Điểm
Bảy
NHỮNG
KHUYÊN NHỦ VỀ TU TÂM
ĐIỂM
BẢY VÀ SAU THIỀN ĐỊNH
39.
Mọi hoạt động cần được làm với chỉ một ý định
40.
Hãy sửa chữa mọi lỗi lầm với một ý định
41.
Hai hoạt động : một cái lúc bắt đầu,
một
cái lúc chấm dứt
42.
Dù xấu hay tốt xảy ra, hãy nhẫn nhục
43.
Hãy tuân thủ hai cái này, thậm chí với
cái
giá cuộc đời của bạn
44.
Hãy tu hành ba sự khó khăn
45.
Hãy dựa vào ba nguyên nhân chánh yếu
46.
Hãy chú ý cho ba cái không bao giờ hư khuyết
47.
Hãy giữ cho ba cái không tách lìa
48.
Hãy tu hành không có thiên chấp trong mọi lãnh vực.
Cốt
yếu là luôn luôn làm việc ấy một cách sâu rộng và toàn
tâm
49.
Hãy luôn luôn thiền định về bất cứ cái gì gây ra khó
chịu
50.
Chớ dao động vì những ngoại cảnh
51.
Thời gian này, hãy thực hành những điểm chính
52.
Chớ hiểu sai
53.
Chớ chao đảo
54.
Hãy tu hành toàn tâm
55.
Hãy tự giải thoát chính mình bằng cách khảo sát và phân
tích
56.
Chớ đầm mình trong sự tự thương hại
57.
Chớ có ghen tỵ
58.
Chớ có phù phiếm, ngớ ngẩn
59.
Chớ chờ đợi sự tán thưởng
BÀI
KỆ KẾT THÚC
Phụ
Lục : BốN MƯƠI SAU CACH THứC THấT BạI CủA MộT Bồ TAT
Chú
Thích
Thuật
Ngữ
Về
Tác Giả
ĐIỂM
BẢY
NHỮNG
KHUYÊN NHỦ VỀ TU TÂM
ĐIỂM
BẢY VÀ SAU THIỀN ĐỊNH
Những
khuyên nhủ về tu tâm bàn về cách làm sao tiến bộ hơn nữa
trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Chủ đề này có vẻ
được nối kết với một nhận thức tổng quát như thế
nào chúng ta có thể cư xử thích đáng trong những mối quan
hệ của chúng ta và trong kinh nghiệm tổng quát sau thiền định.
39
Mọi
hoạt động cần được làm với chỉ một ý định.
Một
ý định là có một cảm thức dịu dàng yêu mến với những
người khác và một sẵn lòng giúp đỡ những người khác
– luôn luôn như vậy. Đấy có vẻ là tinh túy của bồ tát
nguyện. Trong bất cứ điều gì bạn làm – ngồi, đi, đứng,
ăn, uống, ngay cả ngủ – bạn cần luôn luôn mặc lấy thái
độ làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh.
40
Hãy
sửa chữa mọi lỗi lầm với một ý định.
Khi
bạn đang ở giữa những hoàn cảnh xấu như bệnh tật dữ
dội, tai tiếng, tòa án, khủng hoảng kinh tế hay gia đình,
những phiền não tăng trưởng hay chống lại sự thực hành,
bạn cần khai triển lòng bi cho tất cả chúng sanh cũng đang
chịu đựng như vậy và bạn cầu mong ước nhận lấy sự
khổ đau của họ qua việc thực hành lojong.
Chúng
ta cần sửa chữa hay vượt thắng mọi lỗi lầm hay trường
hợp tệ hại chúng ta đang trải nghiệm. Thay vì có một thái
độ tiêu cực với sự thực hành và không muốn thực hành
nữa – bất kỳ khi nào những lầm lạc và những vấn đề
như vậy xảy ra, chúng cần được đánh bại. Nói cách khác,
nếu sự thực hành của bạn trở nên tốt đẹp khi sự việc
tốt đẹp cho bạn nhưng trở nên lủng củng, biến mất khi
hoàn cảnh là tồi tệ, đó không phải là cách thức đúng
đắn. Bất cứ hoàn cảnh nào, tốt hay xấu, bạn vẫn tiếp
tục sự thực hành của bạn.
Sửa
chữa mọi lỗi lầm nghĩa là đóng dấu lên những phiền não.
Bất kỳ khi nào bạn không muốn thực hành – hãy đóng dấu
lên nó, và rồi hãy thực hành. Bất cứ khi nào một hoàn
cảnh xấu xảy đến có thể làm bạn cắt ngang – hãy đóng
dấu lên đó. Trong châm ngôn này bạn trục xuất những phiền
não một cách cố ý, trực tiếp và rất tức thời.
41
Hai
hoạt động : một cái lúc bắt đầu,
một
cái lúc chấm dứt.
Điểm
cốt yếu của châm ngôn này là bắt đầu và chấm dứt một
ngày với Bồ đề tâm hai phương diện. Buổi sáng bạn cần
nhớ lại Bồ đề tâm và mang lấy thái độ không tách lìa
mảy may khỏi nó và vào lúc ngày chấm dứt, bạn cần xem
xét bạn đã làm gì. Nếu bạn không tách lìa với Bồ đề
tâm hai phương diện, bạn nên vui thích và nguyện mang lấy
cùng thái độ đó trở lại vào hôm sau. Và nếu bạn tách
lìa khỏi Bồ đề tâm, bạn cần nguyện kết hợp trở lại
với nó vào ngày hôm sau.
Châm
ngôn này là một châm ngôn rất giản dị. Nó có nghĩa là
cuộc đời bạn được kẹp vào giữa lời nguyện của bạn
đặt những người khác lên trước bạn và cảm thức của
bạn cam kết với Bồ đề tâm hai phương diện. Khi bạn thức
dậy vào buổi sáng, ngay khi vừa thức, để bắt đầu ngày
của bạn, bạn tự hứa rằng bạn sẽ làm việc trên Bồ
đề tâm hai phần và phát triển một cảm thức dịu dàng
từ ái với chính bạn và với những người khác. Bạn hứa
không trách móc thế giới và những chúng sanh khác, và nhận
sự đau khổ của họ vào chính bạn. Khi đi ngủ, bạn cũng
làm như vậy. Theo cách này, giấc ngủ và ngày tiếp theo đều
được ảnh hưởng bởi sự cam kết ấy. Nó hoàn toàn thẳng
tắt.
42
Dù
xấu hay tốt xảy ra, hãy nhẫn nhục.
Dù
một tình huống vui sướng hay khổ đau xảy ra, thứ gì có
xảy đến cho bạn, nó vẫn không làm lay động được sự
thực hành của bạn, bạn vẫn duy trì sự nhẫn nhục liên
tục và thực hành liên tục. Dù bạn có ở giữa hạnh phúc
cùng cực hay khổ đau cùng cực như kết quả của nghiệp
cũ. Bởi thế, không cần phải cảm thấy tiếc nuối ân hận.
Thay vì thế bạn chỉ nên cố gắng tịnh hóa bất cứ hành
vi xấu nào và bất cứ che chướng nào. Hạnh phúc cùng cực
cũng là kết quả của nghiệp trước kia, thế nên không có
lý do gì để say mê trong đó. Bạn nên dâng cúng tài sản
cho những nguyên nhân đức hạnh và cảm giác của bạn về
quyền thế và quyền lực nên được phân giải thành đức
hạnh.
Rất
thường khi sự việc quấy nhiễu hay làm rắc rối cho người
học, họ mất đi cảm thức bao quát và cố gắng tìm một
loại “thủ phạm” trong pháp. Chẳng hạn, để biện minh
cho sự bất lực riêng của họ trong việc thực hành, họ
kết luận với mọi loại ý tưởng : môi trường không đúng
hợp, những huynh đệ trong hoàn cảnh thực hành không tốt,
sự tổ chức môi trường tu học không tốt. Mọi loại than
phiền bắt đầu xảy đến. Trong những trường hợp cùng
cực, người ta bắt đầu quy y những người phi pháp và trở
lại những hoàn cảnh trong đó sự hiện hữu của họ được
công nhận. Ý tưởng trong châm ngôn này là phát triển và
duy trì kỷ luật để cho dù tình huống tốt hay xấu, bạn
vẫn duy trì nhẫn nhục trong thực hành của bạn. Điểm chính
là nhẫn nhục, nó nghĩa là dành nhiều thời gian hơn và chịu
đựng hơn.
43
Hãy
tuân thủ hai cái này, thậm chí với
cái
giá cuộc đời của bạn.
Bạn
cần duy trì những kỷ luật bạn đã tự cam kết : đặc biệt,
(1) lời nguyện quy y và (2) lời nguyện Bồ tát. Bạn cần
duy trì một cách sống tổng quát là một Phật tử đúng đắn
và trên nữa, kỷ luật đặc biệt thực hành lojong, hay tu
tâm. Sự thực hành này cần trở thành một phần rất quan
trọng của đời bạn.
Đối
với hành giả mật thừa, châm ngôn này nghĩa là trong cuộc
đời này và trong những đời tới, bạn cần giữ kỷ luật
của ba thừa. Điều này áp dụng cho những nguyên lý của
giáo pháp và cho sự thực hành lojong nói riêng. Bạn cần luôn
luôn giữ gìn sự ràng buộc này, hay samaya, thậm chí với
cái giá cuộc đời bạn.
44
Hãy
tu hành ba sự khó khăn.
Ba
sự khó khăn phải đối phó liên quan đến cách chúng ta đối
xử với những phiền não hay những loạn thần của riêng
chúng ta như thế nào. Sự khó khăn thứ nhất là nhận thức
được cái điểm mà từ đó bạn bị những phiền não của
bạn lừa bịp. Bạn phải nhìn xem và hiểu sự lừa bịp đó,
điều này rất khó khăn. Sự khó khăn thứ hai là tống khứ
hay trừ tà cho “chủ nghĩa” phiền não của chúng ta. Và
khó khăn thứ ba là cắt đứt sự tương tục của “chủ
nghĩa” phiền não này. Nói cách khác, lúc bắt đầu rất
khó nhọc để nhận ra những loạn thần của chúng ta ; rồi
rất khó để chiến thắng chúng ; và thứ ba, rất khó để
cắt tiệt chúng. Đó là ba sự khó khăn.
Khi
loạn thần sanh khởi, trước tiên bạn phải nhận ra nó là
sự loạn thần. Rồi bạn phải áp dụng một kỹ thuật hay
đối trị để chiến thắng nó. Bởi vì loạn thần đến
một cách căn bản từ tính chấp ngã, từ việc cho chính bạn
là quá quan trọng, cái đối trị là bạn phải cắt đứt
cái ngã của bạn. Cuối cùng, bạn phải có quyết tâm không
theo sự loạn thần hay tiếp tục bị nó lôi kéo, hấp dẫn.
Có một cảm thức chiến thắng tức thời sự loạn thần.
Chúng
ta có tất cả sáu phạm trù. Những khó khăn là : thứ nhất,
khó nhận ra những phiền não của chúng ta ; thứ hai, khó chiến
thắng chúng ; thứ ba, khó cắt tiệt chúng. Điều bạn cần
làm là : thứ nhất, nhận biết chúng ; thứ hai, cố gắng
chiến thắng chúng ; thứ ba, nguyện không bao giờ tạo ra trở
lại những sự việc như vậy nữa.
Rất
khó khăn để liên kết với nguyên lý bồ tát, hay với quan
niệm hoành tráng vĩ đại nào trong chiều hướng đó. Bởi
thế châm ngôn nói, “Hãy tu hành ba sự khó khăn.” Nhưng
nếu bạn sẵn sàng thực hành lojong, tâm thức bạn sẽ được
huấn luyện và cải tạo vào cách tư duy của bồ tát. Thật
vậy, lojong nghĩa đen là truyền thụ, cải tạo : lo là “thông
minh”, và jong là “làm sạch sẽ” hay “huấn luyện tu hành”.
Ý tưởng là tự cải tạo để cho bạn không thể lìa xa nguyên
lý vĩ đại, bất biến này được gọi là Phật tánh, Bồ
đề tâm, Như Lai tạng.
45
Hãy
dựa vào ba nguyên nhân chánh yếu.
“Nguyên
nhân” ám chỉ cái gì khiến cho bạn thành một người theo
pháp một cách tốt đẹp hay một bồ tát. Nguyên nhân thứ
nhất là có một vị thầy tốt. Nguyên nhân thứ hai là đem
tâm thức và thái độ, ứng xử của bạn vào pháp. Nguyên
nhân thứ ba là có thực phẩm và chỗ ở để có thể thực
hành pháp. Bạn cần giữ gìn ba hoàn cảnh này và vui sướng
bạn đã có những cơ hội như vậy.
Dựa
vào nguyên nhân chánh thứ nhất là nhận thức sự cần thiết
của vị thầy, ngài thực sự cho phép bạn đi vào con đường.
Dựa
vào nguyên nhân chánh thứ hai là nhận thức rằng tâm thức
của mình cần phải được thuần hóa. Chẳng hạn, tâm thức
bạn có thể đi vào công việc làm ăn, hay công việc dạy
học, hay công việc viết sách, hay tạo ra một loại kinh nghiệm
hoành tráng kỳ lạ nào cho chính bạn. Bạn có thể có mọi
loại tham vọng về cuộc đời của bạn. Thái độ này không
nổi bật trong thời khi Jamgošn Kongtrušl viết bình giải của
ngài về những châm ngôn, nhưng ngày nay chúng ta có nhiều
chọn lựa hơn. Bạn có thể nghĩ bạn có thể trở thành một
đại bồ tát hay một tác giả lớn, một người buôn bán
lớn hay một kẻ phạm tội lớn. Nhưng trạng thái tâm thức
này, loại tham vọng này hoàn toàn không tốt. Thay vào đó,
bạn phải đến điểm mức mà trạng thái tâm thức bạn nói
rằng, “Tôi muốn hiến mình cho pháp hoàn toàn và trọn vẹn.”
Dựa
vào nguyên nhân chính thứ ba là nhận thức rằng bạn có thể
thực hành pháp bởi vì đã có những hoàn cảnh đúng đắn,
bởi vì bạn đã có một thái độ cởi mở đối với cuộc
đời bạn và đã giải quyết được sự sinh nhai. Thức ăn
và áo quần chỗ ở của bạn đã được chăm sóc, và bạn
đủ kinh tế để có thể thực hành.
Thế
nên bạn cần dựa vào và thực hành ba nguyên nhân này : (1)
làm việc với một vị thầy, (2) tu hành tâm thức, (3) thiết
lập một căn cứ về mặt kinh tế cho sự thực hành.
46
Hãy
chú ý cho ba cái không bao giờ hư khuyết.
Điều
thứ nhất bạn không nên để cho hư khuyết là sự sùng mộ
người bạn tâm linh (kalyanamitra : thiện tri thức) của bạn.
Thái độ hâm mộ, hiến dâng và biết ơn của bạn đối với
thiện tri thức không nên giảm sút. Điều thứ hai bạn không
nên để cho hư khuyết là thái độ vui thích đối với lojong,
hay tu tâm. Sự cảm kích của bạn đã nhận được những
giáo lý như lojong hay sự tu tâm không nên giảm sút. Và điều
thứ ba bạn không nên để cho hư khuyết là hạnh kiểm của
bạn – những lời nguyện tiểu thừa và đại thừa bạn
đã hứa. Sự thực hành những kỷ luật tiểu thừa và đại
thừa của bạn không nên giảm sút.
Châm
ngôn này là thẳng tắt và giữ cho chừng mực. Ở điểm này,
trong thực hành đại thừa, rất cần thiết cho chúng ta phải
nắm lấy một số sức mạnh căn bản. Chúng ta không chỉ
là những người vô tư, không lưu tâm, mà thái độ của chúng
ta là một thái độ có sức mạnh căn bản, năng lực căn
bản.
47
Hãy
giữ cho ba cái không tách lìa.
Sự
thực hành lojong của bạn cần toàn tâm và trọn vẹn. Trong
thân, ngữ, tâm, bạn không nên tách lìa khỏi lojong.
48
Hãy
tu hành không có thiên chấp trong mọi lãnh vực.
Cốt
yếu là luôn luôn làm việc ấy một cách sâu rộng và toàn
tâm
Sự
thực hành lojong bao trùm mọi người và mọi sự. Quan trọng
là khắp suốt và không thiên chấp trong thực hành của bạn,
không loại trừ một cái gì xảy đến trong kinh nghiệm của
bạn.
49
Hãy
luôn luôn thiền định về bất cứ cái gì gây ra khó chịu.
Hãy
luôn luôn thiền định về cái gì khó khăn nhất. Nếu bạn
không bắt đầu ngay lập tức, thì trong khoảnh khắc một
khó khăn khởi lên, rất khó nhọc để chiến thắng nó.
50
Chớ
dao động vì những ngoại cảnh.
Dù
những hoàn cảnh bên ngoài của bạn có thể thay đổi, sự
thực hành của bạn không nên tùy thuộc vào chúng. Dù bạn
đau yếu hay khỏe mạnh, giàu hay nghèo, có tiếng tốt hay tiếng
xấu, bạn cũng thực hành lojong. Nó rất đơn giản : nếu
hoàn cảnh của bạn tốt đẹp, hãy thở nó ra ; nếu hoàn
cảnh của bạn là không ổn, hãy thở nó vào.
51
Thời
gian này, hãy thực hành những điểm chính.
“Thời
gian này” ám chỉ đời này. Bạn đã tiêu phí nhiều đời
trong quá khứ, và trong tương lai bạn có thể không có cơ
may để thực hành. Nhưng bây giờ, là một người đã nghe
pháp, bạn đang thực hành. Thế nên không tiêu phí thời gian
nữa, bạn cần thực hành những điểm chính.
Giáo
lý này có ba điểm : (1) sự lợi lạc của những người khác
thì quan trọng hơn chính bạn ; (2) thực hành những lời dạy
của guru thì quan trọng hơn nghiên cứu theo lối phân tích
; (3) thực hành Bồ đề tâm thì quan trọng hơn bất cứ thực
hành nào khác.
52
Chớ
hiểu sai.
Có
sáu điều bạn có thể méo mó hay hiểu sai trong sự thực
hành của bạn : nhẫn nhục, khao khát, kích động, lòng bi,
những ưu tiên, và vui vẻ. Nhẫn nhục bị hiểu sai khi nhẫn
nhục mọi thứ trong cuộc đời bạn mà trừ ra sự thực hành
pháp. Khao khát bị hiểu sai là thúc đẩy khao khát về lạc
thú và giàu có mà không khuyến khích sự khao khát thực hành
pháp một cách triệt để và thích đáng. Kích động bị hiểu
sai là bị kích động bởi giàu có và giải trí, nhưng không
bị kích động bởi sự học hỏi pháp. Lòng bi bị méo mó
là bi mẫn với những người chịu đựng những khó nhọc
để thực hành pháp, mà không lưu tâm và không bi mẫn đối
với những người làm điều ác. Những ưu tiên bị méo mó
nghĩa là làm việc một cách cần cù do mình quan tâm đến
những lợi lạc cho chính mình trong đời này, mà không phải
là sự thực hành pháp. Vui vẻ bị méo mó là sung sướng khi
buồn đau tấn công những kẻ thù của bạn, nhưng không thích
thú trong đức hạnh và trong niềm vui của sự siêu thoát sanh
tử. Bạn phải tuyệt đối và trọn vẹn ngưng dứt tất cả
sáu ngộ nhận này.
53
Chớ
chao đảo.
Bạn
không nên chao đảo trong nhiệt tình thực hành. Nếu đôi khi
bạn thực hành và những lúc khác thì không, điều ấy sẽ
không làm nảy sinh sự tin chắc vào pháp. Bởi thế chớ nên
suy nghĩ quá nhiều. Chỉ tập trung nhất tâm vào việc tu tâm.
54
Hãy
tu hành toàn tâm.
Hãy
tin vào chính bạn và vào sự thực hành của bạn một cách
toàn tâm. Hãy tu hành thuần túy lojong – nhất tâm, không có
phóng dật.
55
Hãy
tự giải thoát chính mình bằng cách
khảo
sát và phân tích.
Chỉ
đơn giản nhìn vào tâm thức bạn và phân tích nó. Bằng cách
làm hai việc này, bạn sẽ được giải thoát khỏi những
phiền não và chấp ngã. Bấy giờ bạn có thể thực hành
lojong.
56
Chớ
đầm mình trong sự tự thương hại.
Chớ
lấy làm buồn cho chính bạn. Nếu có ai đó đã thành công
hay thừa hưởng một triệu đô la, chớ phí thời gian cảm
thấy tiếc vì nó không là của bạn.
57
Chớ
có ghen tỵ.
Nếu
có người nào nhận được lời khen ngợi còn bạn thì không,
chớ có ghen tỵ.
58
Chớ
có phù phiếm, ngớ ngẩn.
Chớ
biểu lộ sự ghen tỵ phù phiếm trước sự thành công của
những bạn bè của bạn. Nếu một người quen biết mang một
cái cà vạt mới hay một cái áo khoác mới mà bạn cũng thích,
chớ có bốc đồng chỉ ra những khuyết điểm của nó cho
y. “Vâng, rất đẹp, nhưng nó có một điểm ố.” Điều
ấy sẽ chỉ làm cho y tức giận và không giúp gì cho sự thực
hành của y cũng như của bạn.
59
Chớ
chờ đợi sự tán thưởng.
Chớ
chờ đợi những người khác khen ngợi bạn hay nâng ly chúc
mừng bạn. Chớ tính đến việc nhận được sự tán thành,
khen ngợi cho những hành vi tốt đẹp hay sự thực hành tốt
của bạn.
BÀI
KỆ KẾT THÚC
Khi
thời ngũ trược ác thế xảy ra,
Đây
là cách để chuyển hóa chúng vào trong con đường giác ngộ.
Đây
là tinh túy cam lồ của những giáo huấn truyền miệng.
Nó
được truyền xuống từ truyền thống của bậc hiền triết
Suvarnadvipa.
Đã
đánh thức nghiệp của sự tu hành đời trước
Và
đã được cổ vũ bởi sự dâng hiến mãnh liệt,
Tôi
chẳng màng đến bất hạnh và bôi xấu
Và
đã nhận giáo huấn truyền miệng về thuần hóa chấp ngã.
Giờ
đây thậm chí cho đến lúc chết, tôi không ân hận gì.
(Hai
câu kệ này là những bình giảng kết luận của Geshe Chekawa
Yeshe Dorje, tác giả của Bản Văn Bảy Điểm Tu Tâm.)
PHỤ
LỤC :
BỐN
MƯƠI SÁU CÁCH THỨC THẤT BẠI CỦA MỘT BỒ TÁT
BA
MƯƠI BỐN SỰ TRÁI NGƯỢC
VỚI
SỰ HIỆN THÂN CỦA ĐỨC HẠNH
Những
Trái ngược với Bố thí Ba la mật
Những
Trái ngược với Bố thí về Đồ vật
1.
Không cúng dường cho Tam Bảo
2.
Cho với sự tiếc rẻ không muốn chia xẻ
Những
Trái ngược với Bố thí về sự Che chở khỏi Sợ hãi
3.
Không tôn trọng người từng trải hơn
4.
Không trả lời những câu hỏi
Những
cái Ngăn chặn sự Bố thí của những Người khác
5.
Không chấp nhận những lời mời làm một người khách
6.
Từ chối những quà tặng một cách tức giận
Trái
ngược với Bố thí liên quan đến Pháp
7.
Không dạy pháp cho những người mong muốn Pháp
Những
Trái ngược với Trì giới Ba la mật
Những
Trái ngược Chủ yếu với sự làm Lợi lạc cho
Người
Khác
1.
Hất hủi những người không giữ giới của họ
2.
Không phát triển học hỏi, điều gây niềm tin cho những người
khác
3.
Nỗ lực ít ỏi cho sự lợi lạc của chúng sanh
4.
Không thực hiện những hành động xấu dù điều đó được
cho phép khi người ta có lòng đại bi và cần thiết phải
làm
Những
Trái ngược Chủ yếu với sự làm Lợi lạc cho
Chính
Mình
5.
Chủ ý sống theo một trong năm loại cuộc sống tà hạnh
6.
Buông thả, dung túng một cách không thức tỉnh
7.
Do tham muốn và bám luyến, ở mãi trong sanh tử
Những
trái ngược với sự làm Lợi lạc cho Mình lẫn cho Người
8.
Không ngăn chặn việc bị mang tiếng xấu
9.
Không kiểm soát những phiền não
Những
Trái ngược với Nhẫn nhục Ba la mật
1.
Không thực hành bốn pháp của một người tu hành (không đáp
trả những rủa sả bằng những rủa sả, sân giận bằng
sân giận, đánh đá bằng đánh đá, nhục mạ bằng nhục
mạ)
2.
Không sống an hòa với những người nổi giận với mình mà
loại bỏ họ
3.
Từ chối sự tạ lỗi của người khác
4.
Để cho mình tức giận
Những
Trái ngược với Tinh tấn Ba la mật
1.
Gom tụ những người theo mình vì danh và lợi
2.
Không vượt thắng sự lười biếng và v.v...
3.
Buông lung trong công việc và nói năng lung tung
Những
Trái ngược với Thiền định Ba la mật
1.
Không tìm kiếm giáo huấn trong chánh định
2.
Không đoạn trừ những che chướng đối với thiền định
3.
Thấy kinh nghiệm thiền định là tốt đẹp và bị bám luyến
vào nó
Những
Trái ngược với Trí Huệ Ba la mật
Những
Lỗi lầm Liên quan đến những Việc Thường
1.
Không tôn trọng Thừa Thanh Văn, và do đó bác bỏ nó
2.
Từ bỏ truyền thống của mình, tức là Đại thừa, nỗ lực
theo Thừa Thanh Văn
3.
Cùng cách đó, nghiên cứu văn học không phải Phật giáo
4.
Dù nỗ lực tu Đại thừa, nhưng thích văn học Thanh Văn và
không phải Phật giáo hơn
Những
Lỗi lầm Liên quan đến những Việc Tuyệt Hảo
5.
Không lưu tâm thích thú với những đặc trưng của Đại thừa
6.
Không tìm kiếm thánh pháp vì kiêu mạn, lười biếng v.v...
7.
Tự khen mình và chê bai, coi thường những người khác
8.
Y vào lời nói, chữ viết hơn là y vào nghĩa
MƯỜI
HAI TRÁI NGƯỢC VỚI SỰ
LÀM
LỢI LẠC CHO CHÚNG SANH
Áp
dụng tổng quát
1.
Không giúp đỡ những người đang cần
2.
Không chăm sóc người bệnh
3.
Không cất bỏ sự khổ đau của những người khác
4.
Không sửa chữa cho những người thờ ơ, coi thường
Áp
dụng đặc biệt
Những
Lỗi lầm Không Sốt sắng Giúp đỡ
1.
Không đền đáp lòng tốt
2.
Không cất bỏ sự đau đớn của những người khác
3.
Không cho những người đang cần dù mình có thể
4.
Không làm lợi lạc cho những người chung quanh mình
5.
Không hành động thuận theo phong tục tập quán của những
người khác
6.
Không ca ngợi những người có phẩm tính tốt
Những
Lỗi lầm Không Chế ngự Khuất phục
1.
Không khuất phục những người trên một con đường
tà
vạy
2.
Không thuần hóa với những thần thông và những tri giác cao
cấp những người cần phải được thuần hóa theo cách ấy
Dịch
bởi Ban Dịch Thuật Nalanda từ sưu tập của Jamgošn Kongtrušl
Vĩ Đại trong Kho Tàng Tri Thức của ngài.
CHÚ
THÍCH
LỜI
NÓI ĐẦU CỦA NHÀ BIÊN TẬP
1.
Dòng Kadam, sáng lập bởi Dromtošnpa, đệ tử chánh của Atisha,
đặt sự nhấn mạnh lớn lao vào đời sống tu viện, sự
trau dồi Bồ đề tâm và lòng bi, và tu tâm. Sự nhấn mạnh
này được đưa vào dòng phái Kagyuš bởi Gampopa, ngài đã
học hỏi với những vị thầy Kadam trước khi học với Milarepa.
2.
Những bàn luận nhiều hơn về nguồn gốc và lịch sử của
những giáo lý này, hãy xem Geshe Kelsang Gyatso, Lòng Bi Khắp
Vũ Trụ ; Jamgošn Kongtrušl, Con Đường Vĩ Đại của Thức
Tỉnh ; Geshe Rapten và Geshe Ngawang Dhargyey, Lời Khuyên từ một
Người Bạn Đạo.
3.
Vidyadhara : “người nắm giữ sự quán thấy hay tánh giác”,
“người nắm giữ trí huệ-điên”, một danh xưng tôn vinh
được dành cho tác giả cuốn sách này, Chošgyam Trungpa.
4.
Vajradhatu (Kim Cương giới) là một hiệp hội những trung tâm
thiền định Phật giáo do Chošgyam Trungpa sáng lập.
NHẬP
ĐỀ
1.
Tiểu thừa, đại thừa và kim cương thừa ám chỉ đến ba
giai đoạn của thực hành của một cá nhân theo Phật giáo
Tây Tạng, không phải ám chỉ đến những học phái khác nhau
của thực hành Phật giáo. Xem Thuật Ngữ.
ĐIỂM
HAI
1.
Từ không có, không phải (not) là một từ có điều kiện,
vì nó thường được dùng kèm với một đối tượng – không
cái này hay không cái kia. Từ không (no) là không có điều
kiện : đơn giản, không !
2.
Trong thực hành kim cương thừa, những học trò đồng hóa
với những kiểu cách khác nhau của năng lực giác ngộ bằng
cách quán tưởng chính họ là những hóa thần bổn tôn. Những
quán tưởng này sanh khởi từ và tan biến trở lại vào tánh
Không.
3.
Dịch trọn vẹn những câu nói này là :
(1)
Nguyện những hành vi xấu của họ chín thành quả trong tôi.
Nguyện
tất cả mọi công đức của tôi không sót một cái gì chín
thành quả trong họ.
(2)
Tôi dâng tặng tất cả mọi cái lợi và được của tôi cho
chúng sanh, những vị đáng tôn kính ; tôi sẽ nhận lấy nơi
mình mọi cái mất mát và thất bại.
(3)
Nguyện tất cả mọi hành vi xấu và khổ đau của chúng sanh
chín thành quả trong tôi, và tất cả công đức và hạnh phúc
của tôi chín thành quả trong chúng sanh.
ĐIỂM
BA
1.
Theo khuôn khổ truyền thống phạm trù hóa ba thân, là Pháp
thân, Báo thân và Hóa thân – Chošgyam Trungpa.
2.
Uttrara là một bản văn quan trọng của đại thừa về Phật
tánh được truyền bởi Bồ Tát Maitreya (Di Lặc) qua đại
đạo sư Atisha, và là một trong năm kho tàng của ngài.
3.
Kinh Kim Cương là một bản văn 300 dòng, trong tiếng Sanskrit
là Vajrachedika Prajnapamita Sutra, hay “sự hoàn thiện của trí
huệ cắt đứt như kim cương.” Nó là một kinh ngắn và rất
nổi tiếng về trí huệ ba la mật trong văn học Phật giáo,
những giáo lý đại thừa về tánh Không.
4.
Dikpa nghĩa là : “những hành vi xấu”, hay những hành động
dẫn người ta xa khỏi giác ngộ. Nó thường được dùng song
đôi với dripa, hay “những che chướng”. Dripa được chia
thành hai loại, hay màn che : những phiền não xung đột (phiền
não chướng) và những niềm tin sơ khai về thực tại (sở
tri chướng).
5.
Truyền thống Bošn là tôn giáo bản địa, tiền Phật giáo
của Tây Tạng.
ĐIỂM
BỐN
1.
Một câu truyền thống diễn tả cái thấy đại thừa rằng
tất cả chúng sanh vào lúc nào đó đã là những bà mẹ của
chúng ta và như thế phải được đối xử với tình thương
và tôn trọng nhất.
2.
Sự phụng sự bảy phần là một mô thức truyền thống đại
thừa gồm bảy bước : lễ lạy, cúng dường, sám hối, tùy
hỷ công đức của những người khác, thỉnh cầu các đạo
sư giảng dạy, cầu xin đạo sư ở lại không nhập niết
bàn, và hồi hướng công đức của sự thực hành của mình
cho lợi lạc của tất cả chúng sanh.
THUẬT
NGỮ
Alaya
: miếng đất nền tảng không thiên chấp của tâm thức.
Alaya
thức : Khởi lên từ miếng đất nền tảng của alaya, a-lại-da
thức là thức thứ tám, là nơi mà những hạt giống thiên
chấp hay nhị nguyên vi tế bắt đầu xuất hiện. Như thế
nó là gốc rễ của sanh tử luân hồi.
Amrita
(cam lồ) : chất nước được ban phước, dùng trong những
thực hành thiền định kim cương thừa. Tổng quát hơn, chất
say của tâm linh. Cũng là tinh túy sâu xa của những giáo lý.
Báo
thân : “Thân hưởng thọ” hay năng lực. Môi trường của
lòng bi và tương thông nối kết pháp thân và hóa thân.
Bồ
đề : “Thức tỉnh”. Con đường bồ đề là một phương
tiện để thức tỉnh khỏi mê muội.
Bồ
đề tâm : “tâm giác ngộ, tâm thức tỉnh”. Bồ đề tâm
tối hậu hay tuyệt đối là sự hợp nhất của tánh Không
và đại bi, bản tánh thiết yếu của tâm bồ đề. Bồ đề
tâm tương đối là sự nhân hậu khởi sanh từ một thoáng
thấy bồ đề tâm tối hậu, sự việc này khơi nguồn cảm
hứng tự tu hành để làm việc cho lợi lạc của những người
khác.
Bồ
tát : “người thức tỉnh”. Một bồ tát là một người
đã hoàn toàn vượt thắng mê lầm và hồi hướng cuộc đời
của ông hay bà ấy và tất cả những hành động của mình
để thức tỉnh hay giải thoát tất cả chúng sanh.
Cái
thiện nền tảng : tính thiện vô điều kiện của tâm ở
mức độ căn bản nhất của nó. Sự thiện tự nhiên của
alaya.
Dharmapala
: (hộ pháp) Một người nhắc nhở thình lình gây chấn động
cho hành giả mê muội được thức tỉnh. Những hộ pháp đại
diện cho tánh tỉnh giác nền tảng, nó đưa hành giả mê lầm
trở lại với con đường của mình.
Došn
: Một tấn công bất ngờ của bệnh loạn thần có vẻ đến
từ bên ngoài mình.
Dorje
: Một trượng trong nghi lễ, tượng trưng phương tiện thiện
xảo, nguyên lý dương, được dùng trong thực hành mật thừa
với chuông, tượng trưng trí huệ, hay nguyên lý âm. Cùng với
nhau, chuông và chày kim cương (dorje) tượng trưng sự bất
khả phân của dương và âm, phương tiện thiện xảo và trí
huệ.
Đại
thừa : Nhấn mạnh đến tánh Không của tất cả các hiện
tượng, lòng bi và sự thấu hiểu về Phật tánh phổ khắp.
Hình ảnh lý tưởng của đại thừa là bồ tát ; vì thế
nó thường được xem là con đường bồ tát.
Gampopa
(1079-1153) : Vị giữ dòng chính yếu và giác ngộ thứ năm
của Kagyuš và là đệ tử đứng nhất của thiền giả Milarepa.
Gampopa hòa hợp những giáo lý Kadam của Atisha với truyền
thống Đại Ấn nảy sinh từ những đạo sư Ấn Tilopa và
Naropa.
Geluk
: Một trong bốn dòng lớn của Phật giáo Tây Tạng, được
xem là truyền thống cải cách và nhấn mạnh vào sự nghiên
cứu trí thức và phân tích.
Jamgošn
Kongtrušl của Sechen (1901-1960) : Bổn sư của Chošgyam Trungpa,
một trong năm hiện thân của Jamgošn Kongtrušl Vĩ Đại. “Một
con người to lớn vui nhộn, bạn thân của tất cả, không
phân biệt đẳng cấp, rất độ lượng với một cảm thức
khôi hài lớn lao phối hợp với một thấu hiểu sâu xa ; ngài
luôn luôn thiện cảm với những khó khăn của những người
khác” – Chošgyam Trungpa.
Jamgošn
Kongtrušl Vĩ Đại (1813-1899) : Một trong những đạo sư chính
yếu của thế kỷ mười chín ở Tây Tạng, tác giả của
bình giải về thực hành châm ngôn có nhan đề Con Đường
Căn Bản Đến Giác Ngộ. Jamgošn Kongtrušl là một nhà lãnh
đạo cuộc vận động cải cách tôn giáo gọi là ri-me. Phong
trào này cổ vũ sự không phân chia bộ phái và khuyến khích
thực hành thiền định và sự áp dụng những nguyên lý Phật
giáo vào đời sống hàng ngày.
Kadam
: Dòng Kadam được sáng lập bởi Dromtošnpa, đệ tử chính
yếu của Atisha. Ngài Atisha đến Tây Tạng vào thế kỷ thứ
mười một. Những giáo lý của hai ngài nhấn mạnh vào đời
sống tu hành ở tu viện và vào tu tâm bằng Bồ đề tâm và
lòng bi.
Kagyuš
: Một trong bốn dòng phái lớn của Phật giáo Tây Tạng. Dòng
Kagyuš được biết là “Dòng thực hành” vì sự nhấn mạnh
của nó vào kỷ luật thiền định.
Kalyanamitra
: “Người bạn tâm linh”, “Thiện tri thức”. Trong tiểu
thừa người ta xem vị thầy của mình như một trưởng lão,
trong đại thừa như một người bạn tâm linh, và trong kim
cương thừa như một vị thầy kim cương (kim cương sư).
Lojong
: “Tu tâm”. Đặc biệt, sự thực hành trau dồi Bồ đề
tâm được phác họa trong những châm ngôn Kadam.
Mahakala
: Một hộ pháp hung nộ. Về tranh tượng, những mahakala được
diễn tả là những hóa thần hung nộ và màu đen tối.
Mahamudra
: Đại Ấn. Sự trau dồi về thiền định chánh yếu của
dòng Kagyuš. Sự sáng tỏ và tỉnh thức vốn sẵn của tâm,
vừa sống động vừa trống không.
Maitri
: “Lòng từ, tính thân hữu bạn bè”. Trong liên hệ với
bi, từ để chỉ tiến trình làm bạn với chính mình như điểm
khởi đầu để khai triển lòng bi cho những người khác.
Maitri
bhavana : Sự thực hành lòng từ. Sự thực hành tonglen cũng
được xem là thực hành lòng từ, hay maitri bhavana. Danh từ
này cũng được dùng để chỉ sự thực hành hàng tháng cho
người bệnh ở những trung tâm Vajradhatu.
Năm
thời đại đen tối : (1) khi đời sống trở nên ngắn hơn
;
(2)
khi cái thấy, tri kiến căn cứ trên những giáo lý đã bị
hư hoại ; (3) khi những phiền não trở nên cứng chắc hơn
; (4) khi chúng sanh trở nên không thể thuần hóa và khó quay
đầu về với pháp ; và (5) khi thời đại trở nên thời kỳ
của bệnh tật, đói kém và chiến tranh.
Nguyện
bồ tát : Lời nguyện chính thức để đánh dấu nguyện vọng
trở thành một bồ tát và sự dấn thân thực sự vào con
đường bồ tát hồi hướng đời mình cho tất cả chúng sanh.
Pak-yang
: tâm vô tư, buông xả, thư giãn. Sự ngây thơ tích cực. Niềm
tin vào tánh thiện căn bản.
Paramita
(Ba la mật) : Nghĩa đen, “qua đến bờ bên kia”. Những hoạt
động chủ yếu của một bồ tát. Những Ba la mật được
gọi là “những hành động siêu việt” vì chúng bất nhị,
không đặt nền trên chấp ngã. Bởi thế, chúng siêu vượt
khỏi sự ràng buộc của nghiệp.
Pháp
thân : Tánh rỗng rang rộng mở vô biên của tâm, trí huệ
vượt khỏi mọi điểm quy chiếu.
Prajna
(bát nhã) : Trí huệ siêu việt. Bát nhã là đôi mắt và năm
Ba la mật kia là tứ chi của hoạt động bồ tát.
Sadhana
: một bản văn nghi thức với thực hành đi kèm. Được soạn
từ rất đơn giản đến những kiểu rất tỷ mỷ, những
sadhana đặt tâm thức vào thiền định, thân thể vào các
ấn, và ngữ vào trì tụng thần chú.
Sampannakrama
: giai đoạn thành tựu trong hai giai đoạn của thực hành sadhana
kim cương thừa. Đã làm tan biến sự quán tưởng (utpattikrama),
người ta ở yên không cố gắng trong sampannakrama, hay giai đoạn
thành tựu của thiền định vô tướng.
Shambhala
: “Những giáo lý Shambhala được đặt nền trên tiền đề
rằng có cái trí huệ, minh triết nền tảng của con người
có thể giải quyết những vấn đề của thế giới. Trí huệ
này không tùy thuộc về bất cứ một văn hóa hay tôn giáo
nào, không chỉ đến từ phương Tây hay phương Đông. Hơn
nữa nó là một truyền thống của con người tự chiến đấu
đã hiện diện trong nhiều nền văn hóa qua suốt lịch sử”
– Chošgyam Trungpa.
Shunyata
: “tánh Không”, “sự rỗng rang”. Một sự khai mở rỗng
rang hoàn toàn và sáng tỏ vô biên của tâm.
Suvarnadvipa
(bậc hiền giả của Suvarnadvipa) Đạo sư Dharma-kirti của Atisha
sống trên một hòn đảo của Sumatra, tiếng Sanskrit là Suvarnadvipa
hay “hòn đảo vàng”. Do đó ngài được gọi là bậc hiền
giả của Suvarnadvipa. Dharmakirti trong tiếng Tây Tạng là Serlingpa,
“người đến từ Serling” (đảo vàng).
Thân
(kaya) : Bốn thân được nói đến trong bản văn ám chỉ bốn
phương diện của tri giác. Pháp thân là cảm thức về sự
rỗng rang, hóa thân là sự sáng tỏ ; báo thân là sự nối
kết hay tương quan giữa hai cái ; và tự tánh thân (svabhavikakaya)
là kinh nghiệm toàn thể về toàn bộ sự vật.
Tiểu
thừa : “Con đường hẹp”. Thừa đầu tiên trong ba thừa
của Phật giáo Tây Tạng. Điểm tập chú của tiểu thừa
là vào sự giải thoát của cá nhân qua việc thuần hóa tâm
thức và không gây hại cho những người khác. Nó là điểm
thiết yếu khởi sự của con đường.
Tonglen
: sự thực hành cho và nhận, đó là sự lật ngược thói
chấp ngã và trau dồi Bồ đề tâm.
Tự-giải-thoát
: nghĩa là được tự do bởi chính mình, ngay tại chỗ. Trong
châm ngôn “Hãy tự giải thoát ngay cả cái đối trị”,
ý nghĩa là tánh Không là tự do khỏi mọi sự khô đặc, cứng
đọng.
Utpatikrama
: Thực hành quán tưởng. Một trong hai giai đoạn của thực
hành sadhana kim cương thừa trong đó người ta gợi ra tâm thức
tỉnh bằng cách quán tưởng một hóa thần bổn tôn riêng
biệt của mật thừa (giai đoạn phát triển).
VỀ
TÁC GIẢ
Đại
đức Chošgyam Trungpa sinh ở tỉnh Kham miền đông
Tây Tạng, năm 1940. Khi vừa mười ba tháng tuổi, Chošgyam Trungpa
được công nhận là một tušlku trưởng, hay một vị thầy
hiện thân. Theo truyền thống Tây Tạng, một vị thầy giác
ngộ có thể tái sanh trong hình thức con người qua nhiều thế
hệ tiếp nối dựa vào thệ nguyện của lòng bi của ngài.
Trước khi chết, một vị thầy như vậy để lại một lá
thơ hay những manh mối khác về nơi chốn của sự tái sanh
tới. Về sau, những đệ tử và những vị thầy chứng ngộ
khác thấy qua những manh mối ấy, căn cứ trên sự khảo sát
cẩn thận các giấc mơ và linh kiến, chỉ huy những cuộc
tìm kiếm để khám phá và công nhận vị tiếp nối. Như thế
những dòng riêng biệt của sự chỉ dạy được tạo thành,
trong vài trường hợp kéo dài qua nhiều thế kỷ. Chošgyam
Trungpa là vị thứ mười một trong dòng chỉ dạy được biết
như là những Tušlku Trungpa.
Sau
khi được công nhận, các vị phải trải qua một giai đoạn
tu hành ráo riết về lý thuyết và thực hành những giáo lý
Phật giáo. Trungpa Rinpoche (Rinpoche là danh hiệu danh dự có
nghĩa là “bậc tôn quý”), sau khi lên ngôi là trụ trì tối
cao của những tu viện Surmang và người cai trị Quận Surmang,
bắt đầu một thời kỳ tu học kéo dài mười tám năm, cho
đến khi ngài rời Tây Tạng năm 1959. Là một tušlku phái Kagyuš,
sự tu hành của ngài đặt nền trên sự thực hành thiền
định có hệ thống và trên sự hiểu biết lý thuyết tinh
tế triết học Phật giáo. Một trong bốn phái lớn của Tây
Tạng, phái Kagyuš được biết như “dòng thực hành”.
Năm
lên tám, Trungpa Rinpoche nhận thọ giới làm một vị tăng tập
sự. Sau khi thọ giới, ngài dấn thân vào sự nghiên cứu và
thực hành gắt gao những kỷ luật tu viện truyền thống cũng
như những nghệ thuật viết chữ, vẽ tranh thanka và múa của
tu viện. Những vị thầy ban đầu của ngài là Jamgošn Kongtrušl
của Sechen và Khenpo Kangshar – những vị thầy lãnh đạo của
phái Nyingma và Kagyuš. Năm 1958, vào tuổi mười tám, Trungpa
Rinpoche hoàn tất việc học, nhận học vị kyorpošn (tiến
sĩ thần học) và khenpo (giáo sư học giả). Ngài cũng nhận
đại giới tỳ kheo.
Những
năm năm mươi là thời gian của biến động lớn ở Tây Tạng.
Khi trở nên rõ ràng Tây Tạng sắp bị chiếm đóng bằng vũ
lực, nhiều người cả tăng sĩ lẫn cư sĩ đã bỏ xứ sở.
Trungpa Rinpoche trải qua nhiều tháng gian khổ băng qua dãy Himalaya
(được tả lại trong cuốn sách của ngài Sinh ở Tây Tạng),
cuối cùng ngài đến Ấn Độ, Trungpa Rinpoche được bổ nhiệm
làm việc như cố vấn tâm linh cho Trường Những Lama Trẻ
ở Dalhousie. Ngài làm công việc này từ 1959 đến 1963.
Cơ
hội đầu tiên của Trungpa Rinpoche để tiếp xúc với Tây
phương là khi ngài nhận một học bổng Spaulding để theo học
Đại học Oxford, ngài nghiên cứu tôn giáo tỷ giảo, triết
học và nghệ thuật. Ngài cũng nghiên cứu nghệ thuật cắm
hoa Nhật Bản, có bằng tốt nghiệp của Trường Sogetsu. Khi
ở Anh, Trungpa Rinpoche bắt đầu dạy pháp cho các học trò
Tây phương, và năm 1968 ngài lập ra Trung Tâm Thiền Định
Samye Ling ở Dumfriesshire, Scotland. Trong thời gian này ngài cũng
xuất bản hai cuốn sách đầu tiên bằng tiếng Anh : Sanh ở
Tây Tạng, và Thiền Định trong Hành Động.
Năm
1969, Trungpa Rinpoche du hành đến Bhutan, ở đó ngài đi vào
một cuộc ẩn tu thiền định một mình. Cuộc nhập thất
này đánh dấu một sự thay đổi then chốt trong lối dạy
của ngài. Ngay khi trở về, ngài trở thành một người thế
thường, bỏ qua một bên y áo tu viện và mặc theo lối bình
thường của Tây phương. Ngài cũng cưới một thiếu nữ người
Anh và họ cùng rời bỏ Scotland dời đến Bắc Mỹ. Nhiều
đệ tử trước kia của ngài thấy những thay đổi này quá
chấn động và đảo lộn. Tuy nhiên ngài bày tỏ sự xác tín
rằng để cắm rễ ở Tây phương, pháp cần phải được
dạy không lệ thuộc vào những dấu hiệu bề ngoài của văn
hóa và sự hấp dẫn của tôn giáo.
Trong
những năm bảy mươi, Hoa Kỳ ở trong thời kỳ sôi sục về
chính trị và văn hóa. Đó là thời kỳ say mê Đông phương.
Trungpa Rinpoche phê phán lối tiếp cận với tâm linh một cách
duy vật và thương mại hóa ngài đã gặp, diễn tả nó như
là một “siêu thị tâm linh”. Trong những bài thuyết pháp
và trong những cuốn sách của ngài Cắt Đứt Loại Duy Vật
Tâm Linh và Huyền Thoại của Tự Do, ngài chỉ ra sự đơn
giản và trực tiếp của thực hành ngồi thiền như là cách
thức cắt đứt những vặn xoắn méo mó của hành trình tâm
linh.
Trong
thập niên bảy mươi dạy đạo ở Bắc Mỹ, Trungpa Rinpoche
có tiếng là một vị thầy năng động và gây nhiều tranh
luận. Thông thạo Anh ngữ, ngài là một trong những Lama đầu
tiên có thể nói trực tiếp với những đệ tử người Tây
phương, không nhờ qua một dịch giả. Đi đây đó khắp Bắc
Mỹ và Châu Âu, Trungpa Rinpoche đã có hàng trăm cuộc nói chuyện
và thảo luận. Ngài lập những trung tâm chính ở Vermont, Colorado
và Nova Scotia, cũng như nhiều trung tâm thiền định và nghiên
cứu nhỏ ở những thành phố khắp Bắc Mỹ và Châu Âu. Vajra-dhatu
(Kim Cương Giới) được thành lập năm 1973 như là bộ phận
trung tâm điều khiển mạng lưới này.
Năm
1974, Trungpa Rinpoche thành lập Viện Naropa, nó đã trở thành
đại học có cảm hứng Phật giáo được chính thức công
nhận duy nhất ở Bắc Mỹ. Ngài thuyết trình rất nhiều ở
Viện và cuốn sách của ngài Cuộc Du Hành Không Mục Đích
đã được đặt nền trên một khóa ngài dạy ở đó. Năm
1976, ngài thiết lập chương trình Tu hành Shambhala, một loạt
những chương trình và khảo luận cuối tuần cung cấp giáo
huấn thực hành thiền định trong môi trường thế tục. Cuốn
sách của ngài, Shambala : Con Đường Thiêng Liêng của người
Chiến Sĩ cho một tổng quan về những giáo lý Shambhala.
Năm
1976, Trungpa Rinpoche chỉ định OŠsel Tendzin (Thomas F. Rich) là
nhiếp chính Kim Cương Thừa của Ngài, hay là người nối pháp
của Ngài. OŠsel Tendzin làm việc mật thiết với Trungpa trong
việc quản lý Vajradhatu và Tu hành Shambhala. Ông dạy nhiều
từ năm 1976 đến khi chết vào năm 1990 và là tác giả cuốn
Phật trong Lòng Tay Bạn.
Trungpa
Rinpoche cũng hoạt động nhiều trong lãnh vực dịch thuật.
Làm việc với Francesca Fremantle, ngài cho ra một bản dịch
mới của Tử Thư Tây Tạng, ấn hành năm 1975. Về sau ngài
thành lập Ban Dịch Thuật Nalanda, để chuyển dịch những
bản văn và nghi thức cho các đệ tử của mình cũng như phát
hành rộng rãi một số bản văn quan trọng.
Năm
1978 Trungpa Rinpoche thực hiện một lễ trao quyền cho người
con OŠsel Rangdrošl Mukpo của mình làm người kế tục của
ngài trong dòng Shambhala. Lúc đó ngài ban cho anh pháp hiệu Sawang,
hay “chúa của đất”.
Trungpa
Rinpoche cũng được biết đến bởi sự quan tâm của ngài
về những nghệ thuật và đặc biệt bởi cái nhìn sâu xa
của ngài vào mối tương quan giữa kỷ luật thiền và tiến
trình nghệ thuật. Công việc nghệ thuật riêng của ngài gồm
thư pháp, hội họa, cắm hoa, thi ca, viết kịch và xếp đặt
trang trí môi trường. Ở viện Naropa ngài tạo ra một không
khí giáo dục hấp dẫn nhiều nghệ sĩ và nhà thơ hàng đầu.
Sự khám phá tiến trình sáng tạo trong ánh sáng của tu hành
thiền tiếp tục ở đó như một đối thoại khơi mở. Trungpa
Rinpoche cũng xuất bản hai cuốn sách về thi ca : Ấn (Mudra)
và Tư Tưởng Đầu Tiên Tư Tưởng Tốt Nhất.
Những
sách xuất bản của Trungpa Rinpoche chỉ tiêu biểu cho một
phần di sản giàu có những giáo lý của ngài. Trong mười
bảy năm dạy đạo ở Bắc Mỹ, ngài đã làm ra những cơ
cấu cần thiết để cung cấp cho những đệ tử sự tu hành
thấu triệt, hệ thống Phật pháp. Từ những buổi nói chuyện
và khóa học giới thiệu sơ khởi đến những thực hành ẩn
tu nhóm cao cấp, những chương trình này nhấn mạnh một sự
cân bằng của nghiên cứu và thực hành, của lý trí và trực
giác. Những đệ tử trong mọi cấp bậc có thể theo đuổi
sự quan tâm thích thú của họ trong thiền định và con đường
Phật giáo qua nhiều hình thức tu hành này. Những đệ tử
lâu năm của Trungpa Rinpoche tiếp tục cả hai công việc dạy
và giáo huấn thiền định trong những chương trình như vậy.
Thêm vào những lời dạy rộng rãi về truyền thống Phật
giáo, Trungpa Rinpoche còn nhấn mạnh nhiều về những lời dạy
Shambhala, nó nhấn mạnh sự quan trọng của tu tâm, khác với
sự thực hành tôn giáo ; sự tham gia cộng đồng và sự sáng
tạo một xã hội giác ngộ ; và sự am hiểu và thưởng thức
đời sống từng ngày của mỗi người.
Trungpa
Rinpoche ra đi năm 1987, ở tuổi bốn mươi bảy. Ngài còn lại
người vợ, Diana và năm con trai. Người con trưởng, Sawang
OŠsel Rangdrošl Mukpo, kế vị ngài làm chủ tịch và lãnh đạo
tâm linh của Vajradhatu. Trước khi chết, Trungpa Rinpoche nổi
danh như một gương mặt then chốt trong việc truyền bá pháp
vào thế giới Tây phương. Sự kết hợp giữa mối cảm kích
vĩ đại đối với văn hóa Tây phương và sự thấu hiểu
sâu xa của ngài về truyền thống đã dẫn đến một lối
tiếp cận cách mạng trong việc dạy pháp, trong đó những
giáo lý sâu xa và xưa cổ nhất được trình bày theo một
cách thức hiện đại trọn vẹn. Trungpa Rinpoche nổi danh vì
sự tuyên thuyết giáo pháp một cách vô úy và vô ngại : thoát
khỏi ngần ngại, chân thật với sự tinh khiết của truyền
thống, và hoàn toàn tươi trẻ. Nguyện những lời dạy này
đâm rễ và nở hoa cho lợi lạc của tất cả chúng sanh.