PHẦN
1
BÌNH
GIẢNG CHÍNH
1
TẠI
SAO VÀ NHƯ THẾ NÀO
CHÚNG
TA PHẢI TỊNH HÓA
Lời
dạy này đến do yêu cầu của các bạn, không phải do tôi
nói : “Tôi muốn cho bạn những lời dạy, hãy đến đây
và lắng nghe.” Trong sự học hỏi của bạn trên con đường
thứ bậc đến giác ngộ, bạn phải biết sức mạnh tâm thức
bạn như thế nào và nó tạo tác những hành vi tích cực và
tiêu cực mạnh mẽ ra sao. Nhận biết được điều này, khảo
sát đời sống mình và nhìn thấy bản chất của những hành
vi thuộc thân, khẩu, ý của bạn. Do đó, với trí huệ hiểu
biết bạn thỉnh cầu giáo lý này để tịnh hóa những lực
bất thiện trong bạn.
Cách
thức mà bạn thỉnh cầu lời dạy này là rất tốt. Đặt
căn bản trên sự hiểu biết của bạn về những tính chất
của tâm thức tiêu cực, sự thỉnh cầu của bạn chẳng phải
vô minh hay xúc cảm. Vì bạn có may mắn, thông minh và thông
tuệ để thực hành phương pháp yoga đầy sức mạnh này,
và nhờ đó hoàn toàn tiêu diệt những sức mạnh tiêu cực
của bạn, tôi cảm nhận rằng trao cho các bạn lời dạy này
sẽ là một lợi lạc lớn lao.
Trước
hết, bạn rất may mắn thấy rằng thực sự có một giải
pháp cho những hành vi tiêu cực khởi lên từ tâm thức vô
minh. Hãy xem đa số những người không nhận thức việc tạo
tác những hành vi của họ như thế nào, cũng như không hiểu
sự khác nhau giữa những hành vi tích cực và tiêu cực và
những kết quả hạnh phúc và đau khổ của họ. Bạn biết
tất cả những điều đó, chính đó là tại sao bạn may mắn.
Ngay cả khi người ta khám phá ra sự tiến hóa này, cũng rất
khó cho họ biết được làm sao để tịnh hóa và tự giải
thoát họ hoàn toàn khỏi vòng nhân quả mà họ đã bị trói
buộc vào. Điều này không dễ ; cần có một thời gian dài.
Bạn thật sự may mắn khi đi đến kết luận rằng bạn có
thể tịnh hóa chính mình.
Hơn
nữa, bạn rất may mắn vì trí huệ của bạn có thể nắm
lấy những phương pháp thâm sâu của yoga tantra. Điều này
cũng rất đỗi khó khăn. Khó khăn thế nào ? Đây, khi những
người Tây phương lần đầu tiên gặp giáo pháp, thậm chí
họ không thể hiểu được mục đích của việc lễ lạy
: “Tại sao tôi phải lễ lạy ? Xin lỗi, việc này không dành
cho tôi.” Lễ lạy thì đơn giản và dễ hiểu. Nhưng phương
pháp yoga tantra thì cực kỳ sâu sắc. Rất xứng đáng cho bạn
để làm những thực hành tịnh hóa đầy sức mạnh này.
Hãy
để tôi nêu vấn đề một cách khác. Chúng ta thường thấy
rằng khi thiền định về lam-rim – Con đường đến giải
thoát và những chứng ngộ – chúng ta gặp nhiều cản trở.
Chúng ta không hiểu tại sao lại khó thiền định, khó kiểm
soát tâm thức đến thế để thu được những chứng ngộ.
“Tại sao tôi gặp quá nhiều khó khăn bất cứ khi nào tôi
cố gắng làm một điều gì thiện ? Sống với cuộc sống
trần tục thì dễ dàng hơn nhiều. Thậm chí một giờ thiền
định cũng khó.” Nhiều ý nghĩ và thắc mắc như vậy khởi
lên.
Thế
không hẳn là thiếu trí huệ. Chính vì qua vô số kiếp sống
mà những lực lượng tiêu cực của thân, khẩu, ý đã tích
tập cho đến nay tràn đầy trong ta như một đại dương bao
la. Nếu biểu hiện ở dạng vật chất, chúng sẽ chiếm trọn
không gian. Ngược lại, trí huệ hiểu biết thông minh nhỏ
bé của ta lại yếu như ánh sáng chập chờn của một cây
đèn cầy nhỏ bé. Một ngọn nến nhỏ bé thì chẳng giúp
đỡ gì nhiều trong một đêm đen và đầy gió.
Trí
huệ hiểu biết giống như ngọn nến nhỏ bé của chúng ta
không thể kiểm soát hay giải phóng chúng ta khỏi lực lượng
mạnh mẽ của tâm thức tiêu cực của chúng ta. Thế đấy,
chính là năng lực của những quan niệm sai lạc, tâm thức
tiêu cực của ta, làm cho chúng ta khó thành đạt con đường
giải thoát an bình vĩnh cửu và tiếp nhận những chứng ngộ.
Vì vậy, chúng ta cần một thực hành tịnh hóa đầy sức
mạnh như phương pháp yoga Kim Cương thừa của Đức Heruka
Vajrasattva để tiêu hủy cả hai lực lượng của tâm ý vô
minh và những hành vi tiêu cực của thân và ngữ khởi lên
từ đó.
Phương
tiện Yoga của Heruka Vajrasattva có sức mạnh tịnh hóa tất
cả năng lượng tiêu cực, cái chính yếu ngăn cản bạn chứng
đạo. Năng lượng bất tịnh này tạo ra chướng ngại về
tinh thần lẫn thân xác, và cũng để lại những dấu vết.
Một cách triết học, chúng ta nói rằng không có tâm mà cũng
không có tướng. Nếu bạn thích thú điều này bạn có thể
kiểm nghiệm vào thời điểm khác, chúng là loại hiện tượng
gì. Lý do khiến tôi nêu nó lên đây là khi tôi nói về tiêu
cực thì ý nghĩa của tôi khác với sự hiểu biết của bạn
trước đó về thuật ngữ. Đa số người phương Tây nghĩ
rằng tiêu cực chỉ ám chỉ mức độ thô của những xúc
cảm. Thật ra nó còn sâu xa hơn nhiều.
Chẳng
hạn lấy một ví dụ về thân thể vật chất. Lần đầu
tiên người ta đến với một khóa thiền định, họ có rắc
rối lớn trong thế ngồi. Có cái gì đó trong hệ thần kinh
kéo năng lực của họ xuống phần đáy của cột sống. Lý
do chúng ta được khuyên ngồi xếp bằng theo tư thế cổ điển
để thiền định với lưng thẳng giúp dòng năng lực tâm
linh trôi chảy đúng đường và nhờ vậy giúp bạn kiểm soát
tâm thức dễ dàng hơn. Tuy nhiên, sự thay đổi này trong hệ
thần kinh của bạn làm nó cảm thấy dường như tất cả
năng lực đi xuống từ luân xa đỉnh đầu đến những luân
xa thấp hơn. Điều này làm cho một số người sợ hãi rằng
họ như bị mất tâm thức. Những thiền sinh sơ học không
những rắc rối vì ngồi, họ còn phải tập trung tâm thức
trong một thời gian dài để lắng nghe những ý tưởng hoàn
toàn mới, điều này cũng có thể rất xáo trộn. Những vấn
đề về tinh thần và thể xác thật sự làm họ tự hỏi
tại sao mình lại ngồi ở đây trên trái đất này.
Áp
lực trong luân xa dưới thấp gây ra bởi năng lực vật chất
tiêu cực nó đến từ tâm thức tiêu cực. Trong Phật giáo
Đại thừa chúng ta ít chú trọng vào những phản ứng vật
chất như vậy, và chỉ chú tâm vào gốc rễ của mọi vấn
đề : tâm vô minh, tiêu cực.
Trong
lúc thiền quán về con đường tiệm tiến là cách hiện thực
để giải thoát, khi bạn cảm thấy không thể thiền định
được – có quá nhiều ngắt quãng, bạn không thể làm bất
cứ gì, không thể giải quyết những vấn đề – hãy nhớ
rằng có một điều gì đó có thể làm để gỡ bỏ những
chướng ngại đối với sự tiến bộ của mình, đó là sự
tịnh hóa. Trong kinh nghiệm của những Lama Tây Tạng, thời
khóa thiền quán về con đường đạo được xen kẽ với thời
khóa thực hành tịnh hóa đầy sức mạnh, chẳng hạn phương
pháp Yoga của Heruka Vajrasattva. Cách phối hợp này bảo đảm
rằng bạn sẽ đạt những chứng ngộ mà bạn đã tìm kiếm
kiên trì.
Nhưng
không nên có những mong đợi không thực tế : “Hôm nay, tôi
hoàn toàn tiêu cực, tối nay tôi thiền định, ngày mai tôi
sẽ hoàn toàn thanh tịnh.” Bạn không thể tự tịnh hóa mình
tức thời. Những mong đợi như thế không chỉ là sai lầm
mà chúng còn trở thành chướng ngại. Đặc biệt khi nhập
thất, bạn không nên mong đợi bất cứ điều gì – mà chỉ
buông xả. Tất cả điều bạn cần là trong đời sống này
bạn sẽ hoạt động tích cực hết lòng. Nếu bạn làm được
điều đó, kết quả tốt sẽ đến với bạn, dù có mong đợi
chúng hay không. Bạn cũng không nên hỏi vị Lama cho một lời
tiên đoán : “Nếu tôi kiểm soát thân, khẩu, ý tránh khỏi
tất cả những bất thiện và chỉ làm điều thiện, tôi sẽ
được kết quả tốt hay không ?” Nhiều đệ tử đã hỏi
điều này. Tại sao ? Vì họ không hiểu nhân quả. Nếu bạn
luôn hành động khôn ngoan và tích cực, cần gì phải hỏi
?
Chỉ
nên nghĩ “Từ giờ cho đến lúc tôi chết, cho dù giác ngộ
có đến hay không, tôi nên hành động tích cực hết lòng.
Cố gắng tạo một cuộc sống lợi lạc cho tôi và mọi người
bằng hết khả năng.” Bạn có thể mong đợi gì hơn ? Loại
mong đợi này phù hợp với lý luận hơn là nghĩ “Nếu tôi
thiền định trong một tháng, tôi sẽ trở thành Heruka Vajrasattva,”
những loại mong đợi như vậy chỉ quấy nhiễu tâm trí bạn.
Cho
dù bạn tạo tác nhiều hành vi bất thiện suốt cả cuộc
đời, một tâm thức tích cực vào lúc chết bảo đảm rằng
bạn sẽ không tái sanh vào những cõi thấp. Bạn nhận sự
bảo đảm bên trong này khi tịnh hóa những tiêu cực. Nó không
giống như những bảo đảm tầm thường, bạn có thể tin
tưởng hoàn toàn vào nó. Trên thế gian sự vật thay đổi
liên tục. Bạn có thể không tin vào những bảo đảm của
giấy tờ thế gian. Nhưng sự bảo đảm nội tâm của nghiệp
tích cực cam kết rằng vào lúc chết bạn sẽ có thể kiểm
soát tâm thức mình và không rơi vào ảnh hưởng của tâm
thức tiêu cực như tham muốn và sân hận.
Để
đạt được những chứng ngộ cao hơn, việc quan trọng nhất
là thực hành phương pháp đầy sức mạnh của sự tịnh hóa
được tìm thấy trong con đường Kim Cương thừa. Nhiều vị
Lama đã thấy rằng sự tịnh hóa vượt thắng những chướng
ngại của cả năng lực tiêu cực và in vết để lại của
nó.
Trong
khi những thực hành Vajrasattva khác nhấn mạnh vào việc tịnh
hóa thân xác vật chất, thì phương pháp tịnh hóa Yoga Heruka
Vajrasattva nhấn mạnh về tịnh hóa tâm linh. Điều này làm
cho nó đặc biệt mạnh mẽ.
Bốn
sức mạnh đối trị
Sadhana
Heruka Vajrasattva được chia làm ba phần : quy y, phát Bồ đề
tâm, và phương pháp Yoga. Tại sao quy y và phát Bồ đề tâm
là những phần trong sự thực hành tịnh hóa này ? Vì những
hành động tiêu cực thường có liên quan đến những đối
tượng thiêng liêng mà ta quy y như Tam Bảo và những chúng
sanh khác.
Bạn
có thể thấy điều này đúng thực ra sao. Hãy kiểm tra lại.
Đa số những vấn đề rắc rối của bạn khởi lên từ những
người quanh bạn, chẳng phải do gạch, đá hay cây cối. Và
những vấn đề thông thường nhất có thể tìm thấy giữa
những người thân thiết với nhau – mối liên kết càng chặt
chẽ thì những rắc rối tâm trí càng nhiều hơn. Chẳng hạn,
nếu bạn tránh xa thuốc lá, bạn sẽ khỏe lắm, nhưng nếu
bạn chạm đến nó, nó sẽ thống trị bạn, sẽ rất khó
từ bỏ, và gây cho bạn nhiều khó khăn. Tương tự, thân mật
với người khác có thể dẫn đến những tình thế dính dấp
khó khăn.
Một
số ví dụ đơn giản về những tiêu cực thông thường sẽ
làm sáng tỏ điều này. Tự thân chúng ta, chủ thể của hành
vi, hành động dưới ảnh hưởng của tâm thức tiêu cực
của mình, thường chúng ta cần một đối tượng để hành
động. Chẳng hạn, khi giết phải có một chúng sanh khác bị
ta cướp mất cuộc sống, khi ta trộm phải có người chủ
món đồ để ta lấy, khi nói dối phải có người để chúng
ta nói dối. Dĩ nhiên, tâm vô minh, không thỏa mãn, ích kỷ,
ham muốn của chúng ta luôn có, mà những người khác cũng
có. Theo cách này, sự tạo tác những tiêu cực của chúng
ta nương dựa vào những người khác. Chúng ta tịnh hóa những
nghiệp bất thiện như vậy bằng việc phát Bồ đề tâm.
Chúng
ta cũng tạo tác những nghiệp bất thiện trên những đối
tượng thiêng liêng. Đôi khi với tâm bất thiện chúng ta phê
bình Đức Phật, chê bai Bồ tát, đối xử với sách kinh và
hình tượng không đúng, hay phàn nàn về Tăng Ni. Có vô số
cách tạo nghiệp bất thiện như vậy và chúng ta tịnh hóa
bằng việc thọ quy y Phật, Pháp, Tăng.
Để
phát Bồ đề tâm, chúng ta phải cảm thấy lòng bi lớn lao
không chịu đựng nổi đối với tất cả chúng sanh, bất
chấp chủng tộc, màu da, quốc tịch hay tín ngưỡng. Cũng
như chúng ta phải có ý chí mạnh mẽ nhiệt tâm dẫn dắt
họ đến toàn giác, nhận lấy trách nhiệm tự làm việc ấy
một mình. Chỉ thái độ như vậy, sẽ giải thoát chúng ta
khỏi nhiều tiêu cực.
Ví
dụ, bạn có mối quan hệ nghiệp lực rất mạnh, nhưng không
kiểm soát được với cha mẹ của mình. Mặc dù họ rất
thương bạn, bạn gây cho họ đau khổ lớn lao. Bạn không
thể cắt mối quan hệ với cha mẹ bằng cách nói rằng bạn
hoàn toàn chán chường họ và không muốn thấy lại họ, và
bỏ lên núi. Điều đó không đủ tách lìa bạn và cha mẹ
về mặt vật chất. Để chấm dứt nghiệp với cha mẹ mình,
bạn phải tịnh hóa nó bằng cách có lòng đại bi đối với
họ và phát Bồ đề tâm với họ trong tâm thức. Tương tự
bạn không thể cắt đứt mối quan hệ nghiệp với người
khác một cách tri thức bằng cách chỉ nói rằng bạn đã
chấm dứt với họ và không muốn gặp họ nữa. Những mối
trói buộc này phải được cắt rời bằng sự tịnh hóa.
Cách
tốt nhất để tịnh hóa những tiêu cực là việc dùng bốn
sức mạnh đối trị. Cái thứ nhất là sức mạnh của đối
tượng, có nghĩa là quy y và phát Bồ đề tâm. Trong sự thực
hành tôi mô tả ở đây, đối tượng để quy y là Heruka Vajrasattva,
là thể hợp nhất của Quy y Tam Bảo : Phật, Pháp và Tăng.
Chúng ta cũng có thể nói rằng ngài là một với vị Đạo
Sư (Guru), với Vị Đạo Sư Tuyệt Đối nhưng tôi sẽ nói
điều ấy nhiều hơn về sau. Trí huệ thiêng liêng của ngài
thấu suốt bản tánh cả hai lực lượng tích cực và tiêu
cực. Ngài trở thành người giải phóng cho bạn, và bạn quy
y với ngài.
Sức
mạnh thứ hai là sức mạnh của sự buông bỏ. Đôi lúc nó
được gọi là sức mạnh của hối tiếc, nhưng điều này
có thể có một hàm ý sai lạc. Sức mạnh này xuất phát từ
trí huệ và không phải là một loại cảm xúc buồn rầu hay
phạm tội, những cảm xúc này khiến chỉ kéo dài thêm những
vấn đề của chúng ta vì chúng gây ra sự tích tập những
khuynh hướng tiêu cực nhiều hơn cho ta. Hãy nghĩ đến một
người chợt nhận ra mình uống nhầm thuốc độc : Người
ấy muốn dùng sự đối trị giải độc ngay lập tức. Sức
mạnh buông bỏ là trí huệ hiểu được hậu quả tiêu cực
của những hành động độc hại ngay khoảnh khắc bạn nhận
ra mình đã tạo ra một hành động tiêu cực, bạn muốn tịnh
hóa chúng tức thời.
Thứ
ba là sức mạnh của phương thuốc chữa trị. Chính với năng
lực này mà bạn thực sự chống lại lực lượng tiêu cực
mà bạn đã tích lũy. Với sự tập trung nhất tâm vào Đức
Heruka Vajrasattva – sự biểu lộ của trí huệ phúc lạc, siêu
việt, thiêng liêng và là đấng nhất thể với vị Đạo sư
của bạn. Bạn thực hành phương pháp Yoga và trì tụng chân
ngôn (Mantra) tịnh hóa đầy sức mạnh này. Đây là phương
thuốc chữa bệnh.
Tôi
không chắc rằng sức mạnh thứ tư có thể dịch một cách
súc tích sang tiếng Anh. Đó là một cái gì giống như sức
mạnh của quyết tâm không thể hủy diệt, nơi đó bạn có
quyết tâm lớn lao không, không, không bao giờ bị ảnh hưởng
trở lại bởi những thói quen ô nhiễm của mình. Nó không
giống lắm với một lời hứa hay lời nguyện hoặc một giải
pháp hay một quyết định. Cùng với sức mạnh của phương
thuốc chữa trị, bạn có quyết định lớn lao này, sẽ không
bao giờ tạo tác bất cứ hành vi bất thiện nào nữa. Có
một cái gì đó trọn vẹn trong đó. Nó là sự vững chắc,
mạnh mẽ và đến từ trí huệ. Ở trong bạn có một năng
lực tinh tế bảo vệ bạn khỏi những sa đọa về phẩm hạnh.
Nó cũng xa hơn sự quyết định được điều động bởi trí
óc : Đó là một lực lượng hoàn toàn chống lại những tập
khí cũ, một thấu hiểu tự động bảo vệ bạn. Dĩ nhiên,
sức mạnh này có những mức độ, nhưng khi phát triển hoàn
toàn, nó cung cấp cho bạn sự bảo vệ trọn vẹn.
Chẳng
hạn, khi bạn thọ nhận tám giới Đại thừa cho một ngày,
tại lúc thọ giới vào sáng sớm bạn phát sanh sự quyết
tâm lớn lao để giữ nguyên vẹn những lời thệ nguyện.
Từ lúc đó, bạn phải thực hành sự tỉnh giác hoàn toàn
và duy trì nó suốt ngày. Chỉ sự xác định giữ những giới
tại buổi lễ không đủ, nó phải được duy trì từng phút
một trong suốt thời gian cam kết. Trái lại nếu không duy
trì sự tỉnh giác sau khi lễ thọ giới chấm dứt, bạn sẽ
rơi thẳng trở lại vào những đường lối sanh tử cũ kỹ
của bạn, hầu như vô ý thức, hoàn toàn không nhận biết
bạn đang làm gì.
Những
lời nguyện sẽ không bị phá vỡ bởi những hành động tâm
thức một cách tức thời. Chính cái động cơ cho một hành
động phá vỡ một lời nguyện đã dần dần phát triển trong
tâm thức. Bạn có cả một chuỗi lịch sử dài của những
kiểu năng lực không kiểm soát giống như vậy. Bởi thế
nếu quyết tâm của bạn lúc sáng sớm có đi đôi với sự
tỉnh giác có ý thức liên tục một cách đặc biệt thì không
có cách nào có thể phá vỡ những lời thệ nguyện của bạn.
Trong bạn luôn luôn có cái năng lực được tích tụ rất
tinh tế này nó hoàn toàn bảo vệ bạn khỏi những hành vi
nhiễm ô.
Nghiệp
Luật
của nghiệp là “cùng nhân sẽ có cùng quả.” Khi chúng ta
quy y, bổn phận của chúng ta là giữ cho các hành vi (nghiệp)
được chính trực, tránh các hành vi bất thiện. Nhưng chúng
ta không làm được như vậy cho dù ở mức độ tri thức chúng
ta hiểu được rằng nếu chúng ta tiếp tục tái tạo các
hành vi như thế chúng ta sẽ không ngừng trôi lăn trong vòng
đau khổ và xung đột. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta không
có một sự hiểu biết nội tâm sâu sắc về bản chất của
nghiệp. Người nào đã chắc chắn có được sự hiểu biết
thấu đáo này sẽ không bao giờ tạo nên những hành vi tiêu
cực với sự buông thả liều lĩnh như cách chúng ta làm. Bất
cứ khi nào sự tham luyến hay sự ích kỷ xui khiến được
chúng ta hành động thì dù cho chúng ta biết rất rõ rằng
những việc đó là bất thiện nhưng chúng ta vẫn cứ tiến
hành các hành vi đó.
Tôi
biết rất rõ về người Tây phương. Họ thông minh nhưng tâm
của họ không nhất quán. Một mặt họ ước muốn có được
trí huệ toàn thiện và giữ hạnh nghiệp được chính trực.
Nhưng mặt khác, họ bị các thói quen bất thiện kéo họ,
khiến cho họ không giữ nghiệp được chính trực. Điều
này làm họ đau khổ rất nhiều. Thậm chí khiến họ phải
bật khóc. Họ là những con người rất nhạy cảm. Khi những
tình huống khó khăn xuất hiện, năng lực bất thiện sẽ
thắng lướt năng lực thiện bởi vì họ chưa hề thiết lập
trong bản thân mình một sức mạnh của các thói quen thiện
hạnh và cũng bởi vì họ thiếu một sự hiểu biết nội
tại sâu sắc về bản chất của nghiệp hay luật nhân quả.
Từ đó, vài người có thể nói “Chỉ người nào tin vào
nghiệp mới phải kinh qua nghiệp. Ai không tin vào nghiệp sẽ
không bị chi phối bởi nghiệp.” Người Tây phương đã nói
với tôi lời phản biện này. Đây là một quan niệm hoàn
toàn sai lầm. Nghiệp vẫn hiệu lực dù tin hay không. Nếu
bạn hành động theo một cung cách nào đó, bạn sẽ chắc
chắn kinh qua một hậu quả tương xứng y như khi bạn uống
thuốc độc, bạn sẽ ngộ độc cho dù bạn vào lúc uống
bạn tin rằng mình đang uống thuốc chữa bệnh. Một khi bạn
tạo nghiệp thì bạn phải tới chỗ kinh qua một quả báo.
Bò,
heo, bò cạp không hề biết cái gì là nghiệp, cái gì không
phải nghiệp – cũng không có một chút lòng tin – nhưng chúng
vẫn phải bị nghiệp chi phối. Mỗi hành động của chúng
đều bị xúi đẩy bởi tham lam, vô minh, sân hận và chắc
chắn từng mỗi hành động sẽ đưa tới hậu quả riêng.
Cho nên, đừng nghĩ rằng các hành động nghiệp và các phản
hồi của nó chỉ là việc riêng của Phật tử hay của vị
Lama. Nghiệp là Luật có tính khoa học, thống trị mọi hiện
tượng vật chất và phi vật chất trong vũ trụ. Việc hiểu
biết về việc đó rất ư quan trọng.
Khi
tôi giải thích về nghiệp, tôi thường không trích dẫn các
kinh sách Tây Tạng để luận giải. Tôi chỉ khuyên người
nghe hãy xem cái kiểu mà tâm khởi niệm trong từng sát na.
Họ có thể dễ dàng thấy được tâm thăng trầm như thế
nào nhất là đang khi thiền định. Một khi nhận thức được
vấn đề này, họ dễ dàng hiểu được bằng cách nào mà
nó đã khởi lên từ những kinh nghiệm trước, và đích thật
đó là nghiệp. Họ sẽ thấy nó rất rõ và tôi không cần
dùng bất kỳ một thuật ngữ chuyên môn hay mới lạ. Đơn
giản là : thân, lời, ý mà không được kiểm soát đều là
biểu hiện của nghiệp. Do vậy, tất cả chúng ta đều bị
chi phối bởi Luật chân thật của nghiệp cho dù chúng ta tin
vào nghiệp hay không. Đừng nghĩ rằng các tín đồ Cơ đốc
hay Do Thái giáo, Hồi giáo không bị nghiệp chi phối và do
đó không cần quan tâm đến nó. Điều này không đúng. Chẳng
hạn, người Do Thái và Ả rập đã tạo nghiệp lẫn nhau và
giờ đây có đủ thứ phức tạp xảy ra ở Trung đông. Các
đồ tể đừng cho rằng việc sát hại súc vật không có quả
phản hồi, và dù cho các đồ tể đó có tin vào nghiệp hay
không thì những sự đau đớn, chết chóc mà họ tạo ra đối
với chúng hữu tình chắc chắn xảy ra cho họ.
Chẳng
hạn, khi bạn tới Thủ đô Kathmandu bạn tìm thấy thoải mái
như đang ở nhà. Nhưng rồi khi bạn lên tu viện Kopan này bạn
thấy khó chịu. Bạn nói tu viện quá dơ bẩn, không có phòng
vệ sinh sạch. Cảm giác khó chịu bực bội của bạn là quả
của thời gian lâu bạn bị gắn bó vào nhu cầu tiện nghi
trước khi đến tu viện. Và đó cũng là nghiệp. Nếu bạn
không có thời gian quen sống với những điều kiện sinh hoạt
tiện nghi mà bạn đã kinh qua trước đây thì bạn sẽ không
chú ý quá đáng với những gì chung quanh đây. Do đó, bằng
cách phân tích những việc bạn trải qua mỗi ngày, bạn cũng
có thể hiểu rõ ràng về hành động của nghiệp và phản
ứng đáp trả.
Tôi
cho rằng đây là cách thức mạnh mẽ và tốt đẹp để giúp
bạn tăng cường sự tỉnh giác đến những hành động của
mình, hơn là bạn trở nên bị ám ảnh băn khoăn, như nhiều
người Tây phương bị ám ảnh với sự tu tập về tập trung
nhất tâm (samadhi) và về thiền quán (vipassana). Nếu điều
này xảy ra, bạn có nguy cơ nhận định rằng việc ngồi yên
thiền định là hình thức tu tập Phật pháp duy nhất, và
những hành động khác như là ăn uống, đàm luận ngủ nghỉ
là hoàn toàn tiêu cực và thuộc về luân hồi sinh tử. Khi
bạn tin rằng những điều này là tiêu cực thì nó trở nên
tiêu cực.
Điều
tôi đang nói là : có nhiều cách thiền định. Vipassana không
phải là cách thiền định duy nhất. Thiền quán có thể đạt
được bằng cách thiền định về bất kỳ hiện tượng nào
trong vũ trụ. Và bạn không bắt buộc phải ngồi kiết già
để thiền định ; việc canh giữ nghiệp hàng ngày cũng là
một cách thiền định và có thể là một phương pháp mạnh
mẽ để phát triển quán chiếu. Trong cách này, toàn bộ đời
sống của bạn có thể được sử dụng để đưa bạn được
gần hơn nữa đến Trí Huệ Vô Ngã.
Khi
bạn hiểu thấu đáo bản chất của nghiệp, bạn sẽ không
ngừng thấy biết được mọi việc mà bạn làm. Do vậy, bạn
không rời bỏ được thiền định dù bạn đi bất cứ nơi
nào. Bạn nên biết rằng nếu bạn không duy trì sự tỉnh
giác về mọi hành vi của thân, khẩu, ý bạn sẽ liên tục
tạo ra điều tiêu cực bất thiện và bạn sẽ phải kinh qua
hậu quả khổ đau của sự mê lầm vô minh bất mãn. Điều
ấy làm cho bạn tỉnh thức trong mọi lúc : khi bạn tiếp xúc
với người khác, hay khi ngồi ăn trong tiệm ăn, khi mua sắm
trong cửa hiệu hay khi đang làm việc trong cơ quan.
Tâm
phân biệt của chúng ta thường xuyên coi các hành động thông
thường của đời sống hàng ngày là thuộc về luân hồi
sanh tử, bất mãn, khổ đau và không thể nào dùng nó làm
đối tượng để thiền quán. Đây là một sự hiểu sai lệch
tồi tệ. Phật giáo Đại thừa dạy rằng những cảm giác
từ thân thể như xúc giác có thể được dùng để phát triển
quán chiếu thì các dạng cảm giác khác như vị giác cũng
được dùng như vậy.
Một
số người nói rằng những quán tưởng không thể được
dùng cho sự thiền quán bởi vì chúng chỉ là phóng tưởng
của tâm, vì một hơi thở hay những cảm giác trong cơ thể
thì thật hơn. Những cảm giác của cơ thể không thường
hằng. Nó thay đổi từng phút giây vì tâm đối đãi tương
đối này thay đổi không ngừng. Những cảm xúc của thân
và tâm, nhất là những cảm xúc do tâm bất thiện gây ra,
chính là phóng tưởng của vô minh. Tâm nhị nguyên của bạn
tự động phóng chiếu ra một cái thấy nhị nguyên về bất
cứ cái gì mà bạn kinh qua. Người thường khi khởi sự thực
hành pháp mà họ cho là thiền định vipassana, họ tin rằng
thế giới của những cảm giác thuộc thân thể là có thật.
Nhưng dù họ dùng một đối tượng thiền định nội tâm
hay ngoại cảnh, thì nó cũng chỉ có mặt trong sự tưởng
tượng và trong cái thấy của tâm thức tương đối của họ.
Về cơ bản, không có sự khác biệt giữa hiện tượng nội
tâm và ngoại cảnh, hoặc cả hai đều là thật hoặc cả
hai đều là ảo giác. Bất cứ cái gì bạn kinh qua – vật
chất hay tinh thần – đều là một nhận định huyễn hoặc
sai lệch cho đến khi nào bạn nhận biết được cái bất
nhị, tánh Không (sunyata).
Trên
thực tế, hương vị thức ăn trên lưỡi cũng là cảm giác
của cơ thể. Nếu cho điều đó không đúng thì thật là một
quan niệm sai lầm. Truyền thống Đại thừa đều có những
cách thực hành thiền định cho mỗi một hành vi. Yoga Mật
thừa dạy chúng ta rằng khi ăn, trước tiên chúng ta phải
nên cúng dường và ban phước thực phẩm. Trong khi ăn chúng
ta phải thư thả và nhận biết việc chúng ta đang làm, và
không ngừng nhớ nghĩ đến bản chất phụ thuộc duyên sanh
của tự tâm mình và thực phẩm, và không bám níu vào cảm
giác sung sướng khoái khẩu như chúng ta thường có. Do vậy,
bất kỳ trần cảnh nào cũng được dùng cho sự phát huy quán
chiếu.
Trì
tụng mật chú có thể cũng là một sự trợ lực lớn lao
trong việc thực hành quán chiếu. Nó khiến cho tâm tập trung
vào một điểm duy nhất, bằng cách đó, chống lại được
sự phân tán và xao lãng. Tuy nhiên, việc tụng chú không phải
là việc đọc ngoài miệng. Mật chú là âm thanh đã có sẵn
trong hệ thần kinh của bạn kể từ trước khi bạn được
sinh ra đời, và bạn sẽ nghe được mật chú nếu bạn lắng
nghe một cách khôn ngoan, trí huệ. Mật chú không phải là
cái mà bạn nhận được từ vị thầy một cách bất ngờ.
Không sự rung động âm thanh tự nhiên ở trong hệ thần kinh
của bạn thì bạn sẽ bị điếc – mỗi loại năng lượng
có âm thanh tự nhiên riêng của nó. Điều này không phải
là học thuyết tôn giáo, nhưng là điều bạn có thể khám
phá theo khoa học. Bạn không thể vứt bỏ âm thanh tự nhiên
của hệ thần kinh của bạn, nếu vậy chẳng khác gì bạn
vứt bỏ cái đầu của bạn !
Tuy
nhiên, theo kinh nghiệm vô số của các vị lama thì trần cảnh
bất định, tạm bợ của năm căn là thứ chướng ngại nhiều
hơn là thứ trợ lực trong việc triển khai sự tập trung vào
một điểm duy nhất. Bao lâu mà bạn vẫn tiếp tục nhận
thức các sự việc với tâm đối đãi và vẫn mắc dính vào
những trần cảnh của năm căn, thì bạn vẫn không thể có
khả năng nhận biết được phép thiền chỉ (tập trung vào
điểm duy nhất). Bạn sẽ không thể nào là thiền giả của
pháp samadhi hay vipassana. Hãy kiểm tra xem điều này có đúng
hay không.
Cho
nên bạn có thể hiểu thật buồn cười khi cho rằng việc
ngồi và cố đạt được định (samadhi : tam ma đề) là cách
duy nhất để tu tập Pháp, và rằng bất cứ cái gì cần làm
cho cuộc sống trong thế giới này đều toàn là tiêu cực.
Bạn nên liên tục quan tâm đến mọi khía cạnh của cuộc
sống – thức dậy, làm việc, ăn, ngủ – với trí huệ thấu
biết. Hoặc lúc bạn gần kề với vị Thầy, cùng tăng chúng,
hay với cha mẹ, hay khi hoàn toàn một mình, bạn đều phải
quan tâm cẩn trọng đến mức tối đa các hạnh nghiệp của
bạn. Hoàn toàn sai lầm khi tin rằng bạn có thể tinh ranh hơn
nghiệp bằng cách giam mình riêng biệt trong phòng, và nghĩ
rằng khi bạn ở một mình bạn có thể làm bất cứ điều
gì bạn thích. Không có chỗ nào để tránh thoát được cho
dù là bạn có ở cùng ai hay ngồi một mình thì những phản
ứng đáp trả của nghiệp vẫn tự động đưa tới.
Nếu
tôi phải dạy bạn – thực tế tôi không nói vậy – rằng
cách duy nhất để thiền định là ngồi và không nghĩ gì
cả, thì bạn cũng sẽ không tìm ra được thời giờ để
tu tập. Nghiệp đảm bảo rằng đa số người Tây phương
đều phải dành thì giờ cho công việc hoặc để làm điều
gì khác cho xã hội. Bởi vì bạn không thể tìm được thời
giờ để ngồi thiền, bạn sẽ nghĩ rằng việc tu tập Pháp
của bạn là việc không bình thường. Nhưng thiền định không
phải là nhìn chăm chú vào lổ rốn với tâm trống rỗng.
Một khi bạn có được sự thấu biết những cơ bản của
Pháp bạn sẽ thấy có rất nhiều điều cho bạn để hành
động và bạn sẽ có thể tiến bộ lớn lao làm sao. Điều
này sẽ cho bạn sự lý thú quan tâm không ngừng trong khi duy
trì việc tu tập và cho dù bạn không thể tập trung tư tưởng
được, bạn hãy biết rằng bạn vẫn đang tu tập Pháp. Bất
cứ nơi nào bạn đang ở, với những người đang tu hành như
bạn hay với những người thế tục, bạn sẽ học được
cách kết hợp cuộc sống của bạn với Pháp lại với nhau
thành một. Khả năng này đến từ trí huệ. Nếu không có
trí huệ, làm sao bạn có thể làm cho những hợp đồng không
thể tránh né được như ăn uống, ngủ, đi tiêu tiểu có
thể hợp thành một với Pháp ? Khi bạn có trí huệ, bạn
không cần phải lúc nào cũng quanh quẩn bên người thầy để
nghe giáo huấn. Bạn có thể thấy những giáo huấn từ mọi
điều chung quanh bạn. Bạn có thể học từ hình ảnh sao băng,
từ thời tiết, cây trồng lúc nó lớn lên hay lúc nó lụi
tàn, và tất cả các hiện tượng khác nữa. Đây chính là
những gì hiện đang xảy ra khi bạn có trí huệ. Thật vậy,
trí huệ của chính bạn thấu hiểu thực tại là vị thầy
thực sự của bạn. Đây là điều mà Đạo Phật Tây Tạng
dạy cho bạn.
Hãy
hợp nhất toàn bộ cuộc sống với những kinh nghiệm về
Pháp. Đó là điều có ảnh hưởng lớn lao nhất mà bạn có
thể làm. Đó là cách để đạt tới giác ngộ trong đời
này bởi vì bạn không hề lãng phí một giây trong đời bạn.
Điều này hoàn toàn hợp lô-gích. Nếu bạn tin vào một quan
niệm hoàn toàn sai lầm rằng chỉ thời gian một giờ ngồi
thiền định là dịp, là lúc bạn tu tập Pháp và hai mươi
ba giờ còn lại trong ngày hoàn toàn là ô nhiễm, là luân hồi
sinh diệt, thì chắc chắn bạn sẽ cần ba a-tăng-kỳ kiếp
để đạt tới giác ngộ. Bất cứ điều gì tâm bạn đã
tin đều trở nên sự thật đối với bạn, cho dù điều đó
là có thực hay không.
2
QUY
Y
Từ
trước đến nay, tôi đã nói đến lý do tại sao chúng ta cần
tịnh hóa và xúc tiến việc đó như thế nào. Tôi cũng đã
nhấn mạnh rằng chúng ta không có khả năng chấm dứt một
cách liên tục việc tạo ra những hành vi bất thiện thuộc
thân, khẩu, ý bởi vì chúng ta chưa hiểu được nguyên nhân
nội tại, đó là luật của nghiệp.
Có
một sự khác biệt lớn lao sự nhận thức về nghiệp giữa
một bên là sự hiểu biết thuần lý trí và bên kia là dựa
trên kinh nghiệm sống mà họ trải qua. Một vài người lắng
nghe giáo lý, có thể hiểu rất hoàn chỉnh ngôn từ của những
lời giảng về nghiệp quả và bề ngoài, có thể tin rằng
“Điều ấy chăc chắn có thật bởi vì vị Lama của tôi
đã nói như vậy.” Nhưng vì họ không nhận biết bằng chính
kinh nghiệm của mình nên họ thất bại khi sự hiểu biết
được thử thách, trắc nghiệm. Họ không có được cách
giải quyết khi đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng.
Họ thỏa mãn với khả năng có thể nói chuyện bàn luận
về nghiệp quả, như thể khả năng trao đổi bằng lời với
cha mẹ, bạn bè về nghiệp như vậy là đủ cho họ, nhưng
họ lại không thể làm được những gì họ đã nói bởi
vì họ chưa hề thực hành.
Nhưng
một số người khác không thỏa mãn chỉ với sự hiểu biết
bằng lý trí, họ mong hiểu biết hơn nữa thông qua việc thực
hành những gì họ được dạy. Họ không thể có khả năng
trình bày những bài thuyết giảng sâu rộng về nghiệp, nhưng
bởi vì họ lúc nào cũng quan tâm, biết ý thức đến tất
cả các hành vi của họ, nên họ nếm được đích thị mùi
vị của Pháp. Một kinh nghiệm rất thật y như vị ngọt của
mật ong trên đầu lưỡi của bạn. Và khi nào có những vấn
đề, những trở ngại phát sanh thì những người tu tập như
trên sẽ biết cách ứng dụng kinh nghiệm để tìm ra giải
pháp cho những trở ngại đó. Bạn phải thấy rõ ràng về
điều đó. Rất là nguy hiểm một khi bạn chỉ thỏa mãn với
sự hiểu biết Pháp chỉ bằng lý trí và bạn không chịu
thực hành. Nếu như vậy thì không giúp gì được cho bạn.
Rất
nhiều giáo sư, học giả Đông phương, Tây phương công nhận
là họ không tu tập. Họ có thể phát biểu rất nhiều về
tất cả mọi lãnh vực triết lý Phật giáo. Nếu bạn hỏi
họ một vấn đề, họ có thể trả lời được. Nhưng lời
giải thích của họ cũng giống như lời giải thích của hướng
dẫn viên du lịch, rất là phiến diện. Khi một hành giả
nhiều kinh nghiệm nói chuyện với bạn, lời giải thích của
ông ta có một năng lực ban phước. Ông ta có thể nói y như
câu chuyện mà các học giả trình bày, nhưng cái cách ông
ta diễn đạt làm xúc động tâm can của bạn. Lời nói của
những người chưa có kinh qua y như ngọn gió thoảng rì rào
bên tai bạn.
Nếu
bạn thấu hiểu về nhân quả thông qua kinh nghiệm riêng của
bạn thì bạn không còn cách nào dám cẩu thả trong hành vi
của bạn. Có những người mặc dù với sự thấu hiểu thuần
lý trí, có thể phát biểu trước một diễn đàn rất đông
khán giả, nhưng chính họ thực sự không tin tưởng vào những
gì họ đang nói bởi vì họ chưa nếm được vị mật ngọt
của những gì họ biết. Họ không sống theo phạm trù tâm
linh đạo đức mà họ phát biểu thảo luận. Cá nhân tôi
thấy điều ấy rất đau lòng. Khi được hỏi một câu hỏi
thực tế rằng nghiệp quả tiến triển như thế nào, các
học giả chỉ có thể trả lời bằng cách trích dẫn từ
một quyển sách, một đoạn kinh mà họ đã đọc. Bởi vì
họ không trải qua kinh nghiệm, nên họ không thể giải thích
rõ ràng xúc tích về những vấn đề như : làm sao quán sát
tuân thủ nghiệp, cái gì cần làm trong thực hành, và bằng
cách nào để việc quán sát tuân thủ nghiệp có thể dẫn
dắt tâm bạn vào trong hướng tích cực, hướng thiện. Một
số câu hỏi có tính cách thực hành sẽ vượt quá khuôn khổ
triết học về nghiệp quả của các học giả đó, và do vậy
họ không thể liên hệ được với những câu hỏi như vậy.
Và tất cả những gì họ có thể nói là rằng : “Ô ! Bạn
không thể hỏi câu hỏi như vậy. Đạo Phật không giải quyết
việc đó.” Đó không phải là cách trả lời.
Tôi
chắc chắn rằng đa số các bạn thấu hiểu rất rõ ràng
bằng cách nào mà các hành vi bất thiện của thân, khẩu,
ý cứ tái đi tái lại trong đời sống và mang đến những
hậu quả khổ đau, vô minh, và càng thêm bất thiện hơn nữa.
Trong tâm thức các bạn cũng chưa nổi lên câu hỏi về bản
chất sự thật của vấn đề này. Hẳn các bạn có thể giải
thích điều này rõ hơn tôi nhiều. Khi bạn nghe tôi nói tiếng
Anh không trôi chảy, bạn có thể tự nghĩ rằng : “Ông ấy
nói kiểu tiếng Anh gì vậy ? Nếu phải chi ông ta để tôi
nói, tôi có thể diễn đạt tốt hơn.” Điều này hoàn toàn
đúng. Nhưng tại sao bạn không thể ngưng ngay các thói quen
tiêu cực bất thiện ? Sự hiểu biết chỉ bằng lý thuyết
không thôi thì không đủ.
Có
rất nhiều Phật tử tuy ít học hành nhưng nhờ vào sự tu
tập nghiêm mật trong phạm vi thực hành mà đã có được
chứng ngộ tâm linh rất cao. Nhưng có những học giả có thể
giảng thuyết tràng giang đại hải nhưng chẳng đạt tới
chứng ngộ nào cả. Bởi thế, tôi khuyên các bạn hãy thận
trọng. Khi bạn nói về giáo lý, điều quan trọng không phải
là cái bạn nói tới – tức là giáo lý – nhưng chính sự
quan trọng là bằng cách nào bạn đã có được sự hiểu
biết của bạn. Lời nói của bạn phải chứa đựng sự rung
động truyền cảm đặc biệt từ kinh nghiệm riêng của mình,
nó cũng chuyển tải được năng lực rung động đó đến
người nghe.
Ở
Tây Tạng, với các vị lama đã chứng ngộ và có thiện xảo,
khi họ thuyết giáo về con đường có thứ bậc đưa tới
giác ngộ, họ thường không nhấn mạnh nhiều về học thuyết
giáo lý, nhưng họ thường hay nhấn mạnh đến các khía cạnh
thực hành của giáo lý, thậm chí có khi họ yêu cầu môn
sinh hãy thiền định trong khi họ giảng dạy. Do kết quả
đó, một số môn sinh đã có chứng ngộ ngay trong khóa học.
Vào cuối khóa học hai mươi ngày họ hiểu thấu trọn vẹn
con đường (giải thoát) từ đầu đến cuối, lòng tràn ngập
năng lực họ muốn rời ngay tu viện đến các hang động trong
núi để nhập thất thiền định miên mật. Ngược lại, các
học giả có thể dạy cho bạn cùng đề tài như vậy trong
hai mươi năm mà chẳng hề rung động được tâm can bạn.
Tôi
cũng đã chứng kiến những người Tây phương được kích
thích mạnh bởi những bài thuyết giảng lam-rim đến nỗi
họ quá muốn đi vội vào trong núi (nhập thất). Tuy nhiên
nếu tiếp tục thực hành tu tập thêm nhiều năm nữa sẽ
là cách tịnh hóa mạnh mẽ các hành vi bất thiện tốt hơn
nhiều cho các bạn, hơn là việc nhập thất để có những
cơn bộc phát thiền định mang tính chất cảm tính, ở nơi
ẩn cư đơn độc.
Do
vậy khi bạn quy y, phát Bồ đề tâm thì không nên có kẻ
hở nhiều giữa sự quy y, phát Bồ đề tâm với bản tâm
của bạn. Nếu quy y và phát Bồ đề tâm không nhập một
với tâm bạn thì các việc đó không thể tịnh hóa được
các hành vi bất thiện mà chúng ta đã thảo luận ở trước.
Khi bạn quy y, tâm bạn phải nhập một với quy y, khi bạn
phát Bồ đề tâm, tâm bạn phải trở thành Bồ đề tâm.
Nhất định không phải cái kiểu cách rằng bạn ngồi xuống
“đây” trên bồ đoàn, mà lại đang làm một việc nào đó
ở ngoài “kia” đằng trước mặt bạn, theo kiểu nhị nguyên.
Tâm của bạn phải trở thành Pháp mà bạn tu tập. Việc này
có thể làm được tuy khó, và cốt yếu là bạn tu tập để
làm lợi cho tâm bạn. Người Tây phương không chỉ lắng nghe
mà còn ưa hành động nên nhiều môn sinh trong khóa học về
con đường đạo có thứ bậc đưa tới giác ngộ (lam-rim)
diễn ra ở vùng Kopan của chúng tôi đã thu được những kinh
nghiệm rất tích cực. Những môn sinh này rất chân thành,
nhạy cảm và cởi mở với Thầy Zopa và tôi. Những gì họ
nghe được từ lời giảng đã ảnh hưởng tốt đến tâm
của họ. Nếu như có một tình huống giảng dạy mà người
thầy y như một máy phát thanh (radio) và thính giả giống như
các bức tường thì làm sao có lợi lạc gì được ? Thêm
nữa người Tây phương vốn dĩ có tính hoài nghi, họ chỉ
công nhận những gì họ nghe và hiểu được ; chính nhờ bản
tính này làm cho họ hội đủ phẩm chất tốt đẹp để lắng
nghe giáo lý Đại thừa. Tôi rất ưng ý khi họ nói : “Thầy
nói như vậy. Tôi không chấp nhận cách nói đó.” Ví dụ
như, chúng tôi cảm thấy rằng những ai phát sanh lòng ngưỡng
mộ vị thầy chỉ vì dựa trên một lòng tin mang tính chất
cảm tính thay vì dựa trên trí huệ thấu biết, thì những
người đó không hội đủ phẩm chất thỏa đáng để nghe
giáo lý.
Quy
y và phát Bồ đề tâm
Mãi
mãi con xin quy y Phật, Pháp, Tăng và Tăng đoàn của ba thừa,
các daka và dakini của yoga mật chú, các thánh anh hùng, chư
thiên, các vị Bồ tát và đặc biệt là vị Thầy của tôi.
“Thừa”
là cách chúng ta dịch tiếng Sanskrit “yana.” Nghĩa tổng quát
của nó chỉ ra rằng một số hành vi nhất định sẽ chắc
chắn nâng tâm thức của bạn lên một tầng lớp cao hơn.
Chẳng hạn, nếu bạn làm tăng trưởng Bồ đề tâm và tu
tập sáu Ba la mật bạn chắc chắn đạt tới giác ngộ. Đại
thừa sẽ đưa bạn từ lúc bắt đầu – tức là phát Bồ
đề tâm – thông qua sáu Ba la mật và thập địa Bồ tát
để tới đích tức là giác ngộ. Nếu bạn bắt đầu một
cách vẹn toàn và hành động đúng đắn thì “Thừa” của
bạn chắc chắn đưa bạn đến đích mong ước. “Thừa –
Yana” cũng bao hàm nghĩa “con đường” : con đường đúng
sẽ dẫn dắt bạn tới được nơi đúng. Nếu, vì vô minh,
bạn đi theo con đường lầm lạc thì bạn sẽ chẳng được
gì cả. Ba thừa Phật giáo là gồm hai Tiểu thừa (Hinayana)
và một Đại thừa (Mahayana) và chúng ta phải quy y cả Tăng
đoàn của ba thừa. Ngay cả khi chúng ta đang theo Đại thừa,
và đặc biệt là đang theo yoga mật thừa, thì chúng ta cũng
đừng nên tự mãn cho rằng : “Tôi là người của Đại thừa,
tôi không cần quy y Tăng đoàn Tiểu thừa.” Mặc dù các vị
A la hán Tiểu thừa vẫn còn một ít chấp trước vào sự
giải thoát của bản thân các ngài, nhưng các ngài đã thoát
khỏi cái ngã với sự chứng nhập trọn vẹn tánh Không và
có thể dẫn dắt chúng ta thoát khỏi luân hồi sanh tử. Bởi
thế, chúng ta phải quy y tất cả Tăng đoàn mà không có sự
phân biệt. Các lama Tây Tạng không phát khởi ra Tiểu thừa
hay Đại thừa. Chính Đức Thế Tôn tìm ra hai trường phái
Phật Pháp này, và hai trường phái này đã có mặt rất lâu
trước khi giáo pháp được truyền bá đến Tây Tạng. Một
số người cho rằng Đức Phật đã giảng Pháp bằng tiếng
Pali nên các kinh ghi chép lại bằng ngôn ngữ khác là sai lệch.
Một số người khác cũng cho rằng Đức Phật đã giảng tiếng
Sanskrit, và các kinh bằng tiếng Pali là sai. Cả hai ý kiến
này đều nhầm lẫn. Khi Pháp được truyền tới các quốc
gia khác, các hành giả đã chứng ngộ vẫn giữ nguyên cốt
lõi của giáo Pháp khi họ dịch các lời giảng sao cho thích
nghi với tâm của con người trong nước họ, việc làm này
chỉ nhằm mục đích giúp cho sự truyền đạt được rõ ràng
mà thôi. Sau rốt, có sự khác biệt lớn lao giữa người Tây
Tạng ở vùng núi tuyết và người Ấn Độ ở vùng đòng
bằng nóng ẩm, cho nên bạn cần dự kiến về một số thay
đổi trong phương pháp diễn đạt giáo Pháp khi được truyền
từ nơi này đến nơi khác.
Có
một lần, một vị vua và là đệ tử của đức Phật đã
có một giấc mơ. Trong giấc mơ đó có mười tám người tranh
nhau một cây vải, ai cũng tranh dành riêng cho mình. Cuối cùng
mỗi người lấy được cây vải nguyên vẹn riêng. Thức dậy
nhà vua đến kể cho đức Phật nghe và hỏi Phật ý nghĩa
của giấc mơ. Đức Phật bảo nhà vua rằng cây vải tượng
trưng cho giáo Pháp của Ngài và sau khi Đức Phật nhập diệt,
mười tám trường phái với sự thể hiện khác nhau đôi chút
từ giáo pháp, sẽ phát triển đi các nơi. Việc mỗi người
nhận được trọn vẹn cây vải cho riêng mình có nghĩa rằng
mỗi trường phái đó sẽ chứa đựng một con đường trọn
vẹn đúng đắn để đưa đến giải thoát. Như vậy Đức
Phật đã tiên đoán việc thành lập mười tám trường phái
Tiểu thừa.
Theravada
là một trong mười tám trường phái đó. Một số tín đồ
Tiểu thừa cảm thấy bị lăng nhục khi gọi họ là “Tiểu
thừa,” họ cương quyết đòi được gọi là “người theo
phái Thera-vada” (điều này không có ý nghĩa bởi vì chỉ
là một trường phái, Theravada không chứa đựng được toàn
bộ triết học của Tiểu thừa, như vậy hai từ Theravada và
Tiểu thừa không được tương đương với nhau). Và rồi thì
có một số người khác mà cái “Ta” của họ trương lớn
lên khi họ tự cho mình là người “Đại thừa.” Chính những
phản ứng rất nhị nguyên này bắt nguồn từ vô minh và hoàn
toàn đi ngược lại với sự an lạc nội tại của trí huệ
của Pháp.
Sự
khác biệt chủ yếu giữa “người Tiểu thừa” và “người
Đại thừa” chính là ở tâm trạng của họ. Sự quan tâm
chính của đệ tử Tiểu thừa là sự giải thoát của riêng
họ ; và sự quan tâm của đệ tử Đại thừa là sự giải
thoát của tất cả chúng sanh hữu tình. Một số người cảm
thấy rằng những người mặc áo tăng vàng là Tiểu thừa,
và áo tăng màu đỏ là Đại thừa, sự phân biệt phiến diện
như vậy thật sự sai lầm. Bất cứ người nào bất kể họ
mặc áo màu gì, nhưng nếu luôn luôn nhiệt tình với lòng
cương quyết dẫn dắt tất cả chúng sanh hữu tình đến bờ
giác ngộ tối thượng bằng chính bản thân mình, và không
hề nghĩ đến việc giải thoát cho riêng mình mà thôi, thì
người đó là “người Đại thừa.” Còn nếu một người
nào dù mặc áo tăng đỏ, nhưng lúc nào cũng chìm đắm vào
sự quán chiếu khổ đau, mê lầm của vòng luân hồi sanh tử
đang hiện hữu, họ chỉ có một động cơ duy nhất là ước
ao giải thoát riêng mình và không nghĩ tới những khó khăn
của chúng sanh hữu tình, thì người đó là “người Tiểu
thừa.”
Chúng
ta quy y các Tăng đoàn Tiểu thừa và Đại thừa, các daka và
dakini, các anh hùng, các chư thiên, các vị Bồ tát – tất
cả các vị đã trong giai đoạn thành tựu của tantra yoga tối
thượng. Trong số đó có vị có một dáng vẻ an bình, số
khác có vẻ hung nộ. Các vị Bồ tát cũng hiển lộ nét hung
dữ. Bạn đừng nghĩ rằng Bồ tát luôn luôn phải có nét
dáng an lành. Ngay cả ở vị sơ địa trong thập địa Bồ
tát – thường được gọi là “Địa Hoan Hỷ – Joyous One,”
các vị Bồ tát cùng lúc biểu lộ trong một trăm thân khác
nhau. Với các thân này, các Vị có thể giảng dạy Pháp trực
tiếp từ các báo thân của một trăm vị Phật, hay chuyển
thành một trăm hóa thân khác nhau cho lợi lạc của chúng sanh
hữu tình. Trong quá trình từ sơ địa đến thập địa Bồ
tát, oai lực của các ngài ở mỗi địa tăng lên mười lần,
cho nên các hạnh của các ngài ngoài sức hiểu biết của
chúng ta. Do vậy các vị Bồ tát hiển lộ trong hình ảnh các
thiện thần, hung thần, và vân vân… và chúng ta quy y với
các Ngài.
Thật
vậy, các vị Bồ tát có thể xuất hiện như người Tây phương,
người Đông phương, người da màu, người da trắng, như người
Thiên Chúa giáo, người đạo Hồi, hay Do Thái giáo – trong
bất kỳ hình dáng nào cũng được. Ngày nay rất nhiều người
tự coi là có tín ngưỡng nhưng có tâm chật hẹp. Họ không
thể chịu sự hướng dẫn tâm linh đối với một vị Thầy
có dòng giống, màu da, chủng tộc hay quốc tịch khác với
họ. Khi họ tự đặt mình đứng về phía với một vị Thầy
riêng biệt của họ, thì họ trở nên cục bộ, họ tin rằng
các
vị Thầy khác cùng với các đệ tử của các ngài là xấu.
Tôi gọi cái này là “Chủ nghĩa bổn sư.” Điều này rất
lệch lạc. Đó là kiểu quy y theo lối “nhị nguyên.” Điều
này không phải là cách quy y của người Phật tử.
Một
số người tự cho là thầy (guru), họ tuyên bố rằng họ
là người Thầy số một, người thầy duy nhất và đương
nhiên các đệ tử tin vào điều đó. Theo đà này, tôn giáo
mà họ đang thuyết giảng lẽ ra là con đường đưa đến
giải thoát thì lại đang làm “ngạt thở” các đệ tử
của họ, và các đệ tử đó càng lúc càng thiển cận, dẫn
tới sự cuồng tín. Tốt hơn là không có tín ngưỡng còn
hơn là thành ra như vậy. Ít nhất người không có tín ngưỡng
sẽ không có quan điểm cực đoan như thế, đối với họ
chỉ đơn giản làm người cũng đủ rồi.
Chúng
ta quy y với chư Phật chư Bồ tát mười phương, với bất
kỳ ai đã chứng ngộ tánh Không mà không cần biết màu da,
quốc tịch dòng giống của họ. Hãy nhớ rằng, một vị sơ
địa Bồ tát có thể là một người nam, người nữ Phi châu,
một người chăn lạc đà ở Á-rập Xê Út, thậm chí có thể
là một người khủng bố, họ đóng vai trò này để phục
vụ cho những người khác tốt hơn.
Cuối
cùng, và đặc biệt trong lời kinh cầu nguyện, chúng ta cũng
quy y với vị Thầy của chúng ta, nhất là với vị thầy gốc,
người đã chỉ cho ta con đường an lạc đưa tới sự thực
chứng giác ngộ vĩnh cửu. Hãy luôn luôn nhớ rằng vị thầy
của bạn với Heruka Vajrasattva là một. Lob-pošn có nghĩa là
người đã chỉ cho chúng ta thấy con đường đúng và dẫn
dắt chúng ta trên con đường đó, uốn nắn cho đúng những
hành vi thân, khẩu, ý của chúng ta, đưa chúng ta tránh xa được
những việc làm vô minh, mê muội. Người có thể đưa chúng
ta đến giác ngộ ngay trong đời này, và thậm chí có thể
trong ba năm. Hãy gợi nhớ đến sự tử tế không ngờ được
của người, và chúng ta hãy quy y với người mãi mãi.
Cách
quán tưởng chúng ta áp dụng khi quy y như sau đây : người
cha ở bên phải của bạn, người mẹ ở bên trái, kẻ hận
thù nhất thì ở trước mặt. Người bạn ưu ái nhất, người
mà bạn thân cận nhất thì ở phía sau. Tất cả chúng sanh
hữu tình ở mọi hướng xung quanh bạn.
Cách
quán tưởng này là một ví dụ tốt của quan điểm tâm lý
học Đại thừa. Nếu có ai chợt hỏi bạn muốn đặt để
người bạn tốt nhất ở đâu, bạn sẽ tự nhiên nói rằng
: “Ồ ! ở đằng trước mặt tôi” ; và dĩ nhiên bạn sẽ
thích đặt để kẻ thù ở sau lưng, ngoài tầm mắt. Ngược
lại, khi quy y chúng ta đặt kẻ thù ở trước mặt chúng ta.
Hãy nhìn vào kẻ thù đó, và bằng sự chân thành, chánh trực
bạn hãy xét nét cuộc đời của họ. Hãy nghĩ đến những
vấn đề mà cái tâm lăng xăng của bạn đã gây ra và rồi
bạn nhận thức được rằng kẻ thù cũng ở trong một tình
huống đúng y như vậy. Hãy phân tích cái cách mà bạn cảm
thụ đối với người kẻ thù đó. “Tôi cho rằng ông ta
– kẻ thù – là kẻ tồi tệ nhất trên thế gian này nhưng
những vấn đề của ông ấy cũng giống như của tôi. Tại
sao tôi phải nổi sân mỗi khi thấy gương mặt ông ta ? Cái
điều sai lầm cốt lõi của ông ấy là tâm ông ấy đã mê
muội ôm chặt cái ngã. Nếu tôi giận cái gì thì đó phải
là cái mà tôi đáng giận. Đằng này đối với những tri
giác giác quan của tôi thì tâm mê lầm của ông ấy là một
cái gì vô hình, không thấy được, vậy tại sao tôi lại
phản ứng (nổi sân) với hình tướng vật chất của ông
ấy. Cái thân, cái mặt của ông ấy, không gì khác hơn, chỉ
là “tay sai” của tâm bất thiện của ông ấy. Chính cái
tâm bất thiện này là nguồn gốc của mọi thứ mà khiến
tôi không thích ông ấy. Cầu cho ông ta nhận ra được điều
này, tịnh hóa sự mê muội của ông ta một cách trọn vẹn
và có được những chứng ngộ hoàn hảo.”
Như
thế, bạn hãy nên phát tâm thương yêu kẻ thù vô cùng và
với cái tâm như vậy, bạn hãy quy y. Đây là cách quy y tốt
nhất.
Việc
quy y như kiểu này chính là một cách giải quyết được các
vấn đề vô minh, tham luyến, sân hận. Nếu không thì rất
bất lợi cho bạn vì bạn sẽ quá lo lắng về các vấn đề
đó, và việc bạn quy y sẽ đơn thuần là một phương pháp
mới để tự mình tăng thêm sự tham luyến dính mắc cũng
như sự quan tâm cho việc chứng ngộ của riêng mình. Bạn
sẽ có thể nói bạn đang tu tập Pháp, nhưng Pháp mà bạn
đang tu tập chẳng phải là gì cả ngoài việc làm tăng thêm
sự tham luyến của bạn. Phật pháp lẽ ra phải là cách giải
quyết các vấn đề của mình, nhưng bởi vì thái độ nói
trên của bạn, trí huệ Pháp lại trở thành một cái gì sở
hữu mang tính cách vật chất. Bây giờ nếu có ai nói “Pháp
của ông là phân” thì cái ngã của bạn sẽ nổi cơn thịnh
nộ.
Trí
huệ là trí huệ. Tại sao bạn lại chịu khó bực mình khi
người đang mê muội bảo bạn rằng Pháp là phân hay gọi
vị thầy của bạn là quỷ sứ ? Không thể nào chỉ đơn
giản bằng lời nói mà có thể làm cho Pháp hay vị thầy thành
ra phân hay quỷ sứ được. Do vậy bạn hãy cẩn trọng. Nếu
bạn bực mình nổi giận khi ai đó phê phán việc tu hành của
bạn, thì như vậy bạn đã biến trí huệ Pháp của bạn thành
ra một cái gì mang tính vật chất. Nhận định này không chỉ
áp dụng riêng cho đạo Phật mà kể cả các tôn giáo khác
nữa. Nếu các đồ đệ của một tín ngưỡng nào nổi giận
vì có người bảo tôn giáo của họ không tốt, và họ muốn
đóng cọc hành hình kẻ phê bình đó, như vậy những quan
niệm của họ hoàn toàn lầm lạc. Ngay giờ đây bạn hãy
coi xét lại cái cách bạn phản ứng khi có người lăng nhục
bạn – bởi vì một khi bạn nổi cơn thịnh nộ thì có coi
xét phản ứng cũng đã quá trễ rồi.
Việc
quán tưởng những chúng sanh chung quanh ta là mẹ khi bạn phát
tâm quy y, là một phương tiện mạnh mẽ để vượt qua được
sự chú tâm quá đáng đối với những khổ đau riêng của
mình. Nhiều người trong chúng ta bị ám ảnh quá nhiều đối
với những khổ đau riêng. Chúng ta đã không thể quên chúng
được và chúng ta không bao giờ nghĩ tới những gì mà các
người khác đang kinh qua. Cuối cùng chúng ta nhận ra rằng
những người khác cũng có những khổ đau y như chúng ta có,
lúc đó chúng ta mới bắt đầu suy nghĩ rằng : “Rốt lại
tôi đâu phải là người xấu số nhất trên đời. Tôi cũng
không phải một mình trong khổ đau. Có nhiều người giống
như tôi vậy. Nên tôi phải phát sanh lòng đại bi yêu thương
họ y như tôi yêu thương tôi.”
Bằng
cách nào mà Phật, Pháp và Tăng già của ba thừa cứu được
chúng ta khỏi mê lầm của vòng luân hồi sinh diệt ? Điều
này tùy thuộc vào thái độ tâm linh của chúng ta. Chúng ta
phải hiểu thấu đáo bản chất sự hiện diện của vòng
luân hồi sanh tử của chúng ta, đồng thời chúng ta cũng phải
biết đến năng lực và khả năng lớn lao mà các chư Phật,
Thánh Tăng đã có để dắt dẫn chúng ta ra khỏi vòng sanh
tử. “Tôi thật là vô tích sự. Mặc dù tôi có đủ thông
minh để làm cho cuộc sống của tôi tiện nghi, hưởng thụ
xứng đáng, những tôi không có đủ hiểu biết, trí huệ
để vượt qua được sức lôi kéo hấp dẫn của tâm tham
ái của tôi đối với những cảm xúc vui sướng mà nó đã
cột chặt tôi lại với vòng luân hồi sanh tử. Tôi không
có cách nào để tự giải phóng khỏi sự ràng buộc đó.
Nhưng các chư Phật, Thánh Tăng thực sự có thể dẫn dắt
tôi. Các Ngài có phương tiện, giải pháp, ánh sáng trí huệ
để khiến tôi xua tan mê lầm, đó là chìa khóa mở rộng
tâm tôi sao cho trí huệ thấu biết từ đó phát sanh. Tôi đã
quá mệt mỏi vì luôn bị cuốn hút trong vòng sanh diệt bất
tận mà không kiềm chế được. Chư Phật đã chỉ cho thấy
phương pháp toàn vẹn đưa tôi và các người khác nữa ra
khỏi mê lầm. Và Pháp trí huệ là con đường Đạo đúng
đắn, thực tế, một sự chấm dứt khổ đau đúng đắn.”
Tôi
biết chắc chắn, có nhiều mức độ của ý nghĩa trong từ
“Pháp” mà bạn đã học hỏi khi nghiên cứu kinh điển.
Khi bạn quy y Pháp, đối tượng quy y thực sự của bạn là
trí huệ thấu hiểu đầy đủ bản tánh tuyệt đối (sự
thật rốt ráo) và là một với tánh Không một cách trọn
vẹn, hoàn toàn thoát khỏi quan điểm nhị nguyên. Chúng ta
hiện nói về Pháp, nhưng Pháp là gì ? Pháp là trí huệ –
Trí huệ Pháp. Tuy nhiên, cần có nhiều thời gian và tích lũy
nhiều chứng ngộ để có được trí huệ vô thượng. Chúng
ta phải làm điều này. Để chạy cho tốt, một cái xe hơi
phải tùy thuộc vào nhiều bộ phận và không có một bộ
phận nào tự riêng một mình nó là một cái xe hoàn chỉnh.
Tương tự như vậy, trí huệ toàn bích kết hợp bởi rất
nhiều loại khác nhau của sự thấu biết, và mỗi sự thấu
biết đó là một bộ phận hợp nhất của con đường Trí
Huệ.
Cho
nên bạn có thể hiểu rằng có sự khác biệt giữa Pháp quy
y mà chúng ta đang nói tới ở đây – Chính là Trí huệ toàn
bích, nó thấu biết đầy đủ sự thật rốt ráo là tánh
Không, và Pháp thường dùng mà chúng ta từng thảo luận –
tức là giải pháp mang tính trí huệ để giải quyết các
vấn đề tâm linh. Trí huệ toàn bích là đối tượng quy y
rốt ráo. Nhiều đệ tử của tôi than phiền rằng họ đã
uổng công chờ đợi để được nghe tôi dạy về tánh Không.
Nhưng bạn thấy đấy – đây này, tôi đã và đang dạy nó
không lúc nào ngừng. Chỉ có điều… tôi đã không gọi nó
là tánh Không như : “Các bạn nghe đây, tôi sẽ chỉ cho bạn
thấy tánh Không ! Ngày mai các bạn sẽ đạt tới giác ngộ
!” Tôi đã và đang ngụy trang nó dưới dạng những từ đơn
giản hơn.
Chư
Phật đã chỉ cho bạn thấy được Pháp và bằng cách nào
bạn thâm nhập Pháp để đạt tới thực sự chấm dứt khổ
đau. Thông qua việc tu tập Pháp bạn trở thành vị Phật.
Tăng đoàn giúp bạn tạo ra những điều kiện đúng đắn
cho việc tu tập, tạo sự đảm bảo để bạn tịnh hóa các
điều bất thiện và thật sự chấm dứt khổ đau. Như tôi
đã nói trước đây, các vị Bồ tát biểu lộ dưới vô số
cách khác nhau để nhắm tới một mục đích duy nhất là trợ
giúp bạn trong tu tập. Khi các vị phô bày hình ảnh hung dữ,
chúng ta đừng nên bực mình khó chịu hay nghĩ rằng các vị
không còn từ bi với chúng ta nữa. Thay vì vậy chúng ta nên
cho rằng : “Vị Bồ tát này đang chỉ cho tôi thấy được
rằng khi tôi giận dữ, trông gương mặt tôi kỳ cục xấu
xa như thế nào. Nếu trước đây tôi chưa biết giận dữ,
thì tôi không bao giờ biết có gương mặt như vậy. Tôi nên
biết ơn sự tử tế của ngài.” Bất cứ khi nào có ai đó
giận chúng ta, chúng ta nên nghĩ rằng ông ấy hay bà ấy là
biểu lộ của một vị Bồ tát dạy chúng ta đừng nên giận
dữ. Tương tự như vậy, bất cứ khi nào có ai đó xung quanh
ta trông rất an lạc, chúng ta nên nghĩ, với niềm vui, rằng
người này cũng là một vị Bồ tát đang chỉ cho chúng ta
thấy rằng những người khác sẽ vui sướng biết bao khi chúng
ta cư xử tốt với họ.
Chắc
chắn bạn đã có nhận xét rằng bất chợt vào một thời
điểm nào đấy bạn cảm thấy vui sướng gặp một người
này nhưng cảm thấy khó chịu ngay tức thì khi thấy người
kia. Đấy chính là cái nghiệp lực của bạn nó đang “làm
việc.” Ở trong bạn, có một năng lực mà nó xui khiến cho
điều này xảy ra. Gần như bạn không thể làm được gì
về việc này. Một cách tự phát, những người đẹp trai
hay xinh gái được người khác đối xử tốt ở mọi nơi,
nhưng những người xấu xí thì bị cư xử tệ. Đây là nghiệp
của họ, rất khó thay đổi cho dù họ rất muốn thay đổi.
Người Tây phương sẽ cho chúng ta sự giải thích bằng khoa
học như thế nào cho hiện tượng này ? Chính nghiệp đã làm
cho cuộc đời của các bạn khó khăn, và cũng bởi nghiệp
làm cho cuộc đời thoải mái dễ chịu.
Tuy
nhiên, không phải vì vậy mà nghiệp cố định bất biến.
Nghiệp là một hiện tượng thay đổi. Tất cả đều như
nhau thôi cho đến khi năng lực của một nghiệp nào đó đã
hết, và mỗi người phải chịu đựng tình huống riêng của
mình.
Hãy
lấy ví dụ con chó “Gomchen” của tu viện. Tất cả chúng
ta đều yêu thương nó. Đức Phật yêu thương nó. Đức Chúa
cũng yêu thương nó. Nhưng cho dù tất cả đều yêu thương
nhưng không ai có thể giao thiệp, “nói chuyện” được với
con chó đó để chỉ cho nó thấy được bản tánh tuyệt đối,
tức là tánh Không. Con chó không thể nào có khả năng giao
tiếp được với chúng ta, cho đến khi nào thân của nó được
biến đổi thành một cái thân khác thích hợp. Đó là nghiệp.
Tất cả chúng sanh trong luân hồi sanh tử phải chấp nhận
những gì họ đang kinh qua cho đến khi năng lực của tập
nghiệp ở phía sau sự kiện đang kinh qua đó được tiêu trừ.
Mọi sự trong cuộc sống của bạn tùy thuộc loại năng lực
này. Khi một năng lực tác nhân của một hành vi nhất định
được tiêu trừ hết thì nó không còn đưa đến hậu quả
nữa. Bạn hãy nghiên cứu cuộc đời của bạn và bạn sẽ
hiểu được nghiệp. Mỗi một chúng sanh hữu tình đều sống
theo cái cách họ suy nghĩ, theo trình độ năng lực nhận thức,
thái độ sống, và hoàn cảnh chung quanh. Đó, tất cả, là
nghiệp. Tôi dùng rất nhiều lần từ “nghiệp” ở đây.
Tôi hy vọng các bạn hiểu tôi muốn nói cái gì.
Kết
luận lại, chư Phật chỉ cho bạn thấy con đường chân chánh
và sự chấm dứt thật sự, đó tức là Pháp giải thoát bạn
khỏi luân hồi sanh tử. Và chư Phật đã cố gắng làm cho
bạn nhận ra được rằng các hành vi đúng đắn của bạn
phù hợp với đạo là những gì thực sự dẫn dắt cho bạn.
Điều này có nghĩa chính bạn chứ không phải chư Phật, có
trách nhiệm tối hậu cho việc giải thoát của bạn. Bạn
hãy thấu hiểu rõ ràng điều này.
Tăng
đoàn ở cả ba thừa, bao gồm các vị hộ pháp như Mahakala
và Kalarupa là những người bạn của bạn, các chư vị sẽ
giúp bạn bất cứ khi nào có thể được. Do vậy, bạn nên
hiểu tăng đoàn có nghĩa như thế nào. Đa số người ta nghĩ
rằng Tăng đoàn là từ dành riêng cho những ai mặc áo cà-sa,
nhưng không có kinh điển nào nói như vậy. Tuy nhiên, chúng
ta “có thể” nói rằng những ai đã hiến dâng đời mình
cho Phật pháp bằng cách xuất gia, được gọi là Tăng sĩ
“tương đối.” Nghĩa “tột bực, rốt ráo” của Tăng
doàn là người trong tâm linh đã chứng ngộ trọn vẹn bản
tánh tuyệt đối, tức tánh Không, bất chấp họ thuộc dân
tộc nào, màu da gì, mặc áo gì, hay là những gì khác nữa
; họ là Tăng sĩ thực sự, những người bạn tốt nhất của
bạn.
Bạn
thường cảm thấy cô đơn, nhưng bạn đừng nên như vậy.
Những người bạn Tăng sĩ vĩnh cửu và chân thật của bạn
lúc nào cũng ở bên bạn, đó là các daka và dakini, chư Bồ
tát có gương mặt hiền lành hay hung dữ và các Tăng đoàn
trong ba thừa. Họ có thể dẫn dắt bạn ra khỏi mê lầm,
sân hận của thế gian. Khi bạn nhận ra điều này, bạn sẽ
không bao giờ cảm thấy cô đơn hay nhớ tiếc bạn bè. Hãy
thiền định, hãy đi vào trong : đó là nơi mà các người
bạn đích thực đang hiện diện.
Quán
tưởng đối tượng quy y
Phương
pháp mà chúng ta quy y trong pháp tu tập Heruka Vajrasattva có khác
với phương pháp quy y trong lời dạy về con đường có thứ
bậc đưa tới giác ngộ bởi vì theo cách thứ bậc này đối
tượng quy y chính là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni. Phép quy
y đang nói đây, đối tượng Phật quy y là hoặc Heruka hoặc
Vajradhara, tùy vị nào mà bạn quán tưởng dễ dàng hơn.
Hãy
quán tưởng ngài Heruka màu xanh đang đứng, đang ôm người
phối ngẫu là Vajra Varahi màu đỏ. Xung quanh họ có rất nhiều
daka và dakini, sáu mươi hai vị thần của mạn đà la Heruka
và hằng hà sa số chư Phật, chư Bồ tát, A la hán, những
người đã chứng ngộ niềm an lạc vĩnh cửu.
Nếu
bạn thích quán tưởng Vajradhara hơn, thì ngài Vajradhara ngồi
trong tư thế hoa sen (kiết già), đang ôm người phối ngẫu
là Vajradhatu Ishvari (tiếng Tây Tạng : Ying-chug-ma). Cũng như
trên, ngài có màu xanh còn người phối ngẫu màu đỏ, và
họ được bao quanh bởi các hóa thân như trên của Trí huệ
Thiêng liêng, chỉ trừ sáu mươi hai vị thần của mạn đà
la Heruka. Tuy nhiên, dù bạn quán tưởng Heruka hay Vajradhara,
hãy ghi nhớ rằng, thực tế vị Thầy của bạn đang xuất
hiện trong hình ảnh đó, và vị Thần mà bạn quán tưởng
là đối tượng quy y chính, là hoàn toàn nhập một với vị
Thầy của bạn. Do đó, Heruka (hay Vajradhara) là Phật, các daka
và dakini và các Tăng trong ba thừa là Tăng đoàn, và Trí huệ
của họ là Pháp.
Một
lợi ích của phép quán tưởng Heruka trong tư thế đứng là
phép này sẽ gia hộ cho hệ thần kinh của bạn, làm hoạt
động năng lực kundalini trong đó. Điều này giúp cho sự thực
hành “maha-anuttara yoga tantra.”
Những
quán tưởng không phải là đối tượng của nhãn thức. Bạn
không thể thấy chúng, bằng cách nhìn chăm chăm đằng trước.
Thân thiêng liêng của Heruka là một sự biểu lộ của Trí
huệ siêu việt thiêng liêng của Ngài, Trí huệ này chuyển
hóa thành thân thiêng liêng và xuất hiện ngay tức thời ở
không gian trước mắt bạn. Bởi vì phép quán tưởng này là
một phép quán tưởng của và là một với tâm toàn trí phúc
lạc, đó là bản tánh của thức. Chúng ta không thể thấy
Trí huệ siêu phàm thiêng liêng này nhờ vào mắt hay các giác
quan của thân thể. Do vậy, để tiếp thông được với chúng
ta nên năng lực của Trí huệ vô thượng đã ứng hiện trong
một hình thể thiêng liêng thanh tịnh trong bản chất ánh sáng.
Hình thể đó cũng không xuất hiện một cách từ từ, nhưng
như một sự bất ngờ của một phim ngay lập tức chiếu trên
màn hình, hay như một người bất chợt xuất hiện ở trước
cửa. Thông qua những phép quán tưởng như thế này chúng ta
có thể dễ dàng bắt liên lạc, thông tin được với Pháp
thân.
Sau
khi bạn đã quy y, chư Phật và chư Tăng trong ba thừa – các
vị Thánh tăng, chư Bồ tát với gương mặt hiền hay dữ,
các hộ pháp như Mahakala và Kalarupa và vân vân... tất cả
tan biến thành ánh sáng và nhập một vào trong vị thần chính
(principal deity) của bạn là ngài Heruka. Vajra Varahi cũng trở
thành ánh sáng và nhập vào Heruka. Cuối cùng, Heruka tự biến
thành ánh sáng rồi biến vào trong tim của Ngài. Quả cầu
ánh sáng này đi đến đỉnh đầu của bạn, nhập vào bạn
xuyên qua đường kinh mạch trung ương, đi qua luân xa cổ họng
để tan vào trong luân xa tim của bạn. Bạn hoàn toàn nhập
làm một với ánh sáng này, ánh sáng đó về bản chất chính
là Heruka và vị thầy của bạn. Hãy giữ trạng thái tập
trung trên ánh sáng đó càng lâu càng tốt, không cho phép những
ý nghĩ “nhị nguyên” như “cái này” và “cái kia” nó
quấy nhiễu bạn.
Với
sự thực hành, bạn có thể có khả năng an trụ trong sự
“nhập một không phân biệt” (non-dual oneness) trong nửa giờ
đồng hồ. Khi một số vọng tưởng nổi lên, bạn hãy thôi
thiền định và phát Bồ đề tâm : “Tôi phải trở thành
Heruka để dẫn dắt chúng sanh hữu tình đến trạng thái vô
thượng của bản tánh Heruka.”
Ba
phương pháp quy y
Có
ba phương pháp quy y : bên ngoài, bên trong, và bí mật. Đa số
người ta cho rằng thừa kinh điển tức là “Parami-tayana,”
thì phương pháp quy y là phương pháp duy nhất. Đó là cái
chúng tôi gọi là quy y bên ngoài và thường là phương pháp
được đưa ra khi giáo pháp được giảng dạy. Trong cách quy
y bên ngoài, đức Phật mà chúng ta quy y là một người khác
với chúng ta : đó là một người đã đạt được Phật tánh,
một đấng giác ngộ như Đức Thích Ca Mâu Ni. Theo hệ thống
này thì Pháp mà chúng ta quy y là giáo pháp đấng Giác ngộ
đã dạy. Tăng đoàn bên ngoài bao gồm các môn đệ đã thọ
giới hay đã chứng ngộ giáo pháp, như tôi đã giải thích
trước đây. Với sự nhận thức rằng chư Phật, Pháp, Tăng
đã hiện diện rồi, có oai lực dẫn dắt chúng ta, và với
những nỗi lo sợ về những khổ đau của kiếp luân hồi
sanh tử, nên chúng ta quy y vào Tam Bảo.
Hai
phương pháp quy y khác thuộc về yoga Kim Cương thừa. Quy y
bên trong là quy y với vị Phật mà tự bản thân bạn sẽ
trở thành vị Phật đó. Trí huệ của vị Phật tương lai
của chính bạn là đối tượng của quy y Pháp bên trong. Và
khi bạn đạt được trạng thái này, tự bạn trở thành Tăng
đoàn, đó là đối tượng để quy y Tăng bên trong. Ở giai
đoạn này bạn không chỉ trở thành Tăng đoàn mà bạn còn
đạt được sự hợp nhất với tất cả Tam Bảo quy y và
không cần phải quy y nữa với một cái gì khác lìa ngoài
chính bạn.
Khi
bạn quy y bên trong, tâm bạn trở thành Trí Huệ toàn trí siêu
việt, tâm Trí Huệ này biến hóa thành thể thiêng liêng của
ngài Heruka (hay Vajradhara) đang ở cùng với các daka và dakini,
các Bồ tát có gương mặt an lạc hay hung dữ, và vân vân,
và bạn quy y với thể đó. Để làm được điều này, tối
thiểu bạn cần phải có được một sự hiểu biết sâu sắc
bằng trí huệ những ý niệm và phóng chiếu hư vọng về
cái “tôi” (ngã) của bạn để sao cho bạn có thể bằng
cách nào đó mà tịnh hóa những thứ đó vào thời điểm
quy y. Bạn sẽ thấy điều này rất đỗi khó khăn.
Quy
y bí mật là phương pháp thứ ba. Phương pháp này là khó nhất.
Bạn phải nhận thấy được rằng năng lực của các vị
daka – dakini phúc lạc lan tỏa khắp hệ thần kinh của bạn
thay vì như thường lệ là cái năng lực tầm thường nó làm
bạn mê mẫn dính mắc vào lạc thú giác quan, và bạn quy y
với năng lực đó. Ở đây, bạn đang sử dụng nguồn năng
lực của hệ thần kinh của bạn để phát sinh ra đại lạc
bẩm sinh đồng thời, bạn hợp nhất nó với trí huệ bất
nhị, dùng nó như con đường phúc lạc đưa tới giải thoát.
Kinh nghiệm này thực sự là cái giải thoát cho bạn khỏi
những bất toại nguyện và ý tưởng nhị nguyên. Đa số người
ta không nhận biết được năng lực phúc lạc này, vốn có
sẵn trong họ. Nhưng với những cách thực hành như phương
pháp yoga này hay cách thiền định “tum-mo” chẳng hạn khi
họ tạo ra được tình huống đúng họ sẽ có thể thể nghiệm
được sự xuất hiện ồ ạt cái năng lực phúc lạc đó
mà trước đó họ không bao giờ nghĩ là có thể được như
vậy.(2) Mới đây, tôi có nghe rằng một số người đã thực
nghiệm được năng lực phúc lạc “không thể tin được”
đó, trong hệ thần kinh trong thời gian ẩn cư cấp tốc với
những viên chu len của tôi.(3)
Ba
phương pháp quy y này hoàn toàn không đối lập với nhau, và
cả ba được đưa ra giảng dạy để các hành giả có thể
tùy ý chọn lựa cách nào thích hợp nhất với mức độ phát
triển tâm linh của mình. Cách quy y bên ngoài dành cho người
có mức tâm linh ít phát triển nhất, còn cách quy y bí mật
dành cho một số ít người phước đức và mức tâm linh cao.
Nếu
bạn hiểu được ý nghĩa thực sự của việc quy y, bạn sẽ
biết được việc quy y có một hiệu quả tích cực như thế
nào trong tâm bạn, và bạn sẽ hưởng được lợi ích lớn
lao. Bạn sẽ thực sự thích thú việc quy y, và mỗi khi quy
y, một năng lực rất tinh khiết ở trong sâu thẳm của tâm
bạn đang phát sanh. Nếu bạn không biết cách quy y cho thích
hợp thì bất kể cách thiền định nào mà bạn tu tập cũng
sẽ giống như tuyết trên đường, khi từ trời rơi xuống
trông rất có ấn tượng, nhưng nó sẽ nhanh chóng tan ra ngay
mất. Cũng giống như thế, thiền định của bạn sẽ không
có hiệu quả sau đó. Với một sự thấu biết sâu sắc về
việc quy y bạn sẽ bắt đầu thưởng thức vị mật ngọt
của trí huệ Phật.
3
QUY
Y BÊN TRONG VÀ
THIỀN
ĐỊNH VỀ TÁNH KHÔNG
Sự
thấu hiểu về tánh Không
Tại
sao Kim Cương thừa nhấn mạnh rằng việc thực hành về quy
y bên trong thì rất khó khăn ? Bởi vì việc này chủ yếu
được thực hiện bằng tâm. Khởi đầu, việc quy y phải
được làm từ tâm mình. Đó không phải là một cái gì đó
có vẻ hình thức, hời hợt và bạn chỉ việc lập đi lập
lại một vài lời kinh trong khi tâm của bạn chẳng hề lay
động. Một số người quy y như thể là một tập tục xã
hội. Họ ngâm nga : “Namô guru, namô Phật, namô Pháp, namô
Tăng” mà không có sự hiểu biết nào về sự thực hành
hay ý nghĩa của lời kinh và cũng không có sự thay đổi nào
ở trong tâm. Những người khác thì ngâm nga từng đó lời
trong câu “Namô guru...” chỉ vì họ đang đứng bên cạnh
những người đang đọc câu quy y. Đó không phải là việc
quy y. Như vậy hóa ra việc tu tập để được giải thoát
chẳng có gì khác hơn là đi ăn điểm tâm mỗi buổi sáng
hay đi lễ vào mỗi chủ nhật như là một thói quen hay sự
bắt buộc của phong tục đã in sâu rồi.
Như
tôi đã nhắc nhở trước đây, khi chúng ta quy y bên trong,
tâm của chúng ta phải trở thành Trí huệ Đại Lạc Vô Thượng
và chuyển hóa thành sắc thân thiêng liêng của Heruka. Rồi
thì chúng ta mới quy y. Đừng có tìm kiếm đối tượng quy
y bên ngoài. Tôi biết các bạn sẽ nghĩ rằng phải là một
cái gì đó ở đằng trước mặt. Đó chính là suy nghĩ nhị
nguyên. “Tôi” đang đọc lời quy y. “Anh” đang ngồi ở
“đây,” hay đang một việc gì đó ở “kia.” Tâm nhị
nguyên của bạn lập tức phân biệt, chia cách “năng,” “sở”
(chủ thể, khách thể). Ngay lúc bạn nghĩ rằng bạn đang làm
một cái gì đó, tức là bạn, một cách tự động, nghĩ đến
các hành vi bên ngoài. Điều này xảy ra bởi vì bạn có rất
nhiều tập nghiệp nhị nguyên in trong tâm bạn.
Trở
lại vấn đề, khi bạn quy y bên trong, tự tâm bạn trở thành
Đại Trí huệ phúc lạc siêu việt. Và trong khi bạn phát sanh
lòng tin vô biên và lời nguyện dâng hiến đến Trí huệ đó,
thì đồng thời nó chuyển hóa và hiện ra trước bạn như
là Heruka. Hoàn toàn cảm thấy là một với Heruka, bạn phát
tâm quy y. Phương pháp tâm lý này lợi lạc vô cùng, có thể
khó hiểu, nhưng bạn phải nên tập thử.
Để
có khả năng hiểu được phương pháp quy y này, chúng ta phải
hiểu tánh Không. Nếu chúng ta không hiểu được tánh Không
thì sự chuyển hóa tâm ta thành Đại Trí huệ phúc lạc, siêu
việt, vĩnh cửu, sẽ trở nên một ý niệm lý trí khô khan
thay vì một kinh nghiệm bên trong đầy năng lực. Nếu chúng
ta có được sự thấu hiểu đúng đắn về bản tánh tuyệt
đối – nếu kinh nghiệm tánh Không đã “chạm” đến tâm
ta – thì khá dễ dàng để tâm ta trở thành Đại Trí huệ
siêu việt, và biến hóa thành ra Heruka và để chúng ta cảm
thấy là một với Trí huệ này. Theo cách này, tâm ta hòa lẫn
với năng lực Heruka phúc lạc siêu việt thay vì sự sân hận,
ham muốn dính mắc.
Nếu
tâm bạn thực sự hòa lẫn được với năng lực đại lạc
siêu việt của Trí huệ thiêng liêng, bạn sẽ không cần phải
đọc lời kinh như người đọc kinh quy y : “Namô guru…”
Lời nói không phải là sự quy y. Tất cả đều giống nhau,
người sơ cơ rất cần lời kinh như phương pháp bắt liên
lạc, lời kinh tất có ý nghĩa của nó. Nhưng nếu bạn có
được sự chứng ngộ về một cảm biết phúc lạc thường
hằng của cái Một (nhất thể) thì bạn không cần phải đọc
lời kinh quy y. Và bạn thường trực quy y cho dù bạn đang
đi đâu, đang làm cái gì. Nhờ vào lòng tin chân thật thường
hằng của bạn, hiện thể sâu xa nhất của bạn chính là
bản tánh của sự quy y. Bạn biết rằng Trí huệ siêu việt
phúc lạc vĩnh cửu là trong sạch nhất, thâm mật nhất. Bất
cứ khi nào bạn ăn, bạn uống, tâm bạn là một với năng
lực phúc lạc của Heruka, như vậy bạn luôn đang quy y. Quy
y không có nghĩa là ngồi thiền định kiết già. Do đó, bạn
liên tục tiến bộ trên đường tu hành bất kể bạn đang
làm gì, và theo cách này, bạn có thể nhanh chóng đạt đến
giác ngộ.
Sự
chứng ngộ tánh Không có đặc tính là sự hoan hỷ thường
hằng. Trong khi những niềm vui sướng của vòng luân hồi sanh
tử thì ngược lại, có đặc tính tạm bợ và đau khổ, bây
giờ đang có, chốc nữa sẽ mất. Vì chúng bất ngờ biến
mất nên chúng gây đau khổ cho chúng ta. Nếu chúng ta không
bị dính mắc những vui sướng của vòng luân hồi chúng ta
sẽ không bị đau khổ khi chúng không còn. Nếu chúng ta không
có sự hiểu thấu trọn vẹn về tánh Không thông qua sự chứng
ngộ, thì ít nhất chúng ta cũng nên có sự hiểu biết khái
niệm về nó để giúp vượt qua được quan điểm sai lầm
về cách sống của chúng ta, chính cách sống đã lưu dấu
ấn sâu đậm trên ý thức của ta. Ý tưởng bình thường,
tương đối mà chúng ta có về chính mình thì rất vật chất
vật chất. Tôi nghĩ “Tôi là Thubten Yeshe” là trong tâm tôi
có hình ảnh rõ nét về một cái đầu, những cánh tay, chân
và cùng với các giác quan luôn muốn được thấy, nghe, ngửi,
nếm, sờ mó. Và trong khi bạn tự thấy mình như vậy, bạn
không thể nào hòa lẫn được ý thức của bạn với Trí
huệ siêu việt phúc lạc vĩnh viễn. Sự thấu hiểu tánh Không
tự động làm cho hình ảnh tương đối, bình thường đó
biến mất.
Nếu
bạn thông minh nhạy bén thì việc hiểu biết tánh Không không
khó lắm. Bạn không cần phải học vô số những triết học
phức tạp hay nghiên cứu rất nhiều kinh điển dưới sự
dẫn dắt của nhiều lama. Dĩ nhiên bạn có thể học từ các
thầy và kinh sách nhưng nếu bạn thiện xảo, bạn có thể
học thông qua một phương pháp rất đơn giản : đừng tin
vào những gì mà giác quan đưa đến cho bạn. Cũng không cần
thiết phải nghiên cứu xa rộng về cái gì đã ngăn chận
bạn không thấy được tánh Không. Chỉ việc đơn giản nhận
ra rằng cái cách mà bạn quan sát và nhận biết được thế
giới thông qua các giác quan trong từng ngày của cuộc sống
là hoàn toàn sai lầm, và rằng đó là cái phóng chiếu sai
lệch của cái “ngã” của bạn. Ngay khi bạn nhận ra được
điều này lập tức cái “nhìn-bị-lừa-dối-của-bạn”
biến mất. Một lý do mà phương pháp yoga rất hiệu quả là
vì nó cho phép bạn thấy được rất nhanh chóng bằng cách
nào các phóng chiếu của cái ngã là sai và như vậy bạn hoàn
toàn vượt xuyên qua chúng.
Chúng
ta thường cảm thấy không an. Trên đường đi đến một người
nào chúng ta nghĩ “có lẽ bà ấy, ông ấy sẽ không thích
mình” hay “có lẽ bà ấy không thích cách mình nói chuyện”
và đại loại những chuyện như vậy. Tất cả những suy nghĩ
không an như vậy bắt nguồn từ những quan niệm và diễn
dịch sai lệch. Ngay khi chúng ta nhận ra rằng mọi thứ đã
được “sơn phết” bởi tâm vô minh của chúng ta, rằng
những quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc huyễn hóa của chúng ta
là không thật ngay cả một cách tương đối, hãy tuyệt đối
tách lìa một mình chúng ta sẽ chấm dứt được ngay cảm
giác không an đó. Thậm chí có ai đó thóa mạ lăng nhục ta,
gọi ta là kẻ ăn cắp hay gì gì đi nữa chúng ta cũng sẽ
kiềm chế được và không bị tổn thương. Đây chính là
những lợi ích thực dụng của loại hiểu biết (về tánh
Không) này.
Chúng
ta sống trong thế giới cảm giác, tin rằng những vọng tưởng,
những phóng chiếu của tâm vô minh của chúng ta là có thật,
là đúng. Và chúng ta cho rằng hễ thấy là tin được. “Tôi
đã thấy như vậy, nên nó phải có thật.” Một số người
tin tưởng một cách tha thiết rằng triết thuyết của họ
là một hệ thống lý tưởng cho cộng đồng xã hội của
họ. Xã hội hay tư bản cả hai đều sai lầm, cả hai đều
là ảo tưởng. Nếu chúng ta tiếp tục như vậy chúng ta sẽ
không bao giờ khám phá ra tánh Không vì nó luôn luôn ở nơi
khác. Nhưng khi chúng ta nhận ra rằng quan niệm cái nhìn của
chúng ta về thế giới này là một ảo tưởng, rằng cái nhìn
thực tại đang bị che mờ bởi một màn vô minh nặng nề
thì cái nhìn sai biến mất ngay và chúng ta được ở lại
với phía đối diện của nó tức là cái nhìn đúng về tánh
Không. Ngay giây phút chúng ta quét sạch tâm nhị nguyên, chúng
ta đang thể nghiệm được tánh Không.
Do
dó bạn có thể nghiên cứu tánh Không mỗi ngày bởi vì mỗi
ngày sự chấp trước, tham luyến rất nặng nề của năm giác
quan của bạn đối với thế giới cảm giác này đã khiến
bạn tin rằng cái gì bạn thấy biết thì thực có y như nó
hiện diện. Nếu bạn tiếp tục thẩm tra các nhận thức,
lòng tin của bạn, như vậy không có thời gian nào mà bạn
không nghiên cứu tánh Không. Đôi khi sách vở và các triết
thuyết có thể là một trở ngại hơn là một trợ lực trong
việc bạn hiểu biết tánh Không, bởi vì nếu bạn không biết
cách nào để kết hợp lời, chữ với kinh nghiệm thì chính
những chữ, những lý thuyết đó sẽ gây nên một “chiến
trường” trong tâm bạn. Nhưng nếu bạn biết cách kết hợp,
thì sau đó chỉ một chữ, một lời thôi cũng trở thành một
sự giảng dạy lớn lao cho bạn.
Những
ai cho rằng để hiểu biết tánh Không, ta cần phải nghiên
cứu rất nhiều kinh điển và ghi nhớ hàng vạn chữ nghĩa
của kinh sách, thì những người đó rất có khả năng bị
thối chí. Họ cảm thấy rằng không có hy vọng trong việc
cố gắng thấu hiểu tánh Không trong một đời người của
họ. Nhưng bạn có thể dễ dàng thấu hiểu tánh Không bằng
cách nhận ra rằng cái nhìn, cái quan niệm của tâm vô minh
của bạn về bất kỳ đối tượng gì đều hoàn toàn huyễn
hóa, không có thật ngay cả một cách tương đối, dù cho trong
vô số kiếp sống, cái tâm chấp ngã và tâm “ôm chặt cái
ngã” của bạn đã từng khiến xui bạn tin rằng “cái này
là đích thực cái này,” “cái kia là đích thực cái kia,”
và do vậy đã làm cho bạn đau khổ vô cùng. Chừng nào tâm
bạn vẫn còn vô minh, mê lầm thì bạn vẫn còn thấy biết
đối tượng một cách nhị nguyên. Và bất kỳ đối tượng
nào được thấy biết theo cách này thật ra không hiện diện.
Tuy
nhiên, bạn không thể nói rằng không có gì hiện diện cả.
“Lỗ mũi của tôi, cái lưỡi của tôi, cái miệng của tôi
– không có cái gì của tôi hiện diện cả.” Làm sao bạn
có thể nói rằng không có ánh sáng, không có cái bàn ? Lối
phủ định bằng lý trí này hoàn toàn sai lầm. Tốt hơn, nên
thẩm tra xem cái thấy của bạn về cái bàn có thực hay không
? Bạn sẽ thấy được rằng chắc chắn cái nhìn đó không
đúng. Hãy kiểm tra những cái thấy của bạn về bất cứ
cái gì – bạn sẽ thấy được rằng không có bất cứ cái
gì hiện hữu y như nó xuất hiện. Bạn luôn nói về những
việc như là : “Nepal giống như thế này,” “Nước Mỹ
giống như thế kia,” “Châu Âu giống như này.” Các bạn
đang nói về những điều không nghĩa lý gì cả. Nước Nepal,
Mỹ, Châu Âu mà các bạn đang bàn tới, nói tới thì không
hiện hữu. Bạn nghĩ rằng : “Ồ ! Khóa thiền học này quá
nặng nề,” hay “Việc ẩn cư này khổ sở thế !” Các
bạn đang sống trong thế giới giấc mộng gồm bởi những
phóng chiếu giấc mộng. Tâm mộng mị của bạn đang làm cho
bạn đau khổ.
Cũng
như vậy, điều nhận xét này không có nghĩa rằng bạn có
thể phủ nhận sự hiện hữu của thế giới giác quan. Điều
phủ nhận này hoàn toàn không hợp lô-gích. Bạn đừng nên
tự mình quan tâm về việc nước Nepal có hiện hữu hay là
không ; công việc của bạn là khám phá xem coi “nước Nepal”
mà tâm của bạn diễn dịch có hiện hữu không. Vấn đề
ở chỗ những nhận thức sai lệch của bạn tạo nên một
cái nhìn về một nước Nepal mà nó không có bất cứ cái
gì y như bản chất chân thật của nước Nepal, thậm chí ở
mức độ tương đối, và rồi bạn bám chặt vào cái “nhìn”
đó. Tâm vô minh của tôi tạo nên một cái nhìn : “Thubten
Yeshe giống như thế này, thế này.” – Cái “thế này này”
không có liên quan gì tới bản chất chân thật của tôi –
và tôi ôm chặt dính mắc với “cái tôi phóng chiếu” không
thực, tự thương lấy mình này. Chúng sanh hữu tình đã phát
triển tâm tham ái qua biết bao nhiêu kiếp vì tin rằng nếu
không có gì để ôm giữ thì họ sẽ tiêu tan mất, thì họ
thực sự tiêu mất. Chẳng hạn, trong khi cái chết đang đến,
người ta quá hoảng sợ kinh hãi vì họ cảm thấy họ đang
mất tất cả.
Để
chứng ngộ được cái nhìn đúng, tức tánh Không, trước
hết bạn phải tìm kiếm, khám phá ra nó ngay trong tâm bạn.
Nếu
bạn khởi sự tìm kiếm bản tánh rốt ráo ở các hình tướng
bên ngoài, như cây cối, bàn ghế, và những người khác, bạn
sẽ không bao giờ tìm thấy được nó. Theo kinh nghiệm của
các vị Đại Tôn giả Ấn Độ và đại lama Tây Tạng, tánh
Không không bao giờ được tìm thấy theo kiểu như vậy.
Theo
bản năng, chúng sanh trong luân hồi rất hướng ngoại. Chúng
ta luôn nghĩ rằng chúng ta có thể thấu hiểu sự thật bằng
cách trông theo những người khác đang làm. Chúng ta cố gắng
đánh giá sự tinh tấn của riêng mình bằng cách kiểm tra
những người lân cận. Họ có những gì ? Làm sao họ có được
những thứ đó ? Phương pháp này tự nó vô phương tìm thấy
được sự thật. Nếu bạn có thái độ như vậy, bạn sẽ
không bao giờ tìm thấy được tánh Không cho dù bạn nỗ lực
suốt cả đời bạn.
Để
khám phá bản chất nội tại của chúng ta, để có được
sự chứng ngộ tánh Không, chúng ta phải bắt đầu bằng sự
tìm kiếm bản chất tuyệt đối của tâm riêng của mình.
Khi chúng ta đã khám phá được sự thật ở trong đó thì
sự khám phá sự thật của các hiện tượng bên ngoài sẽ
dễ dàng hơn. Phương tiện chủ chốt để chứng ngộ tánh
Không không phải thông qua các sự rèn luyện trí óc như nghiên
cứu lời giảng của các vị thầy khác hay tham dự vào các
buổi tranh luận giáo lý. Nếu chỉ riêng các phương pháp như
vậy mà thôi, chúng ta không thể khám phá tánh Không. Chúng
ta phải thẩm tra cái tâm riêng của mình để xác định những
quan điểm nhận thức sai lệch của mình và thực hành các
phương pháp tịnh hóa.
Tại
sao chúng ta chưa khám phá được bản tánh rốt ráo – tánh
Không, nó nằm trong tâm ta, cho dù chúng ta có thể đã nghiên
cứu rất nhiều năm ? Bởi vì sự rung động của những nhiễm
ô bất tịnh của tâm đã ngăn cản không cho chúng ta khám
phá tánh Không. Do đó để cho Trí huệ tánh Không xuất hiện
phát triển trong ta, thì điều quan trọng là trong khi chúng
ta nghiên cứu những giáo lý về tánh Không và thẩm tra tâm
mình, chúng ta phải làm sạch những nhiễm ô bất thiện cản
trở, thông qua các phương pháp tịnh hóa, như lạy Phật sám
hối và phương pháp yoga Vajrasattva. Nói cách khác, để có
được tiến bộ trong việc thấu hiểu tánh Không để mà
chứng ngộ tánh Không trọn vẹn, chúng ta phải làm hai việc
: phát triển sự hiểu biết bằng lý trí về tánh Không và
tịnh hóa những chướng ngại tâm thức bao gồm những nhận
thức, quan điểm sai lệch mà chúng ta đã khám phá thông qua
việc thẩm tra phân tích tâm của mình. Sức mạnh của biện
pháp kết hợp này sẽ giúp cho chúng ta chứng ngộ tánh Không
được dễ dàng hơn nhiều.
Có
một lần vị Thầy Tây Tạng vĩ đại, Lama Tsong Khapa đang
nghiên cứu và phân tích tánh Không dựa theo giáo lý của phái
Madhyamaka (Trung Đạo) thì ngài Văn Thù Bồ tát xuất hiện
trước mặt và nói với vị Lama rằng : “Đến điểm này,
không ai trên thế gian này có thể dạy ông về tánh Không.”
Do đó, Lama Tsong Khapa đã đi đến một nơi xa vắng, thực
hành sự tịnh hóa mãnh liệt, và thiền định, và với phương
pháp này cuối cùng ngài nhận được sự thấu biết tánh
Không một cách không ý niệm, trực tiếp, ứng hợp với tri
kiến của thuyết Trung Đạo của ngài Long Thọ. Do đó phương
pháp yoga Heruka Vajrasattva không chỉ đơn thuần cho việc tịnh
hóa các tâm bất thiện mà cũng còn là phương pháp khả thi
để nhanh chóng khám phá bản tánh rốt ráo, tức tánh Không
trong tâm bạn thông qua sự hủy diệt mãnh liệt các tà kiến.
Từ
sự giải thích về cách quy y bên trong chúng ta đã có cuộc
thảo luận nhiều về tánh Không. Để cho quy y bên trong đạt
mong muốn, chúng ta phải thấu hiểu tánh Không và tịnh hóa
những cái nhìn sai lệch của chính mình do cái ngã của chúng
ta phóng chiếu. Ngay lúc chúng ta khởi ý niệm : “Tôi như
thế này, thế này, sinh ra ở đó, đã trưởng thành như thế
này…” thì lúc đó phiền não đã khởi sự. Các phóng chiếu
của cái ngã của ta là nguồn bản chất của phiền não. Chẳng
hạn, khi một ai đó được sinh ra trong một gia đình Do Thái,
ông ta đồng hóa với dòng giống Do Thái và các vấn đề
lịch sử hàng ngàn năm liền đến cho ông ta. Cho nên sẽ tự
động có các vấn đề như vậy chừng nào vẫn còn có cái
ngã.
Tâm
lý học của Đức Phật có phẩm chất tuyệt vời ở chỗ
n