CHƯƠNG
9
LÝ
TƯỞNG BỒ TÁT
Thỏa
mãn với việc thành tựu sự giải thoát khỏi vòng luân hồi
thì không đủ. Ngay cả khi nói từ quan điểm của những mục
đích của riêng bạn thì chính trạng thái Toàn Giác của Phật
Quả mới là sự thực hiện trọn vẹn đối với hạnh phúc
của chính bạn. Sau khi phát triển ước nguyện đạt được
sự giải thoát và khi đã thực hành ba loại tu tập, thay vì
bận tâm với sự thành tựu giải thoát cá nhân, thì đối
với các hành giả thông tuệ, tốt hơn họ nên thiền định
về ước nguyện vị tha của Phật Quả, được gọi là Bồ
đề tâm ngay từ lúc bắt đầu và đi vào Đại thừa, tức
Cỗ Xe Lớn. Nếu bạn nhìn thấy những người đang nằm dưới
sự thống trị thường trực của những mê lầm và đang phải
chịu đau khổ nhưng bạn không làm việc vì sự lợi lạc
của họ, thì thực sự là hết sức bất công và đáng thất
vọng. Bạn chớ bằng lòng với sự làm việc chỉ vì lợi
ích riêng tư. Bạn cần suy nghĩ rộng rãi hơn và nỗ lực
làm việc cho sự lợi lạc của nhiều người. Đây là điều
phân biệt giữa con người với các thú vật, vì ước nguyện
làm lợi lạc cho bản thân và những thân quyến là điều
ngay cả thú vật cũng làm. Điểm đặc trưng duy nhất của
con người là họ làm việc vì sự lợi lạc của những người
khác mà không chỉ quan tâm tới hạnh phúc của riêng mình.
Đó là vẻ đẹp và nét đặc sắc của một con người.
Những
người như Tổng Thống Hoa Kỳ Lincoln và lãnh tụ Ấn Độ
Mahatma Gandhi được ngưỡng vọng là những vĩ nhân thực sự
là bởi họ không chỉ nghĩ tới bản thân mà làm việc cho
lợi ích của con người. Họ nghĩ tới toàn thể xã hội con
người, nỗ lực và chiến đấu cho quyền lợi của người
nghèo khổ. Lấy ï Mahatma Gandhi làm ví dụ: sau khi giành được
độc lập cho Ấn Độ, ngài vẫn chỉ là một thị dân bình
thường, không bao giờ giữ bất kỳ địa vị nào như Thủ
tướng chẳng hạn. Đó là dấu hiệu của một thượng nhân…
Khi
mặt trời chiếu sáng, nó soi sáng không chút phân biệt, nó
soi sáng mọi nơi chốn trong xứ sở và mọi xó góc. Chúng
ta nên giống như thế. Những hành giả của Đại thừa chúng
ta không nên bận tâm về lợi ích riêng tư mà với một sự
nhất tâm, nên phát triển thái độ vị tha dũng cảm, đưa
vai gánh vác trách nhiệm làm việc cho tất cả chúng sinh.
Bồ
đề tâm, sự ước nguyện bi mẫn đạt được Phật Quả
vì tất cả những người khác, là lối vào con đường Đại
thừa. Khi bạn nuôi dưỡng Bồ đề tâm, thì cho dù bạn có
thể không thực hiện được chút tiến bộ nào trên con đường,
bạn vẫn trở thành một con người Đại thừa, còn giây phút
Bồ đề tâm suy hoại thì mặc dù bạn có thể có được
những chứng ngộ cao tột, bạn đã rớt xuống khỏi hàng
ngũ Đại thừa. Ngài Shantideva nói rằng vào giây phút bạn
phát triển Bồ đề tâm, thì mặc dù bạn có thể đang ở
một cảnh giới thấp của sinh tử, bạn sẽ được gọi là
một Bồ Tát, một đứa con của chư Phật. Kết quả của
Bồ đề tâm là bạn sẽ có thể tịnh hóa các sự tiêu cực
rất dễ dàng và có thể thực hiện được các mục đích
của bạn. Bạn sẽ không bị thương tổn do những chướng
ngại và tác hại, bởi nếu có năng lực Bồ đề tâm này,
bạn thấy những người khác còn quan trọng và quý báu hơn
cuộc đời của chính bạn. Khi những tinh linh ác hại nhận
ra được điều này, họ ngại ngần khi hãm hại bạn. Như
kết quả của Bồ đề tâm, nếu bạn có thể tịnh hóa những
tiêu cực và tích tập các kho tàng công đức vĩ đại, thì
bạn sẽ gặp được những thuận cảnh cần thiết cho sự
tiến bộ nhanh chóng trên con đường. Bồ đề tâm và lòng
bi mẫn chính là những nguồn mạch và nền tảng của mọi
điều tốt lành trong thế giới này và Niết bàn. Bạn nên
coi Bồ đề tâm là bản chất sự thực hành của bạn và
đừng để nó chỉ nằm ở một bình diện trí thức; bạn
chớ hài lòng với sự thực hành Bồ đề tâm của bạn nếu
như nó bao gồm đơn thuần sự trì tụng một ít câu kệ vào
lúc bắt đầu một thời khóa thiền định. Bạn phải nỗ
lực phát triển nó trải qua sự chứng nghiệm.
Đức
Tsong-kha-pa nói rằng nếu bạn có một ước nguyện đúng đắn
đạt tới Giác ngộ, thì bất kỳ điều tốt lành nào, ngay
cả một việc nhỏ bé như bố thí hạt thóc cho một con quạ
cũng trở thành một Bồ Tát hạnh. Tuy nhiên, nếu bạn thiếu
yếu tố động lực này, thì mặc dù bạn có thể cúng dường
châu báu tràn đầy toàn thể vũ trụ cho chúng sinh khác, nó
sẽ không là hành động của một Bồ Tát. Nếu sự thực
hành Bồ đề tâm của bạn không thành tựu, thì bất luận
nỗ lực bạn thực hành Pháp lâu dài đến đâu, nó sẽ là
một tiến bộ hết sức chậm chạp và gian khổ, giống như
cắt cỏ bằng một dụng cụ cùn mòn. Còn nếu bạn có một
nhận thức hoàn hảo và thành tựu về Bồ đề tâm, thì mặc
dù có thể mất một ít thời gian để kiến lập động cơ
ban đầu của bạn, mọi thực hành của bạn sẽ hết sức
hữu hiệu. Nếu bạn không liên tục củng cố lòng bi mẫn
của bạn, hoàn thiện và nâng cấp nó, thì có một nguy cơ
to lớn là bạn đánh mất lòng dũng cảm và trở nên ngã lòng,
bởi vì chúng sinh thì vô lượng. Có nhiều chúng sinh thù địch,
thay vì đền đáp lòng tốt của bạn, họ sẽ cố gắng hãm
hại bạn. Vì thế, bạn đừng bằng lòng với một kinh nghiệm
độc nhất về lòng bi mẫn mà nên thực sự làm việc để
nâng cao nó cho tới khi lòng bi mẫn của bạn được cắm rễ
sâu xa. Nếu điều đó xảy ra, bạn sẽ không lo lắng quá
nhiều về những gian khổ, và kết quả là bạn sẽ không
bao giờ ngã lòng do những hoàn cảnh khi bạn làm việc cho
sự lợi lạc của những người khác. Chính vì sức mạnh
của lòng bi mẫn mà chư Phật vẫn cam kết làm việc vì sự
lợi lạc của chúng sinh. Đức Phật nói rằng các Bồ Tát
không cần quan tâm tới nhiều phương diện của con đường;
họ không cần thực hành nhiều điều khác. Chỉ nhờ độc
nhất một thực hành là Phật Quả sẽ nằm trong lòng tay bạn.
Sự thực hành đó là lòng đại bi, có nghĩa là sự khao khát
Giác ngộ để giải thoát tất cả chúng sinh. Để phát sinh
ước nguyện đạt được Giác ngộ này, có lòng từ và bi
vĩ đại, ước muốn chúng sinh thoát khỏi đau khổ thì không
đủ. Thêm vào đó, điều cần yếu là ý thức trách nhiệm
cá nhân để đảm đương phận sự giải thoát họ khỏi những
đau khổ và đem lại cho họ hạnh phúc.
Khi
ta quán chiếu về bản chất khốn khổ của chúng sinh, chúng
ta có thể phát triển ước muốn họ thoát khỏi những đau
khổ như vậy. Để nhận ra một trái tim nồng ấm và tràn
đầy thiện tâm, mạnh mẽ, kiên cố và quả quyết, trước
tiên rất cần thiết phải có một thái độ thương yêu đối
với chúng sinh, xem họ như cái gì quý báu và thân thiết.
Càng cảm thấy thương yêu và thân thiết chúng sinh, bạn càng
có thể phát triển tốt đẹp hơn nữa lòng bi mẫn chân thật
đối với họ. Thông thường, khi chúng ta để những phản
ứng tự nhiên của mình trôi theo tiến trình của riêng chúng,
ta thấy không thể chịu đựng nổi khi nhìn những đau khổ
của thân quyến và bạn bè ta. Chúng ta có khuynh hướng vui
mừng trước những bất hạnh và thất bại của kẻ thù,
và có khuynh hướng thờ ơ đối với những người chúng ta
không quen biết. Những cảm xúc của chúng ta dao động trong
tương quan với những người khác nhau này. Càng thấy một
người là gần gũi và thân thiết với ta, chúng ta càng cảm
thấy không thể chịu đựng nổi khi người đó đau khổ.
Để
làm quân bình những cảm xúc của bạn, hãy quán tưởng ba
người ở trước mặt bạn: một người bạn rất thân, một
kẻ thù, và một người trung tính. Khi đã quán tưởng ba người
này, hãy để tâm bạn phản ứng tự nhiên. Bạn sẽ nhận
thấy tâm thức bạn phản ứng trong một cách thế không quân
bình. Bạn cảm thấy bản thân mình dính mắc với người
bạn và cự tuyệt với kẻ thù, và thái độ của bạn đối
với người thứ ba thì hoàn toàn dửng dưng. Khi ấy, hãy xem
xét vì sao bạn phản ứng theo một cách thức như thế. Các
bạn bè có thể là bạn bè vào lúc này, nhưng họ có thể
từng là kẻ thù của ta trong quá khứ, và họ sẽ có thể
là kẻ thù của ta trong tương lai. Những người bây giờ ta
gọi là kẻ thù có thể đã là những người bạn hay thân
quyến tốt nhất của ta trong quá khứ và cũng có thể trở
thành những người như thế trong tương lai. Cái gì là điểm
tạo nên những sự phân biệt như thế ? Bạn bè là những
người ta ước muốn họ có hạnh phúc và vui hưởng cuộc
sống. Chúng ta ước muốn họ hạnh phúc và thành công vì
họ là những thân quyến và bạn hữu của ta và đã tốt
lành đối với ta. Nhưng trong tương lai họ có thể trở thành
những kẻ thù của ta, và ngay cả trong đời này họ có thể
trở nên thù nghịch với ta. Tương tự, khi ta phản ứng lại
các kẻ thù, ta có khuynh hướng phản ứng trong một cách thức
hết sức tiêu cực, ước muốn một cách bản năng tận sâu
thẳm rằng họ gặp phải nỗi bất hạnh, khó khăn, và thất
bại. Chúng ta phản ứng như thế vì ta nghĩ rằng họ làm
hại ta. Nhưng cho dù họ có thể thực sự làm hại ta trong
hiện tại, họ có thể trở thành các bạn hữu của ta trong
tương lai. Không có sự chắc chắn, hoàn toàn không có bạn
bè hay kẻ thù xác thực hoặc thường xuyên. Cũng thế, mặc
dù người trung tính hoàn toàn lãnh đạm với chúng ta và chúng
ta dửng dưng với họ, trong quá khứ người đó có thể đã
từng là bè bạn hay kẻ thù của ta. Nếu bạn tu hành tâm
thức bạn theo cách này, bạn sẽ đi tới chỗ nhìn tất
cả mọi người trong cái nhìn như nhau, và dần dà sự phân
biệt chắc cứng rạch ròi giữa ba loại người sẽ bắt đầu
phai nhạt. Bạn cần mở rộng thực hành này để bao gồm
mọi người, cuối cùng ôm trọn tất cả chúng sinh. Đó là
cách thức bạn phát triển sự buông xả. Điều này không
nói rằng ta không có bạn hữu và kẻ thù. Điều chúng ta
quan tâm ở đây là làm cân bằng những phản ứng thuộc
cảm tính mạnh mẽ, mất quân bình của chúng ta đối với
người khác. Sự xả bỏ này hết sức quan trọng; nó giống
như trước tiên làm bằng mặt đất trước khi trồng trọt.
Mặc dầu sự xả bỏ tự nó không là một chứng ngộ vĩ
đại, nếu như bạn có nền tảng đó thì những thực hành
cao cấp hơn nữa sẽ trở nên hết sức hiệu quả.
Khi
đã phát triển sự xả bỏ, điều đầu tiên trong những giới
luật nhân-quả đối với việc lập nguyện đạt tới Giác
ngộ là sự nhận thức rằng mọi chúng sinh đã từng là mẹ
của ta trong một đời quá khứ. Đấy là bởi không có sự
bắt đầu đối với vòng luân hồi sinh tử. Vì đời sống
trong vòng tái sinh không có sự bắt đầu, các cuộc đời
của riêng ta cũng không có bắt đầu. Sự sống và chết tiếp
nối lẫn nhau không hề gián đoạn. Bất kỳ lúc nào ta mang
một thân xác, chúng ta cần có một bà mẹ. Bởi luân hồi
sinh tử không có lúc bắt đầu nên chúng ta không thể chỉ
ra được chúng sinh nào và nói: “Người này không từng là
mẹ tôi trong quá khứ.” Họ không chỉ là các bà mẹ của
chúng ta trong quá khứ mà cũng sẽ là những bà mẹ của ta
trong tương lai. Nếu bạn có thể phát triển sự xác tín sâu
xa nơi sự kiện này, thì sẽ thật dễ nhớ tưởng và suy
nghĩ về thiện tâm vĩ đại của các bà mẹ chúng sinhï và
sau đó phát triển ước muốn đền đáp lòng tốt của họ.
Mặc dù bạn thường được khuyên là coi mọi chúng sinh như
mẹ bạn, bạn nên thực hành sự thiền định này theo kinh
nghiệm của riêng bạn. Ví dụ, một vài người cảm thấy
thân thiết với cha của họ hơn. Người mà bạn cảm thấy
gần gũi nhất và thấy tốt lành nhất nên được coi như
là mẫu mực. Không có duy nhất một chúng sinh nào mà không
từng làm mẹ, làm cha hay thân quyến của ta trong quá khứ.
Sự kiện chúng ta không nhớ hay nhận ra họ không có nghĩa
là họ đã không từng là các bà mẹ của chúng ta. Ví dụ
như ngay cả trong đời này cũng có nhiều trường hợp cha
mẹ và con cái chia lìa nhau khi những đứa con còn rất nhỏ.
Về sau những đứa trẻ này không thể nhận ra cha mẹ của
chúng.
Giáo
huấn kế tiếp là suy nghĩ về lòng tốt của tất cả chúng
sinh. Sự thiền định này được nói là thành công nhất nếu
như sau khi đã nhận ra được mọi chúng sinh là mẹ của bạn,
bạn tưởng nhớ tới lòng tốt của họ, lấy bà mẹ của
riêng bạn làm một ví dụ. Hãy quán tưởng mẹ bạn ở trước
mặt mình, và suy tưởng rằng bà đã từng làm mẹ bạn không
chỉ trong đời này mà còn trong vô số đời trong quá khứ.
Rồi nghĩ tưởng về việc bà đã tốt lành thế nào đối
với bạn, bà đã che chở bạn thế nào trước sự nguy hiểm
và bà đã giúp đỡ bạn ra sao, trong đời này trước tiên
bà mang thai bạn và ngay trong suốt thời kỳ thụ thai bà đã
rất quan tâm săn sóc như thế nào. Bà chăm nom bạn không chút
ngại ngần. Bà sẵn sàng từ bỏ tài sản của bà vì bạn,
và bà sẵn lòng dùng các phương tiện thủ đoạn và phi tín
ngưỡng để có được điều bạn cần mà không quan tâm tới
nỗi gian khó gây ra cho bà. Mối ràng buộc và tình thương
của bà dành cho con là như thế khiến bà muốn chính mình
mắc bệnh hơn là con bà trở nên đau ốm. Bạn nên nhất tâm
thiền định về lòng tốt vĩ đại của bà. Khi bạn phát
triển một cảm xúc biết ơn sâu xa đối với mẹ bạn vì
thiện tâm vĩ đại của bà bằng cách quán chiếu theo lối
này, bạn nên áp dụng phương pháp tương tự cho những người
khác đã từng tốt lành với bạn, như những bạn bè và thân
quyến của bạn. Cuối cùng bạn có thể mở rộng nó để
bao gồm những người trung tính. Nếu bạn có thể phát triển
cảm xúc tương tự đó đối với những người trung tính,
bạn cũng di chuyển cảm xúc đó sang kẻ thù của riêng bạn.
Dần dần hãy bao gồm tất cả chúng sinh khác vào trong phạm
vi lòng tốt được nhận biết của bạn.
Kế
tiếp là sự thiền định về việc trả ơn lòng tốt của
họ. Bạn nên hiểu rằng chỉ vì đời sống của chúng ta
liên tục chuyển biến nên ta không thể nhận ra rằng mọi
chúng sinh đã từng là những bà mẹ, tổ tiên, quyến thuộc
tốt lành của ta. Giờ đây họ không được che chở; họ
không có nơi nương tựa. Nếu bạn nhìn thấy nỗi đau khổ
của họ, sự bơ vơ của họ và sau đó vẫn làm việc vì
lợi ích của riêng bạn và sự giải thoát riêng tư, thì chúng
ta không chỉ hành xử bất công mà còn cực kỳ bạc bẽo
nữa. Bạn nên phát triển một ý thức cam kết sâu xa rằng
bạn sẽ không bao giờ bỏ quên họ mà thay vào đó, sẽ đền
đáp lòng tốt của họ. Ngay trong một ý thức thế gian, nếu
người nào không đền đáp lòng tốt của mọi người mà
hành động chống trái lại họ, người ấy bị coi như một
người rất xấu xa và bạc nghĩa. Vậy làm thế nào một hành
giả Đại thừa lại có thể hoàn toàn quên lãng hạnh phúc
của chúng sinh khác và không nghĩ tới việc đền đáp lòng
tốt của họ ?
Hãy
tưởng tượng mẹ bạn, tinh thần bất định, mù lòa, và
không có bất kỳ sự dẫn dắt nào, đang đi tới một vực
thẳm. Bà kêu gào đứa con của bà ở kề cạnh, mối nương
tựa duy nhất của bà, là người bà đặt những hy vọng.
Nếu đứa con của chính bà không trợ giúp bà thì ai sẽ giúp
đây ? Bạn nên quán chiếu rằng từ vô thủy, tâm thức của
chúng sinh bất định bởi họ là nô lệ của sự vô minh,
không có đôi mắt trí tuệ để nhận ra con đường đưa tới
Niết bàn và sự Giác ngộ, và họ thiếu sự hướng dẫn
cần thiết của một vị Thầy tâm linh. Từng lúc một, họ
đang chìm đắm trong những hành động tiêu cực, cuối cùng
chúng sẽ gây nên sự đọa lạc của họ. Nếu những người
mẹ này không thể tìm được sự cứu giúp từ những đứa
con của họ thì họ có thể đặt niềm hy vọng ở ai ? Cảm
thấy một ý thức trách nhiệm, bạn nên đền đáp lòng tốt
vĩ đại của bà mẹ.
Kế
tiếp là thiền định về lòng từ ái. Người theo đạo Phật
định nghĩa lòng từ ái là ước muốn tất cả chúng sinh
có thể vui hưởng hạnh phúc và không bao giờ xa lìa hạnh
phúc. Ta được biết là thiền định về lòng từ ái dù chỉ
một chốc lát thì vượt xa công đức tích tập được nhờ
vô lượng sự cúng dường cho vô lượng chư Phật. Nhờ năng
lực của sự thiền định về lòng từ ái mà Đức Phật
đánh bại ma quân cố gắng ngăn cản Ngài đạt được mục
đích. Thiền định về lòng từ ái là sự bảo vệ tối thượng.
Sự liên tục thực sự thiền định về lòng từ ái là trước
tiên, bạn nên nuôi dưỡng lòng từ ái đối với những bạn
bè và người thân của chính bạn, rồi bạn di chuyển mối
quan tâm đó tới những người trung tính, sau đó cũng tiếp
tục tới những kẻ thù của bạn. Như thế từ từ bao gồm
mọi chúng sinh khác mà bạn gặp gỡ.
Kế
tiếp là thiền định về lòng bi mẫn. Có hai loại bi mẫn:
một loại chỉ là một ước muốn chúng sinh giải thoát khỏi
đau khổ, và loại kia thì mạnh mẽ hơn: “Tôi sẽ lãnh trách
nhiệm giải thoát chúng sinh khỏi đau khổ.” Trước hết,
bạn nên thiền định về cha mẹ, bạn bè và thân quyến của
chính bạn và sau đó di chuyển sự quan tâm đó tới những
người trung tính và cuối cùng đến những kẻ thù của bạn,
khiến cho cuối cùng mọi chúng sinh mà bạn gặp sẽ là một
phần trong việc thiền định của bạn. Điều này có ý nghĩa
to lớn vì khi bạn có thể mở rộng sự thiền định của
bạn đến tất cả chúng sinh thì lòng bi mẫn và từ ái của
bạn sẽ trở nên rộng khắp đến nỗi giây phút bạn nhìn
thấy nỗi đau khổ, lòng bi mẫn sẽ tự động phát sinh. Mặt
khác, nếu bạn cố gắng thiền định về lòng từ và bi đối
với mọi chúng sinh, nghĩ tưởng về “tất cả chúng sinh”
mà trước tiên không nhận định họ như một cá nhân cụ
thể thì ý niệm “tất cả chúng sinh” của bạn sẽ rất
mơ hồ, và lòng bi mẫn của bạn sẽ không thật mãnh liệt
và bền vững. Khi bạn gặp gỡ những cá nhân nào đó, bạn
sẽ bắt đầu hoài nghi bạn có thực sự ước muốn họ được
vui hưởng hạnh phúc không. Trái lại, nếu bạn nuôi dưỡng
lòng bi mẫn trong một tiến trình tiệm tiến, trước hết
chọn ra những loại người riêng biệt và thực hiện một
sự nỗ lực hết sức đặc biệt để nuôi dưỡng lòng từ
và bi đó nhắm vào kẻ thù của bạn, là đối tượng khó
khăn nhất, thì sau đó việc có lòng từ bi đối với những
người khác sẽ trở nên rất dễ dàng, và lòng bi mẫn của
bạn sẽ có khả năng chịu đựng được bất kỳ tình huống
nào bạn có thể gặp.
Trong
sự thiền định thực sự, bạn nên suy tưởng về việc chúng
sinh, cũng như chính bạn, quay cuồng trong vòng sinh tử, quằn
quại vì mọi thứ đau khổ ra sao. Thành công trong việc phát
triển lòng từ và bi là việc rất cần thiết để hiểu biết
và nhận ra những lỗi lầm và khiếm khuyết của vòng luân
hồi sinh tử. Nếu bạn có thể làm điều đó theo nhận thức
riêng của bạn, bạn có thể mở rộng sự hiểu biết của
bạn đến chúng sinh khác qua kinh nghiệm. Trái lại, nếu bạn
không phát triển sự tự từ bỏ và một cảm thức nhàm chán
đối với toàn bộ kinh nghiệm trong vòng sinh tử này, thì
bạn không có phương cách nào để có thể nuôi dưỡng lòng
bi mẫn. Sự từ bỏ rất cần thiết cho việc nuôi dưỡng
lòng bi mẫn. Lòng bi mẫn và sự từ bỏ chỉ khác biệt ở
đối tượng của chúng: sự từ bỏ nhắm vào bản thân bạn;
nó là ước muốn bạn được giải thoát khỏi đau khổ. Lòng
bi mẫn hướng thẳng tới những chúng sinh khác; nó là ước
muốn mọi chúng sinh được giải thoát khỏi đau khổ.
Điều
tối quan trọng là phải nghiên cứu và hiểu biết về nhiều
loại đau khổ. Khi đã có được sự hiểu biết bao quát nhờ
đọc nhiều bản văn và suy tưởng sâu sắc, bạn nên thiền
định về những lỗi lầm và khiếm khuyết của luân hồi
sinh tử, và chúng sinh trong vòng sinh tử quay cuồng trong phản
ứng dây chuyền này như thế nào. Ví dụ như trong các phòng
thí nghiệm khoa học, những con chuột bạch bị hành hạ với
đủ loại thiết bị. Để hiểu rõ bộ não hoạt động như
thế nào, các nhà khoa học phải thí nghiệm trên các loài
vật. Đó là một tình huống rất kỳ quặc, bởi vì mục
đích ban đầu của họ là giúp đỡ và kéo dài đời sống
con người. Ở một mặt, nó là một mục đích cao quý, nhưng
cũng khó mà biện minh. Mặc dù họ có thể dùng các thuốc
giảm đau, các nhà khoa học làm các loại thí nghiệm này mà
không có bất kỳ cảm thức bi mẫn hay thương xót nào đối
với các con vật. Ở phương Tây có những nhóm người phản
đối cách đối xử như thế với các loài vật, không phải
vì những tình cảm tôn giáo mà vì thái độ bi mẫn của họ
đối với những thú vật. Tôi ủng hộ nỗ lực này.
Lúc
ban đầu, việc phát sinh bất kỳ kinh nghiệm bi mẫn nào đối
với tất cả chúng sinh có vẻ hết sức khó khăn, nhưng một
khi bạn bắt đầu phát triển nó, thì lòng bi mẫn sẽ trở
nên mạnh mẽ, chân thực và không thể lay chuyển được,
vì nó được đặt nền trên một nền tảng kiên cố của
tri thức và lý trí. Nếu bạn có một vài kinh nghiệm về
lòng bi mẫn, thì thực sự quan trọng khi nỗ lực ổn định
nó bằng cách củng cố nó với lý trí và sự hiểu biết
rộng rãi. Chỉ đơn thuần nương dựa vào một vài loại trực
giác độc nhất nào đó thì rất không đáng tin cậy, bởi
vì có một sự nguy hiểm là về sau loại kinh nghiệm đó sẽ
biến mất không còn một dấu vết. Điều này là chân thật
không chỉ đối với sự thiền định về lòng bi mẫn và
từ tâm, mà còn đối với tất cả những sự thực hành khác
nữa.
Kết
quả của sự thiền định và suy niệm của bạn là cảm xúc
bi mẫn của bạn đối với chúng sinh sẽ trở nên mãnh liệt
như tình thương của một bà mẹ đối với đứa con duy nhất
của bà khi nhìn thấy đứa con mình đau đớn vì một bệnh
tật. Nỗi đau khổ của đứa con khiến bà lo lắng và đau
đớn, và ngày lẫn đêm bà có ước muốn tự nhiên là đứa
con bà được mạnh khỏe. Nếu thái độ của bạn đối với
chúng sinh như thế, thì bất luận họ có quan hệ với bạn
hay không, lúc bạn nhìn thấy bất kỳ nỗi đau khổ nào, bạn
có thể phát triển một lòng bi mẫn mãnh liệt bình đẳng
đối với mọi chúng sinh mà không thiên vị, đó là dấu hiệu
cho thấy bạn đã thành tựu và phát triển lòng bi mẫn. Điều
này áp dụng vào lòng từ ái thì cũng vậy. Lòng từ ái và
bi mẫn như thế sẽ dẫn dắt một cách tự nhiên không có
bất kỳ cố gắng nào đến thái độ siêu việt của việc
bạn đưa vai gánh vác trách nhiệm làm việc vì sự lợi lạc
của chúng sinh, nó dần dần dẫn tới sự chứng ngộ cuối
cùng của ước nguyện đạt được Giác ngộ.
Trong
việc thiền định về sự đền đáp lòng tốt, bạn đã quán
chiếu về lòng tốt vĩ đại của các bà mẹ chúng sinh và
về sự cần thiết phải làm việc vì sự lợi lạc của họ.
Ở đây mối quan tâm ban đầu là nuôi dưỡng một cảm thức
sâu sắc về trách nhiệm làm việc vì lợi lạc của họ và
gánh vác phận sự giải thoát chúng sinh khỏi nỗi đau khổ
và đem lại hạnh phúc cho họ. Trải qua đời sống và các
hoạt động hàng ngày của bạn, bất kỳ khi nào cơ hội phát
sinh, bạn nên lập tức nắm lấy nó để tu hành sự thiền
định này. Chỉ bấy giờ bạn mới có thể bắt đầu hy vọng
có sự tiến bộ trong sự chứng ngộ. Thi sĩ Ấn Độ Chandragomin
(thế kỷ thứ sáu) nói rằng thật là ngu đần khi hy vọng
biến đổi mùi vị của một trái cây rất chua chỉ bằng
cách thêm vào một hoặc hai giọt đường mía. Tương tự như
thế, chúng ta không thể hy vọng hương vị của tâm thức,
là cái gì đã bị ô nhiễm quá nhiều vị chua của sự mê
lầm, lập tức biến đổi thành vị ngọt của Bồ đề tâm
và lòng bi mẫn chỉ bằng một hoặc hai sự thiền định.
Giữ vững sự nỗ lực và liên tục là điều thực sự hết
sức quan trọng.
Trong
bước cuối cùng là sự phát triển thực sự Bồ đề tâm,
tâm khát khao thành tựu Giác ngộ vì những người khác, bạn
đừng nên bằng lòng với việc nhìn thấy tầm quan trọng
của sự Giác ngộ vì sự lợi lạc của những người khác.
Không có cách nào thực hiện mục đích tối hậu đó mà không
có sự thành tựu trạng thái Toàn Giác của Phật Quả của
bạn. Bạn nên phát triển một đức tin hết sức sâu sắc,
chân thành nơi trạng thái Giác ngộ, và điều đó sẽ đưa
tới một khát khao chân thực để thành tựu nó. Nói chung,
có nhiều nguyên nhân và điều kiện (duyên) để nuôi dưỡng
Bồ đề tâm, nhưng trong số đó điểm chính yếu là lòng
bi mẫn.
Bạn
nên nhận thức rằng mục đích của việc sinh ra trong thế
giới này là để giúp đỡ những người khác. Nếu bạn không
làm điều đó, thì ít nhất bạn đừng làm hại chúng sinh
khác. Các quốc gia có những hệ thống chính trị khác nhau,
nhưng một yếu tố cốt tủy trong hầu hết các xã hội là
thái độ vị tha – ước muốn làm việc vì người khác,
vì hạnh phúc của đa số. Thái độ vị tha là gốc rễ của
hạnh phúc trong cộng đồng nhân loại. Tất cả những tôn
giáo chính của thế giới đều khuyến khích việc nuôi dưỡng
một thái độ vị tha, bất luận những hệ thống triết học
khác nhau của chúng thế nào. Tóm lại, nếu bạn nuôi dưỡng
thái độ vị tha, nó không chỉ giúp bạn trong việc đem lại
sự bình an của tâm hồn mà còn tạo nên một bầu không khí
an lành quanh bạn. Đó là một trong những kết quả mà bạn
có thể thấy. Mục đích tối hậu của sự nuôi dưỡng thái
độ vị tha là thành tựu trạng thái Giác ngộ khiến bạn
có thể làm việc cho sự hoàn thành trọn vẹn những ước
nguyện của chúng sinh. Vì thế, Đức Phật đã không bỏ quên
tầm quan trọng của sự nuôi dưỡng Bồ đề tâm như một
nội dung chỉ dạy đơn giản; Ngài cũng đã chỉ bày những
kỹ thuật và phương tiện nhờ đó chúng ta có thể phát triển
một khao khát vị tha như thế.
Một
khi chúng ta đã tái sinh trong thế giới này, chừng nào chúng
ta còn là con người thì sự sống còn của chúng ta còn tùy
thuộc vào những người khác. Chúng ta không thể tồn tại
một cách độc lập. Đó là bản chất của con người. Vì
vậy, chúng ta nên giúp đỡ những người anh em của chúng
ta và giải thoát họ khỏi những đau khổ của họ, về cả
vật chất lẫn tinh thần. Đó là phương cách đúng đắn để
xử sự với những người anh em của ta. Các côn trùng như
ong và kiến không có một hệ thống giáo dục, nhưng trong
những phạm vi thực tiễn, vì sự sống còn của chúng, chúng
phải tương thuộc lẫn nhau, chúng giúp đỡ lẫn nhau bằng
cách này hay cách khác bất luận chúng có một ý thức cảm
xúc và bi mẫn mạnh mẽ hay không. Khi những con kiến kiếm
được một miếng bánh mì lớn, chúng giúp đỡ nhau để khiêng
nó. Để sống còn, con người tùy thuộc vào những người
anh em nhưng không đối xử với nhau như những người anh em.
Mọi người có một khuynh hướng tự nhiên là ước muốn
chứng nghiệm hạnh phúc và tránh né đau khổ. Khi bạn quan
tâm tới điều đó thì điều hết sức quan trọng là phải
nuôi dưỡng một thái độ vị tha để giúp đỡ những người
khác.
Chúng
ta đã có được đời làm người này. Chúng ta có làm cho
nó có giá trị hay không thì tùy thuộc vào thái độ tinh thần
của chính chúng ta. Nếu chúng ta giữ một thái độ không
thành thật nhưng biểu lộ một vẻ mặt nhân từ và tốt
lành, thì chúng ta tạo nên một lỗi lầm. Nếu ta có thái
độ vị tha này và đối xử với những người khác như họ
xứng đáng được đối xử thì hạnh phúc của riêng ta được
bảo đảm như một sản phẩm phụ của sự làm việc vì hạnh
phúc của người khác. Khi chúng ta chứng nghiệm hạnh phúc,
chúng ta nên hoan hỉ trong sự thật rằng đó là kết quả
của các thiện hạnh chúng ta đã làm trong quá khứ. Đồng
thời, ta nên hồi hướng đức hạnh đó cho hạnh phúc của
tất cả chúng sinh trong niềm hy vọng là họ cũng có thể
kinh nghiệm được loại hạnh phúc này. Nếu chúng ta trải
qua nỗi đau khổ, chúng ta nên nhận thức rằng nó là hậu
quả của những ác hạnh ta đã mắc phạm trong quá khứ, và
ta nên phát triển một ước muốn là qua kinh nghiệm của ta
về nỗi đau khổ này, trong tương lai mọi đau khổ mà chúng
sinh khác phải chịu đựng có thể tránh được. Hãy thệ
nguyện rằng dù bạn có thành tựu Giác ngộ hay không thì
bạn cũng sẽ làm việc vì hạnh phúc của những chúng sinh
khác, dù có xảy ra điều gì chăng nữa. Khi đã nhận được
những giáo huấn về phương cách chiến thắng thái độ quy
ngã, bạn có thể chết không chút hối tiếc. Khi tôi cho những
giải thích về sự thực hành của tôi trong mong muốn phát
triển ước nguyện đạt được Giác ngộ này, tôi cảm thấy
hết sức may mắn được làm như thế. Miệng và lưỡi của
tôi đã làm tròn mục đích của chúng. Các thính giả và độc
giả nên vui mừng được may mắn lớn lao khi trở nên quen
thuộc với các giáo lý kỳ diệu như thế mà sự thực hành
chúng đem lại những lợi lạc cho cả hiện tại lẫn tương
lai.
Sự
thực hành Bồ đề tâm rất cần thiết cho những ai ước
muốn thành tựu giác ngộ. Tất cả chư Phật và Bồ Tát trong
quá khứ đã thành tựu những chứng ngộ cao cấp này nhờ
nuôi dưỡng thái độ vị tha. Trải qua thời gian, một vài
hệ tư tưởng đánh mất sự thích đáng của chúng. Đức
Phật đã dạy rằng đời sống là tài sản yêu quý nhất
của chúng ta và chúng ta nên đối xử với cuộc đời những
người khác còn quan trọng và quý báu hơn cuộc đời của
chính ta. Loại thông điệp và giáo lý này vẫn giữ được
sự thích đáng của nó trải qua những thời đại. Trong thời
hiện đại khi có một hiểm họa to lớn hủy diệt toàn thể
thế giới, chúng ta nhận ra thông điệp của Đức Phật càng
lúc càng thích đáng hơn nữa.
Phương
pháp khác để phát triển khát khao vị tha đạt được Giác
ngộ là việc làm bình đẳng và hoán đổi bản thân ta với
những người khác. Bước đầu tiên trong sự thực hành này
là nhận thức những thuận lợi trong việc hoán chuyển chính
ta với những người khác và những bất lợi của việc không
làm như thế. Mọi phẩm tính tốt đẹp trong thế giới này
là sản phẩm của việc yêu quý hạnh phúc của người khác,
và mọi thất vọng và lầm lạc cùng những đau khổ là sản
phẩm và kết quả của những thái độ ích kỷ. Nhưng có
thể hoán đổi chính ta với những người khác không ? Kinh
nghiệm của ta xác chứng rằng ta có thể thay đổi thái độ
đối với những loại người nào đó mà trước đây ta thấy
ghê tởm và sợ hãi họ, rằng khi ta gần gũi và hiểu biết
họ hơn, thì chúng ta có thể thay đổi thái độ của ta. Hoán
đổi ta và những người khác không có nghĩa là bạn hoán
đổi thân xác chính bạn thành những người khác mà đúng
hơn, thái độ bạn có về bản thân bạn được áp dụng
cho những người khác. Sự yêu quý mạnh mẽ mà bạn cảm
thấy đối với chính bạn bây giờ được di chuyển sang những
người khác khiến cho bạn sẽ có một khuynh hướng tự nhiên
làm việc cho sự lợi lạc của người khác thay vì cho bạn.
Có
hai trở ngại chính khi phát triển một thái độ như thế.
Đầu tiên là sự phân biệt mạnh mẽ này giữa ta và những
người khác, thấy ta và người khác hoàn toàn độc lập và
tách biệt. Thật ra, ta và người thì tương đối, giống như
“bên này của ngọn núi” và “bên kia của ngọn núi.”
Từ cái nhìn của tôi, tôi là cái tôi và bạn là người khác,
nhưng từ cái nhìn của bạn, thì bạn là cái tôi và tôi là
người khác. Chúng ta cũng có một cảm giác lãnh đạm tự
nhiên bởi vì ta cảm thấy hạnh phúc và đau khổ của những
người khác không phải là công việc của ta; chúng không thành
vấn đề đối với ta. Rồi chúng ta phải nhớ rằng có những
loại người nào đó, như những thân quyến của ta là những
người ta coi là rất thân thiết. Mặc dù những thân quyến
của bạn không phải là bạn, những đau khổ và hạnh phúc
mà họ kinh nghiệm ảnh hưởng tới bạn. Cũng thế, mặc dù
sự thật là thân thể chúng ta gồm có nhiều bộ phận –
đầu, tay, chân – chúng ta coi thân thể của ta, là tập hợp
của những bộ phận, như cái gì rất quý giá. Cùng cách như
thế, chúng ta nên xem xét cái nối kết chúng ta, nét đặc
trưng chung nhất mà mọi chúng sinh như chính chúng ta tham dự
vào, là ước muốn tự nhiên đạt được hạnh phúc và tránh
né đau khổ. Chúng ta nhìn một người từ bỏ đời mình vì
người khác là cao quý, nhưng ta cho rằng hy sinh mười người
để cứu một người thì đúng là điên khùng. Điều này
không dính dáng gì với tôn giáo; nó chỉ là một đáp ứng
của con người. Vì thế, việc từ bỏ những quyền hành,
lợi lạc, và đặc ân của một thiểu số cho lợi ích của
nhiều người là đúng đắn và công bằng. Đây là điều
Đức Phật dạy – đó là từ bỏ những đặc ân và quyền
lợi của một cá nhân cho hạnh phúc của tất cả chúng sinh
bao la vô hạn như không gian, là đúng đắn và công bằng.
Khi
cố gắng thực hành sự hoán đổi ta và người, chúng ta gặp
sự kháng cự mạnh mẽ từ khuynh hướng tự nhiên và thái
độ quy ngã của chính chúng ta. Rất cần thiết phải chiến
thắng chúng. Quan niệm rằng hạnh phúc và đau khổ của người
khác không là vấn đề đối với tôi, vì thế tôi không cần
làm việc vì người khác, là một chướng ngại nổi bật.
Nhưng ta nên suy nghĩ rằng giờ đây mặc dầu chúng ta không
phải là tương tự những người mà chúng ta sẽ trở thành
hai mươi năm nữa, nhưng thật là điên rồ nếu không quan
tâm tới những người mà chúng ta sẽ trở thành trong tương
lai. Thật là điên rồ khi làm những điều sẽ khiến cho họ
đau khổ về sau. Bạn cũng nên suy nghĩ rằng khi bạn dẵm
lên một cái gai nó làm chân bạn bị đau, một bàn tay bạn
rút cái gai ra mặc dù bàn tay đó không phải chịu đau đớn.
Chỉ bởi sự quen thuộc và thói quen mà chúng ta có sự bám
chấp mạnh mẽ vào cái tôi của chúng ta và nhìn bất kỳ
cái gì có liên quan với chúng ta là rất quý báu và là cái
gì được yêu mến. Nhờ sự liên tục làm cho quen thuộc chúng
ta có thể phát triển một thái độ mạnh mẽ là yêu quý
hạnh phúc của những người khác. Mặc dù chúng ta đã từng
làm việc để đạt được hạnh phúc và giải thoát khỏi
đau khổ từ vô thủy, thái độ quy ngã của ta đã khiến
chúng ta phải chịu đựng đau khổ ghê gớm. Nếu ở một
lúc nào đó trong quá khứ chúng ta đã có thể thay đổi thái
độ này và thay vì yêu mến bản thân, chúng ta yêu quý hạnh
phúc của những người khác, thì bây giờ chúng ta đã thành
tựu sự đại lạc của Phật Quả.
Vì
thế, chúng ta nên quyết định: “Từ nay trở đi tôi sẽ
hiến dâng bản thân tôi, ngay cả thân thể tôi, cho hạnh phúc
của những người khác. Từ giờ trở đi, tôi sẽ không làm
việc cho hạnh phúc của riêng tôi mà đúng hơn, vì hạnh phúc
của những người khác. Từ nay trở đi, người khác giống
như chủ nhân của tôi; thân thể tôi sẽ vâng lời và thi
hành mệnh lệnh của người khác thay vì của tôi.” Khi suy
nghĩ về những bất lợi và tai hại to lớn của thái độ
ích kỷ, bạn nên phát triển một quyết định mạnh mẽ,
nói với thái độ yêu quý bản thân rằng: “Sự thống trị
của mi đối với tâm thức ta là một việc trong quá khứ.
Từ nay trở đi ta sẽ không vâng theo mệnh lệnh của mi nữa.
Mi chỉ gây cho ta những tai họa to lớn do những phương cách
thủ đoạn của mi. Từ nay trở đi, đừng giả bộ là mi đang
làm việc cho hạnh phúc của riêng ta, bởi ta đã nhận ra rằng
mi là kẻ thù vĩ đại và là căn nguyên của mọi thất vọng
và đau khổ của ta. Nếu ta không từ bỏ mi và làm việc vì
người khác, thì mi sẽ lại nhận chìm ta trong những đau khổ
của sự tái sinh bất hạnh.” Hãy hiểu rằng một thái độ
quy ngã là căn nguyên của mọi đau khổ, và sự quan tâm tới
người khác là suối nguồn của mọi hạnh phúc và điều
tốt lành.
Nếu
bạn gặp mười người ăn xin nghèo khổ như nhau, sẽ là sai
lầm khi tạo những sự phân biệt trong số những người đó,
khẳng định rằng một vài người đáng được giúp đỡ
hơn những người kia. Nếu có mười người đau ốm như nhau,
bắt đầu tạo ra sự phân biệt trong những người đó là
vô nghĩa. Cũng vậy, bạn nên phát triển một thái độ bình
đẳng đối với tất cả những chúng sinh khác, họ đang đau
khổ hay có khả năng bị đau khổ. Những chúng sinh này đã
biểu lộ thiện tâm bao la với bạn trong quá khứ. Từ một
quan điểm tôn giáo, ngay cả kẻ thù cũng tốt lành vì họ
đem lại cho bạn cơ hội để phát triển sự nhẫn nhục.
Tất cả chúng ta có cùng bản tánh, và tất cả chúng ta đang
phải chịu một số phận như nhau; không có vấn đề đối
kháng và thù địch lẫn nhau. Chư Phật chỉ thấy những vô
minh là lỗi lầm cần loại trừ; các ngài không bao giờ phân
biệt trong các chúng sinh đang bị vây chặt bởi những vô
minh, một vài người cần giúp đỡ và những người khác
thì không. Nếu một vài chúng sinh thực sự xấu xa tự bản
chất thì chư Phật sẽ nhìn thấy điều này và sẽ từ bỏ
họ. Bởi chư Phật – là những người nhìn thực tại chân
xác như nó là – không hành xử theo lối này nên chúng ta
có thể kết luận rằng điều xấu là một ưu phiền nhất
thời có thể được tiệt trừ. Có nói rằng nếu có hai người
lại gần Đức Phật, một người dùng vũ khí tấn công Đức
Phật, và người kia xoa bóp Đức Phật bằng dầu, thì ngài
sẽ không ưu đãi người này hơn người kia.
Như
vậy trong ý nghĩa tối hậu, kẻ thù và bạn bè không hiện
hữu. Điều này không có nghĩa là không có những người đôi
khi giúp đỡ ta và những người khác thỉnh thoảng làm hại
ta. Điều chúng ta quan tâm ở đây là cố gắng chiến thắng
những cảm xúc bất thường của ta. Chúng ta nên suy nghĩ về
tính chất tương đối của bạn bè và kẻ thù để giảm
bớt sự trói buộc của những phản ứng cảm xúc. Như thế
chúng ta có thể dễ nhận ra hơn nữa những lợi lạc của
sự yêu quý những người khác – là cánh cửa đi vào sự
thành tựu mọi phẩm tính tốt đẹp. Rồi chúng ta sẽ ước
muốn làm việc cho những người khác một cách tự nhiên,
và sự thờ ơ mà trước đây chúng ta cảm thấy đối với
những người khác giờ đây có thể được áp dụng cho hạnh
phúc của riêng ta. Sự bám luyến mạnh mẽ theo cảm tính thường
nối kết với hạnh phúc của chính ta trong quá khứ thì nay
có thể được chuyển dời cho người khác.
Nếu
ta suy nghĩ kỹ lưỡng, ta có thể thấy rằng ngay cả sự thành
tựu Giác ngộ của riêng ta cũng tùy thuộc vào những người
khác rất nhiều. Không có sự thực hành ba loại tu tập về
giới, định và tuệ thì chúng ta không có cách nào để đạt
tới Niết bàn. Sự thực hành ba loại tu tập bắt đầu với
đạo đức, như nguyện không sát sinh. Nếu không có những
chúng sinh khác, làm sao ta có thể kềm chế không giết hại
họ ? Tất cả những thực hành này tùy thuộc vào sự tham
dự của những người khác. Tóm lại, ngay từ lúc bắt đầu
được thọ thai trong bụng mẹ tới nay, chúng ta đã hoàn toàn
tùy thuộc vào lòng tốt và sự góp phần của những người
khác. Một người Tây Tạng sẽ không hưởng thụ được trà
Tây Tạng nếu không có sự tham dự của những con vật như
bò cái yak. Sữa là quyền lợi tự nhiên của con bê, nhưng
chúng ta lấy nó đi và làm thành bơ. Không có các đóng góp
của chúng sinh khác, chúng ta sẽ không có những vật phẩm
này. Sự thực cũng tương tự với chỗ ở, thực phẩm và
đặc biệt đối với danh tiếng. Trong thế giới hiện đại,
nếu không có những hoạt động của những nhà báo thì không
ai có thể trở nên nổi tiếng. Cho dù một người la hét lớn
tiếng thì người ấy cũng không trở nên nổi tiếng theo cách
đó.
Chúng
ta nhận ra rằng chính sự sống còn của ta là cái gì tùy
thuộc vào những người khác. Đây là sự thật trong thế
giới và là sự thật trên con đường: mọi sự tùy thuộc
vào sự tham dự và lòng tốt của những người khác. Vì thế,
nếu chúng ta quán chiếu theo đường lối như thế thì sự
tưởng nhớ của ta về lòng tốt của những người khác sẽ
có một chiều kích rộng lớn hơn. Tôi thường lưu ý rằng
nếu bạn muốn ích kỷ, bạn nên làm điều đó trong một
cách thức thật thông minh. Phương cách ích kỷ ngu dại là
cách chúng ta luôn luôn làm việc, tìm kiếm hạnh phúc cho độc
nhất bản thân chúng ta và trong tiến trình đó, càng ngày
càng khốn khổ hơn. Phương cách ích kỷ thông minh là làm
việc cho hạnh phúc của người khác bởi bạn là một vị
Phật sẽ thành.
Để
không bao giờ tách lìa nguyện ước trở thành một vị Phật
vì những người khác, ngay cả trong những đời tương lai,
chúng ta phải duy trì những loại tu hành nào đó. Đặc biệt,
chúng ta nên từ bỏ bốn hành động tiêu cực và thực hành
bốn thiện hạnh kết hợp với sự tu hành này. Hành động
tiêu cực thứ nhất là lừa dối vị Thầy tâm linh của bạn,
đặc biệt bằng việc nói dối. Hành động tiêu cực thứ
hai là làm cho một hành giả tôn giáo vốn không ân hận về
những thiện hạnh trong quá khứ của họ trở nên ân hận
về những việc đó do điều bạn nói. Hành động tiêu cực
thứ ba là lăng nhục các vị Bồ Tát, là những đấng đã
phát triển Bồ đề tâm, bằng cách xem thường và nhục mạ
các ngài. Chúng ta nên hết sức thận trọng tránh làm điều
này. Kinh Đại Bát Nhã giảng về sự nghiêm trọng của việc
phát sinh lòng sân hận. Nếu bạn nhận thức rằng bạn đã
cáu giận đối với một vị Bồ Tát, thì điều hết sức
quan trọng là phải lập tức ân hận về điều đó, và tiến
hành những phương tiện tịnh hóa hành động tiêu cực của
bạn với một quyết định mạnh mẽ sẽ không bao giờ cho
phép mình làm những hành động như thế sau này. Chướng ngại
lớn nhất ngăn cản việc nuôi dưỡng lòng bi mẫn và ước
nguyện đi tới Giác ngộ là sự thù ghét những người khác.
Hành động tiêu cực thứ tư là lừa dối người khác mà
không có chút lương tri nào, đặc biệt là che đậy lỗi lầm
của bạn và giả bộ có được những chứng ngộ cao siêu.
Bốn
thiện hạnh thì đối nghịch với bốn hành động này. Thiện
hạnh thứ nhất là không bao giờ nói dối bất kỳ chúng sinh
nào. Có một ít ngoại lệ mà bạn phải nói dối để bảo
vệ Pháp hay người khác nhưng mặt khác, bạn nên tránh nói
dối bất kỳ ai. Thiện hạnh thứ hai là sự trung thực, và
thiện hạnh thứ ba là tán thán và kính trọng các vị Bồ
Tát là những người thường xuyên làm việc cho người khác.
Hơn nữa, rất khó quyết đoán ai là và ai không là một Bồ
Tát, vì thế tốt hơn, ta nên phát triển một ý thức kính
trọng mạnh mẽ đối với tất cả chúng sinh và luôn luôn
nói tốt về họ cùng tán thán những phẩm tính tích cực
của họ. Thiện hạnh thứ tư là cổ vũ người khác làm việc
cho sự thành tựu Phật Quả, trạng thái Toàn Giác.