Điểm
Bốn
CHỈ
RA SỰ SỬ DỤNG VIỆC THỰC HÀNH TRONG
TOÀN
THỂ CUỘC SỐNG CỦA MÌNH
ĐIỂM
BỐN VÀ TINH TẤN BA LA MẬT
17.
Hãy thực hành năm sức mạnh,
Những
giáo huấn tâm yếu cô đọng
18.
Giáo huấn đại thừa cho sự vọt ra của thức vào lúc chết
Là
năm sức mạnh : làm thế nào bạn tự hướng dẫn chính mình
là điều quan trọng
Điểm
Năm
SỰ
ĐÁNH GIÁ VIỆC TU TÂM
ĐIỂM
NĂM VÀ THIỀN ĐỊNH BA LA MẬT
19.
Tất cả pháp đồng ý ở một điểm
20.
Trong hai người chứng, hãy lấy người chính yếu
21.
Hãy luôn luôn giữ gìn chỉ một tâm thức hoan hỷ
22.
Nếu bạn có thể thực hành ngay cả khi phóng tâm,
bạn
đã tu hành nhuần nhuyễn
Điểm
Sáu
NHỮNG
KỶ LUẬT TU TÂM
ĐIỂM
SÁU VÀ BÁT NHÃ BA LA MẬT
23.
Hãy luôn luôn hành động theo ba nguyên lý căn bản
24.
Hãy thay đổi thái độ của bạn, nhưng vẫn ở tự nhiên
25.
Chớ nói về những khuyết tật
26.
Chớ cân đo những người khác
27.
Trước tiên hãy làm việc với những nhiễm ô lớn nhất
28.
Hãy từ bỏ mọi hy vọng về quả
29.
Hãy từ bỏ thức ăn thuốc độc
30.
Chớ quá có thể đoán trước
31.
Chớ nói xấu những người khác
32.
Chớ chờ đợi để phục kích
33.
Chớ đem sự việc đến một điểm gây phiền muộn
34.
Chớ chuyển vật nặng của con bò đực qua con bò cái
35.
Chớ cố gắng làm người nhanh nhất
36.
Chớ hành động với một nút vặn xoắn
37.
Chớ làm cho chư thiên biến thành ma quỷ
38.
Chớ tìm kiếm sự đau khổ của những người khác như là
phần
hữu cơ của hạnh phúc riêng của bạn
ĐIỂM
BỐN
CHỈ
RA SỰ SỬ DỤNG VIỆC THỰC HÀNH
TRONG
TOÀN THỂ CUỘC SỐNG CỦA MÌNH
ĐIỂM
BỐN VÀ TINH TẤN BA LA MẬT
Điểm
thứ tư của bảy điểm tu tâm liên hệ với tinh tấn ba la
mật. Tinh tấn tự nó nghĩa là thoát khỏi biếng lười. Khi
chúng ta dùng danh từ lười biếng, chúng ta nói về một thiếu
vắng chung chánh niệm và một thiếu vắng của niềm vui trong
kỷ luật tu hành. Khi tâm thức bạn hòa trộn với pháp, khi
bạn đã trở thành một con người của pháp, bấy giờ sự
nối kết đã thành. Bởi thế, bạn không có vấn đề với
lười biếng. Nhưng nếu bạn chưa tạo thành sự nối kết
này, chắc chắn sẽ có một số vấn đề.
Chúng
ta có thể bàn luận tinh tấn theo mặt phát triển niềm vui
và cảm kích đối với cái chúng ta đang làm. Đó cũng giống
như có một cuộc đi chơi ngày nghỉ : bạn rất hào hứng
khi dậy vào sáng sớm vì bạn mong chờ một kinh nghiệm kỳ
thú lớn lao. Tinh tấn giống như giây phút trước khi bạn
thức dậy cho chuyến đi chơi : bạn có cảm giác tin tưởng
rằng bạn sắp có một thời gian thích thú, nhưng đồng thời
bạn phải đặt sự cố gắng của bạn vào đó. Thế nên
tinh tấn là một loại lễ hội và niềm vui, nó thoát khỏi
lười biếng.
Có
nói trong kinh điển rằng không có tinh tấn bạn không thể
du hành chút nào trên con đường. Chúng ta cũng đã nói nếu
không có đôi chân giới luật, bạn không thể đi trên con
đường đạo – nhưng thậm chí bạn có đôi chân ấy, nếu
bạn không có tinh tấn, bạn không thể bước được bước
nào. Tinh tấn bao gồm một ý nghĩa tự đẩy mình từng bước,
từng chút một. Bạn thực sự nối kết mình với con đường
khi bạn đi trên đó. Tuy nhiên, bạn cũng kinh nghiệm cảm giác
kháng cự nào đó. Nhưng sự cưỡng chống này có thể được
vượt thắng bằng cách vượt thắng lười biếng, bằng cách
thôi ở yên trong sự tiêu khiển của sự nói tầm phào lăng
nhăng thuộc tiềm thức của bạn, những tư tưởng lan man
phóng dật và tính xúc cảm đủ mọi loại.
Điểm
bốn về sự tu tâm nhằm đến sự hoàn thành sự tu hành của
bạn trong toàn thể đời sống của bạn, từ hoàn cảnh bạn
đang sống bây giờ cho đến lúc chết. Thế nên chúng ta đang
bàn bạn có thể làm cái gì khi bạn còn sống và khi bạn
chết. Hai châm ngôn này là những giáo huấn về cách làm thế
nào hướng dẫn cuộc đời bạn.
17
Hãy
thực hành năm sức mạnh,
Những
giáo huấn tâm yếu cô đọng.
Chúng
ta có năm loại yếu tố phát huy năng lực, hay năm sức mạnh,
để cho chúng ta có thể thực hành kỷ luật bồ tát suốt
toàn bộ cuộc đời chúng ta : quyết tâm mạnh mẽ, quen thuộc,
hạt giống đức hạnh, khiển trách và nguyện vọng.
Quyết
tâm mạnh mẽ
Thứ
nhất là quyết tâm mạnh mẽ. Bạn quyết tâm hộ trì Bồ
đề tâm hai phần. Hành giả cần luôn luôn có thái độ duy
trì Bồ đề tâm – đời này, năm này, tháng này, ngày này.
Quyết tâm mạnh mẽ nghĩa là không phí thì giờ của bạn.
Đó cũng là biến nó thành một điểm mà bạn và sự thực
hành là một. Thực hành là cách thức của bạn để làm cho
bạn mạnh mẽ. Đôi khi bạn thức dậy buổi sáng, đặc biệt
nếu bạn có một tối ngủ trễ hay bạn đã đi dự tiệc,
bạn cảm thấy rất yếu ớt, có sự bất định nào đó.
Hoàn toàn có thể bạn thức dậy với một sự lơ lửng, cảm
thấy rất tội lỗi. Bạn tự hỏi hay mình đã ngu ngốc trong
đêm trước, hay mình đã làm những điều không thể chấp
nhận được. Bạn tự hỏi người khác nghĩ về bạn thế
nào và bắt đầu sợ rằng họ có thể mất đi sự kính trọng
đối với bạn hay họ xác nhận sự yếu đuối của bạn.
Bạn lo phiền trong tình huống như vậy.
Ý
tưởng sức mạnh thứ nhất là khi bạn mở mắt và nhìn ra
cửa sổ, ngay khi bạn thức dậy, bạn tái xác định quyết
tâm mạnh mẽ của bạn tiếp tục với sự thực hành Bồ
đề tâm. Và bạn cũng làm điều đó khi bạn nằm xuống giường
lúc cuối ngày, khi bạn nghĩ lại về công việc ban ngày của
bạn, những vấn đề của nó, những ngăn trở của nó, những
sung sướng của nó, và mọi thứ tốt xấu xảy ra. Khi bạn
ngủ chập chờn, bạn nghĩ với quyết tâm mạnh mẽ rằng
ngay khi bạn thức dậy bạn sẽ duy trì sự thực hành của
bạn với sự tinh tấn liên tục, nó có nghĩa là niềm vui.
Thế nên bạn có một cảm thức nào đó nhìn đến ngày mai,
một thái độ nhìn đến ngày mai của bạn khi bạn thức dậy
buổi sáng.
Quyết
tâm mạnh mẽ nối kết với sự phát triển một thái độ
hướng đến sự thực hành của bạn, nó hầu như giống với
việc đang rơi hoàn toàn vào tình yêu. Bạn muốn đi vào giường
với người yêu của bạn ; bạn cũng mong mỏi điều đó.
Bạn có một cảm thức cảm kích và hoan hỷ ; bởi thế, sự
thực hành của bạn không trở thành sự hành hạ hay khổ
sở, nó không trở thành một cũi nhốt. Thay vì thế, sự thực
hành của bạn trở thành một cách tự làm mình hưng phấn,
hoan hỷ thường trực. Sự thực hành của bạn đòi hỏi một
số nỗ lực, một số tự thúc đẩy, nhưng bạn đã nối
kết tốt, thế nên bạn vui lòng thức dậy sớm vào buổi
sáng và bạn vui lòng vào giường buổi tối. Ngay cả giấc
ngủ của bạn cũng đáng giá ; bạn ngủ trong một khung cảnh
tốt của tâm thức. Ý nghĩa là người ta đánh thức dậy
sự tốt đẹp nền tảng, nguyên lý alaya và nhận thức rằng
bạn đang ở điểm đúng, sự thực hành đúng. Thế nên có
một cảm thức vui tươi trong quyết tâm mạnh mẽ, đó là
sức mạnh thứ nhất.
Sự
quen thuộc
Sức
mạnh thứ hai được biết là sự quen thuộc. Bởi vì bạn
đã phát triển quyết tâm mạnh mẽ, mọi sự trở thành một
tiến trình tự nhiên. Cho dù đôi khi bạn không tỉnh thức,
cho dù bạn mất tập trung hay tỉnh giác, những tình huống
sẽ nhắc nhở bạn trở lại với thực hành của mình. Đây
là một tiến trình của sự quen thuộc trong đó sự nói chuyện
nhảm nhí thuộc tiềm thức nhưng mang tính cách giáo pháp của
bạn bắt đầu có quyền lực hơn sự nói chuyện nhảm nhí
thuộc tiềm thức bình thường của bạn. Bồ đề tâm đã
trở thành nền tảng quen thuộc trong bất cứ điều gì bạn
làm – hoặc xấu hoặc tốt hay trung tính. Thế là bạn thường
quen với Bồ đề tâm như một thấu hiểu đang tiến triển.
Lại
nữa, tiến trình này tương tự với chuyện đang yêu. Khi có
ai nói đến tên người yêu của bạn, bạn cảm thấy cả
khổ đau lẫn hạnh phúc. Bạn xoay hướng về cái tên người
ấy và về bất cứ cái gì liên hệ đến chàng hay nàng. Cũng
cách ấy, khuynh hướng tự nhiên của chánh niệm-tỉnh giác,
khi ý niệm về vô ngã đã tiến hóa trong tâm thức bạn, là
sự chớp sáng vào Pháp. Bạn quen thuộc với nó. Nói cách
khác, bạn không nhìn Pháp như một thực thể ngoại tại nữa
mà bạn bắt đầu nhận thức rằng Pháp là một tư tưởng
chủ nhà, một lời nói chủ nhà, một hoạt động chủ nhà.
Mỗi khi bạn mở một chai rượu vang hay mở nắp một chai
Coca hay uống một ly nước – bất kỳ điều gì bạn làm
đều trở thành một sự nhắc cho nhớ. Bạn không thể thoát
khỏi nó ; nó trở thành một hoàn cảnh, một tình huống tự
nhiên.
Thế
nên bạn học được cách sống với sự minh mẫn của bạn.
Điều này rất gay go đối với nhiều người vào lúc đầu,
nhưng khi bạn bắt đầu thấu hiểu rằng sự minh mẫn là
phần của hiện thể bạn, bấy giờ không có vấn đề gì.
Dĩ nhiên, thỉnh thoảng bạn muốn có một sự phá vỡ, đứt
đoạn. Bạn muốn bỏ chạy và có một cuộc nghỉ lễ với
sự minh mẫn của bạn. Bạn muốn làm một cái gì khác. Tuy
nhiên, sức mạnh căn bản của bạn bắt đầu có quyền năng
hơn, đến độ cái hư hỏng hay sự mất trí căn bản của
bạn được chuyển thành chánh niệm và thấu suốt và bạn
quen thuộc với sự thức tỉnh.
Hạt
giống đức hạnh
Thứ
ba là hạt giống đức hạnh. Bạn có một mong mỏi lớn lao
trong mọi lúc, thế nên bạn không có một nghỉ ngơi tách
lìa khỏi sự thức tỉnh của bạn. Nói một cách căn bản
nghĩa là không có một đứt đoạn với sự thực hành của
bạn, mà tiếp nối liên tục – không bằng lòng với cái
bạn đang làm và không để có một gián đoạn. Bạn không
cảm thấy bạn đã đủ với “nó” hay bạn phải làm cái
gì khác ngoài “nó”.
Đến
điểm này, sự loạn thần của bạn về tự do cá nhân và
những quyền con người có thể xảy ra. Bạn có thể bắt
đầu nghĩ “Tôi có quyền làm bất cứ điều gì tôi muốn
và tôi muốn lặn xuống đáy địa ngục. Tôi thích, tôi muốn
điều đó.” Loại phản ứng đó có thể xảy ra. Nhưng bạn
cần đẩy bạn khỏi đáy địa ngục – và chính bạn. Bạn
cần hiểu rằng bạn không thể để cho mình thua cơn bệnh
sợ hãi nhỏ trong sự minh mẫn của riêng bạn. Trong trường
hợp này, đức hạnh nghĩa là thân, ngữ và tâm bạn đều
được hồi hướng cho sự truyền bá, nhân giống Bồ đề
tâm ở trong chính bạn.
Khiển
trách
Thứ
tư là khiển trách, khiển trách cái ngã của bạn. Đó là
sự khiếp sợ đối với sanh tử. Bất cứ khi nào một tư
tưởng chấp ngã xảy ra, bạn cần nghĩ, “Chính vì sự chấp
ngã như vầy mà tôi lang thang trong sanh tử và chịu khổ đau
không dứt. Bởi vì chấp ngã là nguồn gốc của khổ đau,
nếu tôi cố gắng duy trì bản ngã, thì không bao giờ có hạnh
phúc. Bởi thế tôi phải thuần hóa bản ngã càng nhiều càng
tốt.” Thậm chí nếu bạn muốn tự nói dối với chính mình,
bạn nên nói theo lối đó. Thật ra đôi khi sự nói dối với
chính mình rất được khuyến khích, nhưng rõ ràng nó tùy
thuộc vào bạn nói cái gì với chính mình. Trong trường hợp
này, bạn được khuyến khích nói với bản ngã của bạn
: “Mày đã tạo ra rắc rối kinh khủng cho tao, và tao không
thích mày. Mày đã gây ra cho tao quá nhiều rắc rối bằng
cách làm cho tao lang thang trong ba cõi thấp của sanh tử. Tao
không muốn lẩn quẩn với mày chút nào. Tao sắp tiêu diệt
mày. Cái “mày” này – dù sao, mày là ai ? Hãy biến đi !
Tao không thích mày.”
Nói
chuyện với bản ngã của bạn, tự khiển trách mình theo cách
ấy, là rất ích lợi. Đáng nên tắm dưới vòi sen và nói
với mình theo cách ấy. Đáng nên ngồi trên chỗ toa lét và
nói với mình theo cách ấy. Nó là một việc rất tốt cho
bạn khi bạn đang lái xe. Thay vì bật nhạc rock lên, bạn hãy
bật lên sự trách cứ bản ngã của bạn và nói với chính
bạn. Nếu bạn đang đi cùng với người nào, bạn có thể
cảm thấy bối rối, nhưng bạn vẫn có thể thì thầm với
chính bạn. Đây là cách tốt nhất để trở thành một bồ
tát hướng ngoại.
Nguyện
vọng
Thứ
năm là nguyện vọng. Hành giả cần chấm dứt mỗi thời thực
hành thiền định với ao ước (1) cứu độ tất cả chúng
sanh – bằng chính mình, đơn thương độc mã, (2) không quên
Bồ đề tâm hai phần, ngay cả trong giấc mộng, và (3) áp
dụng Bồ đề tâm bất kể những hỗn loạn và chướng ngại
có thể khởi lên. Bởi vì bạn đã kinh nghiệm niềm vui và
sự phấn khởi trong thực hành của bạn, nó không còn được
cảm thấy như một gánh nặng cho bạn. Bởi thế, bạn ước
nguyện hơn nữa và hơn nữa. Bạn sẽ muốn đạt đến giác
ngộ. Bạn thích giải phóng mình khỏi cơn loạn thần. Bạn
cũng muốn phụng sự cho tất cả “chúng sanh là mẹ của
mình”(1) suốt khắp mọi thời gian, mọi hoàn cảnh, vào mọi
lúc. Bạn sẵn sàng phụng sự cho bất cứ nguyên nhân xứng
đáng nào nó sẽ giúp ích cho phần còn lại của thế giới.
Đây là loại nguyện vọng căn bản y như phát thệ nguyện
bồ tát. Đó cũng là giáo huấn chung về việc trở thành một
người rất “mềm dẻo”, rất dễ thích ứng, đến độ
toàn thể thế giới có thể sử dụng bạn như là một căn
cứ làm việc để cho sự hưởng thụ trí huệ và an vui của
họ.
18
Giáo
huấn đại thừa cho sự vọt ra của thức vào lúc chết
Là
năm sức mạnh : làm thế nào bạn tự hướng dẫn chính mình
là
điều quan trọng.
Châm
ngôn thứ hai của điểm bốn về tu tâm liên hệ với tương
lai – cái chết. Vấn đề chết rất là quan trọng. Thấu
hiểu chân lý khổ và vô thường là một bước đầu rất
quan trọng trong việc chứng ngộ toàn bộ trọn vẹn giáo lý
của đức Phật. Tất cả chúng ta sẽ chết sớm hay muộn.
Một số trong chúng ta sẽ chết sớm và một số chết trễ
hơn, nhưng đó không phải là một lý do đặc biệt để có
thể thư giãn.
Tôi
muốn thảo luận lý tưởng làm bạn với cái chết của chúng
ta. Theo truyền thống của văn hóa quy ngã, chết được xem
là một thất bại và một xúc phạm. Những kỷ luật hữu
thần cố gắng dạy chúng ta phát triển một cảm thức về
vĩnh cửu. Nhưng truyền thống Phật giáo căn bản, đặc biệt
là đại thừa, dạy chúng ta rằng cái chết là một hành động
có chủ tâm. Bởi vì chúng ta có sanh ra, chúng ta phải chết.
Nhưng vượt lên chuyện đó, chúng ta có thể làm bạn với
cái chết của chúng ta và thấy chúng ta có thể chết thế
nào như chúng ta thực sự vốn là.
Người
ta thường cố gắng không muốn biết đến cái chết của
họ. Nếu bạn nói với ai, “Anh có biết rằng anh sẽ chết
mai kia ?” Người ấy sẽ nói, “Đừng có ngu ngốc ! Tôi
đang tốt đẹp đây.” Thái độ ấy là một sự tìm cách
tránh cái xấu xa nền tảng đang hiện diện trong chúng ta.
Nhưng cái chết không nên được nhìn như một hoàn cảnh xấu
tối hậu xảy ra cho chúng ta ; thay vào đó nó có thể được
nhìn như một cách thức để trải rộng chính chúng ta qua
một đời tới. Trong trường hợp này, cái chết được nhìn
như một chào mời để chấp nhận rằng cái vật này mà chúng
ta cưng quý hết mực, gọi là thân thể chúng ta, phải chết
mất. Chúng ta cạo râu và tắm rửa và ăn mặc hoàn toàn đẹp
đẽ, hay đẹp đẽ theo cách nào đó. Trên toàn thể, chúng
ta cố gắng chăm sóc rất tốt cho cái cục cưng này là thân
thể chúng ta. Cũng giống như có một con chó con – chúng ta
không muốn cục cưng của chúng ta chết. Nhưng cái cục cưng
gọi là thân thể chúng ta này có thể từ bỏ chúng ta sớm
hay muộn – sẽ bỏ chúng ta sớm hay muộn.
Thế
nên để bắt đầu, chúng ta phải nhận thức rằng cái gì
cũng có thể xảy ra cho mỗi chúng ta. Chúng ta có thể rất
mạnh khỏe – nhưng chúng ta có thể chết vì bệnh, chúng
ta có thể chết vì tai nạn, và đôi khi chúng ta chết mà không
có lý do nào cả. Dù chúng ta không có những vấn đề bên
ngoài hay bên trong – chúng ta thình lình chết đi. Chúng ta
hoàn toàn hết hơi thở và chết ngay tại chỗ. Thế nên điểm
cốt yếu là tự làm quen hoàn toàn với cái chết của chính
chúng ta.
Bạn
muốn sống lắm, và để sống bạn không thể làm điều này
và bạn không thể làm điều nọ. Thậm chí bạn không thể
ngồi trên gối thiền một cách thích đáng, vì nỗi sợ chết
của bạn quá mạnh đến nỗi bạn nghĩ rằng sự tuần hoàn
máu trong chân của bạn có thể bị ngưng. Bạn sợ chết đến
nỗi một tấn công nào xảy đến cho bạn, thậm chí một
mảnh thủy tinh đâm vào ngón tay bạn cũng có nghĩa là chết.
Thế nên giáo huấn này về làm thế nào để chết không nhất
thiết nói đến cái chết khi nó đến với bạn, mà cũng là
vấn đề cần phải thấu hiểu rằng cái chết luôn luôn ở
đây.
Một
vị thầy Kadam làm những thực hành này luôn luôn úp ly uống
nước của ngài trên bàn khi đi ngủ. Theo truyền thống điều
đó có nghĩa là bạn không có ở nhà. Bạn úp ly xuống để
nó không bị bụi bặm. Như thế bạn giữ ly sạch sẽ để
ai đó có thể dùng nó. Chủ điểm là vị thầy luôn luôn
nghĩ ngài có thể chết đêm hôm đó ; bởi thế ngài úp ly
xuống. Bạn có thể nghĩ đây là một cách hướng ngoại quá
đáng về mọi sự, nhưng nào, bạn nên suy nghĩ hai hay ba lần
khi bạn chào từ giã ai ban đêm. Bạn không biết bạn có còn
gặp lại người ấy ngày mai hay không. Đó là một lối tiếp
cận khá khó chịu, nếu bạn nhìn cái chết như một tai họa.
Nhưng nếu bạn nói good night một cách dễ chịu với ai đó,
thì đấy là một cách rời khỏi cuộc đời của bạn, thân
thể của bạn. Đó là một cách rất biết đùa để chấm
dứt cuộc đời của bạn. Có một sự vinh quang và vui đùa
trong ấy. Bạn không cần phải chết với hối hận tràn đầy
; bạn có thể chết một cách vui vẻ.
Như
châm ngôn trên, câu này liên kết với tinh tấn Ba la mật.
Tinh tấn là cảm thức hoan hỷ trong sự thực hành của bạn.
Nếu bạn thực hành nhiều đến mức bạn có thể trong đời
này và sắp chết, bấy giờ nếu ai đó nói, “Này, sắp khó
khăn cho bạn để vượt qua ; tôi có thể kéo dây dội cầu
cho bạn không ?” Bạn cần học để có thể nói, “Vâng,
dĩ nhiên”, và “Tốt đẹp nhé !” Hãy giật dây đi.
Sau
cùng, cái chết không phải là sự khó chịu, dù chúng ta đang
bối rối khi nói về nó. Người ta ngày nay không có vấn đề
gì khi nói về tình dục, hay khi đi xem phim khiêu dâm, nhưng
họ có khó khăn khi đối xử với cái chết. Chúng ta khá bối
rối. Nó là một công việc lớn cho chúng ta, thế mà chúng
ta không bao giờ thực sự muốn nghĩ về cái chết. Chúng ta
lơ là toàn bộ sự việc. Chúng ta muốn hân thưởng cuộc
đời hơn là sửa soạn cho cái chết, hay thậm chí hân thưởng
cái chết.
Theo
quan niệm của Shambala, từ chối liên hệ với cái chết là
cái được gọi là lý luận mặt-trời-lặn. Toàn bộ triết
lý mặt trời lặn là ngăn ngừa thông điệp của cái chết.
Nó nói về làm sao làm đẹp cho chúng ta, thân thể chúng ta,
đến độ chúng ta trở thành những cái xác sống. Ý niệm
một cái xác sống là mâu thuẫn theo một ý nghĩa nào đó,
nhưng nó có nghĩa trong cái nhìn mặt trời lặn : nếu chúng
ta không muốn chết, xác thân chúng ta phải sống một thời
gian lâu ; nó phải trở thành một cái xác sống.
Khác
với loại luận lý ấy, hay nhiều quan điểm như vậy, châm
ngôn này nói với chúng ta rằng quan trọng cho chúng ta khi nhận
thức rằng cái chết là một phần quan trọng của sự thực
hành của chúng ta, bởi vì tất cả chúng ta đều sắp chết
và bởi vì tất cả chúng ta đều tùy thuộc vào cái chết
của mình theo cách nào đó. Nó nói như thế nào để chết
từ quan điểm nền tảng của sự thực hành của chúng ta.
Giáo
huấn đại thừa làm sao để chết chính là năm sức mạnh.
Thế nên, một lần nữa chúng ta có năm sức mạnh hay năm
quyền lực. Bởi vì những thực hành này rất đơn giản,
và bởi vì nó cùng một danh sách chúng ta đã bàn, chúng ta
không đi vào chi tiết của chúng nữa. Áp dụng năm sức mạnh
trong sự nối kết này là rất đơn giản và trực tiếp.
Quyết
tâm mạnh mẽ, cái thứ nhất, là nối kết với việc có một
lập trường rất mạnh mẽ : “Tôi sẽ duy trì cái vô ngã
căn bản của tôi, sự minh mẫn căn bản của tôi, dù ngay
trong cái chết của tôi.” Bạn cần tập trung vào Bồ đề
tâm hai phương diện, tự lập lại : “Trước khi chết và
trải qua trung ấm, trong mọi lần tái sanh của tôi, nguyện
tôi không cách lìa với Bồ đề tâm tuyệt đối và tương
đối.”
Quen
thuộc là phát triển một cảm thức tổng quát của chánh
niệm và tỉnh giác đến độ bạn không kinh hoàng vì bạn
đang chết. Bạn cần phát triển sức mạnh của sự quen thuộc,
tự nhắc nhở liên tục về Bồ đề tâm hai phần.
Hạt
giống đức hạnh nối kết với sự không ngưng nghỉ, không
có một cắt đứt nào với nỗi sợ chết của bạn. Nó cũng
liên hệ với sự vượt thắng sự bám luyến của bạn vào
những sở hữu.
Khiển
trách nghĩa là nhận biết rằng cái gọi là bản ngã này thực
ra không hiện hữu. Bởi thế, bạn có thể nói, “Thế thì
ta sợ cái gì ? Hãy cút đi, bản ngã.” Nhận biết rằng mọi
vấn đề đều đến từ bản ngã, mọi cái chết đều do
bản ngã gây ra, bạn phát triển sự khiếp sợ đối với
bản ngã và thệ nguyện chiến thắng nó.
Và
cái cuối cùng, nguyện vọng, là nhận biết rằng bạn có
sức mạnh và tham muốn ghê gớm để tiếp tục và khai mở
mình ra. Bởi thế, bạn không có cái gì để tiếc nuối khi
bạn chết. Bạn đã hoàn thành mọi thứ bạn có thể hoàn
thành. Bạn đã làm mọi sự : bạn đã trở thành một hành
giả tốt và phát triển sự thực hành căn bản của bạn
một cách trọn vẹn ; bạn đã chứng ngộ ý nghĩa của shamatha
và vipashyana, và bạn đã chứng ngộ ý nghĩa của Bồ đề
tâm. Nếu có thể bạn nên thực hành sự phụng sự bảy phần,
hay puja.(2) Nhưng nếu bạn không thể làm điều đó, bạn nên
nghĩ : “Qua mọi đời, tôi nguyện thực hành Bồ đề tâm
quý báu. Mong rằng tôi gặp vị guru dạy tôi cái ấy. Xin Tam
Bảo ban phước cho con để con làm được điều đó.”
Vượt
khỏi tất cả mọi thứ ấy, có một nút vặn thú vị. Giáo
huấn tối hậu về cái chết chỉ đơn giản là cố gắng
an trụ tâm thức bạn trong bản tánh của Bồ đề tâm tối
hậu. Đó nghĩa là, bạn an trụ tâm thức mình trong bản tánh
của alaya và cố gắng để hơi thở bạn đi qua theo cách ấy
cho đến khi bạn thực sự chết.
ĐIỂM
NĂM
SỰ
ĐÁNH GIÁ VIỆC TU TÂM
ĐIỂM
NĂM VÀ THIỀN ĐỊNH BA LA MẬT
Phạm
trù thứ năm của tu tâm liên hệ với thiền định ba la mật.
Tư tưởng về thiền định ba la mật căn bản là bạn bắt
đầu nắm bắt được một số khả tính của sức nóng hiểu
biết, hay trí huệ bát nhã. Bởi thế, bạn bắt đầu phát
triển một cảm thức lớn lao của chánh niệm và tỉnh giác.
Có nói rằng sự thực hành thiền định, loại chánh niệm
và tỉnh giác này, thì giống như tự bảo vệ bạn khỏi những
nanh vuốt chết người của thú dữ. Những thú dữ này là
những phiền não, sự loạn thần của chúng ta. Nếu không
có sự thực hành chánh niệm và tỉnh giác của thiền định
ba la mật, chúng ta sẽ không có cách nào để tự bảo vệ
đối với những cuộc tấn công này, và chúng ta cũng không
có những phương tiện để chỉ dạy cho những người khác
hay làm việc cho sự giải thoát của những chúng sanh khác.
Ý niệm đặc biệt về thiền định này thấm khắp đoạn
sau về lojong.
19
Tất
cả pháp đồng ý ở một điểm.
Ở
đây, Pháp không liên hệ gì với danh từ pháp theo nghĩa triết
học, hay là “những sự vật như chúng là” ; pháp ở đây
chỉ có nghĩa là những giáo lý. Chúng ta có thể nói rằng
tất cả mọi giáo lý về căn bản là một cách khuất phục
hay làm rơi rụng bản ngã của chúng ta. Và tùy theo bài học
khuất phục bản ngã được nắm giữ ở trong chúng ta nhiều
bao nhiêu, thì thực tại cũng được hiển lộ với chúng ta
nhiều bấy nhiêu. Tất cả các pháp đã được dạy đều
nối kết với điều này. Không có pháp nào khác. Không có
những giáo lý khác, đặc biệt trong những giáo lý của Phật.
Trong
hành trình đặc biệt này hành giả có thể đặt một hệ
thống chia độ, và tình trạng của người ấy có thể đo
được. Nó cũng giống như hệ thống chia độ của công lý
: nếu bản ngã của bạn rất nặng, bạn sa xuống ; nếu bản
ngã của bạn nhẹ, bạn nâng lên. Thế nên bãi bỏ chương
trình cá nhân bành trướng cái ngã của chúng ta và đạt đến
chương trình phi cá nhân của giác ngộ tùy thuộc vào việc
chúng ta “cân nặng” hay rỗng rang bao nhiêu.
Dù
những giáo lý tiểu thừa hay đại thừa, chúng đều đồng
ý với nhau. Mục đích của tất cả chúng chỉ là chiến thắng
bản ngã. Khác đi thì không có mục đích nào trong đó. Bất
cứ kinh điển, sớ giải nào về giáo lý Phật giáo bạn có
thể đọc, chúng đều nối kết với hiện thể của bạn
và được hiểu như là những cách thức để thuần hóa bản
ngã của bạn. Đây là một trong những khác biệt chính giữa
hữu thần và vô thần. Những truyền thống hữu thần nhắm
đến việc xây dựng một loại bản chất cá nhân, để cho
bạn có thể bước nhanh và làm kiểu diễn dịch riêng của
bạn về những hành động bồ tát giả hiệu. Nhưng trong truyền
thống Phật giáo vô thần, chúng ta nói theo lối không có con
người riêng biệt, không có những tính chất của bản ngã,
và bởi thế có thể biểu hiện một sự diễn dịch rộng
lớn hơn nhiều hoạt động bồ tát.
Kiểu
diễn dịch tiểu thừa về thuần hóa bản ngã là cắt đứt
sự luộm thuộm, ủy mỵ và tâm thức lang thang bằng sự áp
dụng kỷ luật shamatha, hay chánh niệm. Sự thực hành shamatha
cắt đứt cơ cấu nền tảng của bản ngã, chính bản ngã
này tự duy trì chính nó bằng cách cung cấp những lời nói
nhảm nhí thuộc tiềm thức và những tư tưởng lan man. Ngoài
ra, nguyên lý vipashyana của sự tỉnh giác cũng cho phép chúng
ta cắt đứt bản ngã của chúng ta. Thức tỉnh với toàn thể
môi trường chung quanh và đem nó vào trong kỷ luật nền tảng
của chúng ta cho phép chúng ta thành ra ít chấp ngã và nhiều
tiếp xúc với thế giới quanh chúng ta, thế nên có ít điểm
quy chiếu vào “tôi” hay “của tôi”.
Trong
đại thừa, khi chúng ta bắt đầu thấu hiểu nguyên lý bồ
tát qua thực hành Bồ đề tâm, sự quan tâm của chúng ta thì
có nhiều hơn sự ấm áp và khéo léo, thiện xảo. Chúng ta
thấu hiểu chúng ta không có gì để bám nữa trong chúng ta,
thế nên chúng ta có thể cho đi mọi lúc. Căn cứ của lòng
bi như thế là sự không có lãnh địa, không bản ngã chút
nào. Nếu bạn như thế, bạn có lòng bi. Bây giờ sự ấm
áp, sự có thể dùng được và dịu dàng hơn nữa cũng có
mặt. “Tất cả các pháp đều đồng ý ở một điểm”
nghĩa là nếu không có chấp ngã, bấy giờ tất cả các pháp
là một, tất cả các giáo lý là một. Đó là lòng bi.
Để
có một thái độ thương yêu người nào khác, bạn phải không
có một nền tảng nào, căn cứ nào để khởi sự. Khác đi
thì bạn trở thành một kẻ mắc chứng yêu lấy bản ngã
của mình, cố gắng hấp dẫn người ta chỉ từ sự quyến
rũ của bạn, đam mê của bạn hay sự kiêu căng của bạn.
Lòng bi khai triển từ tánh Không, hay cái không nền tảng,
bởi vì bạn không có gì để bám chấp vào, không có gì để
làm với, không dự phóng, không sở đắc cá nhân, không những
động cơ phía sau. Bởi thế, bất cứ điều gì bạn làm đều
là một công việc sạch sẽ, có thể nói như vậy. Thế nên
đại bi và tánh Không làm việc cùng nhau. Giống như bạn tắm
nắng trên bãi biển : một mặt bạn có một cái thấy đẹp
đẽ về biển cả, bầu trời và mọi sự, và cũng có ánh
nắng mặt trời, hơi nóng và biển cả đến với bạn.
Trong
tiểu thừa, bản ngã chúng ta bắt đầu được cắt tóc ;
râu ria của nó được cạo sạch. Trong đại thừa, tứ chi
của bản ngã được cắt, thế nên không còn tay chân nữa.
Chúng ta bắt đầu mở tung thân thể của bản ngã. Bằng cách
phát triển Bồ đề tâm tối hậu, chúng ta lấy đi trái tim
để cho không có gì tồn tại chút nào. Rồi chúng ta thử
dùng đám hổ lốn còn lại, tay, chân, đầu, tim bị cắt đứt,
cùng với một số máu. Áp dụng cách tiếp cận bồ tát, chúng
ta dùng chúng, chúng ta không vất chúng đi. Chúng ta không muốn
làm ô nhiễm thế giới của chúng ta với số bộ phận còn
lại của bản ngã. Thay vì thế, chúng ta đem chúng vào con
đường của Pháp bằng cách khảo sát chúng và sử dụng chúng.
Thế nên bất cứ cái gì xảy ra trong đời bạn đều trở
thành một cách thức để đo sự tiến bộ của bạn trên
con đường – bạn đã có thể cắt lìa tay chân, thân mình
và trái tim bạn được bao nhiêu. Đấy là tại sao châm ngôn
này đi cùng với một câu nói khác của các vị thầy Kadam,
“Sự rơi rụng của bản ngã là hệ thống chia độ đo lường
hành giả.” Nếu bạn có nhiều bản ngã, bạn sẽ nặng hơn
trên bàn cân này ; nếu bạn có ít bản ngã ; bạn sẽ nhẹ
hơn. Đó là sự đo lường thiền định và tỉnh giác đã
được triển khai bao nhiêu, và sự thất niệm đã được
chiến thắng bao nhiêu.
20
Trong
hai người chứng, hãy lấy người chính yếu.
Trong
mọi hoàn cảnh có hai sự chứng kiến : cái thấy của người
khác về bạn và cái thấy của riêng bạn về chính bạn.
Trong hai cái đó, chứng nhân chính yếu là cái nội quán của
riêng bạn. Bạn không nên chỉ theo ý kiến của người khác
về bạn. Sự thực hành của châm ngôn này là luôn luôn chân
thật với chính bạn. Thường thường khi bạn làm điều gì,
bạn muốn có một loại hồi chuyển về thế giới của bạn.
Bạn có những ý kiến riêng về việc bạn làm tốt thế nào
và bạn cũng có những ý kiến của người khác bạn đã làm
tốt thế nào. Thường thường bạn giữ ý kiến riêng của
bạn về chính bạn. Trước tiên bạn có những ý kiến của
bạn về một sự việc nào đó và rồi bạn mở rộng chi
nhánh ra và hỏi ai khác : “Điều đó tốt chứ ? Bạn nghĩ
thế nào về chuyện tôi làm ?” Đó là một trong những câu
hỏi truyền thống xảy ra trong những gặp gỡ giữa thầy
và trò.
Trong
nhiều trường hợp, người ta rất có ấn tượng vì bạn
bởi vì bạn trông có vẻ sung sức và nhiều vui vẻ và bạn
có vẻ biết rõ cái bạn đang làm. Một số lời khen ngợi.
Ngược lại, một số chỉ trích đến với bạn từ những
người khác, họ không biết đầy đủ và rõ ràng điều đang
thực sự xảy ra bên trong bạn. Châm ngôn này nói rằng, trong
hai người chứng hãy lấy người chứng chính yếu làm cái
thực sự, đích thực. Người chứng chính thức ấy chính
là bạn vậy.
Bạn
là người độc nhất biết rõ chính bạn. Bạn là người
độc nhất đã ở cùng với bạn từ khi bạn sanh ra. Và ngay
trước đó, bạn đã mang theo mớ hành lý khổng lồ nghiệp
quả của riêng bạn theo mình. Bạn quyết định chui vào tử
cung người này hay người khác ; bạn đã tái sanh trong bụng
của ai đó và bạn đi ra khỏi đó và bạn vẫn mang theo hành
lý của bạn cùng với mình. Bạn cảm nghiệm đau khổ và
sung sướng của riêng bạn và mọi sự. Bạn là người duy
nhất kinh nghiệm tuổi thơ của bạn, khổ và sướng của
nó ; bạn đã trải qua tuổi thiếu niên, khổ và sướng của
nó ; bạn là người trải nghiệm tuổi trưởng thành của
bạn ; khổ và sướng của nó. Bạn đang bắt đầu trải nghiệm
những năm trung niên, khổ và sướng của nó ; và cuối cùng,
bạn sẽ kinh nghiệm sự già nua và cái chết, khổ và sướng
của nó. Bạn không bao giờ lìa khỏi chính bạn dù một giây
phút. Bạn tự biết mình rất rõ. Bởi thế, bạn là quan tòa
tốt nhất của chính bạn. Bạn biết bạn hư hỏng, hoang đàng
thế nào, bạn biết bạn cố gắng nhạy bén như thế nào
và bạn biết bạn đôi khi cố gắng lén lút như thế nào.
Thường
thường chủ từ “tôi” đi với một động từ. “Tôi có
nên làm điều này chăng ? Tôi có làm điều gì sai trái chăng
? Nếu tôi có làm, cũng chẳng có ai biết.” Chỉ có chúng
ta biết. Chúng ta có thể làm điều đó và chúng ta có thể
trốn thoát nó. Có nhiều trò gian manh hay dự định “bạn”
và “chính bạn” luôn luôn làm chung, hy vọng rằng không
có ai khám phá ra. Nếu bạn phải để toàn bộ sự việc phơi
bày ra, sẽ rất là bối rối khó chịu. Bạn sẽ thấy quá
xa lạ. Ngược lại, dĩ nhiên cũng có khả năng khác. Bạn
có thể cố gắng thành ra rất tốt đến độ một số người
có ấn tượng về bạn và về bao nhiêu nỗ lực bạn đã
đặt vào chính mình. Bạn có thể làm một người đàn ông
tốt hay một người đàn bà tốt. Nhưng nếu bạn phải giải
thích hết ra, không ai thực sự tin bạn đang cố gắng trở
thành tốt như thế nào. Người ta nghĩ đó chỉ là chuyện
chơi.
Chỉ
có bạn thực sự hiểu được chính bạn. Bạn biết từng
khoảnh khắc. Bạn biết cách nào bạn làm mọi việc : cách
bạn đánh răng, cách bạn chải tóc, cách bạn tắm, cách bạn
mặc áo quần, cách bạn nói chuyện với người khác, cách
bạn ăn, thậm chí khi bạn không đói lắm. Trong mọi việc
ấy, “tôi” và “động từ” vẫn còn tiến hành một cuộc
nói chuyện về mọi thứ khác. Thế nên có một số điều
không nói ra xảy ra trong bạn luôn luôn. Bởi thế, người
chứng kiến chính yếu, hay quan tòa chính yếu, là chính bạn.
Sự phán xét bạn đang tiến bộ như thế nào trong thực hành
lojong của bạn là của chính bạn.
Bạn
biết rõ nhất về chính bạn, thế nên bạn phải làm việc
với chính mình một cách thường trực. Điều này đặt nền
trên sự tin vào trí thông minh của bạn hơn là tin vào chính
bạn, nó có thể rất chấp ngã. Tin vào trí thông minh của
bạn bằng cách biết bạn là ai và bạn làm gì. Bạn biết
chính mình rất rõ, thế nên mọi thủ đoạn lừa gạt có
thể được cắt đứt. Nếu có ai chúc mừng hay khen ngợi
bạn, họ có thể không biết toàn bộ đời sống của bạn.
Thế nên bạn cần trở lại với sự phán xét riêng của bạn,
với cảm thức riêng của bạn về những diễn đạt của
bạn và những trò lừa gạt bạn làm đối với những người
khác và với chính mình. Đó không phải là quy ngã, đó là
cảm hứng về cái ngã từ quan điểm vô ngã. Bạn chỉ chứng
kiến bạn là cái gì. Bạn chỉ đơn giản làm người chứng
và đánh giá phẩm chất, hơn là lẩn quẩn với nó theo cách
thức của Freud hay Jung.
21
Hãy
luôn luôn giữ gìn chỉ một tâm thức hoan hỷ.
Điểm
cốt yếu của châm ngôn này là thường trực duy trì một
tâm thức hoan hỷ dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Bất hạnh
là tốt, vì nó là sự khuyến tấn cho bạn thực hành Pháp.
Những bất hạnh của người khác cũng tốt : bạn cần chia
xẻ dự phần những bất hạnh đó và đem chúng vào trong chính
bạn như sự liên tục của sự thực hành hay kỷ luật của
họ. Thế nên bạn cũng cần bao gồm điều đó. Quả thật
rất hay khi cảm nhận theo cách đó.
Về
phần tôi, có một cảm thức về niềm vui thực sự. Bạn
cảm thấy rất tốt đẹp và rất thú vị. Tôi giả sử rằng
tôi chuyển đổi theo Phật giáo. Dù tôi không dán trên mặt
kính xe những khẩu hiệu tôn giáo, tôi làm việc đó trong
tâm. Tôi dán lên mặt kính xe tâm thức bằng cách nói : “Tôi
sung sướng bản ngã tôi đã chuyển đổi theo Phật giáo và
tôi đã được chấp nhận và trở thành một công dân Phật
giáo, một người bi mẫn.” Tôi thường cảm thấy cực kỳ
tốt đẹp và ơn ích. Điều đó đến từ đâu không thành
vấn đề : tôi cảm thấy rất mạnh mẽ và được tăng sức
bởi toàn bộ sự việc. Thật ra, tôi bắt đầu cảm thấy
rằng nếu tôi không có loại phấn khởi này trong chính tôi,
tôi sẽ có nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu kim cương
thừa. Tôi cảm thấy rất biết ơn, rất tốt đẹp. Thế nên
châm ngôn này có nghĩa là giữ gìn một cảm thức thỏa mãn
và vui vẻ mặc dầu có những vấn đề và trở ngại trong
đời mình.
Châm
ngôn này nối kết với cái trước. (“Trong hai người chứng,
hãy lấy người chính yếu.”) Nếu bạn được nuôi dưỡng
trong truyền thống kỷ luật Thiên Chúa – Do Thái, ý tưởng
xem chừng chính bạn chỉ thuần túy đặt nền trên tội lỗi.
Nhưng trong trường hợp này, không phải như thế. Chúng ta
không có bất kỳ loại luận lý nào trình bày, tuyên bố một
ý niệm như tội lỗi nguyên thủy. Từ quan điểm của chúng
ta, bạn không vốn bị kết án một cách nền tảng. Sự hoang
đàng của bạn không tất yếu được nhìn như là vấn đề
của bạn – dù nó được chứng kiến, một cách rõ ràng.
Bạn không bị kết tội một cách nền tảng ; sự hoang đàng
tạm thời của bạn được nhìn như chỉ đến từ những
vấn đề tạm thời. Bởi thế, thuận theo điều đó, châm
ngôn này nói : “Hãy luôn luôn giữ gìn chỉ một tâm thức
hoan hỷ.” Đó là một tâm thức hoan hỷ bởi vì bạn không
phải hoảng hốt vì hoàn cảnh nào của sự xấu xa hay sự
phấn khởi bất ngờ. Thay vì thế, bạn có thể giữ gìn một
cảm thức vui tươi suốt mọi sự.
Để
bắt đầu, bạn giữ gìn một cảm thức vui vẻ vì bạn đang
ở trên con đường ; bạn đang thực sự làm một cái gì về
chính bạn. Trong khi hầu hết chúng sanh không có ý niệm nào
cần làm cái gì với chính họ, ít nhất bạn có một sự
dẫn dắt, điều khiển cuộc đời mình, đó là điều kỳ
diệu. Nếu bạn đi vào Brook-lyn hay thành phố Calcutta, bạn
sẽ nhận thấy rằng điều chúng ta đang cố gắng làm với
chúng ta là không thể tin được. Nói chung, không có ai có
ý tưởng sơ khởi nào về cái gì đại loại như thế này.
Bạn nên hưng phấn lớn lao và cảm thấy kỳ diệu rằng có
một người nào nghĩ đến một ý niệm như vậy.
Có
một cảm thức hoan hỷ từ quan điểm đó, một cảm thức
phấn khởi mà bạn có thể so sánh với lúc bạn chán nản,
lúc bạn cảm thấy chung quanh không làm bạn vui lên, hay lúc
bạn cảm thấy rằng bạn không có một loại hồi chuyển
cần thiết để thực hành. Ý tưởng là dầu ngày mưa, ngày
bão, ngày nắng, ngày nóng ngày lạnh, dù bạn đói, khát, mạnh
khỏe, yếu đau – bạn có thể duy trì một cảm thức vui
tươi. Tôi không nghĩ tôi cần phải giải thích quá nhiều.
Có một cảm thức về sự vui tươi nền tảng nó cho phép
bạn tự đánh thức mình dậy.
Sự
hoan hỷ này có vẻ là sự bắt đầu của lòng bi. Chúng ta
có thể nói rằng châm ngôn này đặt nền trên việc chúng
ta bắt đầu duy trì sự tỉnh giác của chúng ta về sự thực
hành đại thừa như thế nào – nói theo nghĩa đen và chính
xác. Bạn có thể cảm thấy bực bội về việc làm kinh khủng
của người nào đó, rằng sự kinh tởm của anh ta hay chị
ta được chuyển tới bạn và làm hư hỏng môi trường chung
quanh. Nhưng trong trường hợp này, bạn không trách cứ một
người như vậy, bạn trách cứ chính bạn. Và trách móc chính
bạn là một việc làm thích thú. Bạn bắt đầu giữ một
thái độ rất vui vẻ đối với toàn bộ sự việc. Thế nên
bạn vượt khỏi phiền não – thoát khỏi Brooklyn, nói một
cách ẩn dụ. Bạn có thể làm điều đó. Có thể làm được
điều đó.
Loại
hoan hỷ này có một số gốc rễ. Nó đặt nền trong Phật
tánh, tathagatagarbha. Nó đặt nền trong lòng bi căn bản của
người đã tự mình làm một việc như vậy : những người
như Quán Thế Âm, Văn Thù, Jamgošn Kongtrušl, Milarepa, Marpa,
và mọi người còn lại. Thế nên chúng ta cũng có thể làm
điều đó. Nó đặt nền trên một hoàn cảnh thực.
Nếu
có ai thoi vào miệng bạn và nói, “Mày thật ghê tởm”,
bạn nên biết ơn người đó đã thực sự lưu tâm đến bạn
mà nói như vậy. Thật vậy, bạn có thể đáp lại với sự
nghiêm trang kinh khủng và nói, “Cám ơn, tôi cảm kích sự
quan tâm của bạn.” Theo cách đó cơn loạn thần của người
đó được bạn lấy đi, đem vào trong bạn, như được làm
trong thực hành tonglen. Ở đây có một sự hy sinh bao la xảy
ra. Nếu bạn nghĩ đây là một trò buồn cười, bạn có thể
đúng. Trong một ý nghĩa nào, toàn bộ sự việc là trò buồn
cười. Nhưng nếu không có ai bắt đầu đem lại một loại
hòa hợp, chúng ta sẽ không có thể nào phát triển sự minh
mẫn lành mạnh tinh thần trong thế giới này. Ai đó cần phải
gieo hạt giống để sự lành mạnh tinh thần có thể có trên
trái đất này.
22
Nếu
bạn có thể thực hành ngay cả khi phóng tâm,
bạn
đã tu hành nhuần nhuyễn.
Chúng
ta có đủ loại hoàn cảnh mà chúng ta phải ứng phó trong
đời sống bình thường, thậm chí những tình trạng mà chúng
ta không tỏ biết, nhưng chúng ta không quan tâm riêng tới cuộc
sống chúng ta ; chúng ta quan tâm nhiều hơn tới sự loạn thần
và những trò chơi của chúng ta. Nếu chúng ta đang trong một
mức độ rất cao của sự bối rối khó chịu, chừng nào
nó còn đó thì tỉnh giác không có. Nhưng chúng ta cũng có
thể kinh nghiệm tức thời một cảm thức tỉnh giác. Theo
truyền thống, mọi hỗn loạn xảy tới đều được xem như
một tiếng hét kêu cầu sự thiêng liêng hay giúp đỡ, ban
phước hay cầu nguyện. Trong cuộc sống bình thường hàng
ngày của chúng ta, cũng trong những truyền thống hữu thần,
mỗi khi cái gì thình lình ập tới, chúng ta nói, “Ngài ơi,
xin nhìn vào đây”, hay chúng ta phát lên những danh hiệu thiêng
liêng. Theo truyền thống, điều đó được xem là một sự
nhắc nhớ lại tánh giác. Nhưng ngày nay chúng ta không còn
dùng cách đó nữa, chúng ta chỉ dùng những lời chửi rủa
trong một cách thức thoái hóa nhất.
Ý
tưởng của châm ngôn này là sự nhận thức rằng bất cứ
tình huống nào có bản chất bình thường hay bản chất phi
thường xảy tới – ấm nước của chúng ta sôi tràn, hay
miếng thịt của chúng ta cháy thành than, hay thình lình chúng
ta trượt chân và mất tự chủ – thì trí nhớ về sự tỉnh
giác liền có mặt. Bình giảng của Jamgošn Kongtrušl nói về
một con ngựa được huấn luyện tốt, mạnh mẽ mất thăng
bằng và thình lình lấy lại được thăng bằng nhờ mất
nó. Và những kinh điển nói về những hành động của bồ
tát như những lực sĩ khéo luyện tập bị trợt trên một
bề mặt trơn và trong quá trình bị trợt lấy lại sự thăng
bằng của mình bằng cách dùng chính sức mạnh của quá trình
trượt té. Tôi cho điều ấy cũng tương tự như đi trượt
tuyết, khi bạn dùng sức mạnh của sự trượt xuống và để
cho bạn trượt đi trên tuyết – thình lình bạn có được
chú ý và phát triển sự thăng bằng từ đó.
Thế
nên bất cứ khi nào có một chợt thấy hay một giật mình
thình lình thấy mất sự nắm chặt của mình – việc có
vẻ sợ hãi mất sự nắm chặt thực tại của mình, bấy
giờ tỉnh giác có mặt một cách thích đáng. Để làm thế
cần có một sự từ bỏ. Nó không phải là công việc theo
chủ nghĩa sô vanh của bạn, bạn là một người mạnh mẽ
và quyền lực dị thường và cũng có một cảm thức tỉnh
giác xảy ra luôn luôn. Nhưng khi cái gì đụng vào bạn, đó
là kết quả của sự không có chánh niệm, thì bấy giờ sự
thiếu chánh niệm ấy thình lình tạo ra một nhắc cho nhớ
một cách tự động. Thế nên bạn thực sự trở lại lối
đi của mình, có thể nói như vậy, có thể thu xếp cho cuộc
đời của bạn.
Chúng
ta bắt đầu nhận thức rằng chúng ta có thể thực sự thực
hành bất chấp những tư tưởng lang thang của chúng ta. Tôi
xin lỗi khi là một tay sô vanh, nhưng hãy để tôi đưa ra một
ví dụ về điều này. Điều thường xảy ra là tôi thường
bị thương tổn, chán nản và bị vị thầy giáo thọ tốt
lòng của tôi và những vị quản lý tôi ở tu viện Surmang
đẩy vào những cơn khủng hoảng. Khi tôi hối hận, nhiều
buồn rầu và nhiều vô hy vọng – nhưng là vô hy vọng một
cách thận trọng, vô hy vọng một cách chủ tâm – tôi thường
nghĩ đến bổn sư Jamgošn Kongtrušl của tôi và khóc. Sau khi
ngài đi khỏi tu viện Surmang, tôi vẫn nghĩ đến ngài và ngài
thực sự đã làm điều gì đó cho tôi, làm tôi phấn khởi.
Tôi thường thử sự tiếp cận sùng mộ của kim cương thừa
: Tôi nói với những thị giả của tôi, “Hãy ra ngoài ! Tôi
không cần trà nước gì vào lúc này ; tôi đang đọc.” Rồi
tôi nằm dài và kêu khóc trong nửa tiếng đồng hồ, đôi
khi bốn mươi lăm phút. Rồi có ai đó nhảy vào. Các thị
giả của tôi rất lo lắng, nghĩ rằng tôi bị bệnh hay bị
gì đó. Và tôi nói, “Đem ra đi. Hãy ra ngoài. Tôi không cần
trà nữa.”
Nhưng
đôi khi tôi thấy điều ấy không nhiều hiệu quả, rằng
quá sớm để đi vào sự sùng mộ kim cương thừa, bởi vì
chúng ta không có đủ sự tu hành căn bản. Thế nên tôi phát
triển một chiến thuật mới phù hợp hoàn toàn với châm
ngôn này. Bất cứ khi nào có vấn đề hay xáo trộn gì, tôi
sẽ nói cho Jamgošn Kongtrušl về chuyện đó khi đến thăm ngài,
và khi tôi trở về, tôi bắt đầu dùng một phương pháp mới.
Bất cứ khi nào có xáo trộn hay vấn đề gì, hay thậm chí
có sự tốt đẹp hay hưng phấn – bất cứ cái gì xảy ra
– tôi sẽ chỉ trở lại đời sống của mình và trí nhớ
của tôi về ngài, cũng như trí nhớ của tôi về con đường
và sự thực hành. Tôi bắt đầu có thể cảm thấy một cảm
thức tỉnh giác, tỉnh giác nhanh chóng, tỉnh giác rất trực
tiếp. Cái tỉnh giác này không tất yếu liên hệ với trí
nhớ về Jamgošn Kongtrušl ; nó là cái tỉnh giác xảy đến
khi bạn vừa trôi dạt khỏi và tiến trình trôi dạt khỏi
ấy đem bạn trở lại. Đó là cái được nói ở châm ngôn
này. Chẳng hạn nếu bạn là một người cưỡi ngựa giỏi,
tâm thức bạn có thể lang thang đây đó, nhưng bạn vẫn không
rớt khỏi con ngựa của bạn. Nói cách khác, dù chúng ta có
trôi dạt khỏi, nếu tiến trình trôi dạt khỏi này có thể
đem bạn trở lại, đó là dấu hiệu của sự thực hành toàn
hảo.
Ý
tưởng là bạn đã tu hành, thế nên bạn sẽ không có vấn
đề rắc rối gì trong sự liên tục. Khi những trường hợp
sướng khổ đụng đến, bạn không trở thành tên nô lệ
của chúng. Bạn đã học làm thế nào tư duy ngay về tonglen
và về Bồ đề tâm thế nên bạn không lệ thuộc vào sung
sướng và khổ đau quá độ hay chán nản chút nào. Khi bạn
gặp một tình huống, tình huống ấy ảnh hưởng những cảm
xúc và trạng thái tâm thức của bạn. Nhưng bất cứ khi nào
trạng thái tâm thức và những cảm xúc của bạn bị ảnh
hưởng vì sự dằn xóc làm thức tỉnh này, thình lình bản
thân tình huống trở thành sự tỉnh giác và chánh niệm của
bạn. Nó xảy đến với bạn, thế nên bạn ít cần đặt
nỗ lực vào đó từ phía bạn. Bạn không phải cố gắng
giữ gìn, thấu hiểu hay canh chừng. Điều ấy không có nghĩa
là bạn cần vứt bỏ mọi sự và những sự việc luôn luôn
đến với bạn. Rõ ràng có một cần thiết cho bạn là nên
phát triển sự tỉnh giác và chánh niệm nền tảng và cảnh
giác đi chung. Nhưng sự cảnh giác này là một trạng thái
nền tảng của tâm thức, nó liên hệ với thiền định ba
la mật.
Điều
chúng ta phải bàn luận trong điểm năm là hoàn toàn thẳng
tắt và trực tiếp. Điểm chính yếu là không để cho chính
bạn bị thương vì những răng nanh của sự loạn thần, những
răng nanh của phiền não. Cách thức làm điều đó là thấu
hiểu rằng “tất cả pháp đều đồng ý ở một điểm”,
đó là thuần hóa bản ngã chính mình. Đó là cái cân độ
trên đó những hành giả có thể được cân nặng nhẹ. “Trong
hai người chứng, hãy lấy người chính yếu” nghĩa là bắt
đầu với sự phán xét của riêng bạn về bạn đang làm như
thế nào. “Hãy luôn luôn giữ gìn chỉ một tâm thức hoan
hỷ” nghĩa là có một cảm thức vui tươi. Bởi vì bạn không
bị mắc vào trong kỷ luật gay gắt, bạn có thể kinh nghiệm
niềm vui, đặc biệt khi những tình huống xấu xa quá độ
hay vui mừng quá độ xảy ra cho bạn. Và dấu hiệu tu hành
nhuần nhuyễn là bạn có thể thực hành ngay cả khi phóng
tâm.
Nếu
bạn thực hành những điều ấy, tôi chắc chắn chúng ta sẽ
không có vấn đề khó khăn nào trong việc sản xuất ra hàng
ngàn vị Phật và Bồ tát trong thế kỷ này !
ĐIỂM
SÁU
NHỮNG
KỶ LUẬT TU TÂM
ĐIỂM
SÁU VÀ BÁT NHÃ BA LA MẬT
Ba
la mật kết hợp với điểm thứ sáu của tu tâm là bát nhã
ba la mật. Những châm ngôn này đều nối kết với sự làm
bén nhọn trí thông minh của bạn để làm việc với chính
bạn. Đó là ý tưởng cây kiếm bát nhã. Bát nhã được xem
là cây kiếm cắt đứt sự ràng buộc của bản ngã. Cách
cắt đứt sự ràng buộc của bản ngã trong thực hành đại
thừa căn bản thì giống như trong thực hành vipashyana – đó
là tỉnh giác, liên hệ với thế giới còn lại của bạn
và với đời bạn. Nó nối kết với một cảm thức rộng
lớn về toàn bộ cuộc đời của bạn và đặc biệt với
kinh nghiệm sau thiền định.
Bất
cứ cái gì xảy ra trong đời bạn đều được bát nhã thống
lãnh và cai trị, trí huệ này cắt đứt sự loạn thần thói
quen hoặc tiềm ẩn của bạn. Sự áp dụng cảm thức lớn
lao này của chánh niệm và tỉnh giác đến từ đại định
được khai triển qua con đường Bồ tát. Với sự giúp đỡ
của những nguyên lý shamatha và vipashyana, bạn học cách củng
cố chính bạn như là một hành giả đại thừa – ở trong
một trạng thái đại bi, lòng tốt, rỗng rang và dịu dàng.
Mặt
khác, bạn cũng ở trong một trạng thái vô ngã. Không có sự
bám chấp, hành động hay trụ vào bất cứ cái gì nối kết
với bản ngã, atman hay linh hồn. Khi bạn không trụ nơi cái
gì nối kết với bản ngã, những hoạt động được diễn
tả trong bản văn lojong bắt đầu thấm nhuần đời bạn.
Chúng bắt đầu biểu lộ. Bạn chứng ngộ rằng không có
cái “tôi” nào để thiền định về nó và không có cả
“tôi là” để truyền bá cái gọi là sự hiện hữu của
bạn. Nhờ đó bạn có thể trao đổi bản thân bạn cho những
người khác. Bằng cách trước hết trở nên có thể hy sinh
chính mình, bạn có thể chiến thắng những chướng ngại.
Theo cách ấy, bạn học cách đối xử với cuộc hành trình
của bạn trên con đường nhờ lưỡi kiếm trí huệ bát nhã.
23
Hãy
luôn luôn hành động theo ba nguyên lý căn bản.
Châm
ngôn này là một diễn tả tổng quát làm sao chúng ta có thể
thực hành Phật pháp theo ba nguyên lý căn bản của tiểu thừa,
đại thừa và kim cương thừa. Nó nối kết với một cảm
thức giữ gìn và kỷ luật của tất cả ba thừa – sự thực
hành chánh niệm của tiểu thừa, nhân đức từ tâm của đại
thừa, và trí-huệ-điên-cuồng của kim cương thừa – tất
cả đồng thời.
Chúng
ta có thể bắt đầu xử sự theo một kiểu điên cuồng vô
căn cứ trong truyền thống riêng biệt nào đó và không ngó
ngàng gì đến giá trị của những truyền thống khác, phá
vỡ toàn bộ những cấu tạo xã hội được đặt nền trên
những truyền thống tôn giáo như vậy. Điều ấy không nên
xảy ra. Chúng ta có thể thực sự giải thoát mình khỏi những
việc phù phiếm như vậy. Đặt nền cho sự thực hành tâm
linh của chúng ta trên những sự tự thoải mái và tự thích
thú riêng rẽ như vậy có vẻ là một trong những việc nguy
hiểm nhất. Chúng ta có một cuộc du hành cùng nhau : triết
học của chúng ta thỏa đáng, những trích dẫn của chúng
ta đúng thời ; chúng ta có văn phạm và ngôn ngữ của chúng
ta đã thành tựu – nhưng sau mọi điều đó, chúng ta không
muốn từ bỏ bản ngã của chúng ta. Chúng ta có một loại
nền tảng để đi trên đó, và chúng ta không muốn buông bỏ
sở hữu thiêng liêng và bí mật nhất của chúng ta. Điều
này trở thành vấn đề, chúng ta không thực sự theo cuộc
du hành một cách thích đáng. Bản văn nói rằng pháp không
nên bị thoái hóa trên nền của hạnh phúc, trong trường hợp
này nó là một loại tà kiến trong lãnh vực chánh pháp.
Ba
nguyên lý căn bản cũng được diễn tả là (1) giữ gìn hai
nguyện (2) tự chế với hành động quá đáng, và (3) phát
triển nhẫn nhục.
Cái
thứ nhất là giữ gìn những lời hứa bạn đã nguyện khi
bạn quy y và những lời nguyện bồ tát, giữ chúng một cách
trọn vẹn. Cái thứ nhất này hoàn toàn thẳng thắn, trực
tiếp.
Cái
thứ hai là tự chế với hành động quá đáng. Khi bạn bắt
đầu thực hành lojong, bạn nhận thức rằng bạn không nên
có bất kỳ quan tâm nào đến chính bạn ; bởi thế, bạn
cố gắng hành động trong một cách thức tự hy sinh. Nhưng
thường việc thử biểu lộ tính vô ngã của bạn trở thành
tính cách triển lãm. Bạn để cho mình bị ném vào tù hay
bị đóng đinh trên thập tự giá. Bạn biểu lộ những hành
động vô ngã bởi vì những quan niệm vững chắc của bạn
– những cái gọi là quan niệm vững chắc của bạn trong
trường hợp này – nhưng những hành động của bạn vẫn
còn đặt nền trên ý niệm của bạn là một người đàng
hoàng đứng đắn. Bạn có thể hành động dựa trên một
ý thích tùy hứng hay trở nên rất điên, dấn thân vào một
sự phô trương vô ngã đủ mọi loại, như tuyệt thực lâu
ngày hay nằm dài trên đường phố nhân danh sự thực hành
bồ tát. Nhiều bạn hữu Hoa Kỳ của chúng ta đã làm những
việc ấy. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cần được xem như
sự phô trương thuần túy hơn là sự thành tựu hành động
bồ tát.
Thứ
ba là phát triển nhẫn nhục. Thường thường, có sự mù mờ
cực kỳ về nhẫn nhục. Nghĩa là, bạn có thể nhẫn nhục
với bạn bè của mình nhưng bạn không thể nhẫn nhục với
kẻ thù của mình ; bạn có thể nhẫn nhục với người mà
bạn đang gắng sức trau dồi cho họ hay với người bạn đang
che chở, nhưng bạn không thể nhẫn nhục với những người
ngoài vòng che chở của bạn. Loại cực đoan này thực sự
là một hình thức tôn thờ cá nhân, sự tôn thờ bản thân
bạn, nó không phải là một ý tốt. Thật vậy, phải nói
rằng đó tuyệt đối không phải là một ý tốt.
Qua
trí huệ bát nhã bạn nhận biết bạn đang cố gắng bao nhiêu
để trở thành một cái gì đó. Đang trở thành một cái gì
thành tựu trong thực hành lojong và trong thực tập tonglen,
bạn có thể bắt đầu cảm thấy đã đến lúc cho bạn lập
chi nhánh và trở thành một người lãnh đạo hay một anh hùng.
Bạn cần đề phòng chuyện đó. Đây là một trong những điểm
căn bản của hạnh kiểm hay giới luật. Nó nối kết với
Bát nhã Ba la mật : bởi vì bạn bắt đầu phân biệt bạn
là ai, là cái gì, bạn đang làm gì, bạn hãy coi chừng thường
trực tất cả mọi cái ấy.
24
Hãy
thay đổi thái độ của bạn,
nhưng
vẫn ở tự nhiên.
Thông
thường, thái độ của chúng ta là chúng ta luôn luôn muốn
bảo vệ lãnh địa riêng của chúng ta trước tiên, Chúng ta
muốn giữ gìn nền tảng riêng của mình – những người
khác để đằng sau. Điểm cốt yếu của châm ngôn này là
thay đổi thái độ này, để cho bạn có thể thực sự nghĩ
về những người khác trước tiên và về bạn sau đó. Nó
rất đơn giản và trực tiếp. Bạn thường thực hành sự
dịu dàng khoan hòa với chính bạn, và cái ngược lại với
những người khác. Nếu bạn muốn cái gì ngoài kia, bạn sẽ
bảo ai khác lấy nó cho bạn thay vì tự bạn ra ngoài và lấy
nó. Thế nên châm ngôn này nói về sự cố gắng áp đặt
quyền lực và chủ quyền của bạn lên những người khác.
Bạn cũng cố gắng tránh né những sự việc. Chẳng hạn,
bạn không rửa chén đĩa, hy vọng có ai khác làm điều đó.
Thay đổi thái độ của bạn, nghĩa là lật ngược hoàn toàn
thái độ của bạn, thay vì khiến ai khác làm điều gì, thì
chính bạn làm điều đó.
Bấy
giờ châm ngôn nói “vẫn ở tự nhiên”, nó có một ý nghĩa
buông lỏng, thư giãn. Nó nghĩa là thuần hóa con người căn
bản của bạn, thuần hóa hoàn toàn tâm thức bạn đến độ
bạn không còn thường trực sai người khác chạy lung tung.
Thay vì thế, bạn nhận lấy cơ hội tự mình chịu trách nhiệm.
Chúng
ta đang nói về thay đổi thái độ tự yêu quý chính mình.
Thay vì yêu quý chính mình, bạn yêu quý những người khác
– và rồi bạn an nghỉ. Thế đấy. Nó rất là chất phác.
25
Chớ
nói về những khuyết tật.
Bởi
vì sự kiêu ngạo và hung hăng của bạn, bạn thích nói về
những khuyết điểm của người khác như là một cách thức
để xây dựng nên “con người” của bạn. Điểm cốt yếu
của châm ngôn này là không vui thích với những khuyết điểm
hay tàn tật của người khác. “Tàn tật” nói rất cụ thể
về trạng thái tâm lý hay sinh lý của người ta : mù hay điếc,
hay chậm chạp. Nó nói đến mọi loại khiếm khuyết thân
thể mà một người có thể mắc phải. Điều này hình như
là đạo đức tổng quát đã được Thiên Chúa giáo dựng
nên, rằng không ai bị kết án vì những khuyết điểm của
thân thể họ, nhưng mọi người phải được nhìn như là
một con người, một nhân cách. Chúng ta chớ làm như vậy
theo bất cứ cách nào, trong bất cứ trường hợp nào.
Đây
không phải là một lối tiếp cận thực tại có tính cách
Thanh giáo, mà đơn giản nhận thức rằng nếu một người
có những vấn đề với cuộc đời họ, chúng ta không nên
làm to chuyện bằng cách có những nhận xét về chúng. Chúng
ta có thể đơn giản chấp nhận những vấn đề của người
đó. Nếu có người nào hoàn toàn “bốc” và cường điệu
về lãnh vực những hiện tượng riêng của họ, hay “bốc”
về việc chạm trán với ai đó, thì điều ấy cũng không
nên được xem là một biểu lộ xấu của người đó. Đó
chỉ là một cách đáp ứng với thực tại của họ, nó luôn
luôn xảy ra mọi lúc.
26
Chớ
cân đo những người khác.
Trong
châm ngôn này “cân đo những người khác” có nghĩa chỉ
trích, lên án những nghi ngại và vấn đề nhỏ nhặt của
những người khác. Một trong những vấn đề chúng ta thường
có là khi có ai làm điều gì với chúng ta hay xâm phạm những
nguyên tắc của chúng ta, chúng ta chỉ trích việc ngoại lệ
đó. Chúng ta muốn chỉ trích nó và tìm cách xác nhận rằng
những vấn đề của người đó cần phải công kích, phải
kết án là không lành mạnh. Chẳng hạn, vì bạn làm việc
quá gắt gao, trong thực hành tonglen, bạn phát triển một sự
kiêu căng kinh khủng. Bạn cảm thấy rằng bạn đã thâm nhập
khá nhiều và nỗ lực đó làm cho bạn thành một người có
giá trị. Thế nên khi bạn gặp người nào chưa hoàn thành
được cái bạn đã hoàn thành, bạn muốn xem thường họ.
Châm ngôn này rất đơn giản : chớ làm điều đó.
Tôi
không nghĩ là có rất nhiều khác biệt giữa châm ngôn này
và châm ngôn trước ; về căn bản chúng cùng một sự việc.
Mọi châm ngôn đều là những điểm đến cho bạn – không
riêng là những dấu hiệu lưu thông mà là những nhắc nhở.
Và mỗi khi một việc đặc biệt xảy đến cho bạn, những
châm ngôn như là một toàn thể trở nên nhiều ý nghĩa hơn.
27
Trước
tiên hãy làm việc với những nhiễm ô lớn nhất.
Trước
hết bạn cần làm việc với bất cứ cái gì là chướng ngại
lớn nhất của bạn – dù đó là sân giận, đam mê, kiêu
ngạo, ghen tỵ hay cái gì bạn có. Bạn không nên nói, “Tôi
sẽ ngồi nhiều trước đã, rồi sau tôi sẽ đối xử với
nó. Làm việc với những nhiễm ô lớn nhất nghĩa là làm
việc với những điểm nổi bật nhất trong kinh nghiệm hay
trong những vấn đề của bạn. Bạn không muốn làm việc
với phân con gà, bạn muốn làm việc với chính con gà.
Nếu
chúng ta có những khó chịu về kỹ thuật, triết học, thơ
ca, nghệ thuật liên hệ với sự loạn thần riêng biệt của
chúng ta, chúng ta cần đưa chúng ra trước tiên hơn là về
sau. Khi chúng ta có một khó chịu bồn chồn, chúng ta cần
làm việc với sự khó chịu bồn chồn đó. Có nói rằng tất
cả các pháp cần được áp dụng trong cố gắng thuần hóa
phiền não đó, nhưng đồng thời chúng ta không nên cố gắng
đạt đến vài kết quả nào. Thế nên ý tưởng là tịnh
hóa và làm việc nơi những điểm nổi bật nhất hơn là xem
chúng như thứ đồ cũ. Chúng ta chỉ đơn giản làm việc với
điểm nổi bật hay vấn đề nào xảy đến trong tâm thức
chúng ta một cách trực tiếp và thẳng thừng.
28
Hãy
từ bỏ mọi hy vọng về quả.
Châm
ngôn này nghĩa là bạn cần vất bỏ mọi khả năng trở thành
con người vĩ đại trong thế giới nhờ sự tu hành của bạn.
Đặc biệt, bạn có thể hoàn toàn không kiên nhẫn mà hy vọng
rằng do thực hành lojong bạn sẽ trở nên một người tốt
hơn. Bạn có thể hy vọng rằng bạn sẽ được mời đến
nhiều câu lạc bộ bởi những bạn bè hay người bảo trợ,
họ rất có ấn tượng về bạn. Điểm cốt yếu là bạn
phải vất bỏ mọi khả năng như vậy ; nếu khác đi bạn
có thể trở thành một người tự yêu lấy mình. Nói cách
khác, quá sớm cho bạn để thu thập đệ tử.
Làm
việc với những châm ngôn không có nghĩa là trông chờ một
sự phát hiện tạm thời hay cố gắng hoàn thành cái gì bằng
cách làm những sự việc thanh nhã nho nhỏ chúng đã dẹp yên
được những vấn đề của người ta trong quá khứ. Bạn
có thể đã trở thành một diễn giả lớn khi có một buổi
nói chuyện hay một nhà tâm lý học lớn đã thành công chinh
phục được những cơn loạn thần của người khác hay một
khuôn mặt văn chương lớn đã viết vài cuốn sách hay một
nhạc sĩ nổi tiếng đã ra vài an-bum. Những việc ấy dầu
sao cũng đặt nền trên sự liên hệ với thực tại một cách
thích đáng, nối kết với thực tại. Nhưng bạn còn muốn
chinh phục thế giới theo kiểu riêng của bạn, dầu điều
ấy có thể tinh vi và lén lút thế nào.
Bằng
cách làm loại gian trá như vậy, bạn mong đạt đến giác
ngộ. Bạn đã điều chỉnh để nắm bắt được một lối
tiếp cận nhà nghề và trở thành một kẻ thành công nhà
nghề. Thế nên có khả năng bạn lại tiếp cận sự thực
hành theo cùng cách ấy, nghĩ rằng bạn có thể lừa bịp được
tâm Phật trong chính bạn và xoay xở mánh mung đạt đến giác
ngộ. Theo châm ngôn đặc biệt này, điều đó có vấn đề.
Có nói trong bình giải rằng mọi theo đuổi hạnh phúc, niềm
vui, danh tiếng hay trí huệ của cuộc đời này, hay sự hy
vọng đạt đến một trạng thái giải thoát vinh quang trong
đời sau, phải được xem là một vấn đề.
29
Hãy
từ bỏ thức ăn thuốc độc.
Nếu
sự thực hành về vô ngã bắt đầu trở nên một cách thức
khác của sự xây dựng bản ngã của bạn – xây dựng bản
ngã bạn bằng cách từ bỏ bản ngã bạn – đấy cũng giống
như ăn thức ăn thuốc độc ; hành như thế thì không có hiệu
quả gì. Thật vậy, thay vì cung cấp một trạng thái vĩnh
cửu thức tỉnh của tâm, nó sẽ cung cấp cho bạn cái chết,
bởi vì bạn bám vào bản ngã của bạn. Thế nên nếu lý
do ngồi thiền hay việc thực hành sau thiền định hay bất
kỳ loại thực hành nào khác của bạn là sự tiến bộ của
mình và cho mình, sự tự cải thiện, thế thì cũng giống
như ăn thức ăn thuốc độc. “Nếu tôi ngồi đúng, với
kỷ luật và sự nỗ lực lớn nhất, bấy giờ tôi sẽ trở
thành thiền giả tốt nhất trong mọi thiền giả.” – đó
là một thái độ thuốc độc.
Đây
là một châm ngôn rất mạnh mẽ cho chúng ta. Nó có nghĩa là
bất cứ cái gì chúng ta làm với sự thực hành của chúng
ta, nếu sự thực hành ấy nối kết với sự thành tựu cá
nhân của chúng ta, đó gọi là “chủ nghĩa duy vật tâm linh”,
hay sự vinh quang cá nhân trong đó chúng ta là đúng và những
người khác thì sai, và chúng ta muốn chinh phục sự sai lầm
của họ hay xấu xa của họ bởi vì chúng ta đang ở phía
Thượng Đế hay v.v... – cái loại cứt bò, cứt chó này được
xem là thức ăn thuốc độc. Thức ăn như vậy có thể được
trình bày cho chúng ta rất đẹp đẽ, rất dễ thương, nhưng
khi chúng ta bắt đầu ăn, nó bốc mùi.
30
Chớ
quá có thể đoán trước.
Dịch
theo nghĩa đen, châm ngôn này là “Chớ luôn luôn giữ một
khuôn mẫu”, nhưng giống hơn là “Chớ quá tử tế và trung
thực, quá thẳng thắn.” Nghĩa là, một người bình thường
của thế giới sẽ có một số hiểu biết về sự tương
quan của nó với những kẻ thù và bạn hữu của nó và nó
đã nợ người khác biết bao nhiêu. Điều ấy rất dễ dự
đoán. Tương tự, khi người nào gây đau đớn cho bạn, bạn
giữ chuyện đó rất lâu, bàn bạc rất lâu, thù hận rất
lâu. Cuối cùng bạn muốn đánh trả lại nó, không quên sự
xâm phạm của nó trong mười hay hai mươi năm.
Châm
ngôn này có một nút vặn thú vị. Để bắt đầu, chúng ta
có thể dùng ví dụ người bạn đáng tin cậy. Một số người
là đáng tin cậy, người theo truyền thống, hay bạn có thể
nói là người theo kiểu cũ. Khi bạn trở thành bạn bè với
người như vậy, họ luôn luôn nhớ tình bạn của bạn và
sự tin cậy giữa hai bên kéo dài rất lâu. Trong ví dụ người
đáng tin cậy, bạn nên luôn luôn nhớ mối liên kết của
bạn với nó hay mối liên kết của nó với bạn. Nhưng nếu
có ai đối xử xấu với bạn hay nếu bạn có một số xích
mích với ai, bạn không nên giữ luôn luôn sự bực tức với
nó. Trong trường hợp này, điểm cốt yếu là bạn không nên
luôn luôn nhớ những quan hệ xấu của ai đó đối với bạn.
Châm ngôn này có gì khó hiểu, nhưng điểm chính là bỏ đi
hoàn toàn trí nhớ dai dẳng của bạn về sự xung khắc, đối
kháng.
Thường
thường mọi sự chúng ta làm đều có thể dự đoán. Khi chúng
ta có điều gì tốt xảy ra – chẳng hạn khi có ai đem biếu
chúng ta một chai sâm banh – chúng ta luôn luôn tìm cách đền
đáp lòng tốt đó bằng một cái khác, như mời họ bữa ăn
tối hay nói những lời dễ thương. Và khi sự việc xấu xảy
ra chúng ta cũng như thế. Chúng ta luôn luôn có thể dự đoán
được trong việc chúng ta sẽ làm như thế nào. Dần dần
chúng ta tạo lập xã hội từ điều đó.
Khi
có ai sắp làm chúng ta đau khổ, chúng ta thường chờ đợi
cho đến khi họ thực sự tấn công chúng ta và không tốt
với chúng ta. Chúng ta chờ cho mọi người đó bắt đầu viết
những bài báo nói xấu chúng ta. Rồi chúng ta tạo ra một
kẻ thù từ người đó. Đó không phải là lối tiếp cận
thích hợp. Cách tiếp cận thích hợp là làm bạn bè ngay tức
thì hơn là chờ đợi cái gì đó tấn công. Thay vì chờ đợi
cho đến khi một người mắc vào một tội lỗi hay chấp nhận
sự hung hăng của nó đối với bạn, bạn tiếp thông ngay
liền và trực tiếp. Thế nên bạn tiếp thông trực tiếp
hơn là chờ đợi một chiến thuật nào đó. Đấy chính xác
là điều bình giải nói đến, và đấy là điều chúng ta
cố gắng thực hành ở điểm này.
31
Chớ
nói xấu những người khác.
Bạn
muốn cho rằng người ta sai lầm bằng cách nói những điều
gièm pha. Tuy bề ngoài bọc đường và kem, bên dưới bạn
cố gắng hạ thấp người khác, cố gắng trả thù. Gièm pha
người khác đặt nền trên ước muốn trưng bày đức hạnh
riêng của bạn. Bạn nghĩ rằng chỉ những đức hạnh của
bạn có thể trưng bày bởi vì những đức hạnh của người
khác thì kém cỏi, vì chúng kém hơn cái của bạn. Điều này
áp dụng cho cả sự giáo dục và sự thực hành. Bạn có một
sự tu hành ‘ngon lành’ hơn và nói, “Thời gian chú tâm
của ai đó trong thực hành shamatha thì ngắn hơn của tôi ;
bởi thế tôi ngon lành hơn.” hay “Người đó biết ít những
phạm vi hơn tôi.” Căn bản, chúng đều là những cách nói,
“Gã kia thì ngu, còn tôi thì ngon lành hơn nó.” Tôi nghĩ
châm ngôn này rất thẳng thừng.
32
Chớ
chờ đợi để phục kích.
Câu
châm ngôn này dịch ra tiếng Tây Tạng theo nghĩa đen là “Chớ
phục kích”, tức là chờ đợi người ấy rơi vào trong bẫy
hay trong vấn đề bạn muốn hay mong mỏi. Bạn muốn họ gặp
bất hạnh này và bạn hy vọng rằng sự bất hạnh ấy sẽ
xảy ra theo một cách giúp bạn thực hiện sự tấn công.
Nếu
bạn có một bất bình với ai, thường bạn không tấn công
ngay vì bạn không muốn ở trong một vị trí yếu. Thay vì
vậy, bạn chờ kẻ ấy sảy chân và rồi bạn tấn công nó.
Đôi khi bạn giả vờ làm cố vấn cho nó và bạn tấn công
nó trong sự giả dạng này, chỉ ra cho nó rằng nó đã hư
hỏng như thế nào. Bạn nói, “Tôi đã chờ để nói cho anh
điều này. Bây giờ anh hoàn toàn sụp đổ, tôi có dịp để
nói với anh rằng anh không tốt lắm. Tôi đang trong tình trạng
tốt hơn anh nhiều.” Đấy là một loại chủ nghĩa cơ hội,
một lối tiếp cận của kẻ cướp. Lối tiếp cận kẻ cướp
này là ý nghĩa của sự mai phục, nó rất thường xảy ra.
33
Chớ
đem sự việc đến một điểm gây phiền muộn.
Chớ
vì cảm giác bất mãn, đau đớn và khốn khổ của bạn mà
đổ lỗi cho ai khác và chớ bắt bẻ những người khác với
quyền lực của bạn. Bất cứ quyền lực nào bạn có –
quyền trong gia đình, quyền văn học, hay quyền chính trị
– chớ áp đặt nó lên người khác.
Châm
ngôn này cũng có nghĩa là không hạ nhục người khác. Một
điểm quan trọng của lý tưởng bồ tát là khuyến khích người
ta trên con đường của họ. Tuy nhiên, bạn có thể đối xử
với người ta theo một cách khiến bạn tiến bộ trên con
đường nhanh hơn họ. Có những cách làm chậm lại cuộc hành
trình của họ khiến bạn có thể ở trước họ. Nhưng trong
châm ngôn này, thay vì làm thế, bạn phát triển con đường
khác – bạn đi sau những người khác.
34
Chớ
chuyển vật nặng của con bò đực qua con bò cái.
Rất
dễ nói, “Đó không phải lỗi của tôi, hoàn toàn là lỗi
của bạn.” Rất dễ nói như vậy, nhưng nó đáng ngờ. Người
ta phải nghĩ về những vấn đề của mình một cách cá nhân,
lương thiện và chân thật. Nếu không có bạn đề xướng
ra những tình huống, thì sẽ không có vấn đề nào cả. Nhưng
vì bạn hiện hữu, bởi thế cũng có những vấn đề. Chúng
ta chớ nên chuyển gánh nặng đó cho ai cả.
Con
bò đực có thể chở gánh nặng ; con bò cái thì kém khả
năng chở những vật nặng. Thế nên điểm cốt yếu của
châm ngôn này là bạn không chuyển giao gánh nặng của bạn
cho ai yếu hơn bạn. Chuyển vật nặng của con bò đực qua
con bò cái nghĩa là không muốn xử lý sự việc về phần
bạn. Bạn không muốn nhận một trách nhiệm nào ; bạn chỉ
chuyển đẩy nó cho thư ký hay bạn bè hay bất kỳ ai bạn
có thể sai bảo. Trong tiếng Anh chúng ta gọi điều này là
“đùn đẩy trách nhiệm”. Làm như vậy là một quan niệm
tồi tệ, bởi vì nói chung chúng ta có nhiệm vụ làm giảm
bớt hỗn loạn rối rắm và tạo ít dịch vụ trong thế giới
sanh tử. Chúng ta có nhiệm vụ giảm bớt những vấn đề
hành chánh giấy tờ và cố sắp xếp mọi sự cho có trật
tự. Chúng ta có thể mời người khác giúp đỡ chúng ta, nhưng
chúng ta không thể đùn đẩy trách nhiệm cho họ. Thế nên
chớ chuyển vật nặng của con bò đực sang con bò cái.
35
Chớ
cố gắng làm người nhanh nhất.
Khi
những hành giả bắt đầu phát triển sự hiểu biết về
pháp và sự cảm kích về pháp của họ, đôi khi họ rơi vào
một loại tiếp cận theo lối đua ngựa. Họ muốn làm người
chạy nhanh nhất : họ có thể hiểu ý nghĩa cao nhất của
shamatha hay ý nghĩa vĩ đại nhất của tantra hay ý niệm cao
nhất của Bồ đề tâm tối hậu hay những giáo lý được
che giấu. Những hành giả như vậy quan tâm đến người có
thể làm cho sự lễ lạy của họ nhanh hơn, ngồi tốt hơn,
ăn tốt hơn, làm cái này cái nọ tốt hơn. Họ luôn luôn cố
gắng chạy đua với người khác. Nhưng nếu sự thực hành
của chúng ta được xem thuần túy là một cuộc đua, thì chúng
ta có vấn đề. Toàn bộ sự việc trở thành một trò chơi
hơn là thực hành thực sự, và không có hạt giống nhân từ,
dịu dàng nào trong hành giả cả. Thế nên bạn không nên dùng
sự thực hành của bạn như một cách để dẫn đầu những
bạn đồng tu của mình. Điểm cốt yếu của châm ngôn này
là không cố gắng thành tựu tiếng tăm, danh dự hay sự phân
biệt từ sự thực hành của mình.
36
Chớ
hành động với một nút vặn xoắn.
Hành
động với một nút vặn xoắn nghĩa là bởi vì bạn nghĩ
mình đang kiếm được cái tốt nhất trong mọi trường hợp,
thì bạn cũng tự nguyện cho cái xấu nhất. Cái ấy rất hèn
hạ lén lút. Bạn có thể hành động với một nút vặn xoắn
với thầy của bạn, học trò của bạn, hoàn cảnh cuộc đời
của bạn – mọi sự. Bạn có thể tự cho là một người
hoàn toàn nhân đức luôn luôn nhận lãnh trách nhiệm, nhận
thức rằng bạn đang có cái tốt nhất. Tôi nghĩ điều này
hoàn toàn trực tiếp cụ thể.
Hành
động với một cái nút vặn xoắn là một loại duy vật tâm
linh. Nó luôn luôn có động cơ tối hậu là làm việc cho lợi
lạc riêng của mình. Chẳng hạn, để đạt được những
kết quả tốt cho chính bạn, bạn có thể tạm thời nhận
lãnh trách nhiệm và sự trách cứ về việc gì đó. Hay bạn
có thể thực hành lojong gắt gao để có được cái gì từ
đó, hay với ý tưởng tự bảo vệ bạn khỏi bệnh hoạn.
Sự thực hành của châm ngôn này là bỏ đi thái độ trông
chờ những lợi lạc cá nhân có từ thực hành – một kết
quả hoặc trực tiếp tức thời hoặc về lâu về dài.
37
Chớ
làm cho chư thiên biến thành ma quỷ.
Châm
ngôn này ám chỉ khuynh hướng chung của chúng ta là bám vào
sự đau khổ và đi qua cuộc đời với những than vãn thường
xuyên. Chúng ta không nên biến cái tự thân vốn là niềm vui
thành ra đau khổ.
Ở
điểm này, bạn có thể đã hoàn thành một mức độ thuần
hóa chính mình nào đó. Bạn có thể đã phát triển thực
hành tonglen trao đổi chính bạn với những người khác và
cảm thấy sự hoàn thành của bạn là thực. Nhưng đồng thời,
chúng ta quá kiêu ngạo về toàn bộ sự việc đến độ sự
thành tựu của bạn bắt đầu trở thành một ý định xấu,
bởi vì bạn nghĩ bạn có thể phô bày ra. Theo cách này, pháp
trở thành phi pháp.
Dù
cho sự thành tựu của bạn có thể thuộc loại thành tựu
chân chánh và bạn thực sự có một kinh nghiệm rất tốt
– nếu bạn xem đó như là một cách để chứng tỏ mình
và xây dựng bản ngã của bạn, nó không tốt nữa, và nó
trở thành ma quỷ.
38
Chớ
tìm kiếm sự đau khổ của những người khác như là
phần
hữu cơ của hạnh phúc riêng của bạn.
Châm
ngôn này hoàn toàn thẳng tắt : bạn hy vọng ai đó sẽ chịu
khổ đau để bạn có thể thu lợi từ đó. Đây là một ví
dụ rất đơn giản : nếu có một thành viên của tăng đoàn
chết, bạn thừa hưởng cái đệm thiền của người ấy,
hay nếu bạn là một hành giả kim cương thừa, bạn có thể
thừa hưởng chuông và chày kim cương của người ấy. Chúng
ta có thể mở rộng lý luận này trong mọi hoàn cảnh, nhưng
tôi không nghĩ chúng ta cần thiết phải làm như thế.
Chúng
ta không nên xây dựng hạnh phúc riêng của chúng ta trên sự
đau khổ của những người khác. Dù cho sự việc người nào
nếm trải bất hạnh có thể làm lợi lạc cho chúng ta, chúng
ta không nên mong muốn điều đó và mơ tưởng về cái chúng
ta có được từ tình huống đó. Hạnh phúc xây dựng trên
khổ đau thì giả tạo và chỉ dẫn đến thất vọng về sau.