CHƯƠNG
2
ĐẠO
SƯ
Hằng
hà sa số chư Phật đã xuất hiện trong quá khứ, và chúng
ta đã không có may mắn được gặp các Ngài. Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni ra đời là để hóa độ chúng sinh trong thời đại
suy thoái này. Ngài đã xuất hiện trong thế gian 2500 năm trước
và từ đó đã chỉ dạy cho nhiều chúng sinh con đường giải
thoát khỏi sự luân hồi đau khổ. Tuy nhiên, chúng ta không
có diễm phúc được gặp Ngài, được ở dưới sự dẫn
dắt của Ngài, và vì thế còn bị sót lại với tâm thức
chưa thuần thục và tầm thường. Đã có nhiều Đạo sư vĩ
đại ở Ấn Độ và Tây Tạng thành tựu trạng thái Toàn
Giác. Nhiều Đạo sư vĩ đại khác đã hoàn tất những chứng
ngộ cao siêu, trong khi những vị Thầy khác mới chỉ xoay xở
để đi vào con đường.
Ngày
nay, các giáo huấn đã hiện diện trong nhiều thế kỷ, nhưng
sự quan trọng của Pháp không nằm ở tính chất tương tục
của nó trải qua một thời gian dài, mà nằm ở chỗ nó có
hiện diện trong tâm ta hay không, có sống động trong những
hành động của ta hay không. Nếu chúng ta chỉ thỏa mãn rằng
giáo lý của Đức Phật vẫn còn hiện hữu trong thế gian
thì Pháp có nguy cơ bị suy hoại vì sẽ không ai có đủ khả
năng để nói về nó từ kinh nghiệm thực hành. Sau khi Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 qua đời vào năm 1933, dân tộc Tây
Tạng đã tự cô lập. Mặc dù sự biến chuyển lớn lao đang
xảy ra ở những nơi khác trong thế giới, người Tây Tạng
tự giam nhốt mình… Hiện nay Phật giáo Tây Tạng có thể
bị hủy diệt vì sự phân hóa của người dân Tây Tạng,
vì thế thực sự nỗ lực trong việc thực hành Pháp là điều
hết sức quan trọng trong lúc này. Vào những thời điểm hệ
trọng như thế, chính Đạo sư, vị Thầy, là người che chở
và nâng đỡ ta. Chính Đạo sư là người khai mở cho ta những
giáo lý mênh mông và sâu thẳm do chính Đức Phật lập nên,
trong một phương cách thích hợp với tầm hiểu biết của
chúng ta.
Mặc
dù tất cả chư Phật đã tích cực làm việc cho sự lợi
lạc của chúng sinh, nhưng chúng ta có thể hưởng được những
lợi lạc như thế hay không thì tùy thuộc vào việc ta quan
hệ với vị Thầy của mình thế nào. Đạo sư là cánh cửa
duy nhất đi vào sự Giác ngộ vì ngài là vị Thầy sống mà
ta có thể quan hệ trực tiếp. Gặp được một vị Thầy
thì không đủ nếu ta không tuân theo chỉ dạy của ngài về
sự thực hành và về cách sống cuộc đời mình. Nếu chúng
ta may mắn gặp được những giáo lý này thì hầu như ta tránh
được phần lớn những trở ngại chính khi ta thực hành Pháp.
Vì vậy, thật quan trọng nếu ta làm cho phần đời còn lại
của ta trở nên có ý nghĩa bằng cách tiến hành sự tu tập.
Nếu chúng ta khởi sự từ bây giờ, thì rất có thể là ta
sẽ có đủ năng lực để tiến bộ trong suốt con đường.
Sự
thực hành theo bất kỳ con đường nào cần được đặt nền
trên những giáo lý toàn diện và chính xác. Chúng ta phải
xem xét thận trọng loại thực hành nào ta thích làm và loại
giáo lý nào ta cần để tạo nền tảng cho sự thực hành.
Đại học giả Tây Tạng Sakya Pandita (1182-1251) thường nói
rằng người ta quá chăm chút những vấn đề thế gian như
việc mua một con ngựa. Vì thế, khi chúng ta đã chọn sự
thực hành Pháp, thì điều quan trọng là phải chọn lựa kỹ
càng hơn nữa sự thực hành và vị Thầy, vì mục đích là
đạt được Phật Quả, chứ không phải là sự truyền bá.
Sự việc vị Thầy có đích thực hay không thì không tùy thuộc
vào khả năng trích dẫn từ Kinh điển Phật giáo. Bạn cần
phân tích lời nói và hành động của vị Thầy. Qua sự phân
tích sâu sát thường xuyên, bạn sẽ có thể phát triển sự
sùng kính sâu xa đối với vị Thầy đó.
Đạo
sư Tây Tạng Po-to-wa (1031-1106) nói rằng khởi điểm của toàn
thể con đường là học hỏi để nắm được lời chỉ dạy
của vị Thầy, và như thế, mọi kinh nghiệm chứng ngộ tối
thiểu và sự giảm bớt mê lầm ít ỏi nhất sẽ xảy đến
như kết quả của những giáo lý của vị Thầy. Nếu chúng
ta không thể điều hành các công việc của mình mà không
nhờ tới sự hướng dẫn của một luật sư giỏi, thì không
cần bàn tới tầm quan trọng của vị Thầy nếu ta đang đi
theo một con đường không quen thuộc để đạt được Phật
Quả.
Có
những trường hợp những người rất thông minh, họ có vẻ
hết sức linh lợi, nhưng khi chú tâm tới Pháp thì tâm trí
họ trở nên tê liệt. Điều này cho thấy là họ không tích
tập đầy đủ tiềm năng tích cực. Cũng có trường hợp
những người rất thông minh và có sự hiểu biết Giáo Pháp
uyên bác, nhưng sự hiểu biết này không ảnh hưởng được
tâm thức họ. Họ không đem những gì họ biết vào thực
hành. Trong bối cảnh này, vị Thầy hết sức quan trọng. Sự
chứng ngộ cao cấp đặc biệt chỉ có thể có được nhờ
sự dẫn dắt từng bước một của vị Thầy có kinh nghiệm
chân xác. Vị Thầy trở nên một vai trò mẫu mực và nguồn
hứng khởi cho sự thực hành của chúng ta. Ta có thể phát
triển đức tin mạnh mẽ nhờ đọc các bản văn có liên quan
tới sự thực hành lòng bi mẫn. Nhưng khi gặp được một
con người bằng xương bằng thịt đã từng thực hành nó
và là người có thể chỉ dạy cho ta sự thực hành lòng bi
mẫn từ kinh nghiệm riêng của ngài, thì điều này còn gây
cảm hứng chúng ta mãnh liệt hơn nữa.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng trừ phi tâm thức của vị Thầy được
điều phục, sẽ không hy vọng gì vị Thầy điều phục được
người khác. Vị Tthầy nên tự chế trong thái độ của mình,
nhờ định lực, tâm thức các ngài cần được giữ gìn trước
những phóng tâm. Các ngài nên được trang bị năng lực của
trí tuệ, nó thấu suốt qua hình tướng của các hiện tượng.
Nếu một người có sự tu hành cao cấp trong giới hạnh, có
thể nói là tâm thức người ấy đã được điều phục.
Trong Kinh Giới Bổn Biệt Giải Thoát, là quyển Kinh đề cập
tới những giới nguyện tu viện, tâm thức được so sánh
với một con ngựa hoang, và sự thực hành giới luật được
sánh với những dây cương nhờ đó con ngựa hoang này được
điều phục. Cũng vậy, khi tâm chưa thuần thục khởi hành
từ con đường và miệt mài trong những ác hành, con ngựa
hoang này cần được điều phục bằng cách dùng dây cương
của giới hạnh để kiềm chế thân và tâm trước những
hành động tiêu cực.
Một
vị Thầy có phẩm tính cũng phải thiện xảo trong việc tu
tập thiền định cao cấp, nó được chứng minh bằng việc
áp dụng bền bỉ sự chánh niệm và nội quán. (…) Một vị
Thầy cũng phải được hoàn toàn an định nhờ sự tu hành
trí tuệ cao cấp trong sự thấu hiểu bản tánh như huyễn
của các hiện tượng.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng một người chỉ có tâm thức được
điều phục thì không đủ; họ cũng nên thông hiểu về các
giáo huấn. Lạt ma Drom-ton-pa (1005-1064) thường nói rằng khi
một vị Thầy vĩ đại nói về một chủ đề đặc biệt
thì ngài có thể liên hệ nó với toàn thể Kinh điển của
con đường đạt tới Phật Quả. Các vị Thầy nên có khả
năng chuyển hóa sự hiểu biết của mình về toàn bộ một
vấn đề thành một sự chỉ dạy lợi lạc và dễ thực hành.
Đúng như những Kinh điển đã dạy, chư Phật không thể tẩy
sạch ác hành của người khác, không thể tiêu trừ nỗi đau
khổ của họ, cũng không thể chuyển nhượng những chứng
ngộ của các Ngài cho ta. Chỉ có một cách duy nhất để chư
Phật có thể giải thoát chúng sinh là chỉ ra cho chúng ta một
con đường đúng đắn.
Mục
đích thực sự của việc chỉ dạy người khác là để giúp
họ hiểu biết. Vì thế, cần thiết phải có một lối nói
lôi cuốn để thực hiện được điều gì là quan trọng khi
tiếp cận vấn đề. Động lực để giảng dạy phải trong
sạch – không bao giờ vì một ước muốn danh tiếng hay lợi
lạc vật chất. Nếu động lực là tiền bạc thì sự giảng
dạy trở nên đơn thuần là một hoạt động thế tục. Trước
khi người Trung Hoa tới Tây Tạng năm 1951, một số người
ở Lhasa đọc các bản văn hay ca hát để kiếm tiền. Điều
này vẫn còn xảy ra ở Tây Tạng. Các du khách tụ tập quanh
họ và chụp ảnh. Tôi thấy điều này thật đáng buồn vì
Pháp đã được sử dụng như một khí cụ để xin ăn, chứ
không phải để tiến bộ tâm linh.
Ngài
Po-to-wa nói rằng mặc dù ngài đã ban nhiều giáo huấn, ngài
không bao giờ chấp nhận ngay cả một sự ca tụng nhỏ bé
nhất, bởi vì ngài giảng dạy vì lòng bi mẫn chúng sinh. Ngài
xem nó như bổn phận phải giảng dạy vì mục đích chính
yếu của ngài là giúp đỡ họ. Bạn không cần phải làm
cho người khác cảm thấy mắc nợ cũng như không cần nhận
những lời cám ơn của họ, vì những gì bạn thực sự đang
làm là để thực hiện hạnh nguyện của riêng bạn. Khi bạn
ăn thực phẩm của bạn thì không có chuyện cảm ơn chính
mình, vì lẽ ăn là điều bạn phải làm.
Ngài
Tsong-kha-pa nói rằng những vị Thầy phụng sự như người
dẫn đường đến Giác ngộ thì giống như nền móng hay gốc
rễ cho sự thành tựu Giác ngộ của bạn. Vì vậy, những
người đang tìm kiếm một vị Thầy nên quen thuộc với những
tiêu chuẩn cần thiết và xác định vị Thầy có những tiêu
chuẩn đó hay không. Trong thế giới, nếu không có một nhà
lãnh đạo chân chính thì chúng ta không thể cải thiện xã
hội. Cũng vậy, trừ phi vị Thầy có phẩm chất đúng đắn,
mặc dù đức tin của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc tuân
thủ theo vị Thầy có thể làm hại bạn nếu bạn được
dẫn dắt theo một đường hướng sai lầm. Vì thế, trước
khi thực sự coi ai là vị Thầy, điều quan trọng là phải
khảo sát họ, hỏi han người khác về họ, và khảo sát chính
bạn. Khi bạn nhận thấy một người thích hợp là một vị
Thầy thì chỉ khi ấy bạn mới nên bắt đầu coi người đó
như Đạo sư của bạn. Cũng tương tự, trước khi vị Thầy
chấp nhận ai là một đệ tử, thì tối quan trọng là trước
hết người đệ tử đó phải đáp ứng những tiêu chuẩn
mà một vị Thầy đòi hỏi.
Chỉ
vì một vị Lạt ma có một vài thị giả hay người hầu thì
không đủ để coi người đó là một vị Thầy. Có một khác
biệt giữa một vị Thầy với một Tulku (hóa thân), hay một
tái sinh của một Đạo sư đặc biệt trở lại cõi đời.
Một số vị vừa là Lạt ma vừa là Tulku, một số là Tulku
nhưng không là Lạt ma, và một số là Lạt ma chứ không phải
Tulku. Trong cộng đồng Tây Tạng, các vị Tulku chiếm một
địa vị cao. Nếu họ cũng không có các phẩm tính của một
vị Thầy, thì vị trí của họ chỉ là địa vị xã hội.
Trong xã hội Tây Tạng, và ngay cả ở Tây phương là nơi nhiều
vị Lạt ma tới giảng dạy, khi người nào đó được gọi
là Tulku thì người ta lập tức tôn kính họ. Còn những người
khác thật sự là những hành giả nghiêm cẩn thì không được
kính trọng nhiều, chỉ vì họ không có danh hiệu Tulku. Triết
gia Phật giáo vĩ đại nhất của Ấn Độ là ngài Nagarjuna,
ngài được tất cả các hành giả sau này coi như vị Thầy,
mặc dù ngài chỉ có một cái tên, và chúng ta không thấy
ghi lại là ngài có một đoàn tùy tùng hay thư ký riêng. Các
vị Lạt ma Tây Tạng của ta có những danh hiệu dài và rất
kêu, một số tên thật khó phát âm. Thật ra, không cần có
một danh hiệu nào khác ngoài danh hiệu Tỳ kheo (vị tăng),
đã được chính Đức Phật ban cho. Đây là một số trong
những sai lầm lớn của xã hội Tây Tạng. Người Tây Tạng
chúng ta không chú ý tới các chiếc y tu sĩ màu vàng thực
sự được chính Đức Phật ban cho, mà thay vào đó, chú tâm
tới những y phục được ban ra như một dấu hiệu đẳng
cấp để làm cho người ta có vẻ cao quý. Sau này các vị
Thầy Ấn Độ mang một loại mũ màu đỏ nhạt, và ở Tây
Tạng, tín đồ theo các vị ấy lưu tâm tới chiếc mũ đỏ
đó hơn là tới điều thực sự quan trọng. (…)
Tu
sĩ vĩ đại Geshe Sang-pu-wa (thế kỷ thứ 12) có nhiều vị
Thầy. Có lần, khi du hành từ miền đông Tây Tạng, ngài gặp
một đệ tử cư sĩ đang ban các giáo lý. Geshe Sang-pu-wa đến
nghe. Khi những người tùy tùng hỏi vì sao ngài cần phải
nhận giáo lý từ một cư sĩ, thì Geshe Sang-pu-wa trả lời
là ngài đã nghe được hai điều rất ích lợi. Vì Geshe Sang-pu-wa
có thể phát triển lòng kính trọng và đức tin ở nhiều
người nên việc ngài có nhiều vị Thầy không thành vấn
đề đối với ngài. Những người như chúng ta có tâm thức
chưa thuần thục, có thể nhìn thấy lỗi lầm nơi vị Thầy
của mình và có xu hướng dễ dàng mất lòng tin. Chừng nào
ta còn nhìn thấy lỗi lầm nơi vị Thầy, và chừng nào ta
có xu hướng mất lòng tin bởi nhìn thấy các lỗi lầm cạn
cợt bên ngoài và được phóng chiếu, thì tốt nhất là có
ít Thầy thôi nhưng liên hệ với các ngài thật tốt. Nếu
bạn không có vấn đề này thì bạn được tự do, càng có
nhiều vị Thầy càng tốt.
Khi
bạn nhìn vị Thầy như hiện thân của tất cả chư Phật
và mong nương tựa vào ngài, niềm tin đó được đặt nền
trên lòng kính ngưỡng. Khi bạn nuôi dưỡng đức tin nhờ
sự nhận thức Đạo sư là nền tảng và gốc rễ của sự
phát triển của bạn, thì đó là đức tin được đặt nền
trên sự xác tín. Khi bạn phát triển đức tin vào vị Thầy
bằng cách tuân thủ lời dạy của Thầy, nó được gọi là
đức tin tha thiết. Nói chung, đức tin được coi là gốc rễ
hay nền tảng của mọi tư tưởng thiện hạnh. Khi bạn có
thể thấy vị Thầy của bạn ngang bằng với chính Đức Phật,
thì bạn có thể tự ngưng việc nhìn thấy các lỗi lầm của
vị Thầy và sẽ chỉ nhận ra những phẩm tính vĩ đại của
ngài. Nhưng đức tin phải được đặt nền trên kinh nghiệm
đã được thử thách và kiểm chứng. Vì thế, bạn nên nỗ
lực bền bỉ và thận trọng để ngăn ngừa những nhận thức
khiến cho bạn nhìn thấy lỗi lầm nơi vị Thầy, nó thực
sự có thể là những phóng chiếu của chính bạn, và nỗ
lực để nhìn thấy những phẩm tính vĩ đại trong vị Thầy.
Có nói rằng mặc dù thực ra vị Thầy của bạn không thực
sự là một vị Phật, nhưng nếu bạn coi vị Thầy đích thật
là một vị Phật thì bạn sẽ có được cảm ứng như thể
từ một Đức Phật thực sự. Trái lại, cho dù trong thực
tế vị Thầy của bạn có thể là một vị Phật toàn hảo,
nhưng nếu bạn không thể nhìn thấy ngài (có thể nam hay nữ)
theo cách thế đó, thì bạn sẽ nhận được sự cảm ứng
của một con người bình thường.
Hiện
nay, trong thời đại suy thoái này, các guru (Đạo sư) làm việc
thay mặt cho tất cả chư Phật và Bồ Tát để giải thoát
mọi chúng sinh khỏi vòng luân hồi đau khổ. Trong nhiều tantra
có tiên đoán rằng trong thời đại suy thoái, Đức Phật sẽ
xuất hiện ở thế gian trong thân tướng guru. Và trong thời
đại suy thoái, lòng bi mẫn của các ngài phải làm việc trong
một cách thế mạnh mẽ hơn nữa, điều này có thể gây bối
rối cho những người nghĩ rằng lòng bi mẫn phải có hình
thức quy ước nào đó. Nếu chúng ta không cảm thụ được
giáo huấn và lòng bi mẫn của Đức Phật, thì không vị Thầy
nào có thể giúp đỡ đắc lực cho ta được. Nhưng đức
tin và sự xác tín sẽ khai mở cho chúng ta năng lực của chư
Phật, lòng bi mẫn mãnh liệt của các ngài hướng tới mọi
chúng sinh không ngoại trừ ai. Tình thương đó bao gồm cả
các bạn và tôi.
Một
giáo huấn nói: “Khi con lang thang trong luân hồi sinh tử, Ngài
(Phật) tìm kiếm con và soi sáng sự vô minh của con. Ngài đã
cho con thấy ánh sáng và giải thoát con khỏi sự trói buộc.”
Ta có thể tìm thấy vị Phật – là đấng đang làm việc
cho chúng ta – bằng một tiến trình loại trừ. Hãy tự hỏi,
trong những người thân thiết với bạn thì ai là người đang
dẫn dắt bạn ra khỏi sự luân hồi đau khổ, gây nên bởi
sự vô minh, trói buộc, và oán ghét. Người đó có phải là
cha mẹ bạn ? Bằng hữu bạn ? Chồng hay vợ bạn ? Bằng hữu
của bạn không làm điều đó, thân quyến của bạn không
làm, cha mẹ bạn không làm. Vậy nếu có một vị Phật đang
làm việc cho bạn, thì Ngài (nam hay nữ) phải là con người
ngay trong cuộc đời bạn đang đưa bạn tới sự Giác ngộ
– đó là Thầy bạn. Đấy là cách người ta có thể coi vị
Thầy như vị Phật toàn hảo. Trong quá khứ, đã có những
trường hợp mà do một sự che chướng trong tâm thức, các
hành giả đã thấy vị Phật hiện thực trong hình tướng
bình thường. Ngài Asanga (thế kỷ thứ bốn) có một thị
kiến về vị Phật tương lai, Đức Di Lặc, như một con chó
đầy dòi, và ngài Sang-pu-wa thấy một vị Phật nữ như một
bà lão bị bệnh phong hủi. Nếu bạn được gặp các vị
Thầy vĩ đại trong quá khứ là những người đã thành tựu
Giác ngộ chỉ trong một đời, các ngài trông hoàn toàn giống
như một người hành khất Ấn Độ bình thường, lang thang,
trần trụi với những lằn vẽ trên trán.
Khi
tôi nói về tầm quan trọng của lòng sùng mộ đối với vị
Thầy và về việc xem ngài như vị Phật, xin đừng hiểu lầm
là tôi đang ngụ ý rằng tôi là một vị Phật. Không phải
như thế; tôi biết tôi không phải là một vị Phật. Dù tôi
được tán dương hay bị lên án, tôi vẫn sẽ là tu sĩ Phật
giáo bình thường như tôi đang là. Tôi là một tu sĩ, và tôi
nhận thấy điều này hết sức thoải mái. Mọi người gọi
tôi là Bồ Tát của lòng Bi mẫn, Đức Quán Thế Âm, nhưng
điều đó không làm cho tôi thành Quán Thế Âm. Những chính
trị gia thù địch gọi tôi là một con sói khoác chiếc y vàng,
nhưng điều đó không làm cho tôi thấp hơn một con người
hay cao hơn một con chó sói. Tôi vẫn chỉ là một tu sĩ bình
thường.
Bạn
nên làm gì khi sự tuân thủ giáo huấn của Đạo sư của
bạn buộc bạn phải làm việc vô đạo đức hay nếu giáo
lý của ngài mâu thuẫn với Phật Pháp ? Bạn nên trung
thành với điều gì đạo đức và rời xa điều gì không
phù hợp với Pháp. Ở Ấn Độ, một lần kia, một vị
Thầy có nhiều đệ tử yêu cầu họ đi ra ngoài ăn trộm.
Vị Thầy thuộc đẳng cấp Bà la môn và rất nghèo. Ông bảo
họ rằng khi những người Bà la môn trở nên nghèo khó thì
họ có quyền ăn cắp. Ông nói, là những người được Trời
Brahma (Phạm Thiên) – đấng sáng tạo của thế giới – yêu
quý, việc ăn cắp không xấu xa đối với một người Bà
la môn. Khi những đệ tử sắp đi ăn cắp thì người Bà la
môn nhận thấy một đệ tử đứng im lặng, đầu cúi xuống.
Ông hỏi anh ta tại sao không đi. Người học trò nói: “Điều
thầy dạy chúng con bây giờ trái nghịch với Pháp, vì vậy
con không nghĩ rằng con có thể làm điều đó.” Lời nói
này làm vui lòng người Bà la môn, ông nói: “Ta đã trắc
nghiệm sự hiểu biết của các con. Mặc dù tất cả các con
đều là đệ tử của ta và trung thành với ta, nhưng sự khác
biệt giữa các con là ở sự phán đoán. Cậu bé này hết
sức trung thành với ta, nhưng khi ta chỉ dạy điều gì sai,
cậu ta có thể nhận ra nó trái nghịch với Pháp và không
làm việc đó. Như thế là đúng đắn. Ta là thầy của các
con, nhưng các con phải xem xét lời chỉ dạy của ta, và bất
kỳ lúc nào lời chỉ dạy đó chống trái với Pháp thì các
con chớ nên theo.”