Quá
trình tu học của mỗi người chúng ta trải qua năm giai đoạn
là định vị, dấn thân, liễu tri tâm, thanh tịnh và hằng
hữu. Do chuyên cần dụng công mà người học Phật đạt
được sự bình an ngay trong cuộc sống này.
I.
ĐỊNH VỊ
Khi
học Phật, ta nên hiểu rõ pháp môn mình chọn để có một
hướng đi chính xác và không tốn công lao và thời giờ.
Điểm chính trong thời giảng này là về pháp môn niệm Phật.
Cái khó cho người học Phật là giữ được tín tâm và tinh
tấn trên một đoạn đường dài như trong câu “đường dài
thì mới biết ngựa hay”. Quan điểm trình bày trong thời
giảng này sẽ giúp cho Phật tử tại gia và xuất gia có một
cái nhận thức chính xác về phương pháp của mình trước
khi đi vào thực tập. Nếu như ta có một định vị chính
xác thì dù bước ít hoặc nhiều nhưng mỗi bước sẽ là
chắc chắn và kết quả thì nhiều.
Thường
thì Thầy lấy kinh nghiệm cá nhân và kinh nghiệm tiếp xúc
với nhiều người sau hơn 20 năm giảng pháp để làm đề
tài chia xẻ. Cho nên những bài giảng của Thầy mang tính
cách hiện thực thay vì chỉ đi theo một tông phái nào đó.
Cái hoài bảo là chỉ đi vào con đường học Phật mà thôi
chứ Thầy không tu theo thừa hoặc tông. Nói cao hơn nữa
chúng ta chỉ có y pháp chứ không y nhân, y tánh chứ không
y tướng, y nghĩa chứ không y ngữ. Do đó giáo lý Phật
rất là thậm thâm vi diệu.
Khi
ta muốn theo pháp môn niệm Phật thì ta phải hiểu tại sao
ta tu theo pháp môn đó. Bất cứ con đường nào muốn
đi đến kết quả thì trong Phật học gọi là từ bỏ tự
ngã. Trên phương diện học Phật, người Phật tử phải
nắm rõ lộ trình và biết chỗ đến chứ không chờ đợi,
cầu cạnh và van xin.
1.
Nhận thức về giáo lý
Tất
cả những pháp môn đều nằm trong Phật học
Đạo
có nghĩa là chân lý tuyệt đối, là con đường, là bổn phận.
Vì chưa đến chỗ chân lý tuyệt đối nên chúng ta còn ở
chỗ đạo là con đường. Còn đạo mà ta đã và đang
làm đó là bổn phận. Ta phải phân tích rõ ràng là ta
đang ở vị trí nào, đạo nào. Nếu là đạo của bổn
phận thì bổn phận ta là gì? tỳ kheo, Phật tử xuất gia,
tại gia, cha, mẹ, con, cháu, v…v…và phải tu như thế nào?
Nếu ta không định vị con đường của mình thì rất dễ
đi lạc hướng hoặc bị lừa dối.
Tích
môn và bản môn là gì? Tích là di tích, lịch sử, nhân
vật chi phối bởi thời gian, không gian và nơi chốn.
Thí dụ về tích môn: Đức Phật Thích Ca sanh ra đời,
thành đạo và có những đệ tử là nhân vật có thật tại
nước Ấn Độ. Bản là gốc, sự thật, chân lý không
sinh, không diệt, vượt ra ngoài giới hạn của không gian và
thời gian. Thí dụ về bản môn: Khi Phật nói Kinh
thì có tướng hiện ra như là phóng hào quang đến khắp cõi
trời. Hiểu tích môn rồi thì ta đi vào bản môn có nghĩa
là tìm lại cái bản thể Phật tánh của chính mình.
Nếu ta tiếp tục đi tìm tích môn thì ta sẽ không thấy được
bản môn. Nhưng nếu ta rời bản môn thì không có tích
môn. Thí dụ: Nếu như ta không có Đức Phật Thích
Ca thì ta sẽ không có Phật để giới thiệu Đức Phật A
Di Đà. Nếu như rời Đức Phật A Di Đà thì sẽ không
có Đức Phật thành đạo tại Ấn Độ hiệu là Thích Ca.
Tại
sao ta niệm Phật và về Tịnh Độ là ở đâu? Quan trọng
ở đây là do cái tích môn mà ta tìm được bản môn là cái
chân lý, bản thể hay Phật tánh của chính mình. Nếu
ta muốn tìm đức Phật với 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp thì
ta đi vào cái thế giới của ảo hóa, mong cầu và thần tượng.
Tất cả tướng đều phải hư hoại. Nếu ta chỉ có
thấy tích môn thì ta sẽ đánh mất đi cái Phật tánh thường
trụ của mình mà chính cái này là không qua quá trình của
hủy hoại, sanh diệt, khổ đau. Nếu mình niệm Phật
thì mình sẽ trở lại cái bản thể đó chứ không ở cái
tướng bên ngoài.
2.
Định vị của con đường bổn phận, con đường của tu
học và con đường của lý tánh tuyệt đối
Lý
tánh tuyệt đối là chân lý, là bản môn không rời hiện
tượng giới, không rời hiện thực, không rời sinh hoạt hằng
ngày. Muốn nhập vào bản môn thì ta phải qua một quá
trình luận giải rất là lớn chứ không phải chỉ nói bằng
ngôn ngữ thôi.
Đức
Phật của tích môn: Ta biết rằng Phật là người bằng
xương, bằng thịt và cuộc đời của ngài cũng giống như
chúng ta. Thời nay, tông và phái được phân biệt ra nhưng
chỉ làm cho người ta tự tạo cho mình rắc rối và phiền
não hơn trong vấn đề tu học. Cái từ “Phật” không
có khác biệt với từ “Bụt”, cả hai đều từ chữ “Buddha”
của Ấn Độ mà ra. Danh từ “Pháp” (Dharma) và “Tăng”
(Sangha) cũng vậy. Không bị ngôn ngữ ràng buộc thì chúng
ta không bị khổ đau mà nên đi thẳng vào con đường của
nội dung, của giác ngộ và tỉnh thức. Dù gọi là Phật
hay Bụt thì nội dung chính cũng vẫn là giác giả hoặc người
giác ngộ. Đức Phật giác ngộ rằng thế gian là vô
thường, quốc độ là nguy thí, các dục là không thật, ham
muốn là khổ đau. Nói một cách khác đức Phật giác
ngộ sanh, lão, bệnh, tử. Bậc giác giả này khi sinh ra
đã thao thức với những vấn đề như là chúng ta từ đâu
đến, chết thì đi về đâu và làm sao thoát khỏi sinh tử.
Vì đức Phật đã tìm ra câu trả lời nên mới gọi là giác
giả.
Định
vị là cái trước tiên, cái căn bản mà mình phải có để
mình không bị lầm lẫn.
Chúng
ta nhận thức về tâm của mình như thế nào? Thân và
tâm của chúng ta hiện thời là hai cái khác nhau. Ta có
thể tỏ vẻ thư thái như là ngồi thiền nhưng tâm có thật
sự định hay không hay là loạn tưởng? Nếu như ta tu
cốt để cho người khác thấy thì cái đó trở thành giả
tướng. Khi ta không định vị được tâm, không phân
tích được tâm thì ta chẳng thể làm thế nào để dùng tâm
này niệm Phật cho chân chánh để đạt cảnh Tịnh Độ chân
chánh.
Đức
Phật nói rằng: “Ta là Đạo Sư đã chỉ đường và con đường
đó đã bảo chứng cho nên nếu các người tu thì sẽ được
thành tựu.”
Tu
là con đường tìm lại chính mình. Chúng ta phải đặt
những câu hỏi của nhân sinh quan như là tại sao ta có mặt
ở đây? Sinh ra tại chỗ này? Nếu ta muốn tìm vũ trụ
quan (thế giới của Tịnh Độ) thì ta phải đi từ con đường
của nhân sinh quan. Không có nhân sinh quan thì không có
vũ trụ quan. Chính cái sống của chúng ta mới là thật
tại vì ta có thể quyết định được trong khi chết rồi
thì không còn làm gì được, không thật nữa. Chúng ta
phải nhất quyết làm những gì tốt ngay bây giờ để mai
sau được tốt đẹp hơn. Làm thế nào để giải quyết
sinh tử? Chúng ta phải tự thực hành thì mới có thể
thành tựu như đức Phật vậy.
II.
DẤN THẤN
Dấn
thân là chọn một phương thức thích hợp cho vật lý và tâm
lý. Vật lý là cơ thể con người của chúng ta, có những
người có vấn đề bệnh hoạn trong người nên không hợp
với vài pháp môn tu hành. Nếu như tâm lý ta bị xáo
trộn nhiều thì nổ lực tu tập của ta cũng không thể hóa
giải được. Có khi ta cũng muốn tập một phương thức
nào đó để đè nén những trở ngại tâm thức mong lắng
dịu được tâm nhưng sự đè nén chẳng thể hóa giải được
nó thì sẽ không có liễu tri tâm. Liễu tri tâm có nghĩa
là ta phải biết cái tâm một cách rốt ráo.
Khi
dấn thân:
1.
Làm thế nào để nhận thức được cái tâm?
Có
3 trạng thái của tâm thô (tâm thô là nhận thức và xác định
sự vật, hiện tượng của mắt, tai, mũi, lưỡi):
Tâm
lý: Những cảm xúc như là nóng, giận, vui, buồn.
Nụ cười của chư Phật cho thấy cái an lạc của nội tâm
không còn tham đắm, đã lậu tận các lậu hoặc. Nụ
cười của ngài Di Lặc biểu tượng cho sự hoan hỷ do các
pháp lạc bên trong mà ra. Nụ cười của chúng ta là từ
bên ngoài vào nên nó dễ biến dạng và không trường thủ.
Nụ cười mà do bên ngoài đem tới chẳng qua là thỏa mãn
tự ngã cá nhân. Như vậy cái tâm của ta còn ở trong
cái thô.
Tâm
tế: Phần ở bên trong ta không bị trần cảnh lôi cuốn,
nó làm việc, suy nghĩ, dẫn đưa mình ở một góc nào đó
người khác không thể thấy được.
Tâm
vi tế: Xuất hiện trong giấc ngủ say, bất tỉnh hoặc
chết. Khi ta liễu tri tâm thì ta dụng công để niệm
Phật. Ta phải biết ta niệm Phật để cầu cái gì, tại
sao ta niệm Phật và xác định nó thuộc về tâm thô hay tâm
tế.
2.
Làm thế nào để dấn thân?
Chính
đức Phật tự giác ngộ, tự tìm con đường của công phu
và giải thoát không có thầy chỉ dạy. Nếu như mình
muốn thành Phật thì mình cũng có những hoài nghi rất lớn
và tìm cách giải quyết 3 câu hỏi: Tại sao ta sinh ra ở đây?
Làm sao biết được khi chết ta sẽ đi đâu ? Tại sao ta vẫn
còn sinh tử?
Lúc
ban đầu đức Phật cũng đi tìm thầy để giải quyết những
câu hỏi như là chúng ta từ đâu đến, đến để làm gì,
đi về đâu và làm sao giải quyết sinh tử này. Các vị
thầy mà đức Phật tìm đến đều không thể trả lời những
câu hỏi. Yếu tố này cho thấy rằng khi phương pháp
mình theo mà không giải quyết được trọng tâm mình thì bỏ
phương pháp đó. Cũng vậy, khi mình áp dụng phương pháp
mà không thấy hợp với vật lý và tâm lý của mình thì phải
tìm cách thay đổi và điều chỉnh.
Sau
đó, đức Phật thấy là phải thanh lọc tâm, phải tập trung
để diệt bỏ lòng ham muốn, sự mong chờ nên ngài chọn con
đường khổ hạnh sáu năm dài. Khổ hạnh đó chỉ đem
đến thân xác gầy mòn, sức lực kiệt quệ chứ vẫn chưa
giải quyết được sinh tử. Ngài nuôi dưỡng thân lại
và đến dưới cây Bồ Đề để thiền định và đã giác
ngộ tại đó sau 49 ngày.
Đức
Phật của tích môn và bản môn chỉ là một. Sau 49 ngày,
Phật tỉnh lặng tâm thức và mở ra con đường của tuệ
giác. Sau khi thiền định ngài đã chứng phần thứ nhất
của tuệ giác là túc mạng minh ( thấy được quá khứ) cho
nên câu hỏi đầu tiên “con người từ đâu đến” đã
được trả lời. Vì lý do này bài thuyết pháp đầu
tiên là tứ diệu đế. Chính cái hiện tại là vai trò
của tương lai. Phật tiếp tục mở khai tuệ giác và
chứng thiên nhãn minh cho nên ngài trả lời được sau khi chết
mình đi về đâu.
Chúng
ta cũng có thể thực hành quán chiếu giống như Phật vậy.
Trong hiện tại ta nên sống và hành động một cách hoàn hảo
thì trong tương lai quả hưởng cũng sẽ hoàn hảo như vậy.
Nhìn vào cái nổ lực công phu của chúng ta hôm nay thì ta sẽ
trả lời được là ta sẽ đi về đâu sau khi rời bỏ cuộc
đời này. Không những ta thấy được hành nghiệp của
chính mình mà còn có thể thấy hành nghiệp của người khác.
Nhìn vào những hiện trạng trả nghiệp của người khác ta
sẽ nhận thức cái tiến trình của nghiệp báo. Đức
Phật nói: “Ta đã thấy quá trình sanh và tử của chúng sanh
và biết được rằng khi chết ta sẽ đi về đâu.”
Chúng
ta phải có trách nhiệm với chính ta trong cái dấn thân trên
con đường giác ngộ để biết rằng khi chết ta sẽ đi về
đâu. Không ai có thể giải quyết cho ta vấn đề này.
Đức Phật nói: “Chúng ta quyết định được nghiệp của
mình. Chính ta gieo nhân và chính ta hái quả thì nhìn trên
nhân quả đó thì sẽ biết được ta đi về đâu.”
3.
Làm thế nào để giải thoát sinh tử?
Có
nghĩa là ta giải quyết con đường đến và đi.
Đức
Phật thành tựu lậu tận minh (tận là hết, lậu là phiền
não vi tế trong tâm ta). Lý do của những lậu này là
chấp thủ bản ngã. Đức Phật nhìn rõ nguyên nhân của
khởi sinh, con đường thành tựu và phương cách diệt ngã.
Đây là nguyên nhân của hữu và khi có hữu thì phải có sinh,
lão, bệnh, tử là nguyên nhân của khổ đau. Với trí
tuệ đó Phật đã thanh lọc tâm và thắng được thân tâm
mình. Ngài nói rằng: “Chiến thắng vạn quân không bằng
chiến thắng mình.” Khi đạt lậu tận minh thì ngài
đã hoàn toàn thanh tẩy được tâm và tuyên bố: “Ta đã
thành Phật.” Đức Phật đã trả lời ba câu hỏi:
tại sao ta có mặt ở đời? tại sao ta không biết đi về
đâu sau khi chết? tại sao ta vẫn còn sinh tử? Sự giải
quyết này chỉ có tự mình giải quyết quá khứ, hiện tại
và vị lai. Cái quyết định sinh tử của chúng ta là
do 6 căn tiếp xúc với 6 trần và ra 6 thức. Cho nên ta
phải làm thế nào để 6 căn không chi phối bởi 6 trần tạo
thành 6 thức. Khi niệm Phật ta phải chánh tâm niệm từ
thô đến tế để đi vào bản môn là Phật tánh của ta.
Như vậy thì tâm ta phải hoàn toàn trống chứ không hay chấp
thủ và bỏ như chúng ta thường làm. Đức Phật hỏi:
“Không phải người ta không thoát được sinh tử mà là người
ta có muốn thoát sinh tử hay không?”. Với 6 căn, 6 trần
và 6 thức ta nâng lên một giá trị ảo và cũng vậy với
tên gọi của pháp môn này, pháp môn kia. Con đường tu
tập khác biệt mà ta nâng lên một giá trị ảo thay vì nhận
thức rõ ràng rằng giá trị của Phật là thật. Giá
trị ảo là tại vì chúng ta muốn biết đến một thế giới
mà ta không hề rõ, không thông suốt được, không đem tới
hạnh phúc cho đời sống hiện tại của mình.
III.
LIỄU TRI TÂM
Khi
ta dấn thân mà không rõ con đường, phương cách mà ta chọn
thì ta dễ rơi vào giá trị ảo của một lối sống, con đường
hay pháp môn và ta tưởng rằng ta đi đúng đường nhưng nó
chỉ có tác dụng theo thời gian cho đến một lúc nào đó
nó hết giá trị hoặc tác dụng của nó thì ta rơi lại vào
trạng thái của khổ đau. Khi dấn thân thì ta phải thêm
cái quên đi tự ngã để tránh rơi vào con đường của tham
chất.
Làm
thế nào để chúng ta liễu tri tâm?
Nếu
ta dụng tâm sai lầm thì cái niệm Phật của ta cũng rơi vào
sai lầm.
Liễu
là biết rốt ráo như liễu đạo thì biết cả hình thức
lẫn nội dung. Danh từ “liễu đạo” cũng dùng để
chỉ cho người tu sĩ đã qua đời rồi.
“Tri
nhân, tri diện, bất tri tâm” có nghĩa là thấy bên ngoài
của một người như vậy nhưng thật sự không phải vậy
vì cái tâm thì chẳng thể biết được hoặc thấy được.
Theo
chữ nho thì chữ niệm gồm có dấu “kim” và “tâm” hợp
lại thành chữ niệm cho nên khi niệm là chỉ cho cái tâm của
hiện tại. Vì vậy khi niệm Phật thì Phật phải ở
trong tâm nếu không thì là niệm ma.
Liễu
tri tâm là biết tâm một cách hoàn toàn rốt ráo. Tuy
nhiên trên đời này có giá trị ảo thì cũng có giá trị
thật. Chúng ta sợ những cái giả nhưng chính chúng ta
lại cũng giả cho nên ta phải tự tỉnh thức để đi tìm
cái thật của liễu tri tâm.
Đức
Phật giới thiệu cảnh giới Tịnh Độ là vì phương tiện
mà nói. Phương tiện đây là cứu cánh, không có phương
tiện thì không có cứu cánh. Nếu ta nổ lực hoàn toàn,
dụng công đúng và chính xác thì phương tiện là cứu cánh.
Trong thế giới của phương tiện chúng ta liễu tri toàn bộ
và tu tập chính xác thì ta sẽ biến nó thành thật tướng.
Sau
đây là ngữ lục của Thiền Sư Triệt Ngộ (cũng là Mộng
Đông Thiền Sư):
“Tất
cả các pháp môn đều lấy sự sáng cái tâm làm chủ yếu
[phần định vị]. Tất cả các hạnh môn đều lấy sự
tịnh cái tâm làm trọng điểm [phần dấn thân].”
Chú
giải: Môn là cửa. Bất cứ tu cách gì đi nữa thì
tịnh tâm là quan trọng. Trong pháp môn Tịnh Độ gọi
là “nhất tâm bất loạn”, trong thiền đạt chánh định
có nghĩa là thân và tâm là một.
“Thế
nhưng yếu điểm để làm sáng cái tâm thì khôngcó gì bằng
niệm Phật. Hễ nhớ Phật, niệm Phật thì hiện giờ
và tương lai nhất định thấy Phật. Không nương vào
phương tiện mà tự tâm được khai ngộ thì như vậy niệm
Phật không phải là yếu điểm làm sáng cái tâm ư? Thứ
nhất ta niệm Phật để làm sáng cái tâm [khai ngộ] và yếu
điểm để tịnh tâm không có gì bằng niệm Phật. Mỗi
niệm tương ưng với một niệm Phật, niệm niệm tương ưng
với niệm niệm Phật như dùng ngọc thanh châu bỏ vào nước
đục thì nước đục không thể không trong. Phật hiệu
đánh vào tâm loạn không thể là không Phật. Như thế
thì niệm Phật không phải là cốt yếu để tịnh tâm hay
sao?”
Chú
giải: Đây là phương thức ngài Triệt Ngộ chỉ cho ta
cách liễu tri tâm. Trong cách hành trì và tu tập thì ta
có hai con đường: (1) Làm cho tâm mình sáng đừng bị mê thì
ta nhận thức giá trị thật và không bị rơi vào giá trị
ảo. Khi niệm Phật ta đem Phật vào trong lòng mà Phật
là giác ngộ, tỉnh thức và tỉnh thức luôn cả 3 vấn đề
của “chúng ta từ đâu đến”, “đến để làm gì và khi
chết ta đi về đâu” và “cái gì làm cho ta chịu sinh tử”.
Tỉnh thức này thay vào chỗ tâm mê muội của chúng ta.
(2) Tịnh tâm để tâm ta không bị loạn không chạy theo các
ngoại cảnh do đó mình không bị cuốn vào dòng tham ái.
Trọng điểm của niệm Phật là tịnh cái tâm bởi vì tâm
ta thường loạn động mà ta không hay biết cho đến khi ngồi
lại thì mới thấy là tâm loạn. Nhưng khi trong ta chất
chứa quá nhiều, loạn động quá nhiều thì Phật chẳng thể
nào vào. Khi tâm tịnh (không rong ruổi theo 6 trần) thì
Phật tự nhiên trụ trong ta. Để điều trị cái loạn
tâm là niệm Phật vì Phật hiệu là một sức mạnh, là một
tỉnh thức, là một cái sáng suốt để tránh đi cái tâm loạn
động của ta. Nhưng với điều kiện là trong lúc niệm
Phật không được có vọng tâm cho dù ta suy nghĩ đến cảnh
giới Tịnh Độ, cảnh giới Phật hoặc A La Hán cũng là vọng
tâm, là giá trị ảo. Tịnh tâm niệm Phật cho đến khi
thành phiến (hoàn toàn chế ngự được vọng tâm) thì lúc
đó tâm được bừng sáng.
“Một
câu niệm Phật nhiếp cả yếu điểm của đốn tu và tiệm
ngộ. Nói đến ngộ thì tín là ở trong đó, nói đến
tu thì chứng sẽ ở trong đó. Tín, giải, tu, chứng là
bốn công thức quan trọng của đại thừa và tiểu thừa.
Thế thì một câu Di Đà không phải là đại chí yếu ư?”
Chú
giải: Chúng ta là “toàn chân là vọng, toàn vọng là
chân”. Niệm Phật thành phiến thì thế giới này không
còn là hai nữa (chân và vọng) có nghĩa là không còn thay đổi
nữa. Cho nên trọn ngày tùy duyên, đi đứng nằm ngồi
đều không có thay đổi nữa. Nếu tâm chúng ta đều
chẳng nghĩ đến cảnh giới Phật mà niệm Phật thì liền
nghĩ đến 9 cảnh giới kia. Nếu chẳng nghĩ đến tam
thừa mà tịnh thì liền nghĩ đến lục phàm. Nếu chẳng
nghĩ đến trời, người, liền nghĩ đến tam đồ. Nếu
chẳng nghĩ đến ngạ quỉ, súc sanh liền nghĩ đến địa
ngục. Nhưng cốt yếu của Tịnh Độ tông là phải đến
chỗ vô niệm (không còn năng và sở) thì mới đạt vô sanh.
Ngài Triệt Ngộ cho ta thấy rằng tâm của ta có đầy đủ
cả vì vậy cho nên nếu ta không niệm Phật thì ta niệm cái
khác. Làm thế nào để ta không còn chạy theo lục phàm,
tứ thánh nữa mà chỉ có giữ một cái mà thôi cho đến thành
phiến (không còn hai mặt phân biệt nữa) thì lúc đó là thanh
tịnh tâm.
“Khi
tâm thể đạt đến vô niệm duy chỉ có Phật mới chứng
được.”
Chú
giải: Trong Kinh có nói rằng chỉ khi nào ta chứng A La
Hán thì mới tin tưởng con người mình được vì A La Hán
mới có thể xả được vọng thức, không còn tự ngã nữa.
Khi chưa thể hoàn toàn đưa Phật vào trong ta thì ít ra chúng
ta từ từ thay đổi những quan điểm suy nghĩ của ta.
Ta đưa ra hết những niệm phàm phu để đưa vào cái niệm
Phật (cái toàn nhất). Đó là liễu tri tâm. Vấn
đề của cuộc sống là mình có thay đổi cái nhìn được
hay không chứ chưa hẳn là thực chất. Thực chất chỉ
có khi nào ta biết đầy đủ (không tham muốn gì nữa), biết
hạnh phúc với những gì mình có trong thực tại. Liễu
tri tâm là ta biết rõ ràng trong tâm mình muốn gì, nhu cầu
cái gì thì ta mới quyết định được trên con đường tu
của mình.
“Mình
không niệm Phật thì không có lý, thì tại sao không niệm
Phật? Nếu lấy tâm này mà tương ưng với tâm đại
từ, đại bi nương vào công đức y báo và chánh báo cho đến
niệm vạn đức hồng danh Phật đó là niệm pháp giới của
Phật vậy.”
Chú
giải: Chánh là thân mình cho nên chánh báo mình thế nào
thì y báo mình thế nấy. Khi ta đọc Kinh, nghe giảng thì
ta có cái gọi là hữu sự trí. Nhưng ta có cái bên trong
mà không do học mà được giống như đức Phật không có
thầy dạy mà thành Phật được tại vì ngài quay vào phần
bên trong mà giác ngộ. Có nghĩa là giác ngộ được thì
mình thấy cả thiên hà đại địa trong bàn tay và chuyển
được nghiệp thức, thanh lọc tâm mình một cách trong sạch.
Trong cái chánh báo này nhìn ra ngoài thì y báo sẽ thanh tịnh.
Nếu mình thay đổi được tâm niệm phàm phu của mình thì
Phật sẽ hiện và lúc đó thế giới xung quanh sẽ trở thành
thanh tịnh. Liễu tri tâm là mình phải biết mình đang
ở trong trạng thái của tâm nào. Sau khi liễu tri tâm
rồi thì ta mới đạt được thanh tịnh tâm.
IV.
THANH TỊNH
Đây
là yếu tố chủ chốt trong niệm Phật và Kinh, Luật, Luận.
Bất cứ tông phái nào cuối cùng cũng phải đi tới yếu tố
thanh tịnh.
Sau
đây là tiếp theo ngữ lục của Thiền Sư Triệt Ngộ:
“Nếu
chúng ta lấy tâm này tương ưng với tâm Bồ Đề cái niệm
của chúng ta đang ở trong cái pháp giới của Bồ Tát.
Nếu ta lấy cái tâm mà tương ưng với thập nhị nhân duyên
đó là niệm pháp giới của duyên giác. Nếu ta lấy cái
tâm vô ngã mà quán sát lý tứ đế thì ta ở trong niệm pháp
giới của thanh văn. Nếu ta lấy tâm tương ưng của tứ
thiền, bát định, thượng phẩm thập thiện đó là niệm
pháp giới của cõi trời. Nếu tâm ta tương ưng với
ngũ giới thì ta niệm pháp giới của cõi người. Nếu
tâm ta có lúc tương ưng với pháp lành và còn ôm ấp sân
hận, ngã mạn, háo thắng đó là niệm pháp giới của A Tu
La (ác thần). Nếu tâm ta tương ưng với hạ phẩm thập
ác thì rơi vào súc sanh, trung phẩm thập ác thì rơi vào ngạ
quỉ, thượng phẩm thập ác thì rơi vào địa ngục.”
Chú
giải: Tóm lại là 10 tâm: thập thiện, thập ác.
Nếu ta thường niệm Phật để biến cái nhìn, cái trạng
thái và ta thường kiểm điểm những niệm ta khởi lên trong
cuộc sống hằng ngày để coi thử ta tương ưng với pháp
giới nào một cách mãnh liệt thì nơi đó ta sẽ an thân lập
mệnh trong tương lai. Tất cả cảnh giới đều do tâm
niệm, nghiệp cảm mà tạo thành. Nếu tâm ta không niệm
Phật, không hiện cảnh giới Phật thì ta sẽ tưởng đến
9 cảnh giới kia (tam thừa [thanh văn, duyên giác, Bồ Tát],
lục phàm [trời, người, ngạ quỉ, súc sanh, địa ngục]).
Làm
thế nào để thanh tịnh tâm?
Pháp
Môn Tịnh Độ còn gọi là tịnh nghiệp pháp môn. Nghiệp
của ta thể hiện bởi 3 chức năng của thân, khẩu, ý.
Do đó nếu ta muốn tu tập pháp môn Tịnh Độ thì phải tịnh
thân, khẩu, ý. Niệm Phật là làm thanh tịnh 3 nghiệp
và đồng Phật vãng Tây Phương.
Khi
ta thiền cho đến lúc không còn tự ngã, không còn tham vọng
nữa theo như lời đức Phật nói: “Như củi hết lửa tắt”
thì người đó sẽ được giải thoát, tự tại ngay trong sinh
tử. Khi tâm thanh tịnh thì mình mới biến cái chất liệu
mình suy nghĩ thành nhân quả cho người khác thì lúc đó mình
mới có hạnh phúc ngay trong hiện tại. Vì tham, sân, si
mà khổ đau khởi cho nên mục đích của niệm Phật là làm
cho thanh tịnh 3 nghiệp. 3 nghiệp thanh tịnh rồi thì ta
sẽ an lạc và khổ đau, phiền não không có nữa. Nhưng
quan trọng là ta có thể giữ thanh tịnh được bao lâu hay
là trải qua một thời gian thì ta nản chí và thối lui do không
giữ được cái tín tâm như lúc ban đầu. Khi ta không
giữ được thánh khí, sự nhu hòa như lúc ban đầu thì mình
sẽ rơi vào ác hạnh và ra khỏi giòng Thánh.
“Hằng
dùng giới hương xoa vóc sáng, thường trì định phục dĩ
tư thân. Bồ đề diệu hoa biến trang nghiêm, tùy sở
trú xứ thường an lạc.”
Chú
giải: Nghiêm trì giới để bảo vệ cái phạm hạnh của
mình. Thường ở trong thiền định để giữ thân.
Dùng hoa Bồ Đề (trí tuệ) để trang điểm cho trang nghiêm.
Khi nào mình dùng giới, định, huệ để chế ngự 3 nghiệp:
thân, khẩu, ý cho thanh tịnh thì ở đâu ta cũng được
an lạc. Tham vọng, phiền não, phân biệt khởi là do tâm
cho nên dù ta ở chỗ đầy đủ, hạnh phúc ta cũng vẫn không
thấy được an lạc Tịnh Độ. Khi tâm địa thanh tịnh
(ý thanh tịnh được rồi thì hóa giải cho thân và khẩu)
thì chỗ ta ở sẽ là Tịnh Độ. Chú tâm vào niệm Phật
bằng cách đặt hết thân, khẩu, ý vào danh hiệu Phật thì
ta sẽ thấy an lạc. Trong Kinh, Phật dùng phương tiện
mà nói để đưa ta đến giai đoạn thanh tịnh thân, khẩu,
ý và trở về cảnh giới chân thật của mình, cảnh giới
của bất sanh bất diệt, cảnh giới của Tịnh Độ.
Nếu như ta nổ lực thì chọn phương pháp nào đi nữa ta cũng
vẫn phiền não, vẫn tạo chủng tử nghiệp báo.
Trong
Kinh A Di Đà, Phật nói cõi Tịnh Độ là cảnh giới mà đất
là lưu-ly, pha-lê, xa-cừ, mã-não, chim anh-võ, xá-lợi, ca-lăng-tần-già,
ao bảy báu, nước thất bảo...tất cả đều là thực tánh
có nghĩa là không còn phân biệt nữa vì tất cả đều là
trong cảnh giới của nhất thể. Tu hành để đạt đến
trạng thái xả bỏ tất cả tham, sân, si, chấp thủ, phân
biệt thượng, hạ, quí, hèn, tịnh, uế,… Vạn pháp
đều giai không nhưng diệu hữu (tất cả đều có). Ở
trong cõi Tịnh Độ tất cả mọi thứ đều quí như nhau thì
làm gì mà ta còn cái tâm tham cầu, sân, si nữa. Vấn
đề quan trọng là mình phải biết xử dụng những vật quí
đó như thế nào. Tất cả những chí nguyện trên con
đường tu là phải vì cứu độ chúng sanh chứ không phải
chỉ an lạc cho riêng mình. Ngay trong cảnh giới bất an
này mà mình không còn bị ràng buộc nữa, không có phiền
não, tham ái khởi lên nữa thì bắt đầu vận dụng con đường
này làm lợi ích chúng sanh. Đức Phật khi thành
đạo thì cũng làm lợi ích chúng sanh cho nên con đường tu
rất là tích cực.
“Cảnh
giới chư Phật và chư Thánh trong tam thừa tuy hơn kém chẳng
đồng nhau nhưng tất cả đều là pháp lạc.”
Chú
giải: Cảnh giới loài người thì vui, khổ lẫn lộn
tùy theo nghiệp của mỗi người. Cảnh giới của quỉ
và súc sanh thì khổ nhiều vui ít. Cảnh giới địa ngục
thì thuần khổ mà thôi. Như người nằm mộng thấy tất
cả núi, sông, người, vật là do cảnh mộng mà tạo ra.
Nếu không có tâm mộng thì không có cảnh mộng. Cho nên
ngoài tâm không có cảnh, ngoài cảnh không có tâm. Toàn
cảnh tức là tâm và toàn tâm tức là cảnh. Khi ta nhìn
thế giới này mà không còn mộng nữa thì cảnh sẽ thành
chân thật.
“Nếu
như ở nơi nhân mà xem quả thì hãy xét lại tâm mình ắt
sẽ rõ. Còn nếu như ở nơi quả mà nghiệm lại nhân
thì cần phải xét cảnh hiện.”
Chú
giải: Muốn biết con đường tịnh nghiệp, Tịnh Độ
của mình ra sao thì bây giờ nhìn vào những nhân mình tạo
ra trong hiện tại.
“Nếu
hiểu được chín chắn cái lý tâm và cảnh, nhân và quả
nhất như là không hai mà vẫn chưa chịu niệm Phật để cầu
sanh Tịnh Độ thì tôi không có tin được. Muốn thấy
quả của mình trong tương lai thì xem cái nhân, cái tội phước
mà mình đang làm. Chưa từng có cảnh mà không có tâm.
Muốn biết cảnh thì xem nhân trong hiện tại.”
Chú
giải: Nếu ta không nhận thức rằng cái sự thanh tịnh
là có thật, có trong con người chúng ta và hiện nay có thể
làm được thì ngày mai sẽ không có cảnh giới đó.
Khi cái nhìn, cái niệm của mình đã thanh tịnh rồi thì thế
giới nhìn ra sẽ trở thành thanh tịnh. Chính những cái
lo lắng, chấp thủ của ta làm cho ta khổ hơn là thực tế.
Nếu không có lo lắng thì mình rất tự nhiên và trong bình
an đó mình tìm được những hạnh phúc có thật và khi có
thật hôm nay thì mới có thật trong ngày mai.
V.
HẰNG HỮU
Quá
trình tu chứng không phải chỉ một ngày, một giờ, một tháng
hay một năm và không thể chỉ bằng ngôn ngữ mà phải có
thực tập. Khi căn bản của ta đã vững, khi hình ảnh
Phật vào trong tâm thể thanh tịnh của ta rồi thì lúc đó
cũng ngay trong cuộc sống này mà ta có một cuộc sống hằng
hữu. Hằng hữu là sự có mặt liên tục, thường hằng,
không hề có đứt đoạn. Khi ta niệm Phật thanh tịnh
rồi thì ta có một cái Tịnh Độ hằng hữu ngay trong hiện
tại không phải đợi tới lúc chết. Vì thế hôm nay
hằng hữu thì ngày mai cũng sẽ hằng hữu không có lý do nào
mà làm cho gián đoạn cả.
Hằng
hữu cũng liên quan đến tùy duyên mà bất biến. Cho dù
ta ở đâu đi nữa thì cũng vẫn an lành. Đức Phật A
Di Đà có 3 nghĩa: Vô Lượng Thọ [thời gian vô hạn], Vô Lượng
Quang [không gian vô tận] và Vô Lượng Công Đức hoặc Cam
Lồ [năng lực vô cùng]. Đây nói lên một chân lý hằng
hữu, Phật tánh bất biến vượt qua không gian và thời gian.
Tịnh Độ là một quá trình tu tập cao nhất của con người
để trở về hoặc tìm lại bản lai Phật tánh của chính
mình. Cái lộ trình này ta phải dụng công, phải thể
nhập vào cảnh giới đó. Khi ta niệm Phật thanh tịnh
giống như ngài Triệt Ngộ nói thì chúng ta dấn thân rồi,
thanh tịnh rồi chúng ta phải cảm xúc được cái sự hằng
hữu đó bằng chính cái công phu sở đắc tu tập của chúng
ta. Là người học Phật thì phải hiểu rõ ràng và không
để quá trình tư duy lừa dối mình. Cái hạnh phúc mà
ta được là cái sở đắc tâm linh mà ta cảm xúc được,
tức là cái hạnh phúc hằng hữu của vô lượng quang, vô
lượng thọ và vô lượng công đức. Ba cái hằng hữu
này tượng trưng là giới, định, tuệ. Cái năng
lực bảo vệ người tu hành trong suốt quá trình tu học là
giới. Bảo vệ ta được an định và trong cảnh giới
bình an xa lìa mọi xao động của thế giới. Cái mà làm
cho ta trong thời gian lâu dài phát đi một ánh sáng vô cùng
tận là trí tuệ.
Kết
luận sự nhận thức của chúng ta: Chính chỗ hằng hữu
đó mà ta sống không có sự khổ đau. Tịnh Độ hằng
hữu là như vậy. Khi ta nhận được giá trị của tâm
linh, giá trị của con đường Phật tánh của chúng ta thì
ngay trên thế giới này ta sống hạnh phúc không cần cầu
hoặc đi tìm ở đâu hết. Trong tâm của chúng ta có đầy
đủ hết: từ bi, vị tha, vô ngã, bố thí. Phẩm
Tín Giải trong Kinh Pháp Hoa nói lên khi ta thanh tịnh tâm rồi
thì ta sẽ thấy cái hằng hữu. Cái thế giới này không
phải là bất tịnh mà thường an tịnh từ lâu rồi vì mình
không thấy đúng và không dùng đúng mà thôi. Khi thực
hành đúng thì lúc đó ta thấy được cái Tịnh Độ hằng
hữu của thế giới hôm nay. Tịnh Độ hằng hữu thì
bất biến; chỉ có tâm hồn con người và thời gian đổi
thay chứ chân lý thì không thay đổi. Khi tâm phân biệt
và tâm bình lặng trở thành một rồi thì tất cả những
lời nói và cái nhìn của mình đều là giá trị thật.
Thế giới hằng hữu là hằng hữu như vậy. Cái hằng
hữu đó trở thành Tịnh Độ. Từng bước đi của ta
lúc đó có sự an tịnh, như là “bước vào tâm tĩnh lặng,
thở ra miệng mĩm cười.”
Bài
thơ của một vị thiền sư: “Ta thấy bầu trời trong lá
xanh,
thấy
cây mang nhựa chảy trong cành,
thấy
đời sanh diệt vô thường quá,
sao
thấy thương đời quá mong manh.
Cái
hằng hữu của người học Phật là không còn bám vào cái
thế giới của hiện tượng nữa mà nhìn thế giới bằng
thực tướng của nó. Phật Thích Ca thành tựu trong thế
giới gồm có ngũ trược, ác thế này [kiến trược, kiếp
trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng trược].
Trược là bất tịnh. Kiến trược là một cái nhìn phân
biệt, so đo. Kiếp trược là trải qua thời gian của
vật chất, của cuộc sống. Phiền não trược là buồn,
ghét, vui, thương. Chúng sanh trược là phân biệt kẻ
Âu người Á, kẻ sang người hèn, kẻ thương người ghét,
v..v... Mạng trược là thời gian ngắn ngủi, có hôm nay
và mất ngày mai. Trong phiền não này ta biến nó thành
chất lượng của Bồ Đề. Trong cái vô thường này chúng
ta không bị chi phối bởi kiến trược nữa, không còn phân
biệt bởi ngã mạn nữa, không còn cố chấp sân si nữa, có
nghĩa là ta đổi cái ngũ trược, ác thế này thành Tịnh Độ.
Trong một thế giới bạo động, bất an mà chúng ta an trú
trong từ bi, thương yêu, hạnh phúc của hiểu biết và trí
tuệ đó mới đúng nghĩa của sự an bình. Cho nên đến
một đỉnh cao của đạo Phật thì ta thấy rằng phiền não
tức Bồ Đề. Ngài Huệ Năng nói: “Ly thế mích Bồ
Đề, cấp như cầu thố giác” tức là rời thế gian
để tìm đạo Bồ Đề thì giống như đi tìm lông rùa, sừng
thỏ vậy.
Phương
tiện để vào thế giới hằng hữu thì rất nhiều và tùy
theo thích hợp, căn cơ của mỗi người mà phương tiện nào
được dùng. Chúng ta có thể tùy duyên ở trong thế giới
này mà không có bị giao động. Đây là vấn đề quan
trọng nhất của Phật học là “thỏng tay vào chợ”.
Có nghĩa là thế giới dao động nhưng ta không dao động.
Hoàn cảnh tốt hay xấu không phải do mình quyết định được
mà hãy tùy duyên và khi thuận duyên, thuận cảnh mà mình không
thấy khổ đau, không đòi hỏi thì tự nhiên mọi thứ trở
thành hoàn thiện và hạnh phúc. Tại sao mình tạo phiền
não cho chính mình và người xung quanh? Vì chưa bao giờ
mình tùy thuận chúng sanh, chưa bao giờ tùy hoàn cảnh nhân
duyên, chưa bao giờ thấy được thật tánh các pháp là không
có thật cho nên mình không an trú được chỗ đó và thế
giới trở nên đảo điên. Cái chân lý là khi nào ta thấy
hạnh phúc, bình an. Trong cái lộ trình trở về với cái
bản lai của chính mình thì ta có rất nhiều quan điểm để
tu học nhưng quan trọng là ta phải biết cái mục tiêu và
cái mà ta phải đạt được đó là hạnh phúc trong hiện tại.
Làm
thế nào để tìm một cái bất tử (hằng hữu) trong cuộc
sống này? Ta phải không đòi hỏi, không nhu cầu, thanh
lọc tâm, sống bình thường, chu toàn bổn phận mình để
rồi chết bình thường. Trước khi từ giã cái thế giới
không bình yên thì chúng ta phải có một cái nhìn buông xả,
lãng quên. Lãng quên đây có nghĩa là không phải ta từ
chối trách nhiệm mà có nghĩa là không dán tâm vào thế giới
của hiện tượng và nhìn vào thật tánh của nó. Đó
là quan niệm của Tịnh Độ hằng hữu.
Bài
thơ “Cháo Lú và Tiền Thân”:
Năm
xưa nghe người kể cháo lú ở diêm đài
Hồn
ma nào cũng phải cạn chén mới đầu thai
Tôi
nghe lòng thao thức nhất định phải một lần
Không
thèm ăn cháo lú để được nhớ tiền thân
Ba
mươi năm xuôi ngược mang thân xác con người
Bao
nhiêu lần tôi ước bát cháo lú, trời ơi!
Lần
này xuống âm phủ nhất định vét sạch nồi
Để
được quên tuốt luốt như một giòng nước trôi.”
Cái
hằng hữu của thế giới này là chúng ta không bám chấp cái
có của ta và vì nó mà khổ đau thì đó sẽ trở thành bất
thiện và phiền não. Giá trị sống là do ta nhận định
được chân lý.
Không
phải là không có Tịnh Độ, không phải là không có thường
hằng, thế giới này vẫn sống, pháp hội Linh Sơn (nơi Phật
nói Kinh Pháp Hoa) vẫn còn. Nhưng chúng ta có vào được
hay không, tư cách chúng ta có đủ để an trú trong đó không
thì đó là phần dụng công của mỗi người chúng ta.
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
WP:
Diệu Mỹ