CHƯƠNG
8
BỐN
SỰ THẬT
Để
xây dựng một ước nguyện kiên cố muốn giải thoát khỏi
vòng sinh tử, chúng ta phải khảo sáùt điều kiện của ta
và xem xét các lý do chúng ta muốn được giải thoát. Điều
trước tiên cần nhận thức là thân xác và tâm thức chúng
ta bị quy hướng về sự đau khổ. Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ
Diệu Đế) – giáo lý đầu tiên của Đức Phật – đề
cập tới vấn đề này một cách trực tiếp. Những sự thật
này là sự thật về đau khổ (Khổ đế), sự thật về căn
nguyên của đau khổ (Tập đế), sự thật về việc chấm
dứt đau khổ (Diệt đế), và sự thật về con đường dẫn
tới sự chấm dứt đau khổ (Đạo đế). Quyết định của
Đức Phật khi giảng dạy những sự thật trong chuỗi tiếp
nối này có ý nghĩa to lớn đối với sự thực hành của
chúng ta. Để nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc nhận
thức rằng điều chúng ta thường coi là hạnh phúc thực ra
là sự đau khổ, trước tiên Đức Phật đã dạy sự thật
về đau khổ.
Khi
nhận thức rằng bạn đã rơi vào một đại dương của đau
khổ, bạn sẽ phát triển ước muốn được giải thoát khỏi
nỗi khổ đó, và vì mục đích đó, trước hết bạn sẽ
nhận ra rằng cần phải tiệt trừ căn nguyên của đau khổ.
Khi tìm kiếm căn nguyên của đau khổ, bạn tìm thấy những
vô minh và các hành động gây nghiệp. Rồi bạn sẽ có thể
nhận thức được rằng vòng sinh tử và những đau khổ của
nó được tạo ra bởi những hành động nghiệp của chính
bạn, chúng lần lượt bị thúc đẩy bởi những vô minh, được
cắm rễ sâu trong sự tin tưởng sai lầm về sự vững chắc
hay hiện hữu bẩm sinh của bản ngã. Nếu phân tích cách chúng
ta nghĩ về bản ngã như thế nào, ta sẽ nhận ra rằng chúng
ta có khuynh hướng cho là nó hiện hữu tự bản chất, độc
lập với tâm thức và thân xác. Tuy thế, khi ta cố gắng định
vị nó, thì nó tránh né chúng ta. Đức Phật dạy rằng cái
ngã như thế không hiện hữu và niềm tin của ta nơi một
bản ngã độc lập là nguyên nhân chính yếu của mọi đau
khổ.
Trong
nhiều miền đất khác nhau, một nhóm người không chấp nhận
có bất kỳ đời sống nào sau cái chết và một nhóm thì
chấp nhận là có. Những người chấp nhận có đời sống
sau cái chết có thể được chia làm hai nhóm: một nhóm quả
quyết rằng những vô minh và ô nhiễm của tâm thức có thể
được tiệt trừ và tịnh hóa, trong khi nhóm kia tin rằng chúng
không thể. Nhóm sau xác quyết rằng chừng nào tâm thức còn
đó thì không bao giờ chúng ta có thể tịnh hóa và tách lìa
tâm thức ra khỏi những vô minh. Vì thế, sự tiệt trừ vô
minh có nghĩa là tâm thức phải được chấm dứt. Trong nhóm
người tin rằng cuối cùng tâm thức có thể được tách lìa
ra khỏi những ô nhiễm và vô minh của nó – đó là những
người tin vào Niết bàn – một số người đồng hóa Niết
bàn với một nơi chốn hoàn toàn thoát khỏi những đau khổ,
một nơi chốn vui vẻ vừa ý trên một cảnh giới cao quý.
Những người khác đồng hóa Niết bàn với tâm thái trong
đó các vô minh hoàn toàn được tan hòa vào thực tại. Niết
Bàn hiện hữu ngay trên nền tảng của tự tâm. Đây là quan
điểm của đạo Phật
.
Sự
thật về sự Đau khổ (Khổ đế)
Để
hiểu được sự thật thứ nhất, là sự đau khổ, người
ta phải thiền định về khổ. Chúng ta tự coi mình là vật
quý giá nhất trong vũ trụ, và chúng ta tự xử sự như thể
chúng ta còn quý báu hơn một vị Phật. Nhưng loại bám chấp
đó vẫn không đưa tới hạnh phúc viên mãn. Từ vô thủy
chúng ta đã từng trải qua vòng sinh tử và đã có vô số
cuộc đời. Từ thời thơ ấu tới bây giờ, chúng ta đã từng
thăng trầm, chịu đựng mọi thứ thất vọng và lầm lạc.
Đời sống chúng ta bị bao vây bởi những vấn đề, những
sự đau khổ, cùng cực, thất vọng. Cuối cùng thì cuộc đời
này sẽ chấm dứt với cái chết, và sau đó chúng ta không
xác quyết được là nó sẽ dẫn ta đi tới đâu. Chúng ta
nên thực sự xem xét có hay không một con đường để giải
thoát chính bản thân ta khỏi sự hiện hữu không vừa ý này.
Nếu cuộc đời là cái gì phát sinh độc lập với những
nguyên nhân và điều kiện (duyên), và chấm dứt không có
sự tương tục thêm nữa, thì chúng ta sẽ không có cách nào
để thoát khỏi. Và nếu điều đó là sự thật thì
chúng ta nên sống theo những nguyên lý khoái lạc. Nhưng chúng
ta biết rằng nỗi khổ là thứ gì chúng ta thực sự không
mong muốn, và nếu có thể có được sự hoàn toàn tự do
đối với nó thì sự tự do đó xứng đáng để đạt tới.
Các
hành nghiệp của thân, ngữ, và tâm là những thứ trói buộc
chúng ta vào vòng sinh tử và đau khổ. Như ta biết, chúng ta
có thể tích tập những hành động này ngay cả trong một
phút chốc, và phút chốc đó có thể ném chúng ta vào một
cảnh giới thấp. Sự trói buộc này bắt rễ trong một tâm
thức không được điều phục và gây nên bởi sự vô minh
của riêng ta, sự ngộ nhận của chính ta về bản ngã. Ý
niệm theo bản năng này về một thứ bản ngã độc lập,
cô lập thúc đẩy chúng ta miệt mài trong đủ mọi loại hành
động tiêu cực, nó đưa đến sự đau khổ. Thái độ quy-ngã
này đã từng là đạo sư của chúng ta, chúng ta đã luôn luôn
vâng theo mệnh lệnh của nó. Chúng ta phải nhận thức rằng
chúng ta không có lợi lạc gì khi tuân theo huấn lệnh của
nó. Chừng nào chúng ta còn làm như thế thì không có cơ hội
để có hạnh phúc. Trong hoàn cảnh này chúng ta nên khảo sáùt
xem có thể chiến thắng được sự mê lầm (vô minh) này hay
không.
Chính
kinh nghiệm về việc sinh ra là một khổ nhọc cho cả người
mẹ lẫn đứa con. Sau khi ta sinh ra, sự vô minh có một ảnh
hưởng theo bản năng đối với thân xác và tâm thức ta, ngăn
cản tâm thức hướng về sự thực hành Pháp. Chính thân thể
của ta trở thành những nguyên nhân cho sự phát khởi các
vô minh. Ví dụ như khi thân thể bị suy yếu bởi các bệnh
tật nào đó, bạn sẽ trở nên cáu giận, và khi nó mạnh
khỏe hơn thì bạn có sự tham muốn. Sự sinh ra chắc chắn
được tiếp theo bởi cái chết, và theo sau cái chết là sự
tái sinh khác. Nếu điều này chưa đủ, chính sự tái sinh
sẽ là nền tảng cho những đau khổ hơn nữa, bởi sự tái
sinh này chuẩn bị môi trường cho những vô minh hơn nữa,
chúng lại thúc đẩy những hành động tiêu cực gây nên những
hậu quả nghiệp báo.
Sự
hiện hữu làm người này mà chúng ta ôm giữ như báu vật
thì phát sinh từ cái gì dơ bẩn. Thân xác chúng ta được
sinh ra từ sự kết hợp những sinh chất của cha mẹ, là tinh
dịch, và trứng. Nếu chúng ta nhìn thấy máu và tinh dịch
trên một cái khăn hay một giọt chảy xuống mặt đất, chúng
ta sẽ hoảng hồn. Tuy vậy chúng ta vẫn tiếp tục tôn thờ
thân xác của riêng mình. Chúng ta cố gắng phủ lên thân thể
mình những quần áo tốt đẹp và che đậy mùi của nó bằng
nước hoa. Cha mẹ chúng ta cũng được sinh ra từ những chất
thể tương tự, cha mẹ và ông bà của họ cũng vậy. Nếu
chúng ta truy nguyên nó, ta sẽ thấy thân xác là sản phẩm
kết quả của tất cả những chất thể bất tịnh này. Nếu
truy cứu một bước nữa, ta có thể thấy thân xác giống
như một bộ máy để sản xuất phân và nước tiểu. Khi bạn
nhìn thấy những con giun đất ăn bùn đất ở một đầu và
sau đó bài tiết nó ở đầu kia, bạn thấy chúng thật đáng
thương. Sự thật thì thân thể của chính chúng ta cũng tương
tự như vậy; chúng ta vẫn tiếp tục ăn và tiếp tục bài
tiết. Một thân xác như thế thì không có gì để yêu mến.
Hơn
nữa, nhân loại có tiềm năng đe dọa chính sự sống còn
của trái đất. Do tâm thức không được điều phục, có
những người không chỉ tích tập kho tàng các hành động
tiêu cực mà họ cũng làm ảnh hưởng đến đời sống của
vô số người, gây nên sự khốn cùng, đau khổ, và dày vò.
Rồi
thì có đau khổ do sự già nua. Sự già nua xảy ra từ từ;
nếu không thì chúng ta sẽ không thể chịu đựng nổi nó
một chút nào. Khi già đi, chúng ta mất sự mềm dẻo đã có
khi ta còn trẻ; ta không thể tiêu hóa thức ăn mà có một
thời ta ưa thích. Chúng ta không thể nhớ lại tên người
hay đồ vật mà ta thường hồi tưởng một cách sống động.
Dần dần răng chúng ta rụng đi, và chúng ta mất đi thị lực
và thính lực. Cuối cùng chúng ta tới một giai đoạn tàn
tạ mà người ta bắt đầu chỉ nhìn thấy một cảnh tượng
gớm ghiếc của chúng ta. Khi bạn tới giai đoạn cần sự
giúp đỡ của người khác, thì người ta sẽ xa lánh bạn.
Kế
tiếp, có đau khổ do bệnh tật. Sự đau khổ về thể xác
và buồn phiền trong tâm thức tăng lên, và bạn phải mất
nhiều ngày đêm bị bệnh tật tàn phá. Bệnh tật ngăn cản
bạn không được dùng món ăn bạn ưa thích, và bạn bị cản
ngăn không được làm những điều bạn thích làm. Bạn phải
dùng những loại thuốc có mùi vị dễ sợ. Kế tiếp là đau
khổ vì cái chết. Bạn sẽ chia tay những vật sở hữu quý
báu của bạn, và bạn sẽ chia tay với những người thân
yêu của riêng bạn, và bạn sẽ chia tay với thân thể của
chính bạn đã từng đi theo bạn suốt cả cuộc đời. Nỗi
khổ của cái chết hết sức rõ ràng đối với chúng ta; không
cần thiết phải giảng nghĩa nó thêm nữa.
Rồi
có đau khổ do gặp gỡ điều không ưa muốn, như những kẻ
thù. Trong đời này, nhiều kinh nghiệm xảy ra nghịch lại
với ước muốn của chúng ta. Những người Tây Tạng chúng
tôi đã mất sự tự do; đây là đau khổ của sự gặp gỡ
không ưa muốn. Ngay cả những người ở một nước siêu cường
như Hoa Kỳ cũng bị bao vây bởi mọi thứ vấn đề. Vì họ
được nuôi dưỡng trong sự thừa thãi vật chất như thế,
đôi khi họ trở nên hư đốn. Do sự cạnh tranh thả dàn nên
đời sống của họ nhiều lo âu hơn những dân tộc khác.
Sự cạnh tranh tốt đẹp đến một điểm nào đó, nhưng nếu
nó nằm ngoài sự kiểm soát như ở Hoa Kỳ, thì nó tạo nên
sự ganh tỵ và tràn đầy bất mãn. Ở các quốc gia phát triển
về vật chất, có quá nhiều thực phẩm đến nỗi đôi khi
người ta đổ chúng xuống biển, trái lại ở phía khác của
hành tinh là những quốc gia, như các nước ở Châu Phi, có
hàng triệu người đang chết đói. Thật khó tìm ra một người
nào hoàn toàn mãn nguyện.
Kế
tiếp là đau khổ do bị lấy đi điều mình mong muốn. Người
Tây Tạng chúng tôi mất quê hương và phải chia ly với những
người thân yêu của mình. Cũng có đau khổ do không đạt
được điều mong muốn dù đã tìm cầu. Cho dù bạn làm việc
trong những cánh đồng, bạn không thu hoạch vụ mùa tốt đẹp,
hoặc nếu bạn bắt đầu một công việc nhưng nó không thành
công.
Viễn
cảnh khác về sự đau khổ là chiêm nghiệm đau khổ của
sự bất định. Trong vòng sinh tử này, trải qua tiến trình
của nhiều sự tái sinh, và đôi khi trong một đời duy nhất,
mọi sự đều thay đổi. Cha mẹ chúng ta biến thành kẻ thù,
thân quyến của ta sẽ trở thành thù địch, những kẻ thù
của ta sẽ trở thành bằng hữu, về sau cha mẹ chúng ta sinh
ra làm con của chính chúng ta. Không có sự chắc chắn. Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng chúng ta nên cố gắng ngăn ngừa loại
thay đổi bất thường có tính chất cảm tính khi xử sự
với người khác, được đặt nền trên sự phân biệt hay
phân loại một vài người là kẻ thù và một vài người
khác là người thân hay bằng hữu. Chúng ta nên suy nghĩ về
tính chất bất định của toàn thể cuộc đời trong vòng
sinh tử này và cố gắng phát triển một số ý thức chán
ghét đối với sự luân hồi sinh tử.
Cũng
có đau khổ do thiếu sự bằng lòng. Nếu chúng ta thực sự
khảo sát xem bao nhiêu thực phẩm ta đã dùng suốt tiến trình
của một đời người thì ta cảm thấy thất vọng và tự
hỏi có ích lợi gì khi chúng ta dùng chúng. Nhưng đó mới
chỉ riêng trong đời này, nếu chúng ta xem xét tất cả các
đời quá khứ của ta – ví dụ như tổng số sữa ta đã
uống từ những bà mẹ của ta khi ta là những đứa trẻ sẽ
như thế nào ? Nó vượt ngoài trí tưởng tượng. Bạn nên
suy nghĩ về mọi loại thành đạt và đau khổ trong vòng sinh
tử này và hãy nghĩ rằng không có loại kinh nghiệm nào mà
bạn không từng trải qua trong vòng sinh tử. Chúng ta cố gắng
hưởng thụ để có được những thứ thỏa mãn tinh thần,
nhưng khi chúng ta cố gắng bao nhiêu để vui hưởng lạc thú
và hạnh phúc của vòng sinh tử ta vẫn không có được sự
hài lòng; nó đúng là vô tận. Bạn nên suy nghĩ về sự không
hài lòng này, cái mà tự nó là một đau khổ vĩ đại. Chúng
ta đã từng kinh qua mọi kinh nghiệm này và lặn hụp trong
vòng sinh tử từ vô lượng kiếp. Khi suy nghĩ về sự vô ích
của những kinh nghiệm như thế, bạn cần xác định rằng
nếu bây giờ bạn không dừng hẳn vòng sinh tử lẩn quẩn
này, thì việc tiếp tục nó chỉ hoàn toàn là sự vô ích.
Vì thế bạn nên phát triển một ý thức nhàm chán sâu xa
đối với toàn bộ các thứ kinh nghiệm trong vòng sinh tử
này.
Có
sự đau khổ do phải từ bỏ thân xác không biết bao nhiêu
lần. Cho tới bây giờ chúng ta đã sống quá nhiều cuộc đời
và có quá nhiều thân mạng, và chúng ta vẫn không thể sử
dụng chúng trong một phương cách có ý nghĩa. Chúng ta đã
không thành tựu được điều gì chỉ bằng cách mang vô số
thân xác này. Chúng ta đã phải chịu đựng sự thụ thai rất
nhiều lần. Đức Phật nói rằng nếu chúng ta đếm số lượng
những bà mẹ của ta bằng cách để riêng ra những viên sỏi,
mỗi viên tượng trưng cho một bà mẹ của ta, thì việc tính
đếm này không thể chấm dứt.
Hãy
quán chiếu về sự kiện mọi sự thành công thịnh vượng
trong vòng sinh tử đều chấm dứt trong một loại khốn khổ
và thất vọng nào đó. Như các bản văn nói, sự chấm dứt
của thâu hoạch là suy kiệt, chấm dứt của địa vị cao
trọng là sự sụp đổ, sự chấm dứt của gặp gỡ là chia
ly, và sự chấm dứt của đời sống là cái chết. Tóm lại,
mọi kinh nghiệm, niềm vui, và hạnh phúc trong vòng sinh tử
này, dù chúng xuất hiện mạnh mẽ và to lớn đến đâu, đều
chấm dứt với nỗi khốn khổ.
Cuối
cùng, một viễn cảnh xa hơn nữa với ba loại đau khổ. Loại
thứ nhất được gọi là đau khổ do đau khổ, là những kinh
nghiệm hiển nhiên do nỗi đau đớn thể xác và tinh thần
mà ta thường xem là đau khổ. Loại thứ hai được gọi là
đau khổ do sự thay đổi. Vì tất cả niềm vui và hạnh phúc
thế gian cuối cùng biến thành những đau khổ, nên chúng được
gọi là những đau khổ do sự thay đổi. Những đau khổ do
sự thay đổi được nhận diện sai như những kinh nghiệm
hạnh phúc. Ví dụ, nếu bạn bị sốt hay cảm thấy rất nóng,
thì khi nước mát được tạt lên người bạn, bạn sẽ cảm
thấy một thứ phúc lạc. Đây là cái chúng ta coi là hạnh
phúc. Hoặc nếu bạn đang đi bộ một thời gian dài và một
lát sau bạn có cơ hội ngồi xuống, thì giây phút đó dường
như thực sự rất hỉ lạc. Tuy nhiên, thực ra nó không phải
là một kinh nghiệm hỉ lạc; cái bạn đang thực sự kinh nghiệm
là một sự chấm dứt từ từ của đau khổ trước đó. Nếu
việc ngồi xuống là một niềm vui chân thực thì việc tiếp
tục ngồi phải tạo ra cho bạn niềm vui tương tự, nhưng
nếu bạn tiếp tục ngồi, thì một lát sau bạn sẽ thấy
mệt và sẽ muốn đứng dậy.
Loại
đau khổ thứ ba là đau khổ do bị tùy thuộc khắp cả, là
sự kiện tâm thức và thân thể chúng ta bị tùy thuộc đến
nỗi nó có thể bị đau khổ bất kỳ lúc nào. Ba loại đau
khổ có thể được minh họa theo cách này. Nếu bạn bị một
vết phỏng và bạn dùng một thứ thuốc mỡ cho bạn một
loại cảm thức về sự che chở và khoan khoái, điều đó
giống như đau khổ do sự thay đổi, bởi vì mặc dù đó là
sự khoan khoái nhất thời, nó sẽ không kéo dài. Sau đó nếu
có ai ngẫu nhiên chạm vào vết phỏng hay nước nóng văng
vào nó, bạn sẽ thực sự cảm thấy đau đớn. Đó là nỗi
khổ hiển nhiên, nỗi khổ do sự đau khổ. Cái khiến cho hai
loại đau khổ này có thể có được là trước hết chúng
ta có vết phỏng đó. Nếu ta không bị phỏng, chúng ta sẽ
không có những kinh nghiệm theo sau. Vết phỏng cung cấp điều
kiện cho đau khổ lớn mạnh hơn nữa, giống như sự
sở hữu của chúng ta về một thân xác và tâm thức khiến
cho ta phải chịu đau khổ lớn mạnh hơn. Và bản chất của
chính thân xác cung cấp điều kiện để bị phỏng. Nó có
khuynh hướng chịu đau khổ. Đây là đau khổ do bị tùy thuộc
toàn bộ, khắp cả.
Chúng
ta nên nhận thức rằng những nỗi khổ của súc sinh, ngạ
quỷ, và chúng sinh ở địa ngục cũng có thể xảy ra ở trong
nhân loại. Nhiều người chết vì đói. Dường như đôi khi
họ phải ăn lá cây và cả một số côn trùng và sâu bọ.
Những điều đó rất giống các kinh nghiệm của ngạ quỷ.
Nỗi khổ tương tự đang xảy ra hiện nay ở Châu Phi, nơi
hàng triệu người đang chết vì đói. Khi các quốc gia ở
trong cảnh chiến tranh, do những dị biệt về chính trị, thì
người dân đau khổ hầu như đang sống trong cảnh giới địa
ngục.
Ngay
cả các vị trời cũng đau khổ. Họ có thể biết trước
cái chết của mình nên họ đau khổ trong tâm thức. Ta được
cho biết là các vòng hoa của họ héo rũ, quần áo và thân
thể họ bắt đầu hôi thối. Khi đã kinh nghiệm tất cả
những lạc thú của thiên đường, họ cạn kiệt toàn bộ
tiềm lực để làm những hành động tích cực. Kết quả
là khi chết, họ sẽ đi thẳng xuống các cảnh giới thấp
của sinh tử. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng như vậy, khi đã quán
chiếu về những đau khổ tổng quát của tất cả chúng sinh
trong vòng sinh tử nói chung và cũng như những đau khổ đặc
thù của mỗi loài trong các cảnh giới luân hồi, thì chúng
ta nên phát triển một cảm thức nhàm chán sâu xa đối với
mọi kinh nghiệm trong sinh tử và phát triển một sự từ bỏ
sâu sắc. Sau đó, chúng ta sẽ bắt đầu thực sự khảo sáùt
một cách chính xác xem đâu là các nguyên nhân đưa tới những
khốn khổ và thất vọng như vậy. Vì vậy vấn đề của
sự thật thứ hai, sự thật về căn nguyên của sự đau khổ,
sẽ đến sau đó.
Sự
thật về căn nguyên của đau khổ
Sự
mê lầm (vô minh) là nguyên nhân chính của sự tái sinh trong
vòng sinh tử. Không có các mê lầm thì những hành động nghiệp
sẽ không có năng lực để tạo nên sự tái sinh; chúng sẽ
như các hạt giống bị đốt cháy. Điều tối quan trọng là
phải tìm cách đối trị những mê lầm, và điều đó lần
lượt tùy thuộc vào việc bạn có nhận diện các mê lầm
một cách đúng đắn hay không. Vì vậy, chúng ta phải hết
sức thông hiểu về các đặc tính tổng quát và đặc thù
của những mê lầm. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất nói
hãy điều phục một kẻ thù ở bên trong, đó là sự mê lầm.
Các kẻ thù ở bên ngoài dường như có thể rất nguy hại,
nhưng trong những đời sau họ có thể biến thành bằng hữu
của ta. Mặc dù thế, họ cung cấp cho ta cơ hội để thực
hành sự nhẫn nhục và lòng bi mẫn vì ở nền tảng thì tất
cả chúng ta đều giống nhau: hết thảy chúng ta đều muốn
hạnh phúc và không thích đau khổ. Nhưng kẻ thù bên trong,
là kẻ thù vô minh, thì không có các phẩm tính tích cực;
nó chỉ là cái để bị chống lại và bị hủy diệt. Vì
vậy chúng ta phải nhận diện kẻ thù đích thực và tìm xem
nó hoạt động như thế nào. Bất kỳ trạng thái tinh thần
nào hủy diệt sự an tĩnh của tâm thức và đem lại sự khổ
nhọc tinh thần, nó làm xáo trộn, làm ưu phiền và dằn vặt
tâm thức, được gọi là một mê lầm (vô minh).
Chúng
ta hãy nhận diện vài mê lầm chính. Đầu tiên, đó là sự
tham muốn, là sự ham muốn mạnh mẽ những người đẹp, những
vật đẹp đẽ, hay những kinh nghiệm dễ chịu. Sự tham muốn
rất khó trừ bỏ; như thể tâm thức bạn trở nên gắn chặt
với đối tượng. Một mê lầm khác là sự sân hận. Khi người
nào đó trở nên sân hận, ta có thể nhìn thấy lập tức
là họ đánh mất sự điềm tĩnh, khuôn mặt họ đỏ lên
và nhăn nhúm, và ngay cả đôi mắt họ cũng trở nên đỏ
ngầu. Đối tượng của sự sân hận, dù có sự sống hay
vô tri, là cái gì được nhận thấy không đáng ưa và gớm
ghiếc. Sự sân hận chính là một tâm thái không được điều
phục, hết sức thô lậu và bất ổn. Sự mê lầm khác, tính
tự phụ, là một tâm thái trong đó người ta cảm thấy kiêu
hãnh về thân thế, địa vị và kiến thức của riêng mình,
nó được đặt nền trên một thái độ quy ngã. Bất luận
mình có thực sự thành tựu được điều gì hay không, họ
cảm thấy tự mãn. Người có sự tự phụ sâu xa sẽ hết
sức vênh vang và có vẻ rất tự mãn. Kế tiếp là sự vô
minh, quan niệm sai lầm về đặc tính của Bốn Sự Thật Cao
Quý, định luật nghiệp quả, và v.v… Trong phạm vi riêng
biệt này, vô minh ám chỉ một yếu tố tinh thần hoàn toàn
ngu muội đối với bản tánh của Tam Bảo và định luật
nghiệp quả. Sự mê lầm vì hoài nghi là tư tưởng lưỡng
lự về việc có hay không Bốn Sự Thật Cao Quý, có hay không
định luật nghiệp quả.
Phạm
trù khác của các mê lầm là những tà kiến, những nhận
thức sai lầm sống động về bản tánh của thực tại. Cái
đầu tiên trong những tà kiến này là một tâm thái tập trung
vào bản ngã của con người và vọng tưởng rằng nó hiện
hữu thực sự và có bản chất – tưởng tượng là trong
thân xác và tâm thức vô thường của chúng ta có một loại
bản ngã nào đó thường hằng, độc lập. Các loại tà kiến
khác là tin rằng không có đời sống sau cái chết, không có
định luật nghiệp quả, và không có Tam Bảo. Dựa trên tà
kiến về bản ngã, các mê lầm khác phát sinh. Ví dụ, nếu
có một sợi dây thừng cuộn tròn và có màu hơi sậm, bạn
có thể nhận định sai lầm sợi thừng cuộn tròn đó là
một con rắn. Rồi ý tưởng sai lầm rằng sợi thừng là một
con rắn sẽ làm tăng lên mọi loại phản ứng trong tâm thức
bạn, như sự sợ hãi, và sẽ dẫn tới mọi loại hành động,
như vùng chạy ra khỏi nhà hoặc cố gắng giết con rắn, tất
cả được đặt nền trên một ngộ nhận đơn thuần. Cùng
cách thức đó, chúng ta tin tưởng sai lầm là thân và tâm
có loại bản ngã nào đó, và do đó mọi mê lầm khác, như
tham muốn và sân hận, tiếp nối theo sau. Do bởi thái độ
quy ngã, cái vọng tưởng về bản ngã này, chúng ta phân biệt
giữa bản thân và người khác. Rồi dựa trên việc những
người khác xử sự với chúng ta thế nào, ta coi một vài
người là thân thiết và cảm thấy bám luyến đối với họ,
và coi những người khác là xa cách và phân loại họ như
kẻ thù. Sau đó chúng ta có những kinh nghiệm về sự sân
hận và oán ghét và trụ bám vào chính mình, chúng ta trở
nên tự mãn và kiêu hãnh. Rồi thì, nếu sự trói chặt của
vọng tưởng về bản ngã quá mạnh, chúng ta có thể bắt
đầu đặt vấn đề về giá trị của bản thân Đức Phật
là người đã giảng dạy về sự vô ngã. Bởi thế, chúng
ta có thể bắt đầu hoài nghi định luật nghiệp quả, Bốn
Sự Thật Cao Quý, và Tam Bảo. Những tà kiến này đưa tới
các hoài nghi. Tất cả những điều này phát sinh là do sự
tin tưởng sai lầm vào một bản ngã hiện hữu nội tại.
Khi
mê lầm phát khởi trong bạn, nó làm đảo lộn sự an tịnh,
sự tỉnh thức của tâm bạn, và nó cũng che ám phán đoán
của bạn về người khác. Nó để lại một dấu vết hết
sức mạnh mẽ. Nó không chỉ gây họa hại cho bạn mà cũng
cho những người khác nữa. Ví dụ như nếu bạn quá sân hận
đến nỗi bắt đầu đánh người khác, thì bạn gây phiền
não cho những người láng giềng của bạn. Sự sân hận sẽ
giảm sút năng lực đức hạnh của bạn và sẽ làm cho bạn
mất mát tài sản và bằng hữu. Khi một người nằm dưới
sự thống trị của sân hận, người ấy thực sự đánh mất
nhân tính. Con người chúng ta được trang bị một cách tự
nhiên một bộ óc hết sức tinh vi, và chúng ta có khả năng
phán đoán cái gì đúng cái gì sai và cân nhắc mặt trái mặt
phải của một tình huống. Chúng ta có đặc ân tự nhiên
đó, so với các hình thức luân hồi khác thì nó là điều
độc nhất vô nhị của con người, nhưng khi ta chịu ảnh
hưởng nặng nề của sự mê lầm thì ta sẽ mất đi năng
lực đó. Mặc dù có thể quyết định làm điều gì đó,
nhưng chúng ta đánh mất khả năng phán đoán. Sự điều phục
tâm thức là công việc quan trọng nhất của đời người.
Sự
thật về sự Chấm dứt đau khổ
Như
ngài Tsong-kha-pa đã nói, tất cả các cảnh giới mà ta có
thể tái sinh trong vòng sinh tử, từ tột đỉnh của sự hiện
hữu xuống tới địa ngục thấp nhất, đều có một bản
chất đau khổ.
Những
đau khổ này không xảy đến mà không có nguyên nhân, chúng
cũng không được tạo nên bởi một loại Thượng Đế toàn
năng nào đó. Chúng là những sản phẩm của các mê lầm của
riêng ta và những hành động nghiệp bị thúc đẩy bởi những
tâm thái không được điều phục. Nguyên nhân chính yếu của
mọi đau khổ là sự vô minh, nó nhận thức sai lầm bản tánh
của các hiện tượng và tự coi mình là bản ngã hiện hữu.
Sự vô minh này đưa dẫn chúng ta đến chỗ cường điệu
tình trạng của các hiện tượng và tạo ra các phạm trù
“ta và những người khác.” Những thứ này đem lại các
kinh nghiệm tham muốn và sân hận, chúng lần lượt dẫn đến
mọi thứ hành động tiêu cực. Nếu chúng ta không ước muốn
những đau khổ này, chúng ta nên quyết định xem có thể tống
khứ chúng hay không. Nếu sự vô minh nhận thức sai lầm bản
ngã là một ý thức sai lạc, thì nó có thể được tiệt
trừ bằng cách sửa đổi lại sự sai lầm. Điều này có
thể được hoàn tất nhờ phát sinh trong tâm thức chúng ta
một trí tuệ thấu hiểu cái đối nghịch trực tiếp với
tâm thái vọng tưởng đó, một trí tuệ nhận ra rằng bản
ngã như thế không hiện hữu tự bản chất. Khi chúng ta so
sánh hai tâm thái này – một tâm thái tin tưởng vào một
bản ngã hiện hữu tự bản chất, tâm thái kia nhận thức
sự vắng mặt của một cái ngã như thế – sự nhận thức
về bản ngã có thể xuất hiện thoạt tiên hết sức mãnh
liệt và mạnh mẽ. Nhưng vì nó là một ý thức sai lầm nên
nó không có cơ sở luận lý. Loại tâm thức kia, sự hiểu
biết về vô ngã, có thể rất yếu ớt ở giai đoạn ban đầu,
nhưng nó có cơ sở luận lý. Sớm hay muộn, trí tuệ nhận
thức cái vô ngã này sẽ giành được sự thắng thế. Ở
giai đoạn ban đầu, chân lý có thể không rõ ràng lắm, nhưng
khi ta đến gần nó hơn thì nó trở nên càng lúc càng tự
hiển lộ. Điều gì sai lầm ở giai đoạn đầu dường như
có thể hết sức mạnh mẽ và chắc chắn, nhưng cuối cùng,
khi chúng ta truy xét sâu xa hơn, nó trở nên mỏng manh hơn nữa
và cuối cùng tan biến mất.
Sự
mê lầm thì tách biệt với ý thức; nó không phải là thành
phần cốt tủy của tâm. Ví dụ như người nào đó rất hay
cáu giận nhưng cũng có lúc tâm hồn được bình an. Ngay cả
một người hết sức sân hận thì không có nghĩa là lúc nào
người ấy cũng phải nóng giận. Vì vậy, khi những tâm thái
mê lầm này như sự sân hận và tham muốn phát sinh trong chúng
ta, chúng thực sự hết sức mãnh liệt và mạnh mẽ, nhưng
chừng nào ta còn ý thức thì không thể có việc chúng luôn
luôn hiển lộ. Một yếu tố khác là chúng ta không thể có
hai loại tâm thái đối nghịch tập trung vào một đối tượng
cùng một lúc, như hết sức oán ghét một người và đồng
thời lại thương xót người đó thật sâu sắc.
Trong
tâm thức chúng ta có nhiều phương diện khác nhau, là những
phương diện hết sức vi tế, một số tiêu cực, một số
thì tích cực. Trong hai đối cực này, chúng ta nhận ra rằng
cũng hiển nhiên là ta càng nâng cao và tăng trưởng sự quen
thuộc của ta ở một mặt, thì sự bám chấp về mặt kia
trở nên yếu đi. Vì vậy, những ô nhiễm và mê lầm trong
tâm thức chúng ta có thể được tiệt trừ. Kinh nghiệm riêng
của ta chứng thực rằng một số người khi còn trẻ thực
sự hết sức cáu giận và dễ gây hấn, nhưng sau này họ
chuyển hóa thành những người rất dễ thương. Điều này
cho thấy có thể chuyển đổi được tâm thái của chúng ta.
Khi chúng ta làm cho tâm mình quen thuộc với lòng bi mẫn thì
sức mạnh của sân hận sẽ từ từ giảm bớt.
Sự
thật về con đường chấm dứt đau khổ
Khi
đã nhìn thấy mọi kinh nghiệm trong vòng sinh tử có một bản
chất đau khổ, chúng ta cần phát triển một ước muốn chân
thực giải thoát khỏi nó. Được thúc đẩy bởi ước nguyện
đó, chúng ta cần đi vào con đường của ba loại tu hành:
tu hành giới hạnh, thiền định, và trí tuệ. Trong ba loại
này, trí tuệ chứng ngộ sự vô ngã là pháp đối trị sẽ
tiệt trừ những mê lầm. Để đạt mục đích này, trước
tiên chúng ta cần sự kiên cố tinh thần của thiền định
như nền tảng, và điều đó lại tùy thuộc vào sự tuân
giữ giới hạnh thanh tịnh. Vì thế, chúng ta cũng cần tu hành
giới hạnh. Ở giai đoạn ban đầu, việc tu hành giới hạnh
phải được ưu tiên; đó là việc cần yếu tức thì.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng chánh niệm tỉnh giác và nội quán là
nền tảng của toàn thể Giáo Pháp. Để có một sự tuân
giữ giới hạnh trong sạch, ta cần có các khả năng nội quán
và chánh niệm tỉnh giác đúng đắn. Sự kềm chế không làm
mười hành động tiêu cực của những cư sĩ nam và cư sĩ
nữ trong việc tuân giữ giới hạnh thanh tịnh là nền tảng
của sự thực hành con đường đưa đến Giác ngộ. Nếu chúng
ta không xem xét các điều cần thiết phải thực hành, như
sự tuân giữ giới hạnh, mà thay vào đó lại tìm kiếm các
thực hành phức tạp hơn, thì sự thực hành của chúng ta
sẽ chỉ là một sự giả mạo và không thật nghiêm túc. Với
sự thực hành ba loại tu hành này, chúng ta nên làm việc cho
sự thành tựu giải thoát, không chỉ cho bản thân chúng ta
mà cũng cho chúng sinh khác.
Đời
sống con người được nói là hình thức tốt nhất của sự
hiện hữu để thực hành Pháp và nỗ lực đem lại một sự
chấm dứt vòng sinh tử này. Trong nhân loại, đời sống của
cư sĩ bị xáo trộn với mọi thứ phiền não và vấn đề,
và họ còn bị vướng bận hơn với các hoạt động thế
tục không thật lợi lạc cho việc thực hành Pháp. Đời sống
của một nhà sư hay ni cô được nói là có lợi cho việc
thực hành Pháp nhiều hơn, để có thể chấm dứt vòng sinh
tử này. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng việc quán chiếu về những
khiếm khuyết, bất lợi của đời sống cư sĩ và những thuận
lợi của đời sống tăng và ni sẽ củng cố cam kết của
bạn đối với một đời sống như vậy nếu bạn đã là
một nhà sư hay ni cô. Nhưng nếu người nào không chọn một
lối sống như thế, thì sự quán chiếu như vậy sẽ để
lại một dấu ấn thuộc về nghiệp hết sức mạnh mẽ trong
tâm thức của họ khiến cho sau này họ sẽ có cơ may đưa
tới một đời sống như thế. Trong đời sống cư sĩ, nếu
bạn quá giàu, đời bạn sẽ bị xáo trộn với những vấn
đề và lo lắng bảo vệ tài sản của bạn; còn nếu bạn
nghèo, thì cả đời bạn sẽ chỉ vướng bận trong việc tìm
kiếm phương tiện vật chất. Có nhiều của cải vật chất
và không biết đủ không phải là lối sống của một tăng
hay ni. Các tăng và ni không nên vướng bận vào công việc
buôn bán trừ phi họ rơi vào một thứ nợ nần nào đó. Kinh
doanh buôn bán và vướng bận quá nhiều trong việc cố gắng
kiếm tiền khi bạn có đủ thực phẩm là điều thực sự
nên tránh. Nếu bạn không sống phù hợp với lối sống tu
viện, cùng đức khiêm tốn và hài lòng, thì ngoài sự khác
biệt đơn thuần bên ngoài của các loại y phục, sẽ khó
có dị biệt nào giữa các cư sĩ và tăng ni.
Có
một nhà sư ở tu viện Ganden là một thiền giả hết sức
nghiêm cẩn. Ông giữ một lời nguyện không bao giờ sống
dưới một mái nhà và đã thực hiện điều đó trong nhiều
năm. Ông kể với tôi là một hôm ông đang thiền định thì
một con rắn lớn bò trước mặt và chỉ chăm chú nhìn ông.
Vị thiền giả nhìn con rắn và bắt đầu nói vài ngôn từ
có tính chất tôn giáo. Tôi thấy việc này khá ngồ ngộ,
vì có vẻ như thể thiền giả đang ban giáo lý cho con rắn.
Ông nói với tôi là con rắn nhìn ông một lúc lâu và sau đó
nhẹ nhàng trườn đi.
Chính
Đức Phật đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giới luật.
Khi Ngài thị tịch, được hỏi ai sẽ là người kế tục,
Đức Phật nói sự thực hành giới luật phải là người
hướng dẫn và Đạo sư của toàn thể giáo lý Phật giáo.
Ngài gọi giới luật là người kế nhiệm của Ngài.
Để
chiến thắng được sự đa tạp của những mê lầm, điều
quan trọng là kiểm soát tâm của riêng bạn, và bất kỳ cảm
xúc nào mạnh mẽ và đa tạp hơn cần được đưa ra trước
tiên. Ví dụ, một số người rất ham muốn khoái lạc, một
số người rất hay cáu giận, một số người rất si mê và
lười biếng. Bạn nên kiểm soát cá tính của bạn và cố
gắng chiến thắng bất kỳ cảm xúc nào rõ ràng và mạnh
mẽ nhất trong tâm thức bạn. Như đã giảng ở trên, bạn
nên thực sự nỗ lực để bảo đảm rằng không có giới
nguyện nào của bạn bị phá vỡ. Tuy nhiên, nếu bạn nhận
ra vài giới nguyện đã bị vi phạm, bạn không nên để mặc
chúng như thế mà đúng hơn, nên thực hiện những giải pháp
cần thiết và lập tức sửa chữa và tịnh hóa chúng. Việc
tịnh hóa sự vi phạm phải luôn luôn được song hành bởi
một quyết định hết sức sâu xa không tái phạm nó. Việc
có quan niệm “tôi làm gì không thành vấn đề vì cho dù
tôi có vi phạm các giới nguyện, tôi vẫn có thể sửa
chữa lại chúng” thì thực sự nguy hiểm, giống như cố
ý dùng chất độc và nghĩ rằng bạn có thể được cứu
chữa.
Khi
đã nhận thức tầm quan trọng của giới hạnh và quán chiếu
về việc bạn sẽ bình an biết bao nếu bạn có thể giải
thoát khỏi những mê lầm này, thì, như được giảng ở trên,
trước tiên bạn nên nhận diện những mê lầm một cách đặc
biệt. Nhận diện được chúng rồi, hãy quán chiếu về bản
tánh hủy diệt của chúng, và sau đó thực hành chánh niệm
và năng lực của sự nội quán. Bất kỳ những mê lầm nào
mạnh mẽ và hiển nhiên hơn cần được truy kích lập tức,
giống như đập bất kỳ cái gì ló ra bằng một cái búa.
Nếu bạn hoàn toàn để mặc chúng, chúng sẽ thực sự làm
hại bản thân bạn và những người khác. Mê lầm dường
như rất mạnh mẽ, nhưng nó không có hiệu quả nếu bạn
phân tích nó một cách cẩn trọng. Có lần tôi hỏi một trong
những vị Thầy của tôi là không biết những mê lầm có
thực sự yếu ớt không, vì đôi khi chúng có vẻ rất mạnh
mẽ. Ngài trả lời rằng mê lầm yếu ớt bởi vì anh không
cần đến các vũ khí hạt nhân để hủy diệt chúng. Tôi
bắt đầu hiểu được điều ngài muốn nói. Để cuộc chiến
đấu chống lại những mê lầm thành công, tất cả những
gì chúng ta thiếu là ý muốn và nỗ lực cần thiết. Việc
đánh bại những kẻ thù của ta – những mê lầm – là một
vấn đề rộng lớn cần có thái độ đúng đắn. Tâm thái
của chúng ta quan trọng đến nỗi bất kỳ lúc nào vị Đạo
sư Ấn Độ Atisha gặp gỡ ai, câu đầu tiên mà ngài hỏi
là: “Hôm nay ông có thiện tâm không ?” Có lúc bạn có thể
đánh bại những kẻ thù thông thường, nhưng chúng có thể
tập họp lại và tấn công lần nữa. Nhưng một khi các mê
lầm đã bị tiệt trừ thì chúng không thể hồi sinh được
nữa.
Bất
kỳ nhận thức nào bạn có được từ sự thực hành Pháp
của bạn cần được đánh giá và phán đoán dựa trên căn
bản của sự cam kết của bạn với định luật nghiệp quả
có tăng tiến không, và do đó, sự thực hành giới hạnh của
bạn có trở nên trong sạch không, và sức mạnh của những
mê lầm, như tham, sân và si có giảm sút không. Nếu bạn nhận
thấy do sự thực hành của bạn, bạn đã chế ngự để chuyển
hóa tâm thức bạn, và đã chiến thắng vài biểu hiện to
lớn của những mê lầm như sự sân hận, oán ghét, vô minh
và tham muốn, thì điều đó thực sự là một thành tựu to
lớn. Như ngài Shantideva nói, các anh hùng bình thường giết
các kẻ thù của họ không thực sự là anh hùng vì những
người họ giết sớm muộn gì cũng phải chết; họ đang thực
sự giết các tử thi. Nhưng người đang chiến đấu chống
lại những mê lầm và có thể giết chết kẻ thù đó là
một vị anh hùng trong ý nghĩa đích thực của ngôn từ.