CHƯƠNG
4
CÁI
CHẾT
Đức
Phật đã nói rằng trong tất cả những mùa khác nhau để
cày cấy, mùa thu là mùa tốt nhất, trong tất cả những loại
nhiên liệu để đốt, thì phân bò là tốt nhất, và trong
tất cả những loại tỉnh giác khác nhau, sự tỉnh giác về
sự vô thường và cái chết thì hữu hiệu nhất. Cái chết
là điều nhất định, nhưng khi nào nó giáng xuống thì bất
định. Nếu chúng ta thực sự đương đầu với sự việc,
chúng ta không biết được cái gì sẽ tới trước – ngày
mai hay cái chết. Chúng ta không thể hoàn toàn quả quyết rằng
người già sẽ chết trước và người trẻ còn ở lại phía
sau. Thái độ thực tế nhất mà ta có thể nuôi dưỡng là
hy vọng điều tốt đẹp nhất nhưng chuẩn bị điều tồi
tệ nhất. Nếu điều xấu nhất không xảy ra thì mọi sự
đều tốt đẹp, nhưng nếu nó xảy ra, nó sẽ không tấn công
chúng ta bất ngờ. Điều này cũng ứng dụng cho sự thực
hành Pháp: chuẩn bị cho điều tồi tệ nhất vì không ai trong
chúng ta biết được khi nào mình chết.
Mỗi
ngày chúng ta biết tin về cái chết trong báo chí hay cái chết
của một người bạn, của người nào đó mà ta biết mang
máng, hay của một người thân. Đôi khi chúng ta cảm thấy
mất mát, đôi lúc chúng ta hầu như vui sướng, nhưng một
cách nào đó, chúng ta vẫn còn bám chặt vào ý tưởng rằng
điều đó sẽ không xảy ra cho ta. Chúng ta nghĩ rằng mình
được miễn trừ đối với sự vô thường, và vì thế chúng
ta trì hỗn sự tu hành tâm linh (nó có thể chuẩn bị cho chúng
ta trước cái chết), và cho rằng ta sẽ còn thời gian trong
tương lai. Khi thời điểm không thể tránh khỏi xảy tới,
điều duy nhất chúng ta phải mang đi là niềm hối tiếc. Chúng
ta cần phải đi vào sự thực hành ngay lập tức để dù cái
chết có tới sớm thế nào chăng nữa, chúng ta cũng sẽ sẵn
sàng.
Khi
cái chết đến, không điều gì có thể ngăn cản nó. Dù bạn
có loại thân thể nào, dù bạn có thể trơ trơ đối với
bệnh tật thế nào chăng nữa, cái chết sẽ chắc chắn giáng
xuống. Nếu chúng ta ngẫm nghĩ về cuộc đời của chư Phật
và Bồ Tát trong quá khứ thì nay các Ngài chỉ còn là một
ký ức. Các Đạo sư Ấn Độ vĩ đại như ngài Nagarjuna (Long
Thọ) và Asanga (Vô Trước) đã có những đóng góp to lớn
cho Pháp và làm việc vì lợi lạc của chúng sinh, nhưng giờ
đây tất cả những gì còn lại của các ngài chỉ là những
cái tên. Đối với những nhà cai trị và các nhà lãnh đạo
chính trị thì cũng thế. Tiểu sử của các vị sống động
đến nỗi hầu như họ vẫn còn sống. Khi chúng ta đi hành
hương Ấn Độ, ta thấy những nơi như Đại Tu viện Nalanda,
là nơi các bậc Thầy vĩ đại như Nagarjuna và Asanga đã học
tập và dạy dỗ. Ngày nay Nalanda đã đổ nát. Khi nhìn những
dấu tích để lại của những nhân vật vĩ đại trong lịch
sử, cảnh điêu tàn chỉ cho ta thấy bản chất của sự vô
thường. Như những Phật ngôn cổ xưa nói, dù ta chui xuống
lòng đất hay đi vào biển cả hoặc vào không gian, chúng ta
sẽ không bao giờ tránh được cái chết. Những người trong
chính gia đình chúng ta chẳng sớm thì muộn sẽ chia lìa nhau
như đám lá bị gió thổi tung. Trong một hai tháng tới, vài
người trong chúng ta sẽ chết, và những người khác sẽ chết
trong ít năm. Trong tám mươi hay chín mươi năm, tất cả chúng
ta, kể cả Đạt Lai Lạt Ma sẽ chết. Khi ấy, chỉ có những
sự thấu suốt tâm linh của ta là giúp ích được cho ta.
Không
ai sau khi sinh ra mà càng lúc càng cách xa cái chết. Thay vào
đó, mỗi ngày chúng ta tới gần cái chết hơn, giống như
súc vật đang bị dẫn tới lò sát sinh. Giống như những người
chăn bò đánh đập bò của họ và dẫn chúng về chuồng,
chúng ta cũng bị hành hạ bởi những nỗi đau khổ của sinh,
lão, bệnh, tử, luôn luôn tiến gần tới lúc kết thúc của
đời ta. Mọi sự trong vũ trụ này bị lệ thuộc vào lẽ
vô thường và cuối cùng sẽ bị tan rã. Như Đức Đạt Lai
Lạt Ma thứ bảy đã nói, những thanh thiếu niên trông rất
mạnh mẽ và khỏe khoắn nhưng lại chết trẻ là những vị
Thầy thực sự dạy cho chúng ta về sự vô thường. Trong tất
cả những người chúng ta biết hay nhìn thấy, sẽ không ai
còn sống trong một trăm năm nữa. Cái chết không thể bị
đẩy lui bởi các mật chú hay bởi tìm kiếm sự nương tựa
ở một nhà lãnh đạo chính trị tài ba.
Trải
qua những năm tháng cuộc đời, tôi đã gặp gỡ rất nhiều
người. Giờ đây họ chỉ còn là những hình bóng trong ký
ức tôi. Ngày nay tôi lại gặp thêm những người mới. Thật
giống như xem một vở kịch: sau khi đóng xong vai tuồng của
mình, người ta thay đổi xiêm y và lại xuất hiện. Nếu chúng
ta tiêu phí cuộc đời ngắn ngủi của mình dưới ảnh hưởng
của sự tham luyến và oán ghét, nếu vì lợi ích của những
cuộc đời ngắn ngủi đó mà chúng ta tăng trưởng những
mê lầm của mình thì mối tai họa chúng ta tạo tác sẽ rất
lâu dài, vì nó phá hủy những triển vọng thành tựu hạnh
phúc tối hậu của chúng ta.
Nếu
đôi lúc chúng ta không thành đạt trong những vấn đề thế
tục tầm thường, điều đó không quan trọng lắm, nhưng nếu
chúng ta lãng phí cơ may quý báu có được nhờ đời người
này, thì bản thân chúng ta sẽ bị trầm luân trong thời gian
dài. Tương lai ở trong tay ta – dù chúng ta muốn trải qua
sự đau khổ cùng cực do rơi vào những cõi luân hồi phi-nhân,
hay ta muốn thành tựu những hình thức cao hơn của sự tái
sinh, hoặc ta muốn đạt tới trạng thái giác ngộ. Ngài Shantideva
nói rằng trong đời này chúng ta có cơ hội, trách nhiệm,
có khả năng lựa chọn và quyết định những đời tương
lai của ta sẽ như thế nào. Chúng ta nên tu hành tâm thức
của mình để cuộc đời ta sẽ không bị lãng phí – không
lãng phí ngay cả một tháng hay một ngày – và chuẩn bị
khi cái chết đến. Nếu chúng ta có thể nuôi dưỡng sự hiểu
biết đó thì động lực cho thực hành tâm linh sẽ phát sinh
– đó là động lực mạnh mẽ nhất. Geshe Sharawa (1070-1141)
nói rằng vị Thầy tốt nhất của ngài là sự thiền định
về lẽ vô thường. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong giáo
huấn đầu tiên của ngài rằng nền tảng của sự đau khổ
là vô thường.
Khi
phải đối diện với cái chết, các hành giả lỗi lạc nhất
sẽ hoan hỉ, các hành giả trung bình sẽ được chuẩn bị
tốt đẹp, và ngay cả các hành giả hạ căn nhất sẽ không
có gì để hối tiếc. Khi chúng ta đi tới ngày cuối cùng
của đời mình, điều tối quan trọng là đừng có ngay cả
một day dứt của sự hối tiếc, hoặc điều tiêu cực mà
chúng ta kinh nghiệm khi hấp hối có thể ảnh hưởng tới
sự tái sinh kế tiếp của ta. Phương cách tốt nhất để
làm cho cuộc đời có ý nghĩa là sống theo con đường của
lòng bi mẫn.
Nếu
bạn nghĩ tưởng về cái chết và sự vô thường, bạn sẽ
bắt đầu làm cho cuộc đời bạn có ý nghĩa. Bạn có thể
cho rằng vì sớm muộn gì bạn cũng phải chết thì không cần
cố gắng nghĩ về cái chết vào lúc này, bởi nó sẽ chỉ
khiến bạn ngã lòng và lo lắng. Nhưng sự tỉnh giác về cái
chết và lẽ vô thường có thể có những lợi lạc to lớn.
Nếu tâm thức chúng ta bị vướng mắc bởi cảm tưởng rằng
mình không bị lệ thuộc vào cái chết, thì chúng ta sẽ chẳng
bao giờ nghiêm túc trong sự thực hành của mình và chẳng
bao giờ tiến bộ trên con đường tâm linh. Sự tin tưởng
rằng bạn sẽ không chết là chướng ngại to lớn nhất cho
tiến bộ tâm linh của bạn: bạn sẽ không nhớ tới Pháp,
bạn sẽ không tuân theo Pháp mặc dù bạn có thể nhớ tới
nó, và bạn sẽ không tuân theo Pháp hết lòng dù bạn có thể
tuân thủ nó ở một mức độ nào đó. Nếu bạn không thiền
định về cái chết thì bạn sẽ chẳng bao giờ thực hành
một cách nghiêm cẩn. Chịu bó tay trước sự lười biếng,
bạn sẽ thiếu cố gắng và xung lực trong việc thực hành,
và bạn sẽ bị sự kiệt sức vây khốn. Bạn sẽ bị trói
chặt vào danh vọng, của cải và sự thành đạt. Khi suy nghĩ
quá nhiều về cuộc đời này, ta có khuynh hướng làm việc
cho những gì mình yêu quý – những thân quyến và bằng hữu
của chúng ta – và ta nỗ lực để làm vui lòng họ. Rồi
khi có ai làm điều tổn hại cho họ, lập tức chúng ta liệt
những người này là kẻ thù của mình. Trong cách này các
mê lầm như sự ham muốn và oán ghét tăng tiến như một dòng
sông ngập lụt vào mùa hè. Một cách tự nhiên, những lầm
lạc này khiến cho chúng ta mê đắm trong mọi thứ hành động
tiêu cực mà hậu quả của chúng sẽ là sự tái sinh trong
những hình thức thấp của sự sinh tử trong tương lai.
Nhờ
sự tích tập công đức nhỏ bé, chúng ta đã có được một
đời người quý báu. Bất kỳ công đức nào đang tồn tại
cũng sẽ biểu lộ như một vài mức độ thành đạt tương
đối trong đời này. Như vậy vốn liếng ít ỏi mà chúng
ta có sẽ bị tiêu đi mất, và nếu ta không tích tập công
đức nào mới thì giống như ta tiêu hết tiền để dành mà
không có tiền mới gửi vào. Nếu chúng ta chỉ làm cạn kiệt
sự tích lũy công đức của mình thì sớm muộn gì chúng ta
sẽ bị đắm chìm vào một đời sau còn đau khổ ghê gớm
hơn nữa.
Người
ta nói rằng nếu không có một sự tỉnh giác đúng đắn về
cái chết thì chúng ta sẽ chết trong sự áp chế của sợ
hãi và hối tiếc. Mối xúc cảm đó có thể đưa chúng ta
đi vào các cõi thấp. Nhiều người tránh đề cập tới cái
chết. Họ tránh né nghĩ tới điều tồi tệ nhất, vì vậy
khi nó thực sự xảy tới họ bị bất ngờ và hoàn toàn không
sẵn sàng. Sự thực hành Phật giáo khuyên chúng ta đừng nên
không biết tới các bất hạnh và phải hiểu biết và đối
mặt với chúng, chuẩn bị cho chúng ngay từ lúc bắt đầu.
Nhờ đó, khi chúng ta thực sự kinh nghiệm nỗi đau khổ thì
nó không phải là cái gì hoàn toàn không chịu đựng được.
Chỉ né tránh một vấn đề sẽ không giúp giải quyết nó
mà thực ra có thể làm vấn đề tệ hại hơn.
Một
số người nhận xét rằng thực hành Phật giáo dường như
nhấn mạnh tới sự đau khổ và tính chất bi quan. Tôi cho
rằng điều này thật sai lầm. Thực hành Phật giáo thực
sự cố gắng để chúng ta có được một sự an lạc vĩnh
cửu – là điều không thể suy lường nổi đối với một
tâm trí bình thường – và tiệt trừ những đau khổ một
lần cho mãi mãi. Các Phật tử không hài lòng với sự thành
đạt chỉ duy trong đời này hay triển vọng của sự thành
đạt trong những đời sau, mà thay vào đó, họ tìm kiếm một
hạnh phúc tối hậu. Vì đau khổ là một thực tại do đó
quan điểm căn bản của Phật giáo cho rằng sẽ không giải
quyết được vấn đề nếu ta chỉ tránh né nó qua quýt. Điều
nên làm là đối mặt với đau khổ, nhìn vào nó và phân tích,
khảo sát nó, xác định các nguyên nhân của nó và tìm ra
phương cách tốt nhất để có thể đối phó với nó. Những
người né tránh nghĩ tới điều bất hạnh thực ra lại bị
nó tấn công, họ không được chuẩn bị và sẽ đau khổ
hơn những người bản thân họ đã làm quen với những đau
khổ, nguồn gốc của chúng và cách chúng phát khởi. Một
hành giả của Pháp nghĩ tưởng mỗi ngày về cái chết, quán
chiếu về những nỗi khổ của con người, nỗi khổ của
lúc sinh ra, nỗi khổ của sự già đi, nỗi khổ của bệnh
tật, và nỗi khổ của sự chết. Mỗi ngày, các hành giả
Mật thừa trải nghiệm quá trình sự chết trong sự quán tưởng.
Điều ấy giống như trải qua cái chết về mặt tâm thức
mỗi ngày một lần. Vì quen thuộc với nó, họ hoàn toàn sẵn
sàng khi thực sự gặp gỡ cái chết. Nếu bạn phải đi qua
một vùng rất nguy hiểm và ghê sợ, bạn nên tìm hiểu về
những sự nguy hiểm và cách xử sự với chúng trước đó.
Không tiên liệu về chúng là ngu dại. Dù có thích hay không
bạn cũng phải đi tới đó, vì thế tốt nhất là chuẩn bị
sẵn sàng để biết cách xử sự khi những khó khăn xuất
hiện.
Nếu
bạn có một sự tỉnh thức hoàn hảo về sự chết thì bạn
sẽ cảm thấy chắc chắn rằng bạn sắp chết một ngày gần
đây. Như vậy nếu khám phá ra rằng mình sắp chết trong ngày
hôm nay hay ngày mai, nhờ sự thực hành tâm linh, bạn sẽ nỗ
lực tự tháo gỡ mình ra khỏi các đối tượng trói buộc
bằng cách vất bỏ những thứ sở hữu và coi mọi sự thành
công thế tục như không có bất kỳ bản chất hay ý nghĩa
nào. Lợi lạc của sự tỉnh thức về cái chết là nó làm
cho cuộc đời có ý nghĩa và nhờ cảm thấy hoan hỉ khi giờ
chết tới gần, bạn sẽ chết không chút hối tiếc.
Khi
bạn quán chiếu về sự chắc chắn của cái chết nói chung
và sự bất định của giờ chết, bạn sẽ làm mọi nỗ lực
để tự chuẩn bị cho tương lai. Bạn sẽ nhận ra rằng sự
thành đạt và những hoạt động của đời này không có bản
chất và không quan trọng. Như vậy, sự làm việc cho lợi
lạc lâu dài của bản thân bạn và những người khác sẽ
có vẻ quan trọng nhiều hơn nữa, và cuộc đời bạn sẽ
được dẫn dắt bởi nhận thức đó. Như Đức Milarepa đã
nói, bởi chẳng sớm thì muộn bạn phải bỏ lại mọi sự
sau lưng, thì tại sao không từ bỏ nó ngay bây giờ ? Mặc
dù mọi nỗ lực của chúng ta, kể cả việc dùng thuốc men
hay việc cử hành những lễ trường thọ, không ai có thể
hứa hẹn sẽ sống quá một trăm năm. Có một vài trường
hợp ngoại lệ, nhưng sau sáu mươi hay bảy mươi năm nữa,
hầu hết những người đọc quyển sách này sẽ không còn
sống. Sau một trăm năm, người ta sẽ nghĩ về thời đại
chúng ta chỉ như một phần của lịch sử.
Khi
cái chết đến, điều duy nhất có thể giúp ích là lòng bi
mẫn và sự thấu suốt về bản tánh của thực tại mà người
ta đã đạt tới. Về lãnh vực này, khảo sát xem có một
đời sống sau khi chết hay không là điều hết sức quan trọng.
Những đời quá khứ và tương lai hiện hữu vì những lý
lẽ sau đây. Những kiểu suy nghĩ nào đó từ năm ngoái, từ
năm trước nữa, và ngay cả từ thời thơ ấu có thể được
nhớ lại vào lúc này. Điều này chỉ rõ cho ta thấy là một
cái biết đã hiện hữu trước cái biết hiện tại. Khoảnh
khắc ý thức đầu tiên trong đời này không được sinh khởi
mà không có một nguyên nhân, cũng không được sinh ra từ
cái gì thường hằng hay vô tri. Một khoảnh khắc của tâm
là cái gì trong sáng và thấu biết. Bởi thế cái có trước
nó phải là cái gì đó trong sáng và thấu biết, là khoảnh
khắc trước của tâm (tiền niệm). Chỉ có thể tin được
rằng khoảnh khắc đầu tiên của tâm trong đời này đến
từ không cái gì khác hơn là một đời trước.
Mặc
dù thân xác vật lý có thể hành xử như một nguyên nhân
thứ yếu của những biến đổi vi tế trong tâm, nhưng nó
không thể là nguyên nhân chính yếu. Vật chất không bao giờ
chuyển hóa thành tâm thức, và tâm thức không thể chuyển
hóa thành vật chất. Vì thế, tâm thức phải đến từ tâm
thức. Tâm thức của cuộc đời hiện tại này đến từ tâm
thức của đời trước và là nguyên nhân của tâm thức trong
đời sau. Khi bạn quán chiếu về sự chết và thường xuyên
tỉnh thức về nó, đời bạn sẽ trở nên có ý nghĩa.
Nhận
ra những bất lợi to lớn của việc bám chấp có tính cách
bản năng của chúng ta vào sự thường hằng, ta phải chống
trả lại nó và tỉnh thức miên mật trước cái chết để
ta sẽ được thúc đẩy thực hành Pháp nghiêm cẩn hơn nữa.
Ngài Tsong-kha-pa nói rằng tầm quan trọng của sự tỉnh thức
về cái chết không chỉ hạn chế ở giai đoạn bắt đầu.
Nó quan trọng suốt mọi giai đoạn của con đường; nó quan
trọng ở lúc bắt đầu, ở giai đoạn giữa và cả ở giai
đoạn cuối.
Sự
tỉnh thức về cái chết mà chúng ta phải nuôi dưỡng không
phải là nỗi sợ hãi thông thường, bất lực về việc phải
chia ly với những người thân và tài sản của chúng ta. Đúng
đắn hơn, chúng ta phải học sợ hãi rằng ta sẽ chết mà
chưa chấm dứt được các nguyên nhân của sự tái sinh trong
các cõi thấp của luân hồi và sẽ chết mà không tích tập
những nguyên nhân và điều kiện cần thiết cho sự tái sinh
thuận lợi trong tương lai. Nếu chúng ta chưa hoàn thành được
hai mục đích này, thì vào lúc chết, chúng ta sẽ bị áp chế
bởi nỗi sợ hãi và ân hận ghê gớm. Nếu chúng ta tiêu phí
toàn bộ đời mình để miệt mài trong những hành động xấu
xa phát sinh từ sự oán ghét và ham muốn, thì chúng ta gây
nên tai họa không chỉ nhất thời mà còn dài lâu. Đó là
bởi ta tích lũy và tàng trữ một khối lượng khổng lồ
những nguyên nhân và điều kiện (duyên) cho sự đọa lạc
của chính chúng ta trong những đời sau. Nỗi sợ hãi về điều
đó sẽ kích động chúng ta để biến mỗi ngày trong cuộc
đời mình thành cái gì có ý nghĩa. Khi đã có sự thức tỉnh
về cái chết, chúng ta sẽ thấy được sự thành công và
mọi sự của cuộc đời này thì không quan trọng, và sẽ
làm việc cho một tương lai tốt đẹp hơn. Đó là mục đích
của sự thiền định về cái chết. Giờ đây, nếu chúng
ta sợ hãi cái chết, chúng ta sẽ nỗ lực tìm kiếm một phương
pháp chiến thắng nỗi sợ hãi và hối tiếc của mình khi
chết. Còn ngay bây giờ, nếu ta cứ tránh né nỗi sợ chết
thì khi chết, chúng ta sẽ bị trói chặt bởi nỗi ân hận.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng khi sự tham thiền của chúng ta về lẽ
vô thường trở nên hết sức vững chắc và kiên cố thì
mọi sự chúng ta gặp gỡ đều sẽ dạy chúng ta về sự vô
thường. Ngài nói rằng tiến trình đi đến cái chết bắt
đầu ngay từ khi thụ thai, và khi còn sống, cuộc đời chúng
ta thường xuyên bị hành hạ bởi bệnh tật và sự già yếu.
Khi còn khoẻ mạnh và tràn đầy sức sống, chúng ta không
nên bị lừa phỉnh khi nghĩ rằng mình sẽ không chết. Chúng
ta không nên vui thú trong sự quên lãng khi chúng ta còn khoẻ;
cách tốt nhất là chuẩn bị cho số phận tương lai của ta.
Ví dụ như người đang rơi từ một dốc đá thật cao sẽ
không sung sướng gì trước khi họ chạm đất.
Ngay
cả khi chúng ta còn sống, có rất ít thời gian cho sự thực
hành Pháp. Dù cho chúng ta quả quyết là mình có thể trường
thọ, có lẽ một trăm năm, nhưng ta đừng bao giờ nhượng
bộ cái cảm tưởng là ta sẽ có thời gian để thực hành
Pháp sau này. Chúng ta không nên bị chi phối bởi sự lần
lữa, nó là một hình thức của tính lười biếng. Một nửa
đời người bị tiêu mất trong việc ngủ, và phần lớn thời
gian còn lại chúng ta bị phóng tâm bởi những hoạt động
thế gian. Khi ta già đi, sức mạnh thể chất và tinh thần
giảm sút, và mặc dù chúng ta có thể mong muốn thực hành,
nhưng đã quá muộn bởi chúng ta sẽ không có năng lực để
thực hành Pháp. Đúng như một bản Kinh nói, nửa đời người
tiêu phí trong giấc ngủ, mất mười năm khi ta còn nhỏ và
hai mươi năm khi ta già, và thời gian ở khoảng giữa thì bị
dày vò bởi những lo lắng, buồn phiền, đau khổ và thất
vọng, vì thế khó có thời gian nào để cho sự thực hành
Pháp. Nếu ta sống một cuộc đời sáu mươi năm và suy nghĩ
về tất cả thời gian ta trải qua khi còn bé, tất cả thời
gian dùng để ngủ, và thời gian khi ta quá già, thì ta sẽ
nhận ra rằng chỉ còn khoảng năm năm để ta có thể hiến
mình cho sự thực hành nghiêm cẩn Phật Pháp. Nếu chúng ta
không dùng một nỗ lực cẩn trọng để thực hành Giáo Pháp,
mà cứ sống như ta sống đời thường, thì chắc chắn là
ta tiêu phí đời mình trong sự lười nhác không mục đích.
Gung-thang Rinpoche nói, có phần diễu cợt: “Tôi mất hai mươi
năm không nghĩ gì về việc thực hành Pháp, và sau đó mất
hai mươi năm nữa để nghĩ về việc sẽ thực hành sau này,
và rồi mất mười năm nghĩ về việc đã bỏ lỡ cơ may thực
hành Pháp như thế nào.”
Khi
tôi còn là một đứa trẻ, không có gì đáng nói. Vào khoảng
mười bốn hay mười lăm tuổi, tôi bắt đầu quan tâm một
cách đứng đắn về Pháp. Rồi người Trung Hoa đến, và tôi
mất nhiều năm trong mọi thứ rối loạn chính trị. Tôi đi
Trung Hoa và viếng Thăm Ấn Độ năm 1956. Sau đó tôi trở về
Tây Tạng và lại mất thêm một ít thời gian trong chính sự.
Điều tốt nhất tôi có thể nhớ lại là cuộc thi tôi lấy
bằng Geshe (học vị hàn lâm cao nhất trong các trường Đại
học tu viện Tây Tạng), sau đó tôi phải rời bỏ quê hương
mình. Giờ đây, tôi đã sống lưu vong hơn ba mươi năm, và
mặc dù có được một ít học tập và thực hành, phần lớn
đời tôi đã bị lãng phí một cách lười biếng không lợi
lạc gì nhiều. Tuy nhiên tôi không đến nỗi phải hối tiếc
rằng mình đã không thực hành. Nếu tôi nghĩ về phương diện
thực hành Tantra Du Già Tối thượng thì có những khía cạnh
nào đó của con đường tôi không thể thực hành vì những
cơ cấu thân thể của tôi bắt đầu suy thoái cùng tuổi tác.
Thời gian để thực hành Pháp không đến một cách tự nhiên
mà phải được sắp xếp có chủ đích.
Nếu
bạn phải khởi hành trên một hành trình lâu dài thì ở một
lúc nào đó, cần phải làm những sự chuẩn bị. Như tôi
thường thích nói, chúng ta nên dùng năm mươi phần trăm thời
gian và năng lực cho những mối quan tâm về đời sau của
mình, và khoảng năm mươi phần trăm cho những công việc của
đời này.
Có
rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết và rất ít nguyên
nhân để sống còn. Hơn nữa, những gì chúng ta thường coi
là để củng cố đời sống, như thực phẩm và thuốc men,
có thể trở thành những nguyên nhân của cái chết. Ngày nay,
nhiều bệnh tật được cho là do bởi chế độ ăn uống của
chúng ta. Những hóa chất thường giúp tăng trưởng mùa màng
và chăn nuôi súc vật đã góp phần làm sức khỏe suy yếu
đi và gây nên sự mất quân bình trong thân thể. Thân người
quá nhạy cảm, quá tinh tế khiến nếu nó quá mập thì bạn
có mọi thứ vấn đề: bạn không thể đi đứng ngay ngắn,
bị cao huyết áp, và thể bạn trở thành một gánh nặng.
Trái lại, nếu bạn quá gầy ốm, bạn ít mạnh khỏe hay khả
năng chịu đựng, nó dẫn tới mọi thứ phiền não khác. Khi
bạn còn trẻ, bạn lo lắng không được kể đến trong số
những người lớn, và khi quá già thì bạn có cảm tưởng
như bị xua đuổi ra khỏi xã hội. Đây là bản chất sự
hiện hữu của chúng ta. Nếu mối họa hại là một thứ gì
tác động từ bên ngoài, thì bạn có thể bằng cách này hay
cách khác né tránh nó; bạn có thể chui xuống lòng đất hay
lặn sâu trong đại dương. Nhưng khi hiểm họa đến từ bên
trong thì bạn không thể làm gì hết. Trong khi chúng ta còn
tự do đối với sự bệnh hoạn và khó khăn, và ta có một
thân thể khỏe mạnh, chúng ta phải lợi dụng điều đó và
rút ra được cốt tủy của nó. Rút ra được cốt tủy (bản
chất) của cuộc sống là nỗ lực để thành tựu một trạng
thái hoàn toàn giải thoát khỏi bệnh tật, cái chết, sự
suy sụp và nỗi sợ – đó là, một trạng thái của giải
thoát và toàn trí.
Người
giàu có nhất trong thế giới không thể mang theo một vật
sở hữu duy nhất khi chết. Ngài Tsong-kha-pa nói rằng nếu
chúng ta phải để lại đằng sau thân xác này, là thứ mà
ta rất thân thiết, coi như của riêng mình và là cái từng
đồng hành với ta từ lúc sinh ra như người bạn già nua nhất,
thì làm gì có chuyện không phải bỏ lại những của cải
vật chất. Hầu hết mọi người đều mất quá nhiều năng
lực và thời gian chỉ để cố gắng có được một ít thành
đạt và hạnh phúc trong đời này. Nhưng vào lúc chết, mọi
hoạt động thế tục của ta, như sự chăm sóc những người
thân và bằng hữu, và sự đua tranh với những đối thủ,
đành phải bỏ lại dang dở. Mặc dù bạn có thể có đủ
thực phẩm để dùng trong một trăm năm, lúc chết bạn sẽ
phải chịu đói, và mặc dù bạn có thể có quần áo đủ
mặc trong một trăm năm, nhưng khi chết bạn sẽ phải trần
truồng. Khi cái chết tấn công, không có sự khác biệt giữa
cách chết của một vị vua, bỏ lại đằng sau vương quốc
của mình, và cách chết của một người ăn mày, bỏ lại
cây gậy.
Bạn
nên cố gắng tưởng tượng một tình huống trong đó bạn
bị bệnh. Hãy tưởng tượng là bạn bị trọng bệnh và toàn
thể sức khỏe thể xác đã ra đi; bạn cảm thấy kiệt sức,
và ngay cả thuốc men cũng không giúp được gì. Đến lúc
hấp hối bác sĩ sẽ nói bằng hai cách: với người bệnh
thì ông nói: “Đừng lo lắng, bạn sẽ khá hơn. Không có
gì phải lo âu; chỉ cần tĩnh dưỡng.” Với gia đình thì
ông nói: “Tình huống rất trầm trọng. Quý vị nên sắp
xếp để cử hành những nghi lễ cuối cùng.” Vào thời điểm
đó bạn sẽ không có cơ hội nào để hoàn tất công việc
dở dang hay để hoàn thiện việc nghiên cứu của bạn. Khi
nằm đó, thân thể bạn sẽ quá yếu khiến bạn cử động
khó khăn. Rồi hơi nóng của thân từ từ phân tán và bạn
cảm thấy thân mình trở nên cứng đơ, như một khúc cây
rơi trên giường bạn. Bạn sẽ thực sự bắt đầu nhìn thấy
tử thi của chính mình. Những lời sau cùng của bạn nghe thều
thào và những người ở xung quanh phải ráng sức mới hiểu
bạn nói gì. Thực phẩm cuối cùng bạn ăn không phải là
một bữa ăn ngon lành mà là một nắm thuốc mà bạn sẽ không
còn sức để nuốt trôi. Bạn sẽ phải rời bỏ những bằng
hữu thân thiết nhất, dường như phải mất nhiều kiếp bạn
mới gặp lại họ. Cách thở của bạn biến đổi và trở
nên ồn hơn. Từ từ nó sẽ trở nên bất thường, hơi thở
vào hơi thở ra nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Cuối cùng, sẽ có
một hơi thở ra rất mạnh sau cùng, và đây sẽ là sự chấm
dứt việc hô hấp của bạn. Điều đó đánh dấu sự chết
như thường được hiểu như vậy. Sau đó thì tên của bạn,
cái tên mà đã một thời đem lại niềm vui cho bằng hữu
và gia đình bạn khi họ nghe tới nó, sẽ được thêm vào
một từ “cố” ở trước nó.
Điều
trọng yếu là vào lúc hấp hối, tâm phải ở trong một trạng
thái tốt lành. Nó là cơ may cuối cùng mà chúng ta có, và
là một dịp may không nên bị bỏ qua. Mặc dù chúng ta có
thể sống một cuộc đời rất xấu xa, nhưng vào lúc hấp
hối ta nên làm một nỗ lực vĩ đại để nuôi dưỡng một
trạng thái đức hạnh (an bình) trong tâm. Nếu chúng ta có
thể phát triển một lòng bi mẫn hết sức mạnh mẽ và tràn
đầy năng lực vào lúc chết, thì có hy vọng rằng ở đời
sau chúng ta sẽ tái sinh trong một đời sống thuận lợi. Nói
chung, sự quen thuộc đóng một vai trò quan trọng trong việc
này. Khi bệnh nhân sắp chết thì việc để cho người hấp
hối cảm thấy ham muốn hay oán giận là điều bất hạnh.
Ít nhất, nên cho người bệnh ngắm nhìn hình ảnh các vị
Phật và Bồ Tát khiến họ có thể nhận ra các Ngài, cố
gắng phát triển đức tin mạnh mẽ nơi các Ngài, và chết
trong một tâm trạng tốt lành. Nếu điều này không thể làm
được thì điều tối quan trọng là những người chăm sóc
và thân quyến đừng làm người sắp chết bối rối. Vào
lúc ấy, một cảm xúc rất mãnh liệt như sự ham muốn hay
oán giận có thể đưa người hấp hối tới một trạng thái
đau khổ ghê gớm và hoàn toàn có khả năng đi vào một sự
tái sinh ở cõi thấp.
Khi
cái chết đến gần, những dấu hiệu nào đó điềm chỉ
tương lai có thể xuất hiện. Những người có tâm thức tốt
lành sẽ thấy là mình đang đi từ chốn tối tăm ra ánh sáng
hay đi vào nơi quang đãng. Họ sẽ cảm thấy sung sướng, nhìn
thấy những điều đẹp đẽ, và sẽ không cảm thấy bất
kỳ nỗi đau khổ sâu sắc nào khi họ chết.
Nếu
lúc hấp hối người ta có những cảm xúc hết sức mãnh liệt
về sự ham muốn hay oán ghét thì họ sẽ thấy mọi thứ ảo
giác và sẽ cảm thấy đau buồn ghê gớm. Một số người
thấy như thể họ đang đi vào bóng tối, những người khác
cảm thấy mình đang bị thiêu đốt. Tôi từng gặp vài người
đang bệnh rất nặng, họ kể lại rằng khi đau nặng, họ
thấy mình đang bị thiêu đốt. Đây là một biểu thị cho
số phận trong tương lai của họ. Do những dấu hiệu như
thế, người hấp hối sẽ cảm thấy hết sức bối rối,
và sẽ kêu la, rên rỉ, thấy như thể toàn thân đang bị lôi
kéo xuống. Họ sẽ đau khổ sâu sắc lúc hấp hối. Một cách
rốt ráo, những sự kiện này phát xuất từ sự bám chấp
vào bản ngã. Người hấp hối biết rằng kẻ mà mọi người
rất yêu mến đó sắp chết.
Khi
những người đã miệt mài phần lớn đời mình trong ác hạnh
ấy chết, ta được biết là tiến trình tan hoại hơi ấm
của thân thể bắt đầu từ phần thân trên đi xuống trái
tim. Đối với những hành giả thiện hạnh thì tiến trình
tan biến hơi nóng bắt đầu từ phía dưới, từ bàn chân,
và cuối cùng lên tới trái tim. Trong bất kỳ trường hợp
nào, tâm thức cũng thực sự khởi hành từ trái tim.
Sau
khi chết, người ta đi vào trạng thái trung ấm, bardo. Thân
thể trong trạng thái trung ấm có vài đặc điểm riêng biệt:
tất cả các giác quan đều đầy đủ, và nó có một hình
tướng thể chất giống hệt với hình tướng của hiện thể
mà nó sẽ tái sinh. Ví dụ, nếu nó tái sinh làm một con người,
nó sẽ có một hình tướng thể chất giống hệt một con
người. Nếu nó tái sinh là một súc sinh thì nó sẽ có hình
tướng thể chất của súc sinh đặc thù. Thân trung ấm có
thị lực mạnh mẽ đến độ có thể nhìn xuyên qua các vật
rắn và có khả năng du hành bất kỳ nơi nào mà không bị
ngăn ngại. Thân trung ấm chỉ có thể nhìn thấy những thân
trung ấm cùng loại. Ví dụ, nếu một thân trung ấm được
định là tái sinh làm một con người thì nó chỉ nhìn thấy
những thân trung ấm đã được định để tái sinh làm người.
Những thân trung ấm của cõi trời đi hướng lên, nhìn hướng
lên cao, và các thân trung ấm của cõi người đi thẳng và
nhìn thẳng. Các thân trung ấm của những kẻ đã say đắm
trong các ác hành và bị tái sinh vào các cõi thấp thì ta được
biết là di chuyển hướng xuống dưới.
Thời
kỳ ở trạng thái trung ấm này là bảy ngày. Sau một tuần
lễ, nếu thân trung ấm gặp được những tình cảnh thích
hợp thì nó sẽ tái sinh trong cảnh giới luân hồi tương ứng.
Nếu nó không gặp được thì sẽ lại chết một cái chết
nhỏ và xuất hiện một lần nữa như một thân trung ấm.
Điều này có thể xuất hiện bảy lần, nhưng sau bốn mươi
chín ngày thì nó không thể tồn tại như một hiện thể của
trạng thái trung ấm nữa và phải tái sinh dù nó có muốn
hay không. Khi đến thời điểm để tái sinh, thân trung ấm
nhìn những hiện thể cùng loại với nó bay lượn, và nó
sẽ phát triển một ước muốn nhập bọn với họ. Những
chất sinh nở của các cha mẹ tương lai, tinh dịch và trứng,
trông khác biệt với nó. Mặc dù cha mẹ có thể không thực
sự ngủ với nhau, thân trung ấm sẽ có ảo giác là họ đang
làm việc đó và sẽ cảm thấy dính mắc với họ. Nếu thân
trung ấm nào có thể sinh làm một bé gái, nó sẽ cảm thấy
ghét bỏ người mẹ và bị cuốn hút bởi sự trói buộc,
nó sẽ nỗ lực để ngủ với người cha. Nếu thân trung ấm
có thể sinh ra làm một bé trai, nó sẽ thấy ganh ghét người
cha mà ràng buộc với người mẹ và cố gắng để ngủ với
mẹ. Bị kích động bởi lòng ham muốn như thế, nó đi theo
cha mẹ bất kỳ nơi nào. Sau đó, không có phần thân thể
nào của cha mẹ xuất hiện ra trước thân trung ấm đó trừ
những bộ phận sinh dục, do đó nó cảm thấy thất vọng
và giận dữ. Sự giận dữ đó là điều kiện (duyên) cho
cái chết của nó từ trạng thái trung ấm, và nó tái sinh
trong tử cung. Khi cha mẹ đang giao hợp và đạt tới khoái
cảm cực độ, một hay hai giọt tinh dịch đậm đặc và trứng
hòa trộn với nhau như kem trên lớp mặt sữa đun sôi. Vào
lúc này, tâm thức của thân trung ấm ngừng dứt và đi vào
hỗn hợp ấy. Điều đó đánh dấu sự nhập thai. Mặc dù
cha mẹ có thể không giao hợp, thân trung ấm có ảo tưởng
là họ đang làm việc ấy và sẽ đi tới nơi đó. Điều này
hàm ý rằng có những trường hợp, mặc dù cha mẹ có thể
không giao hợp, tuy nhiên tâm thức vẫn có thể đi vào những
yếu tố vật lý. Điều này giải thích cho việc những đứa
trẻ sinh ra từ ống nghiệm ngày nay; khi các tinh chất được
tập hợp lại từ cha mẹ, được hòa trộn và giữ gìn trong
một ống nghiệm thì tâm thức có thể đi vào hợp chất đó
mà không cần sự giao hợp thực sự xảy ra.
Ngài
Shantideva nói rằng ngay cả các súc vật cũng hoạt động để
cảm nghiệm niềm vui thích và tránh né đau khổ trong đời
này. Chúng ta phải hướng sự chú tâm của ta về tương lai;
nếu không, ta sẽ không khác gì những thú vật. Sự tỉnh
thức về cái chết chính là nền tảng của toàn thể con đường.
Trừ phi bạn phát triển sự tỉnh thức này, còn không thì
tất cả những thực hành khác sẽ bị chướng ngại. Pháp
là người hướng đạo dẫn dắt ta đi qua những địa hạt
không được biết tới; Pháp là thực phẩm nuôi dưỡng ta
trong cuộc hành trình; Pháp là vị thuyền trưởng sẽ đưa
chúng ta tới bến bờ xa lạ của Niết bàn. Vì thế, hãy đem
tất cả năng lực của thân, ngữ và tâm bạn vào việc thực
hành Pháp. Nói về sự thiền định về cái chết và lẽ vô
thường thì rất dễ, nhưng thực hành thật sự thì quả là
hết sức khó khăn. Và khi chúng ta thực hành, đôi lúc ta không
nhận thấy có sự thay đổi nhiều, đặc biệt nếu ta chỉ
so sánh hôm qua và hôm nay. Đó là một mối nguy hiểm dễ làm
ta mất hy vọng và trở nên thiếu can đảm. Trong những tình
huống như thế, rất lợi lạc khi ta không so sánh từng ngày
hay hàng tuần, mà đúng hơn, cố gắng so sánh tâm trạng hiện
thời của ta với tâm trạng của năm năm hay mười năm trước;
như vậy ta sẽ thấy rằng đã có một vài thay đổi. Chúng
ta có thể nhận ra một số chuyển biến trong quan điểm, trong
nhận thức, trong thân tâm, trong sự hưởng ứng của chúng
ta đối với các thực hành này. Chính nó là một suối nguồn
nâng đỡ, động viên to lớn; nó thực sự ban cho ta niềm
hy vọng, vì nó chỉ cho ta thấy nếu ta nỗ lực thì sẽ có
khả năng để tiến bộ hơn nữa. Trở nên ngã lòng và quyết
định trì hỗn thực hành của chúng ta tới một thời điểm
thuận lợi hơn thì thực sự rất nguy hiểm.