúng ta có thể
nghĩ rằng chúng ta rất có khả năng làm được một việc
nào đó nhưng tận sâu trong tâm một tiếng nói từ tiềm thức
liên tục nói rằng : “Tôi không có khả năng, tôi không có
khả năng ; Tôi không thạo việc đó. Tôi không bao giờ được
giải thoát, không bao giờ được giác ngộ, không bao giờ
sẽ là Vajrayogini.” Bên trong, cái loại ti