CHƯƠNG
7
NGHIỆP
Các
kết quả của nghiệp rất rõ ràng: những hành động tiêu
cực luôn luôn gây ra đau khổ, và những hành động tích cực
luôn luôn mang lại hạnh phúc. Nếu bạn hành động tốt, bạn
sẽ có hạnh phúc; nếu bạn hành động xấu, bản thân bạn
sẽ đau khổ. Các hành động gây nghiệp của chúng ta đi theo
ta từ đời này sang đời khác, điều này giải thích vì sao
một số người thường xuyên mê đắm trong sự tiêu cực
vẫn thành công trên bình diện thế gian hay những người gắn
bó với sự thực hành tâm linh lại gặp phải vô số khó
khăn. Các hành động nghiệp quả đã được chất chứa trong
vô số đời, vì thế có vô lượng tiềm năng cho vô lượng
kết quả. Nghiệp lực luôn luôn tăng trưởng trải qua thời
gian. Các hột giống nhỏ bé có tiềm năng sản sinh số lượng
trái cây khổng lồ. Cũng đúng như thế đối với nguyên nhân
và kết quả nội tại, chỉ một hành động nhỏ có thể
gây nên một kết quả to lớn, dù tích cực hay tiêu cực.
Ví dụ, có một lần một cậu bé cúng dường Đức Phật
một nắm cát, cậu tưởng tượng thật sống động rằng
nắm cát chính là vàng. Trong một đời sau, cậu bé được
tái sinh làm vua Asoka, vị Hoàng đế Phật tử. Từ một hành
động tích cực nhỏ bé nhất có thể đưa tới kết quả
to lớn nhất là hạnh phúc, cũng thế, hành động tiêu cực
nhỏ bé nhất có thể gây ra sự đau khổ hết sức mãnh liệt.
Tiềm năng của nghiệp tăng trưởng trong dòng tâm thức chúng
ta thì lớn lao hơn nhiều so với tiềm năng của những nguyên
nhân vật lý đơn thuần, như một hột giống táo. Giống như
những giọt nước có thể làm đầy một bình lớn, cũng thế,
những hành động nhỏ bé nhất, khi được gây phạm liên
tục, có thể làm đầy tràn tâm thức chúng sinh.
Trong
cộng đồng nhân loại, chúng ta thấy có nhiều sự khác biệt.
Một số người luôn luôn thành công trong cuộc sống, một
số luôn thất bại, một số người hạnh phúc, một số có
vóc dáng tốt đẹp và tâm hồn điềm tĩnh. Một ít người
dường như luôn luôn gặp phải bất hạnh to lớn, trái ngược
với sự mong chờ của ta. Một số người bạn nghĩ rằng
sẽ không gặp bất hạnh. Tất cả những điều này chứng
nhận sự thật là không có điều gì nằm trong tay ta hết.
Đôi lúc, khi ta cố gắng khởi đầu một nỗ lực, chúng ta
tích tập tất cả những điều kiện cần thiết được yêu
cầu cho sự thành công, nhưng vẫn còn điều gì đó bị bỏ
quên. Chúng ta nói rằng người nào gặp may mắn và ai đó
kém may mắn, nhưng chỉ lý do này thì không đủ; sự may mắn
có một lý do, một nguyên nhân. Theo sự giải thích của Phật
giáo, nó là kết quả của những hành động bạn đã tạo
tác trong đời trước hoặc trong giai đoạn trước đây ở
đời này. Khi tiềm năng đã chín mùi, thì mặc dù bạn đang
đương đầu với những tình huống bất lợi, tuy nhiên sự
nỗ lực tỏ ra có kết quả. Nhưng trong một vài trường hợp,
cho dù bạn có đầy đủ mọi điều kiện cần thiết,
nhưng bạn lại thất bại.
Dân
Tây Tạng chúng tôi đã trở thành những người tị nạn và
chịu đựng rất nhiều đau khổ, nhưng tuy thế chúng tôi may
mắn và thành công một cách tương đối. Ở Tây Tạng, người
Trung Hoa cố gắng làm cho toàn thể dân chúng trở nên bình
đẳng bằng cách lập ra các công xã và hạn chế tài sản
cá nhân. Nhưng tuy thế, trong các công xã, một số trang viên
có rau trái phát triển xum xuê hơn các trang viên khác, và một
số bò cho nhiều sữa hơn. Điều này cho thấy là có một
khác biệt to lớn giữa những phước đức của các cá nhân.
Nếu những thiện hạnh của người nào đó chín mùi, cho dù
nhà cầm quyền sung công tài sản của họ, thì người ấy
vẫn sẽ tỏ ra thành công nhờ sức mạnh phước đức của
họ, do sức mạnh của nghiệp báo đó. Nếu bạn tích tập
các thiện hạnh một cách đúng đắn, như tránh sát sinh, phóng
sinh các thú vật, và nuôi dưỡng sự nhẫn nại đối với
người khác, thì bạn sẽ nhận được lợi lạc trong tương
lai và trong những đời sau, trong khi nếu bạn mê say liên tục
trong những hành động tiêu cực thì chắc chắn là bạn sẽ
phải đối mặt với những hậu quả sau này. Nếu bạn không
tin tưởng nguyên lý nghiệp báo thì bạn có thể làm những
gì bạn thích.
Một
khi bạn tạo tác một hành động, đó là nguyên nhân cho một
phản ứng, nguyên nhân này còn tồn tại và tăng trưởng cho
tới khi hậu quả của nó được chứng nghiệm. Nếu bạn
không tạo tác một hành động bạn sẽ không bao giờ gặp
phải các hậu quả; còn một khi bạn đã tạo tác hành động,
thì trừ phi bạn tịnh hóa nó nhờ các thực hành đúng đắn,
hay nếu nó là một thiện hạnh, trừ phi nó bị phá hủy bởi
sự sân hận hay các yếu tố đối nghịch, kết quả của
hành động sẽ được kinh nghiệm. Một hành động, ngay cả
nó đã được thực hiện từ nhiều đời trước, sẽ không
bao giờ mất đi kết quả của nó chỉ vì yếu tố thời gian.
Các
hành động tích cực và tiêu cực được quyết định bởi
động lực riêng của con người. Nếu động lực tốt đẹp,
mọi hành động trở nên tích cực, nếu động lực sai lạc,
mọi hành động trở nên tiêu cực. Các hành động thuộc
nghiệp lực có nhiều loại khác nhau; một số hoàn toàn tốt,
một số hoàn toàn không tốt, một số thì pha trộn. Nếu
động lực đúng đắn thì mặc dù bản thân hành động có
thể xuất hiện hết sức dữ dội, nó sẽ đem lại hạnh
phúc, trong khi nếu động lực sai lạc và không chân thật,
thì mặc dù hành động dường như lợi lạc và tích cực,
trong thực tế nó sẽ là một hành động tiêu cực. Nó hoàn
toàn tùy thuộc vào tâm thức: nếu tâm bạn được điều
phục và tu tập, mọi hành động trở nên tích cực, trong
khi nếu tâm bạn không được điều phục và bị ảnh hưởng
thường xuyên bởi sự tham muốn và sân hận, thì mặc dù
các hành động có thể xuất hiện là tích cực, trong thực
tế bạn sẽ tích tập nghiệp tiêu cực. Nếu càng có nhiều
người biết tin tưởng vào định luật nhân quả nghiệp báo
thì chúng ta sẽ có thể không bao giờ phải cần tới một
lực lượng cảnh sát hay một hệ thống hình phạt. Nhưng
nếu người ta thiếu lòng tin thâm sâu vào các hành động
tạo nghiệp này, thì mặc dù ở bề ngoài người ta có thể
sử dụng đủ mọi loại kỹ thuật để thi hành luật lệ,
họ sẽ không thể tạo nên một xã hội thanh bình. Trong thế
giới tân tiến này, dụng cụ tinh vi được sử dụng để
giám sát và phát hiện những kẻ phạm pháp. Nhưng các máy
móc này càng hay ho và tinh xảo thì các phạm nhân càng trở
nên tinh vi và kiên quyết. Nếu xã hội con người này phải
chuyển hóa tốt đẹp hơn, thì việc chỉ củng cố một pháp
luật bên ngoài sẽ là không đủ; chúng ta cần một thứ ngăn
chặn từ bên trong.
Một
lối sống văn minh, thanh bình và một giá trị đạo đức
tâm linh nền tảng cần phải đi song hành. Trước năm 1959,
các vị vua Tây Tạng làm ra các luật lệ cho xứ sở đặt
căn bản trên quan niệm đạo đức Phật giáo. Mọi người
khắp thế giới đều nói rằng dân chúng Tây Tạng hòa nhã
và nhân từ hiếm có. Tôi không thấy bất kỳ lý do nào khác
để giải thích đặc điểm độc nhất vô nhị này của nền
văn hóa chúng tôi hơn là sự kiện nó đã từng được đặt
nền trên giáo lý bất bạo động Phật giáo trong rất nhiều
thế kỷ.
Có
ba cánh cửa qua đó chúng ta tạo tác các hành động: thân,
ngữ và tâm. Qua những cánh cửa này, chúng ta có thể tạo
ra hoặc mười hành vi tích cực hoặc mười ác hạnh. Trong
các ác hạnh, có ba thuộc về thân, bốn thuộc về ngữ, và
ba thuộc về tâm. Ác hạnh về thân đầu tiên là lấy đi
mạng sống của người khác. Để việc sát sinh xảy ra, phải
có chúng sinh khác; tự lấy đi mạng sống của mình không
được xem như cùng cách thế bởi vì không có ai khác bị
quan hệ. Nếu bạn có động lực ban đầu định giết một
người nào đó, nhưng lúc thực sự xảy ra việc giết người,
bạn ngẫu nhiên giết một người nào khác do sự lầm lẫn,
thì việc này không tạo thành một ác hạnh sát nhân hoàn
toàn. Trái lại, khi động lực của bạn ban đầu là giết
bất cứ người nào bạn gặp, thì nếu bạn giết bất kỳ
ai, điều đó tạo thành sự tích tập của ác hạnh sát nhân
trọn vẹn.
Sự
sát sinh có thể được thúc đẩy bởi bất cứ loại nào
trong ba độc: tham, sân, hay si. Ví dụ, chúng ta có thể giết
thú vật vì tham ăn thịt, ta có thể giết kẻ thù vì sân
hận, và có thể cử hành các việc giết thú vật để cúng
thần do sự si mê. Việc tự bạn làm hành động đó hay để
người khác làm thì không quan trọng; cả hai tạo nên hành
động sát sinh tiêu cực như nhau. Hành động sát sinh sẽ trọn
vẹn khi người bị giết phải chết trước người giết.
Hành
động tiêu cực thứ hai là sự trộm cắp. Sự trộm cắp
có thể được thúc đẩy bởi lòng tham muốn, hay bạn có
thể trộm cắp vì sân hận người nào đó, để làm hại
họ. Việc trộm cắp cũng có thể được thúc đẩy bởi sự
vô minh vì một tin tưởng sai lầm là bạn có thể lấy bất
kỳ cái gì bạn muốn. Ý định là tách lìa vật sở hữu
với chủ nhân của nó. Việc trộm cắp có thể được thực
hiện bởi sức mạnh hay bằng cách lén lút, hoặc bạn có
thể mượn cái gì đó và để cho chủ nhân của nó quên đi
rồi bản thân bạn giữ lấy nó, hay bạn mượn tiền và không
trả lại. Hành vi sẽ hoàn toàn khi bạn nghĩ rằng bây giờ
đồ vật thuộc về bạn. Dù cho bạn không tự trực tiếp
làm điều đó, nếu bạn để người khác trộm cắp cho bạn,
nó vẫn tạo thành việc trộm cắp.
Các
hành động cuối cùng trong ba hành động tiêu cực của thân
là tà dâm, là việc giao phối được thực hiện với một
người không thích hợp, ở một bộ phận thân thể không
thích hợp, vào một thời gian không thích hợp, ở một nơi
chốn không thích hợp, hay ngược lại ý muốn của người
khác – dĩ nhiên là gồm cả việc hãm hiếp. Đối với một
người đàn ông, các người nữ không thích hợp bao gồm mẹ
của mình, vợ hay bạn gái của ai khác, các gái điếm được
trả tiền nhất thời bởi người nào khác, các thân quyến
của mình, hay các người nữ đã thọ giới, như các ni cô.
Cũng gồm cả những người nam khác. Các bộ phận thân thể
không thích hợp là hậu môn và miệng. Các nơi không thích
hợp là chung quanh trụ xứ của vị Thầy của mình hay gần
một stupa (tháp) hoặc trong một thánh điện, hoặc trước
sự hiện diện của cha mẹ mình. Thời gian không thích hợp
đối với một người nam là khi người nữ có kinh nguyệt,
khi họ có thai, và lúc họ đang đau đớn bởi một bệnh tật
mà sự giao hợp sẽ làm bệnh tệ hơn. Nếu một người đàn
ông thực hiện sự giao hợp trong những cách thức này, ngay
cả với vợ của mình, thì điều đó được gọi là tà dâm.
Nói chung sự tà dâm được thực hiện bởi sự tham muốn,
nhưng người ta cũng có thể làm như thế bởi lòng sân hận,
như khi một người ngủ với vợ của một kẻ thù. Cũng thỉnh
thoảng nó được thực hiện do sự vô minh, cho rằng qua sự
giao hợp người ta có thể đạt được các chứng ngộ vĩ
đại. Hành động tiêu cực của sự tà dâm có thể chỉ bị
mắc phạm bởi chính mình, và hành động được tạo nên
rõ ràng khi hai cơ quan sinh dục giao tiếp.
Bốn
hành động tiêu cực kế tiếp là các hành vi thuộc lời nói.
Đầu tiên là sự nói dối. Việc này bao gồm sự nói nghịch
lại điều gì người ta đã thấy, nghe, hoặc biết là sự
thật. Việc nói dối có thể được thúc đẩy bởi sự tham
lam, sân hận, hay si mê. Ý định là làm lầm lạc người khác,
và nó có thể được thực hiện bằng cách nói hay gật đầu
hoặc ra hiệu bằng tay. Bất kỳ hành động nào được làm
vì ý định làm mê lầm người nào đó tạo nên tà hạnh
nói dối. Nếu người khác nghe nó, điều đó tạo nên sự
trọn vẹn của hành động này.
Kế
tiếp là nói chia rẽ. Ý định là gây sự chia rẽ giữa bằng
hữu hay những người trong cộng đồng tâm linh vì lợi lạc
của riêng mình hay vì lợi lạc của người khác. Dù người
ta có thành công trong việc gây chia rẽ hay không, thì giây
phút người khác nghe lời nói chia rẽ, điều đó tạo thành
sự trọn vẹn của hành động này.
Kế
tiếp là sự nói xấu. Ý định là nói ác, và hành vi sẽ
trọn vẹn khi những lời nói xấu được người nào nghe thấy.
Nói xấu bao gồm sự sỉ nhục người khác, nói về lỗi lầm
của họ, dù đúng hay không đúng; nếu người ta làm điều
này để làm hại người khác, thì đó là sự nói xấu.
Kế
tiếp là nói tầm phào vô nghĩa. Đó là nói lông bông không
có mục đích gì, và nó có thể được thúc đẩy bởi bất
kỳ một thứ nào trong ba độc. Ý định chỉ là nói chuyện
phiếm không có bất cứ lý do nào, hoàn toàn nói tầm phào
không có mục đích. Việc tiến hành của hành động này không
cần tới một người thứ hai. Bạn không cần một người
cùng tham dự; bạn có thể làm việc này bằng cách nói chuyện
với chính mình. Nói tầm phào vô ích gồm cả nói về chiến
tranh, lỗi lầm của người khác, hay tranh luận chỉ vì lý
lẽ. Nó cũng bao gồm việc đọc các sách không cần thiết
do sự tham muốn.
Cuối
cùng, có ba hành động tiêu cực của tâm, hành động thứ
nhất là sự tham muốn. Đối tượng của sự tham muốn là
các vật sở hữu thuộc về người khác. Sự mê lầm thúc
đẩy lòng tham muốn có thể là bất kỳ cái nào trong ba độc
– tham, sân, hay si. Việc làm trọn vẹn tà hạnh này đòi
hỏi năm yếu tố: sự tham muốn mạnh mẽ đối với vật
sở hữu của người khác, lòng ham muốn tích lũy của cải,
sự ham muốn của cải của người khác, sự ham muốn mình
có được của cải của người khác, và không thấy cái hại
trong việc ham muốn vật sở hữu của người khác. Nếu có
đầy đủ năm yếu tố này, thì khi người nào ham muốn điều
gì, nó sẽ làm trọn vẹn việc thực hiện của hành động
thuộc tâm thức này.
Kế
tiếp là ý định xấu, nó tương tự việc nói ác. Ý định
là làm thương tổn người khác hay nói ác hoặc hy vọng rằng
những người khác sẽ chịu bất hạnh và thất bại trong
các hoạt động của họ. Một khi ta mê say trong những tư
tưởng như thế, thì kết quả hay sự trọn vẹn là bạn đánh
đập người ấy hoặc trong tâm có ý định làm như thế.
Việc này cũng đòi hỏi năm yếu tố: đó là ta có – như
một động lực nền tảng – sự oán ghét hay sân hận, ta
thiếu sự nhẫn nhục, ta không nhận thức các lỗi lầm của
sự sân hận, ta thực sự có ý định làm hại người khác,
và ta không nhận thức được các lỗi lầm của ý định
xấu đủ để làm đầy tràn ý đồ tai hại của mình. Chỉ
ước muốn người khác sẽ bị đau khổ đã là một ý định
xấu.
Điều
cuối cùng trong mười hành động tiêu cực là những tà kiến
hay những quan điểm sai lầm trong đó ta phủ nhận sự hiện
hữu của những sự việc thật sự hiện hữu. Nói chung có
bốn loại tà kiến: các tà kiến đối với nguyên nhân, đối
với hậu quả, đối với chức năng của một sự việc, và
đối với sự hiện hữu của một sự việc. Tà kiến đối
với nguyên nhân là tin rằng không có hành động theo nghiệp
báo; đối với hậu quả là tin rằng những hành động nào
đó không có kết quả; đối với chức năng là nghĩ rằng
trẻ con không do cha mẹ chúng sinh ra và các hạt giống không
tạo ra các kết quả của chúng, và cũng cho rằng không có
đời trước hay đời sống sau khi chết. Loại tà kiến thứ
tư là tà kiến đối với các sự việc hiện hữu – sự
tin tưởng do bởi vô minh và lòng tham muốn là các đấng Giác
ngộ, Niết bàn, và Tam Bảo không hiện hữu. Ngài Tsong-kha-pa
nói rằng mặc dù có nhiều loại tà kiến, những tà kiến
này thực sự cắt đứt căn nguyên tích tập đức hạnh của
con người và do đó thúc đẩy cá nhân đó miệt mài trong
các hành động tiêu cực không có bất kỳ sự kiềm chế
nào. Vì vậy, các tà kiến về Tam Bảo và định luật nhân
quả được nói là những tà kiến lớn nhất trong các tà
kiến.
Chúng
ta cũng nên lưu tâm tới sự trầm trọng tương đối của
các hành động tạo nghiệp. Khi hành vi được thúc đẩy bởi
những mê lầm hết sức mãnh liệt thì hành vi đó được
nói là rất nghiêm trọng. Cách thức hành vi thực sự được
thực hiện cũng quyết định sức nặng của nghiệp. Ví dụ,
nếu một hành động giết người được mắc phạm với sự
vui thích to lớn, trước tiên là tra khảo nạn nhân và sau
đó nhạo báng, sỉ nhục họ, việc đó được cho là hết
sức nghiêm trọng bởi tính cách phi nhân trong việc người
đó hay chúng sinh bị giết. Nếu tâm kẻ sát nhân không có
lương tri hay sự hổ thẹn, bấy giờ do hắn không có các
lực lượng chống lại nên tà hạnh sát sinh hết sức nghiêm
trọng. Nếu hành động sát sinh của bạn bị thúc đẩy bởi
sự vô minh, như làm một lễ tế thần, cho rằng việc sát
sinh này thực sự là một hành vi tôn giáo và nó không tạo
thành một hành động tiêu cực, thì điều này được cho
là rất nghiêm trọng.
Nói
chung, bạn càng hoàn thành trọn vẹn những hành động tiêu
cực nào đó, thì hành vi càng trở nên nghiêm trọng. Sức
nặng của nghiệp cũng tùy thuộc vào người tiến hành hành
động. Nếu bạn hồi hướng công đức của bạn cho sự lợi
lạc của chúng sinh vì mục đích thành tựu sự Giác ngộ,
điều đó được coi là có hiệu lực hơn, trong khi đó, nếu
nó được hồi hướng vì những mục đích thấp hơn, thì
sẽ được coi là ít hữu hiệu. Điều này cũng được áp
dụng cho hành vi tiêu cực; động lực của các mê lầm càng
mạnh mẽ thì hành động theo nghiệp lực càng mạnh, và trong
tất cả những mê lầm này, sự sân hận được coi là mạnh
mẽ nhất. Chỉ một phút chốc sân hận đối với một vị
Bồ Tát sẽ hủy diệt tất cả những đức hạnh bạn đã
tích tập trong hàng ngàn kiếp.
Hậu
quả của những hành động tiêu cực cũng được đặt nền
trên cường độ của những mê lầm thúc đẩy chúng. Cũng
có những hậu quả tương ứng với nguyên nhân. Ví dụ, do
tội sát sinh, ngay cả khi đã tái sinh trong đời sống ở các
cõi thấp, người ta được tái sinh làm người, nhưng đời
người ấy sẽ ngắn ngủi. Do ăn cắp, người ta sẽ thiếu
thốn của cải vật chất, kết quả của việc tà dâm là
người ta sẽ có một người vợ rất không chung thủy, kết
quả của lời nói thô ác là người ta sẽ sỉ nhục bạn,
kết quả của lời nói gây chia rẽ là sẽ có sự bất hòa
trong bạn bè v.v… Kết quả của việc sát sinh trong một đời
trước, ngay cả khi làm người, người ta sẽ có sự thúc
đẩy theo bản năng và thích thú trong việc sát nhân. Cũng
có những kết quả có tính chất môi trường, chúng cùng chín
mùi hơn nữa đối với một tập thể. Ví dụ, do kết quả
của việc sát sinh, người ta sẽ phải sống ở một nơi mùa
màng không thật tốt, sự thu hoạch không phong phú, vùng đất
rất khô cằn, khí hậu không thật trong lành, đầy rẫy các
loại cây và gai độc. Là hậu quả có tính chất môi trường
của việc trộm cắp, một người chủ trại sẽ không có
những mùa màng thành công. Kết quả theo môi trường của
các tà kiến là người ta sẽ không có sự che chở và không
có nơi quy y (nương tựa).
Nếu
như kết quả của giới hạnh, người ta kềm chế không đắm
mình trong những hành động tiêu cực này và quyết định
không mê đắm trong chúng, thì điều đó tạo nên sự tích
tập các hành động tích cực. Tuy nhiên, nếu ta không có khả
năng hay năng lực để mê say trong những hành động tiêu cực,
điều đó không có nghĩa là ta đã tích tập các thiện hạnh;
thiện hạnh chỉ có thể được tích tập khi ta có khả năng
hay năng lực để làm các hành động tiêu cực này nhưng ta
không làm do kềm chế theo giới luật.
Một
số hành động được tạo tác nhưng không làm một cách cố
ý, như những việc ngộ sát, sát sinh trong giấc mộng, hay
làm điều gì nghịch lại ý muốn của ai. Trong những trường
hợp này hành động được tạo tác nhưng không tích tập
nghiệp quả; hành động tạo nghiệp không trọn vẹn, vì thiếu
yếu tố quan trọng là ý định. Trái lại, nếu bạn ép buộc
người nào phạm một tà hạnh nhân danh bạn thì bạn sẽ
tích tập nghiệp xấu.
Kết
quả của một hành động có thể chín mùi trong đời này
hay ngay trong đời kế tiếp hoặc sau một khoảng cách nhiều
đời. Một số hành động hết sức nghiêm trọng, được
thực hành do sự vô minh hay sân hận dữ dội, ta được biết
là trầm trọng đến nỗi chúng tạo ra kết quả ngay trong
đời này. Đó cũng là trường hợp của một số hành động
tích cực; nếu bạn có lòng đại bi đối với chúng sinh,
nếu bạn có sự quy y mạnh mẽ nơi Tam Bảo, và nếu bạn
đền đáp thiện tâm của Đạo sư và cha mẹ bạn, thì kết
quả của những hành động này được biết là rất mạnh
mẽ khiến chúng sẽ bắt đầu chín mùi trong đời này.
Việc
có được thân người là kết quả chính yếu của sự giữ
giới hạnh trong sạch và kiềm chế đối với mười ác hạnh.
Tuy nhiên, để có một thân người được phú cho những điều
kiện sẽ trợ giúp cho tiến trình trên con đường của ta,
thì phải cần tới những yếu tố khác. Chúng gồm có một
cuộc đời trường thọ để hoàn tất sự thực hành Pháp.
Nó cũng giúp cho một thân thể tráng kiện, đẹp đẽ và khỏe
mạnh cũng như sinh trong một gia đình được tôn kính, vì
khi đó bạn dễ dàng thâu phục sự kính trọng to lớn của
mọi người và có ảnh hưởng mạnh mẽ. Các yếu tố khác
được đề cập trong các bản văn là có lời nói đáng tin
cậy cùng một thân thể và tâm thức đầy năng lực khiến
bạn không dễ bị tổn thương bởi những chướng ngại. Với
một hình tướng thu hút, cái nhìn đơn sơ của bạn sẽ lôi
cuốn các đệ tử và khiến cho họ có đức tin to lớn nơi
bạn không chút khó khăn. Xuất thân từ một gia đình được
tôn kính, mọi người sẽ nghe bạn và chú ý tới sự chỉ
dạy của bạn. Bạn sẽ có thể tập họp được nhiều người
dưới ảnh hưởng của bạn bằng cách bố thí vật chất
cho họ, và bạn sẽ khiến cho người khác lãnh hội điều
bạn nói là chân thật do lời nói đáng tin cậy của bạn.
Bất kỳ điều gì bạn nói ra sẽ nhanh chóng thành tựu như
bạn mong muốn, giống như khi một vị vua ban ra một sắc lệnh.
Bạn sẽ không sợ hãi hay xấu hổ khi giảng dạy Pháp cho
một số đông người, và sẽ có ít các trở ngại khi thực
hành Pháp. Nhờ có một thân thể và tâm thức đầy năng lực,
bạn sẽ có thể chịu đựng sự gian khổ lớn lao về thể
xác, và sẽ không có bất kỳ sự ân hận hay thất vọng nào
trong việc hoàn thành mọi mục đích của riêng bạn hay của
những người khác.
Mỗi
một phẩm tính khác nhau có một nguyên nhân đặc biệt theo
nghiệp quả. Nguyên nhân của một đời sống trường thọ
thì luôn luôn là có một thái độ giúp đỡ, vị tha, không
bao giờ làm hại người khác. Nguyên nhân của một thân thể
tráng kiện, khỏe mạnh là sự bố thí quần áo mới cho người
khác và kiềm chế tánh cáu giận của bạn. Sự sinh ra trong
một gia đình được kính trọng là kết quả của tánh luôn
luôn khiêm tốn, không bao giờ kiêu ngạo, và coi mình như một
đầy tớ đối với vị Thầy và cha mẹ của mình. Nguyên
nhân của sự giàu có là bố thí vật chất cho người nghèo,
và nguyên nhân của lời nói đáng tin là sự tự chế đối
với các ác hạnh của ngôn ngữ. Sự có ảnh hưởng lớn
lao là kết quả của việc cúng dường Tam Bảo, cha mẹ, các
vị Thầy v.v… Có được một thân thể và tâm thức đầy
năng lực là kết quả của việc bố thí đồ ăn thức uống
cho người khác. Nếu bạn tích tập những nguyên nhân này,
bạn sẽ thành tựu được đời người hiếm có với những
phẩm tính trên.
Nếu
bạn giải đãi và không suy nghĩ nghiêm túc về định luật
nghiệp quả, thì đôi khi bạn có thể có cảm tưởng là hiện
tại bạn không tích tập bất kỳ hành động tiêu cực nào
và cho rằng mình là hành giả lỗi lạc. Nếu chúng ta phân
tích những tư tưởng và hành động của mình sâu sắc hơn,
ta sẽ thấy rằng chúng ta đang nói năng vô ích, làm tổn hại
người khác, hay dấn mình vào sự ham muốn mỗi ngày. Chúng
ta sẽ nhận thấy rằng quả thật chúng ta thiếu yếu tố
đầu tiên là sự thâm tín rất cần thiết để thực sự
tuân theo định luật nghiệp quả. Chúng ta cần nhận ra kẽ
hở giữa sự thực hành Pháp và phương cách chúng ta đang
sống cuộc đời mình vào lúc này. Để đóng kín kẽ hở,
bạn hãy hợp nhất sự hiểu biết về định luật nhân quả
với các hành động của bạn. Nếu bạn thấy có khả năng
nguy hiểm trong cách thức bạn suy nghĩ và hành động thì bạn
sẽ nuôi dưỡng liên tục quyết định sửa đổi những tư
tưởng và hành vi của bạn.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng mặc dù chúng ta nên làm một nỗ lực
to lớn để không bao giờ mê đắm trong những hành động
tiêu cực này nữa, nhưng do một sự kết giao lâu dài với
những vô minh, đôi khi chúng ta nhận ra chính chúng ta đã mắc
phạm chúng một cách thiếu kiểm soát. Chúng không nên bị
bỏ mặc không được chú ý tới. Đúng đắn hơn, chúng ta
nên thực hành các kỹ thuật tịnh hóa mà chính Đức Phật
đã khuyên dạy. Ngài nói rằng nhờ thực hành bốn năng lực
đối nghịch, chúng ta sẽ có khả năng tịnh hóa sự tiêu
cực đã từng mắc phạm và sẽ có thể chiến thắng nó.
Trước tiên là năng lực của sự hối hận. Nhờ suy nghĩ
về sức nặng của hậu quả do những hành động tiêu cực,
từ tận đáy lòng, chúng ta nên phát triển một cảm thức
hối hận sâu sắc đối với những hành động đã phạm.
Thứ hai là năng lực của sự tịnh hóa. Điều này có thể
được hoàn thành qua nhiều loại kỹ thuật, gồm có sự trì
tụng, tưởng nhớ, và đọc Kinh điển, tô tạo hình tượng
Phật, cúng dường, và đọc tụng danh hiệu chư Phật. Các
kỹ thuật tịnh hóa này phải được thực hiện cho tới khi
bạn thấy các dấu hiệu và biểu thị của sự thành công
trong thực hành tịnh hóa của bạn. Các dấu hiệu này gồm
có những giấc mơ thấy bạn ói mửa, mơ thấy uống sữa
hay sữa đông, thấy mặt trời và mặt trăng trong một giấc
mộng, mơ thấy bay hay thấy lửa cháy, thấy chế ngự những
con trâu, hay thấy những người mặc áo choàng đen, mơ thấy
tăng ni, thấy leo lên đồi, và mơ thấy nghe giáo lý. Đây
là những dấu hiệu của sự thành công trong việc thực hành
tịnh hóa của bạn.
Thứ
ba là năng lực của sự quyết định không làm ác hạnh trong
tương lai. Nếu bạn có năng lực quyết định và tự chế
không phạm vào mười ác hạnh, thì bạn sẽ không chỉ có
khả năng tịnh hóa những tiêu cực của riêng mười ác hạnh,
mà bạn cũng sẽ có khả năng tịnh hóa những vô minh và các
dấu vết do chúng để lại. Nếu năng lực quyết định của
bạn rất cạn cợt, thì sự thực hành tịnh hóa của bạn
cũng sẽ cạn cợt. Năng lực cuối cùng là thiền định về
sự quy y Phật, Pháp và Tăng và sự phát triển ước muốn
trở nên Giác ngộ vì tất cả chúng sinh.
Nếu
một hành động tiêu cực bị mắc phạm và để lại sự
bất tịnh thì sẽ có tiềm năng gây nên sự tái sinh trong
các cảnh giới thấp của sinh tử. Các hành động tiêu cực
chỉ có thể được hoàn toàn tịnh hóa trong ý nghĩa rằng
tiềm lực của chúng sẽ hoàn toàn bị tiêu hủy, hoặc tiềm
lực của chúng tạo nên sự tái sinh ở các cõi thấp sẽ
bị tiêu hủy nhưng chúng có thể biểu lộ như những cơn
nhức đầu không đáng kể trong đời này. Đó là vì, mặt
khác, bất kỳ hành động tiêu cực nào tạo nên các hậu
quả trong một thời gian dài có thể được kinh nghiệm trong
một thời gian ngắn. Các kết quả này phụ thuộc vào việc
hành giả có khéo léo trong sự thực hành tịnh hóa hay không,
bốn năng lực có đầy đủ hay không, và cũng tùy thuộc sự
thực hành của hành giả mạnh mẽ ra sao và sự thực hành
tịnh hóa này được thực hiện bao lâu.
Trong
một số trường hợp tiềm lực của hành nghiệp bị tiêu
hủy; trong các trường hợp khác nó có thể hiển lộ trong
những kinh nghiệm nhẹ hơn. Bạn không nên cho rằng điều
này mâu thuẫn với sự trình bày trong các Kinh điển là một
khi các hành nghiệp đã bị mắc phạm sẽ không bao giờ tiêu
mất năng lực của chúng ngay cả trong một trăm kiếp. Điều
này có nghĩa là nếu một khi đã mắc phạm các hành nghiệp
và chúng để lại dấu vết, thì chúng sẽ không bao giờ mất
đi năng lực của chúng chỉ do bởi thời gian. Không có hành
động nào không thể được tịnh hóa. Sự tịnh hóa tiêu
hủy tiềm năng của các hành nghiệp tiêu cực trong cùng cách
thế mà các hành động tích cực mất đi tiềm năng của chúng
do sự phát sinh lòng sân hận. Nhưng Đức Phật đã nói rằng
không bao giờ bạn có thể tịnh hóa được một hành động
nghiệp một khi nó đã sinh ra kết quả. Ví dụ như các kinh
nghiệm tiêu cực chúng ta có trong đời này là hậu quả của
các hành động tiêu cực đã mắc phạm trong quá khứ – những
hành động đã từng xảy ra; không có cách nào khiến bạn
có thể tịnh hóa chúng.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng vì các hành động tích cực có thể mất
đi tiềm năng của chúng do sự phát khởi của những yếu
tố đối nghịch, như sự sân hận, chúng ta không chỉ hết
sức thận trọng khi tích tập đức hạnh mà cũng nên thận
trọng tương tự như vậy để giữ gìn những đức hạnh
một khi đã tích tập chúng. Điều này được thực hiện
nhờ sự hồi hướng công đức của ta cho sự thành tựu Giác
ngộ với mục đích đạt được Phật Quả. Có nói rằng
một khi bạn đã hồi hướng công đức của bạn cho sự thành
tựu vì mục đích như thế, thì cho đến khi bạn hoàn thành
được mục đích đó, thiện hạnh mà bạn đã tích tập sẽ
không bao giờ mất đi tiềm lực của nó. Giống như ký gửi
tiền của bạn trong một nhà băng thì kẻ trộm không lấy
cắp được – trong trường hợp này kẻ trộm là sự sân
hận, tham muốn hay vô minh.
Mặc
dù nhờ sự thực hành các đối lực đúng đắn, chúng ta
có thể tịnh hóa toàn bộ các tiêu cực và tiêu hủy tiềm
lực đem lại những hậu quả không đáng ao ước của chúng,
nhưng trước hết, thật đơn giản, tuyệt hảo là đừng nên
mắc phạm những hành động tiêu cực này. Vì vậy, ngay từ
lúc đầu, tốt hơn là không bao giờ mê đắm trong chúng, không
bao giờ làm ô nhiễm tâm bạn với những hành động tiêu
cực như thế. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng tương tự như người
bị gãy một chân; về sau chân được chữa khỏi, nhưng so
với một chân chưa bao giờ bị gãy thì rất khác biệt.
Một
số người có thể nghĩ rằng vì trong những Kinh điển khác,
sự thành công và các lợi lạc của cuộc đời trong sinh tử
này được mô tả như những cái phải né tránh và từ bỏ,
sẽ không thích hợp với một hành giả khi ước muốn những
hình thức hiện hữu thuận lợi, bởi nó cũng là một đời
sống trong sinh tử. Đây là một thái độ hết sức sai lầm.
Khi chúng ta nói về các mục đích thì có hai loại: các mục
đích nhất thời và mục đích tối hậu. Các mục đích nhất
thời bao gồm sự có được thân người quý báu ở đời
sau. Trên căn bản của một thân người quý báu như thế,
bạn có khả năng thực hiện sự thực hành Pháp của bạn
để cuối cùng có thể hoàn thành mục đích tối hậu của
bạn là thành tựu Giác ngộ. Mặc dù đối với một hành
giả Đại thừa, mục đích tối hậu là làm việc để thành
tựu sự Toàn Giác vì chúng sinh, nhưng cũng rất cần thiết
đối với một hành giả ước muốn có một tái sinh thuận
lợi trong tương lai, như đời sống con người, để họ (nam
hay nữ) có thể tiếp tục thực hành. Ngài Shantideva nói rằng
đời người quý báu nên được xem như một chiếc thuyền
nhờ đó người ta có thể vượt qua đại dương sinh tử.
Để hoàn thành mục đích tối hậu là thành tựu trạng thái
Toàn Giác, bạn phải có được thân người quý báu trong nhiều
đời. Nguyên nhân nền tảng của sự thành tựu các hình thức
tái sinh quý báu như thế là sự thực hành giới hạnh.
Đối
với đa số, khi đã phát triển ước muốn thực hiện sự
thực hành Pháp thì thật là khó khăn khi hoàn toàn từ bỏ
thế giới. Loại hành giả tốt nhất từ bỏ đời sống thế
gian và dành phần đời còn lại của họ trong một thực hành
cô tịch, đơn độc. Điều này thực sự đáng tán thán và
có lợi lạc to lớn, nhưng đối với đa số chúng ta thì thật
là khó khăn khi thực hiện một thực hành như thế. Bạn cũng
phải nghĩ về cuộc đời của riêng bạn và cũng làm việc
trong cộng đồng và phụng sự mọi người. Bạn không nên
hoàn toàn bận tâm với những hoạt động thế gian; bạn cũng
phải dùng rất nhiều năng lực và thì giờ cho sự thực hành
Pháp nhằm mục đích có đời sau tốt đẹp hơn. Bạn bắt
đầu nhận ra rằng so với số phận tương lai của bạn thì
các công việc của đời này không quan trọng bằng.
Nhờ
sự quy y và sống trong định luật nghiệp báo, nỗ lực từ
bỏ các hành động tiêu cực và tích tập các hành động
tích cực, bạn có thể được hưởng một tái sinh thuận
lợi trong tương lai. Tuy nhiên, chúng ta đừng chỉ bằng lòng
với điều đó, vì sự tái sinh thuận lợi ấy là một nơi
chốn trong sinh tử, có bản chất là đau khổ. Đúng hơn, chúng
ta nên nuôi dưỡng nhận thức rằng mỗi hình thức hiện hữu
trong vòng sinh tử này có bản chất là đau khổ. Từ vô thủy,
chúng ta có sự bám luyến theo bản năng vào vẻ hào nhoáng
phồn vinh của sinh tử, và chúng ta chưa bao giờ có thể nhận
thức được những lạc thú của sinh tử thật sự là gì:
đó là những đau khổ đích thật. Chừng nào các tù nhân
không biết rằng họ đang ở trong nhà tù và không nhận thức
được rằng thật khó khăn và đau khổ khi chịu đựng cuộc
sống của người tù, thì họ sẽ không phát triển bất kỳ
ước muốn chân thực nào để tự giải thoát khỏi tù ngục.
Bạn
không nên có quan niệm sai lầm rằng Phật giáo bi quan. Đúng
hơn, nó hết sức lạc quan, vì mục đích của mỗi cá nhân
là sự Toàn Giác, nó đem lại một hạnh phúc tuyệt đối
và bền vững. Phật giáo nhắc nhở chúng ta rằng điều này
là có thể đối với hết thảy mọi người. Những lạc thú
của sinh tử có vẻ đáng ưa thích nhất thời, nhưng chúng
không bao giờ có thể thỏa mãn chúng ta dù chúng ta hưởng
thụ chúng bao lâu chăng nữa, và chúng không đáng tin vì là
đối tượng của sự biến dịch. Trái nghịch với an lạc
và hạnh phúc của Niết Bàn – là cái gì tối hậu, thường
hằng, và vĩnh cửu – những lạc thú và hạnh phúc này trong
sinh tử trở nên vô nghĩa.