Điểm
Ba
SỰ
CHUYỂN HÓA NHỮNG HOÀN CẢNH XẤU THÀNH CON ĐƯỜNG CỦA GIÁC
NGỘ - ĐIỂM BA VÀ NHẪN NHỤC BA LA MẬT
11.
Khi thế gian tràn đầy sự xấu,Hãy chuyển hóa mọi việc
bất hạnh thành con đường giác ngộ
12.
Hãy hướng mọi trách móc, đổ lỗi vào chính mình
13.
Hãy biết ơn mọi người
14.
Thấy vọng tưởng tức là bốn than Là sự bảo vệ vô thượng
của tánh Không
15.
Bốn thực hành là cái tốt nhất của những phương pháp
16.
Bất cứ điều gì bạn gặp không ngờ, hãy nối kết nó với
thiền định
ĐIỂM
BA
SỰ
CHUYỂN HÓA NHỮNG HOÀN CẢNH XẤU
THÀNH
CON ĐƯỜNG CỦA GIÁC NGỘ
ĐIỂM
BA VÀ NHẪN NHỤC BA LA MẬT
Bây
giờ sau khi chúng ta đã nghiên cứu Bồ đề tâm tối hậu
và tương đối và những kinh nghiệm sau thiền định liên
hệ với chúng, nhóm châm ngôn thứ ba nói về làm thế nào
tiến hành, mang theo tất cả những thực hành ấy như con đường
Đạo. Trong tiếng Tây Tạng, nhóm châm ngôn này gọi là lamkhyer
: lam nghĩa là “con đường” và khyer nghĩa là “mang theo”.
Nói cách khác, bất cứ cái gì xảy ra trong đời sống của
bạn cần được bao gồm như một phần của cuộc hành trình
của bạn. Đó là ý tưởng căn bản.
Nhóm
châm ngôn này liên hệ với Nhẫn nhục ba la mật. Định nghĩa
của nhẫn nhục là chịu đựng. Bất cứ gì xảy ra, bạn
không phản ứng lại với nó. Chướng ngại của nhẫn nhục
là sân giận. Nhẫn nhục không có nghĩa là chờ đợi cơ hội
và cố gắng đi chậm lại. Không nhẫn nhục khởi lên khi
bạn trở nên quá nhạy cảm và không có cách gì để đối
xử với môi trường, hoàn cảnh chung quanh. Bạn cảm thấy
rất xúc động, rất nhạy cảm. Thế nên nhẫn nhục ba la
mật thường được diễn tả như một bộ áo giáp. Nhẫn
nhục có ý nghĩa một phẩm cách bình tĩnh, nghiêm nghị và
chịu đựng. Bạn không dễ dàng bị quấy rối bởi sự công
kích, sân giận của thế gian.
11
Khi
thế gian tràn đầy sự xấu,
Hãy
chuyển hóa mọi việc bất hạnh thành
con
đường giác ngộ.
Tiếp
tục ý tưởng mang mọi sự vào con đường, câu châm ngôn
căn bản của đoạn này là :
“Khi
thế gian tràn đầy sự xấu,
Hãy
chuyển hóa mọi việc bất hạnh thành con đường giác ngộ.”
Điều
này nói rằng, dầu cái gì xảy ra trong đời bạn – những
rắc rối của môi trường xung quanh, những vấn đề rắc
rối về tâm lý hay chính trị – cần được chuyển hóa thành
một phần của sự tỉnh thức của bạn, hay Bồ đề, giác
ngộ. Sự thức tỉnh như vậy là một kết quả của thực
hành shamatha – vipashyana cũng như sự hiểu biết của bạn
về “điểm mềm yếu”, hay Bồ đề tâm.
Nói
cách khác, bạn không trách móc hoàn cảnh chung quanh hay tình
hình chính trị thế giới. Vài người được cảm hứng để
viết thơ ca và hành động theo một cách đến độ họ hy
sinh đời họ cho một lý do xã hội. Chúng ta có thể nói chắc
thật rằng chiến tranh Việt Nam đã sản xuất ra một số
nhà thơ và triết gia, nhưng công việc của họ không phù hợp
với nguyên lý này của đại thừa. Họ chỉ thuần phản ứng
chống lại thế giới đang đầy sự xấu ; họ không thể
chuyển hóa những bất hạnh thành con đường của Bồ đề.
Thậm chí những nhà thơ ấy đã xem cái xấu như chất liệu
cho sự viết lách của họ. Nếu chiến tranh Việt Nam không
xảy ra, chúng ta đã có ít hơn các nhà thơ và triết gia. Theo
câu châm ngôn này, khi thế giới ngập đầy sự xấu, hay ngay
cả khi thế giới không đầy dẫy sự xấu, thì mọi bất
hạnh xảy ra cần được chuyển hóa tất cả thành con đường
giác ngộ hay con đường thức tỉnh. Sự thấu hiểu này đến
từ thực hành ngồi thiền và tỉnh giác tổng quát của bạn.
Câu
châm ngôn này nói một cách thực tiễn và đầy đủ như thế
nào chúng ta có thể thực hành bố thí, rộng lượng. Trong
đời sống bình thường của chúng ta, hoàn cảnh chung quanh
trực tiếp hay gián tiếp không nhất thiết là thân thiện,
chiêu đãi. Luôn luôn có những vấn đề và khó khăn. Ngay
cả với những người tuyên bố rằng đời họ rất thành
công, những người đã trở thành tổng thống của nước
họ hay thành những tỷ phú giàu nhất, hay thành thi sĩ nổi
tiếng nhất hay ngôi sao điện ảnh, thể thao cũng có những
khó khăn riêng của họ. Dầu cho cuộc đời bạn suôn sẻ
theo ước muốn của bạn, cũng vẫn có những khó khăn. Những
chướng ngại, ngăn trở luôn luôn khởi ra. Đó là điều mọi
người đều kinh nghiệm. Và khi chướng ngại xảy ra, mọi
bất hạnh liên quan với những chướng ngại ấy – tâm tính
nghèo nàn, trụ bám vào “được và mất”, hay bất kỳ loại
cạnh tranh hơn thua nào – đều cần được chuyển hóa thành
con đường của cái giác.
Đây
là một thông điệp rất mạnh mẽ và trực tiếp. Nó liên
quan với sự không cảm thấy nghèo nàn trong mọi thời gian.
Bạn có thể cảm thấy thiếu thốn, không đầy đủ vì bạn
có một người cha đau yếu và một người mẹ điên, và bạn
phải chăm sóc họ, hay vì bạn có một cuộc đời méo mó
và những vấn đề tiền bạc. Về vấn đề này, dù bạn
có một cuộc đời thành công và mọi sự đều suôn sẻ,
bạn vẫn cảm thấy không đầy đủ vì bạn phải làm việc
liên tục để duy trì sự làm ăn của bạn. Một số tình
huống có thể xem như những biểu lộ của sự nhút nhát và
sợ hãi của riêng bạn. Tất cả những cái đó có thể xem
là sự biểu lộ của tâm tính nghèo nàn của bạn.
Đã
kinh nghiệm được những khả năng của Bồ đề tâm tuyệt
đối và tương đối và thực hành cho và nhận, bạn cũng
cần bắt đầu thiết lập sự tự tin và hoan hỷ nơi sự
giàu có của chính bạn. Sự giàu có này là tinh túy của rộng
lượng, bố thí. Nó là cảm thức về tài nguyên phong phú,
rằng bạn có thể đối xử với bất kỳ điều gì đang hiện
hành quanh bạn mà không cảm thấy sự nghèo nàn dằn vặt.
Dầu nếu bạn có bị bỏ rơi giữa sa mạc và bạn muốn một
cái gối, bạn có thể tìm một cục đá phủ rêu hoàn toàn
tiện nghi để kê đầu. Bấy giờ bạn có thể duỗi dài chân
mà ngủ ngon. Có một cảm thức về tài nguyên phong phú và
giàu có như vậy hình như là điểm chính yếu. Thực hành
sự phong phú và giàu có hay chính sự rộng lượng là cách
để trở thành người đại thừa, hay ngay cả người kim cương
thừa.
Chúng
ta đã thấy rằng đa số người ta than phiền rằng họ phải
ở trong hoàn cảnh sống rất lệ thuộc : họ liên hệ với
mọi sự trong đời sống thuần túy trên bình diện tiền bạc,
đường kim mũi chỉ, giọt nước, hạt gạo. Nhưng chúng ta
không phải làm điều đó – chúng ta có thể trải rộng cái
nhìn của chúng ta nhờ bố thí, rộng lượng. Chúng ta có thể
cho những người khác một cái gì đó. Chúng ta không luôn
luôn phải nhận một cái gì trước để rồi cho đi một cái
gì. Phối hợp với ý niệm rộng lượng, chúng ta bắt đầu
chứng nghiệm một cảm thức về sự giàu có thịnh vượng
một cách tự động. Bản chất của rộng lượng là thoát
khỏi tham muốn, thoát khỏi dính mắc, có thể buông xả tất
cả.
Châm
ngôn này là câu nói căn bản của điểm thứ ba của thực
hành lojong. Trong phạm trù này, chúng ta có ba thực hành nữa.
Hai châm ngôn tiếp theo liên hệ với thực hành Bồ đề tâm
tương đối, làm thế nào đem điều gì xảy ra trong đời
bạn vào con đường của Bồ đề tâm tương đối. Câu châm
ngôn tiếp theo (“Thấy vọng tưởng tức là bốn thân / Là
sự bảo vệ vô thượng của tánh Không”) thì liên hệ với
thực hành Bồ đề tâm tuyệt đối, làm thế nào bạn đem
theo nó như con đường của bạn. Và châm ngôn cuối trong phần
này (châm ngôn 15) liên hệ với những hành động đặc biệt
chúng cho phép bạn đem bất cứ cái gì xảy ra trong thực hành
của bạn vào con đường.
12
Hãy
hướng mọi trách móc,
đổ
lỗi vào chính mình.
Châm
ngôn này về việc đối xử với thực tại (sự thật) quy
ước, hay kušndzop. Bất kể cái gì xảy ra trong kinh nghiệm
bình thường của chúng ta, bất cứ công việc nào chúng ta
tham dự vào, bất cứ hoàn cảnh thú vị và mạnh mẽ nào
– chúng ta không nên có mong mỏi gì trong sự hoàn trả lại
lòng tốt của chúng ta. Khi chúng ta tốt với ai, hãy không
có ước muốn gì về một giải thưởng nào cho chuyện đó.
Hướng mọi trách móc về mình nghĩa là mọi vấn đề và
rắc rối chung quanh sự thực hành, sự chứng ngộ và thấu
hiểu không phải là lỗi của một ai khác. Tất cả mọi trách
móc luôn luôn bắt đầu với chính chúng ta.
Nhiều
người đi qua thế giới này và thực sự tạo ra một cuộc
sống thoải mái do bi mẫn và rỗng rang – dầu chỉ có vẻ
bi mẫn và rỗng rang. Họ có vẻ đơn độc trong thế giới
này. Tuy dù chúng ta chia xẻ chung một loại thế giới, chúng
ta bị va chạm thường trực. Chúng ta bị vướng vào trách
móc và chúng ta bị rối loạn – những vấn đề tình cảm,
những vấn đề tài chính, tương quan lệ thuộc và những
vấn đề xã hội xảy ra mọi lúc. Cái gì đó đang chơi khăm
chúng ta. Một câu dân gian nói, “Chớ đặt cái bẫy của
bạn cho tôi.” Lạ lùng thay, những bẫy mắc đang được
đặt cho chúng ta, nhưng chẳng bởi ai cả. Chính chúng ta quyết
định nhận lấy những vướng mắc ấy, và rồi chúng ta phẫn
hận và giận dữ.
Chúng
ta có thể hoàn toàn có một cách sống giống như bất cứ
ai khác. Chẳng hạn chúng ta có thể chia một phòng với một
bạn học, ăn cùng một thức ăn có vấn đề, chia cùng một
ngôi nhà bẩn thỉu, có cùng thời khóa biểu và cùng những
vị thầy. Người bạn cùng phòng sắp xếp mọi thứ đều
tốt và tìm thấy sự tự do của hắn. Trái lại chúng ta bị
mắc lầy trong cái trí nhớ này và đầy ắp phẫn hận luôn
luôn. Chúng ta muốn cách mạng, muốn phá tung thế giới. Nhưng
có ai gây phiền não cho ta ? Chúng ta có thể nói rằng thầy
giáo đã làm điều đó, rằng ai cũng ghét chúng ta và họ
đã làm điều đó. Nhưng tại sao họ ghét chúng ta ? Đấy
là một điểm rất đáng lưu ý.
Sự
trách móc đối với nỗi bất hạnh xảy ra cho chúng ta thì
luôn luôn tự nhiên được hướng về phía chúng ta ; đó là
việc làm của riêng chúng ta. Đấy không phải chỉ thuần
túy là tư tưởng đã pha lỗng của đại thừa. Bạn có thể
nói rằng, điều chúng ta đang thảo luận đêm nay là thuần
túy đại thừa – một khi chúng ta đi vào tantra, chúng ta có
thể trả thù những người ấy. Nhưng vấn đề không phải
thế. Tôi cầu xin bạn chớ thử điều đó. Mọi sự đặt
nền trên sự bồn chồn riêng của chúng ta. Chúng ta có thể
trách móc tổ chức, chúng ta có thể trách móc chính phủ,
chúng ta có thể trách móc lực lượng cảnh sát ; chúng ta
có thể trách móc thời tiết ; chúng ta có thể trách móc thức
ăn, những xa lộ, xe hơi chúng ta, áo quần chúng ta ; chúng
ta có thể trách móc vô số sự vật. Nhưng chính chúng ta không
để cho sự vật diễn tiến, không buông xả, không phát triển
đủ sự ấm cúng và thiện cảm – đấy là điều làm cho
chúng ta không thể giải quyết. Thế nên chúng ta không thể
trách móc, đổ lỗi cho ai.
Dĩ
nhiên, chúng ta có thể xây dựng mọi loại triết học và
nghĩ chúng ta đang đại diện cho tiếng nói của phần còn
lại của thế giới, nói rằng đấy là ý kiến của thế
giới, đó là điều xảy ra trong thế giới. “Bạn không thấy
rằng, bạn không nên bắt tôi chịu đựng điều ấy ? Thế
giới là như thế này, còn thế giới chân thực là thế kia.”
Nhưng chúng ta không phát biểu nhân danh thế giới, chúng ta
chỉ phát biểu nhân danh chính chúng ta.
Châm
ngôn này áp dụng bất kỳ khi nào chúng ta trách móc về bất
cứ cái gì, thậm chí cà phê của chúng ta lạnh hay phòng tắm
chúng ta dơ. Nó mở rộng rất xa. Mọi sự là vì sự bôn chôn
lộn xộn của riêng chúng ta, có thể nói thế, nó được
biết như là sự chấp ngã, sự trụ ngã. Bởi vì chúng ta
quá bôn chôn về chính chúng ta, điều ấy đồng thời làm
chúng ta rất dễ bị tổn thương. Bởi thế chúng ta tự cung
cấp bia ngắm lý tưởng. Chúng ta bị đánh trúng, nhưng không
có ai nhắm trúng chúng ta cả – chúng ta thực sự mời những
viên đạn. Thế nên chúng ta ở đây, trong thế giới quá đỗi
già nua. Lái mọi trách móc vào mình là một ý tưởng rất
tốt.
Ý
định hướng mọi trách móc, đổ lỗi vào chính mình là nếu
khác đi, bạn sẽ không đi vào con đường bồ tát. Do đó,
bạn không muốn đặt bất kỳ sự trách cứ hiếu chiến và
xúc động nào lên bất cứ một ai cả. Thế nên hướng mọi
trách móc vào chính mình bắt đầu bằng thái độ ấy. Trên
nền tảng này, bạn hướng mọi trách móc vào chính mình lần
nữa ở mức độ vipashyana. Cái này thực sự bao hàm kinh nghiệm
những hậu quả thực, thấy được, hợp lý luận của việc
làm khác đi. Chẳng hạn, bạn có thể hướng mọi trách móc
vào ông A nào đó, nhưng thay vì thế, bạn hướng mọi trách
móc vào chính bạn. Trong trường hợp này, bạn thực sự bắt
đầu thấy khả năng rằng sự sân giận và loạn thần sẽ
được rải rộng nếu bạn hướng cơn loạn thần của bạn
vào một ai khác. Thế nên thay vì vậy, bạn hướng những
trách móc của bạn lên chính bạn. Đó là điểm căn bản.
Tất
cả điều này hình như nằm trong những phạm trù tổng quát
là lòng bi với những người khác và một thái độ thương
yêu với chính mình, trong tiếng Sanskrit là karuna (bi) và maitri
(từ). Nói cách khác, kinh nghiệm của bi và từ là hướng
mọi trách móc vào mình. Thế nên châm ngôn này liên hệ với
kỷ luật căn bản của con đường bồ tát, là không làm mọi
loại ác hạnh. Bản liệt kê truyền thống bốn mươi sáu
điều thất bại của một bồ tát (xem Phụ lục) có thể
được sử dụng trong mối liên hệ với việc hướng mọi
trách móc vào chính mình. Chúng liên hệ với nhau rất căn
bản.
Châm
ngôn này là tinh túy của con đường bồ tát. Cho dù có ai
đó có kêu lên những tiếng la ó kinh khủng và đổ lỗi cho
bạn, bạn cũng nên tự nhận sự trách móc. Về mặt quyền
lực, đó là cách nhiều đơn giản hơn và trực tiếp hơn
để đơn giản hóa những chứng loạn thần phức tạp vào
một điểm. Cũng thế, nếu bạn tìm những người tự nguyện
chung quanh bạn để nhận lãnh sự trách móc, sẽ không có
người tự nguyện nào ngoài chính bạn. Bằng cách nhận lấy
sự trách móc riêng biệt ấy cho chính bạn, bạn giảm thiểu
bệnh loạn thần đang xảy ra quanh bạn. Bạn cũng giảm thiểu
mọi chứng hoang tưởng hiện hữu trong những người khác,
đến độ những người ấy có thể có cái nhìn sáng tỏ
hơn.
Bạn
có thể thực sự nói, “Tôi nhận sự trách cứ. Chính là
lỗi của tôi mà sự việc ấy đã xảy ra và những sự việc
ấy có ra như là những kết quả.” Nó rất giản dị và
bình thường. Bạn có thể thực sự tương thông với ai đó,
họ không ở trong một tâm thái phòng thủ phản công, bởi
vì bạn đã nhận mọi trách móc. Tốt hơn nhiều và dễ hơn
nhiều để nói chuyện với ai đó một khi bạn đã chấp nhận
sự trách cứ đổ lỗi. Bấy giờ bạn có thể soi sáng tình
huống và hoàn toàn có thể người mà bạn đang nói chuyện,
người ấy có thể là nguyên nhân đặc biệt của vấn đề,
sẽ hiểu ra rằng anh ta đã tự mình làm ra cái sự việc tai
hại. Người ấy có thể nhận biết việc làm sai trái của
mình. Nhưng điều đó dễ xảy ra chỉ khi sự trách cứ, nó
chỉ là một con cọp giấy cho tới lúc đó, đã được bạn
nhận về phần mình. Điều đó phải xảy ra.
Loại
tiếp cận này trở nên rất quan trọng cực kỳ. Tôi đã thực
sự làm nó cả ngàn lần. Tôi đã nhận cho mình nhiều sự
trách móc. Một người có thể làm một điều kinh khủng căn
cứ trên cái hiểu của họ về sự khuyên bảo của tôi. Nhưng
ô-kê, tôi có thể hết lòng nhận lấy nó như vấn đề rắc
rối của tôi. Theo cách đó, có một số cơ may để làm việc
với một người như vậy, và người ta bắt đầu tiếp tục
và hoàn thành những hoạt động của nó một cách thích đáng,
và mọi sự tốt đẹp.
Đó
là một bí quyết hành chánh. Nếu những cá nhân có thể tự
nhận sự trách cứ cho chính mình và để cho những người
bạn của họ tách khỏi sự trách cứ đó mà tiếp tục công
việc và bổn phận của họ, điều ấy làm cho toàn bộ tổ
chức vận hành tốt hơn và cho phép nó có hiệu quả nhiều
hơn. Khi bạn nói, “Anh thật cà chớn ! Tôi không làm một
việc như vậy. Không phải tôi, chính anh đã làm điều đó.
Không ai trách tôi được cả”, thì toàn bộ sự việc trở
nên rất rắc rối. Bạn bắt đầu tìm kiếm xem tiếng bốp
nhỏ này của một sự việc bẩn thỉu văng dội đâu đó
trong văn phòng, một cái gì như trái bóng bàn dội tới dội
lui. Và nếu bạn ra công chiến đấu với nó quá nhiều, bạn
sẽ khó khăn khủng khiếp để giải quyết hay thanh toán cái
việc nhỏ gây trở ngại mà vô hình đó. Thế nên bạn càng
sớm nhận trách nhiệm về sự hư hỏng, thì mọi việc càng
tốt hơn. Và dù đó vốn không thực sự là lỗi của bạn
tí nào, bạn hãy nhận nó như là lỗi của chính bạn.
Điều
này có vẻ là một điểm đáng quan tâm, trong đó hai phương
diện của lời nguyện bồ tát, mošnpa và jukpa (muốn vào và
thực sự vào kỷ luật bồ tát) đi cùng nhau. Đấy là cách
làm thế nào bạn làm việc với bạn bè chúng sanh hữu tình.
Nếu bạn không chấp nhận một chút trách cứ và bất công
đến với bạn, không có gì vận hành được. Và nếu bạn
không thực sự thu hút vào tất cả sự trách cứ, mà nói
nó không phải là của bạn bởi vì bạn cũng tốt và làm
việc giỏi, thì bấy giờ chẳng có gì hoạt động được.
Thế bởi vì mọi người đang tìm một ai đó để trách móc,
đổ lỗi, và họ muốn trách móc bạn – không phải vì bạn
đã làm điều gì, mà vì họ hầu như nghĩ rằng bạn có một
điểm mềm yếu trong lòng bạn. Họ nghĩ rằng nếu họ trét
mứt hay mật ong hay keo dán lên bạn, bấy giờ bạn thực sự
có thể nhận nó và nói, “Ô-kê, trách nhiệm hư hỏng đó
là của tôi.”
Một
khi bạn bắt đầu làm điều đó, thì chính đó là luận lý
cao nhất và quyền lực nhất, việc tụng thần chú mạnh mẽ
nhất mà bạn có thể làm. Bạn có thể thực sự làm cho toàn
bộ sự việc được hữu hiệu. Bạn có thể uống thuốc
độc – bấy giờ phần còn lại của tình huống trở thành
y dược. Nếu không có ai sẵn sàng hấp thụ sự trách cứ,
nó trở thành một trận đấu bóng chằng chịt tương thuộâc
khổng lồ. Thậm chí nó không được chặt chẽ như một trận
đấu bóng hay, mà đầy nhựa dính và chất nhờn khắp quang
cảnh bên ngoài. Mọi người cố gắng đẩy nó cho người
khác và không có gì giải quyết được. Cuối cùng trận đấu
bóng này càng ngày càng lớn hơn. Bấy giờ nó gây ra những
thứ lật đổ và mọi thứ khác.
Xa
hơn là những vấn đề chính trị thế giới, người ta luôn
luôn cố gắng đổ lỗi và trách móc lên người nào khác,
chuyển trái banh khổng lồ dơ bẩn, trơn nhờn hôi thối với
đủ loại dòi bọ qua người khác. Người ta nói, “Không
phải của tôi, của anh đó.” Cực này nói nó thuộc về
cực kia, và cực kia nói nó thuộc về cực này. Ném nó lui
tới chẳng giúp gì cho ai. Thế nên ngay từ quan điểm lý thuyết
chính trị – nếu có một thứ như là chính trị trong đại
thừa hay trong Phật giáo – điều quan trọng cho mỗi cá nhân
là thu hút lấy sự trách móc không công bằng và làm việc
với nó. Điều này rất quan trọng và cần thiết.
Luôn
luôn bạn định quy lỗi cho một ai khác về mọi vấn đề
xảy ra trong đời bạn – chính trị, môi trường, tâm lý,
gia đình hay tâm linh. Có thể bạn không có một cá nhân riêng
biệt nào để trách cứ, nhưng bạn vẫn tiến hành cái luận
lý cơ bản rằng có cái gì đó sai lầm. Bạn có thể đến
nhà chức trách hay những lãnh tụ chính trị của bạn hay
bạn bè của bạn và đòi hỏi môi trường phải thay đổi.
Đó là cách thường xuyên của bạn để trách móc người
khác. Bạn có thể tổ chức một nhóm người họ cũng như
bạn, trách móc môi trường, và bạn có thể gom góp những
chữ ký cho một kiến nghị và đưa nó cho một lãnh tụ nào
có thể chuyển đổi môi trường. Hay trong việc ấy sự trách
móc của bạn có thể thuần túy về cá nhân : nếu chồng
hay vợ bạn yêu một người khác, bạn có thể yêu cầu anh
ta hoặc chị ta bỏ người tình của mình đi. Nhưng chuyện
gì càng liên hệ đến bạn bao nhiêu, bạn càng cảm thấy
bạn trong sạch và tốt đẹp, bạn chẳng bao giờ đụng đến
bạn cả. Bạn muốn duy trì chính mình một trăm phần trăm.
Bạn luôn luôn đòi hỏi ai đó làm cái gì cho bạn, trên mức
độ rộng hơn hay nhỏ hơn. Nhưng nếu bạn nhìn kỹ càng vào
điều bạn đang làm, nó trở thành không hợp lý.
Bản
văn nói : “Hướng mọi trách móc vào mình.” Lý do bạn cần
làm thế là vì bạn đã quá chừng quý trọng mình, thậm chí
tới mức hy sinh cuộc đời của người khác. Bạn đã quý
chuộng mình, đã bám giữ chính mình quá đỗi thân thiết.
Dù đôi khi bạn có thể nói bạn không thích chính bạn, dù
cả lúc ấy trong thâm sâu của lòng bạn, bạn biết rằng
bạn tự yêu thích mình đến độ bạn sẵn sàng ném người
khác xuống mương, xuống cống. Thực sự bạn sẵn sàng làm
thế. Bạn sẵn sàng để cho người nào hy sinh đời họ, tự
cho đi bản thân họ vì bạn. Dù gì đi nữa, thì bạn là ai
? Thế nên vấn đề mọi trách móc cần được hướng vào
chính mình. Châm ngôn này là châm ngôn thứ nhất về sự nhìn
thấy toàn bộ cuộc đời của bạn là phần của con đường
Bồ đề tâm tương đối.
Châm
ngôn này không có nghĩa là bạn không nên nói to lên. Nếu
bạn thấy cái gì rõ ràng hủy hoại người nào, bạn cần
nói ra. Nhưng bạn có thể nói ra trong hình thức hướng mọi
trách móc vào chính bạn. Vấn đề là làm sao trình bày nó
cho những người có thẩm quyền. Thường thường bạn đến
họ theo một cách thức gây hấn, truyền thống kiểu Mỹ.
Bạn đã được huấn luyện để nói cho chính bạn và cho
những người khác trong một kiểu “chúa tể của ngôn ngữ”.
Bạn bước ra với những tấm áp phích và than phiền : “Chúng
tôi không thích cái này.” Nhưng điều ấy chỉ làm cho những
người có thẩm quyền cứng cỏi hơn nữa. Có thể có một
cách tốt hơn nhiều để tiếp cận toàn bộ sự việc, một
cách thức thông minh hơn. Bạn có thể nói, “Có thể đó
là sự khó khăn của tôi, nhưng về cá nhân, tôi thấy rằng
nước này có mùi vị không tốt.” Bạn và các bạn bè của
bạn có thể nói, “Chúng tôi không cảm thấy tốt khi uống
nước này.” Nó có thể rất đơn giản và thẳng thắn. Bạn
không phải đi suốt toàn bộ công việc pháp luật. Bạn không
phải dùng đường lối “chúa tể của ngôn ngữ” với những
tuyên bố công khai mọi loại, “Tự do cho toàn thể nhân loại
!” hay đại loại như thế. Có khi bạn còn mang theo cả chó
và mèo. Tôi nghĩ toàn bộ sự việc có thể được tiến hành
rất nhẹ nhàng, hòa nhã.
Quả
thật có những vấn đề xã hội, nhưng cách để tiếp cận
nó không phải là “Tôi – một thực thể chính trị hợp
pháp”, hay “tôi – một người quan trọng trong xã hội”.
Dân chủ được xây dựng trên thái độ nói ra cho chính tôi,
cái tôi vô địch. Tôi nói cho nền dân chủ. Tôi muốn có
những quyền của riêng tôi, và tôi cũng nói cho những quyền
của những người khác. Bởi thế, chúng tôi không muốn có
loại nước này. Nhưng cách tiếp cận như thế không có tác
dụng. Điểm chính là kinh nghiệm của người ta về chính
họ có thể được tập họp lại, hơn là chỉ có một nhóm
hình thức. Đó là điều bạn làm khi thực hành ngồi.
Trong
một trường hợp cùng cực, nếu tôi thấy mình ở trong trung
tâm chỉ huy nơi có người bấm nút cho nổ tung trái đất,
tôi sẽ giết chết người sắp bấm nút phóng bom đi mà không
ngần ngại gì. Có lẽ tôi còn vui vì điều đó ! Nhưng điều
đó có hơi khác với điều chúng ta đang nói đây. Trong trường
hợp kia, bạn đang đối xử với giới hạn chịu đựng của
quyền lực xã hội tổng quát. Trong trường hợp này, chúng
ta chỉ nói về cách làm thế nào chúng ta có thể giải quyết
một cách tập thể thế giới này, để cho nó có thể trở
thành một xã hội giác ngộ. Tạo ra một xã hội giác ngộ
đòi hỏi sự trau dồi chung bản chất ấy.
13
Hãy
biết ơn mọi người.*
Châm
ngôn này cũng liên hệ với kušndzop, hay thực tại tương đối.
Nó muốn nói rằng, không có thế giới này chúng ta không thể
đạt đến giác ngộ, cũng không có hành trình nào. Nếu từ
chối thế giới, chúng ta cũng từ chối nền tảng và từ
chối con đường. Tất cả lịch sử quá khứ của chúng ta
và tất cả bệnh loạn thần của chúng ta đều liên quan với
những người khác trong một số ý nghĩa. Tất cả những kinh
nghiệm của chúng ta đặt nền trên những người khác một
cách căn bản. Chừng nào chúng ta có một cảm thức về sự
thực hành, có một số thấu hiểu rằng chúng ta đang dẫm
bước trên con đường, mỗi một chi tiết nhỏ ấy có vẻ
là những chướng ngại cho chúng ta đều trở thành một phần
thiết yếu của con đường. Không có chúng, ta không thể đạt
đến cái gì cả – chúng ta không có sự chuyển đổi trở
lại, chúng ta không có gì để làm việc với, tuyệt đối
không có gì để làm việc với.
Thế
nên trong một nghĩa, mọi sự xảy ra chung quanh thế giới của
chúng ta, mọi khó chịu và khó khăn, đều quan trọng quyết
định. Không có những người khác chúng ta không thể đạt
đến giác ngộ – thật vậy, thậm chí chúng ta không thể
dẫm bước trên con đường. Nói cách khác, chúng ta có thể
nói rằng nếu không có tiếng ồn bên ngoài trong khi ngồi
thiền thì chúng ta không thể phát triển chánh niệm. Nếu
không có những đau đớn trong thân thể chúng ta, chúng ta không
thể đạt đến chánh niệm, chúng ta không thể thiền định
thực sự. Nếu mọi sự đều êm đẹp và trong vắt, thì chẳng
có gì để phải dụng công. Mọi sự đều trong trắng tinh
khôi. Nhờ mọi kết cấu ấy quanh chúng ta, chúng ta được
phong phú. Bởi thế, chúng ta có thể ngồi và thực hành và
thiền định. Chúng ta có một điểm quy chiếu – tinh tấn,
chán nản hay cái gì khác. Mọi sự đều liên hệ với con
đường.
Ý
tưởng của lời dạy đặc biệt này là thực sự đem máu
và thịt của chúng ta cho những người khác. “Nếu người
muốn tôi, hãy lấy tôi, sở hữu tôi, bắt giữ tôi, điều
khiển tôi – hãy tiến lên, làm điều đó. Hãy nắm lấy
tôi. Tôi nằm dưới sự sử dụng của bạn. Bạn có thể
chưởi mắng tôi, đại tiện vào tôi, cắt tôi thành từng
mảnh hoặc làm thứ gì bạn muốn. Không có sự giúp đỡ
của bạn tôi sẽ không có cách gì để tiến hành cuộc hành
trình của tôi cả.” Đấy là một việc rất, rất mạnh
mẽ. Thật vậy, một trong những câu nói hay của Lang-ri Thangpa,
một vị thầy Kadam, là : “Tôi thấu hiểu rằng mọi lỗi
lầm đều thuộc về tôi và mọi đức hạnh đều thuộc về
những người khác, thế nên tôi không thể trách móc ai ngoài
tôi.”
Có
một câu ngắn nhớ được thì rất tốt. Ở Tây Tạng chúng
tôi thường treo nó và những câu như thế trên cửa. Câu nói
ấy là : “Lợi lộc và chiến thắng cho những người khác
; thiệt hại và thất bại thuộc về phần tôi.” Câu ấy
nghe có vẻ tự hành xác nếu bạn nhìn nó theo cách sai. Đặc
biệt, ý tưởng phổ thông của Công giáo là đổ lỗi mọi
thứ lên chính mình như một quan niệm tội lỗi tối hậu.
Nhưng trong trường hợp này, chúng ta không nói về tội lỗi
hay chúng ta đã làm điều gì sai lầm kinh khủng. Nó chỉ thấy
những sự vật như chúng thực là. “Lợi lộc và chiến thắng”
nghĩa là cái gì khuyến khích chúng ta bước đi trên con đường
của Pháp – nó được tạo ra bởi thế giới. Tuy nhiên đồng
thời chúng ta luôn luôn tràn đầy thiệt hại và thất bại
– nó là của chúng ta. Chúng ta không phải hờn dỗi vì điểm
này, mà chúng ta phải tự hào vì nó. Nó là một quan niệm
phi thường rằng chúng ta thực sự là những người không
sợ hãi – rằng lợi lộc là của những người khác và thiệt
hại là phần của chúng ta. Điều ấy vĩ đại, kỳ diệu
biết bao ! Không phải chúng ta cảm thấy yếu ớt lúc thức
dậy sáng sớm, rồi cuối ngày khi chúng ta uống vài ly cho
bụng đầy và tương đối thấy thoải mái, chúng ta mới cảm
thấy điều đem lại sự không sợ hãi đó. Nó là chân thật
một cách nền tảng.
Những
câu này không đặt nền tảng trên tội lỗi hay trừng phạt,
giống như quan niệm một số tôn giáo. Nhưng quả thực là
chúng ta có khuynh hướng đổ tội cho những người khác về
phần lớn những chuyện do chính chúng ta làm – nếu khác
đi thì chúng ta đã không rơi vào xáo trộn điên đảo. Tại
sao không người nào khác bị rối rắm mà chúng ta lại bị
? Cái gì gây ra điều ấy ? Phải có cái gì ở nơi chúng ta,
rõ ràng là thế. Chúng ta có thể viết lý lịch của chúng
ta và nhờ luật sư để chứng minh chúng ta đúng, còn người
nào đó sai – nhưng đó cũng chính là sự rắc rối rồi ta
phải trải nghiệm. Nó là rắc rối, khó khăn hoàn toàn. Và
cố gắng chứng minh vụ việc của chúng ta cách nào cũng vô
hiệu. Bất cứ trường hợp nào, mướn một luật sư để
giác ngộ thì không thể có. Không thể được. Đức Phật
tự ngài không có luật sư.
Châm
ngôn “Hãy biết ơn mọi người” tự động đi theo một
khi chúng ta hướng mọi trách móc vào mình. Chúng ta có một
cảm giác rằng nếu những người khác không hiện hữu để
quấy rối chúng ta, chúng ta sẽ không hướng mọi trách móc
vào chính chúng ta chút nào. Tất cả chúng sanh, tất cả người
trong thế giới, hay đa số đó, có một vấn đề trong liên
hệ với “chính tôi”. Không có những người khác, chúng
ta sẽ không có dịp may nào để phát triển vượt khỏi cái
ta. Thế nên ý tưởng ở đây là cảm thấy biết ơn rằng
những người khác đang trình diện cho chúng ta những chướng
ngại to lớn – thậm chí những đe dọa hay thách thức. Điểm
cốt yếu là cảm kích điều đó. Không có họ chúng ta không
thể theo đuổi con đường tí nào.
Đi
trên con đường Pháp là biết cư xử với cơn loạn thần
của chúng ta. Nhưng nếu không có những người loạn thần,
chúng ta không thể nào làm việc với bệnh loạn thần của
chính chúng ta. Bởi thế, chúng ta cần cảm thấy rất biết
ơn những người ấy. Họ thực sự là những người đẩy
chúng ta trên con đường Pháp. Tôi sẽ kể cho bạn nghe một
câu chuyện nhỏ về Atisha, ngài là mạch nguồn của những
lời dạy này. Atisha được mời đến Tây Tạng để dạy
và ngài đã nghe rằng người Tây Tạng thì rất tốt, hòa
nhã, hiếu khách. Thế nên ngài quyết định ngài sẽ đem theo
với ngài một đối tượng cho sự thực hành – một thị
giả, một người hầu xứ Bengal tính tình rất rất dễ nóng
giận. Bởi vì những người Tây Tạng quá tốt lòng và thiện
lành, Atisha đem người hầu xứ khác để ngài có thể thực
hành lojong về anh ta. Kỳ thú là về sau ngài nói ngài không
cần người ấy nữa, vì những người Tây Tạng không tốt
như ngài đã nghe nói.
Nếu
ai đó làm tổn thương bạn, bạn cần cám ơn họ đã cho bạn
cơ hội để thực hành. Nhưng bạn không cần phải tự trưng
bày ra để bị tổn thương, đó là một kiểu tử đạo. Bạn
không phải yêu cầu được tổn thương, nhưng khi bạn gặp
một tình huống như vậy, bấy giờ mọi điều chúng ta đã
bàn nên được áp dụng. Không phải bạn thu xếp toàn bộ
sự việc. Thay vì thế, khi có ai trách mắng bạn, bấy giờ
bạn sẽ nghĩ, “Việc ấy là của tôi.” Bạn không phải
trách những hoàn cảnh như vậy và bạn cũng không phải chăm
bón cho chúng. Bạn chỉ sống cuộc đời bạn, rất lành mạnh,
và bạn không làm người nào tổn thương. Nhưng nếu có ai
làm tổn thương bạn, bạn biết làm cái gì. Rất đơn giản.
Chúng ta không nói phải cố ý nhảy vào một lưỡi gươm,
như thế chỉ là hiểu sai. Thay vì thế bạn tạo một tương
quan chặt chẽ với người làm tổn thương bạn.
Ở
một mức độ phát triển hơn nữa, có thể làm dừng lại
một kẻ tấn công bằng sức mạnh để ngăn cho người ấy
khỏi mang nghiệp đã làm tổn hại bạn. Nhưng đó là một
mức độ rất cao của lòng thiện cảm. Chẳng hạn có một
câu chuyện về một vị thầy Tây Tạng bị những kẻ thù
phục kích, họ định giết ngài trong khi ngài trên đường
đi dạy một khóa học. Ngài rút lưỡi dao găm của ngài và
nói, “Đây là răng một con cọp”, và ngài đâm gã thủ
lĩnh, giết nó ngay tại chỗ. Mọi người đều quá xúc động,
họ để cho ngài đi. Đó là một lối tiếp cận hoàn toàn
khác. Tôi nghĩ nó quá nguy hiểm cho chúng ta khi đi xa như thế.
Chừng nào bạn biết bạn đang làm gì, ô-kê, nhưng loại tiếp
cận ấy làm chiến tranh leo thang.
“Thiệt
hại và thất bại” không thực sự là đau đớn trong ý nghĩa
nền tảng, nó chỉ là một trò chơi. Đó là bạn không được
cái bạn muốn, thế nên bạn cảm thấy bực tức, những chuyện
nhỏ ngang qua đời chúng ta luôn luôn. Nó không liên can gì
đến khổ đau thực sự. Chúng ta luôn luôn không được điều
chúng ta muốn và chúng ta luôn luôn thất vọng vì chuyện đó.
Chúng ta bực tức đối với vật gì hay người nào hay ngay
cả với chính chúng ta. Nếu chúng ta tiêu hao tiền bạc của
chúng ta hay nếu chúng ta đụng vào xe của người nào hay thứ
gì thuộc loại ấy. Đó không phải là khổ đau thực sự,
đó chỉ là sự quấy nhiễu.
Toàn
bộ sự tiếp cận này xử lý với mọi loại quấy nhiễu
và biến đổi chúng và làm việc với chúng như là một hành
trình khả thi đến giác ngộ. Chúng ta không đang nói về khổ
đau nền tảng. Tôi nghĩ một trong những vấn đề của chúng
ta, đặc biệt trong tính khí Tây phương, là chúng ta hay quá
làm to chuyện toàn bộ sự việc. Chúng ta làm rắc rối toàn
bộ sự việc một cách không cần thiết, và chúng ta không
có ý tưởng làm thế nào chơi những trò chơi một cách thích
đáng. Nó không phải là chuyện lớn, nó là một trao đổi.
Cuối cùng bạn ghi tên bạn vào hàng để trống. Đó là một
tình huống, hoàn cảnh vô tư – kể cả cái chết. Hãy nhớ
điều đó. Hãy rút ra một câu châm ngôn từ đó. Bất cứ
cái gì xảy ra, bạn chớ lấy đó làm nghiêm trọng. Bất cứ
gì hiện đến, bạn chớ xem như là một vấn đề tối hậu,
cuối cùng, mà chỉ như một ánh đèn flash nhất thời đến
và đi.
Điều
này rõ ràng cần một số hiểu biết và tu hành. Một người
không thể thực hành điều ấy mà không thảo hoạch trước
cuộc hành trình và đã làm việc với trạng thái tâm thức
của họ. Cũng có một cần thiết là một mức hiểu biết
về kinh nghiệm tánh Không, nói một cách căn bản là như vậy.
Không có nền tảng nào cả để bắt đầu với, thế nên
mọi sự xảy ra trong cái không nền tảng thì có thể “làm
việc được”. Những sự việc ấy thì thực sự rất mạnh
mẽ – chúng thường xảy ra một cách nào đó. Khi tôi còn
là một thiếu niên, nó thực sự chuyển hóa tôi rất nhiều.
Nó rất trực tiếp, rất đơn giản và giúp ích – đặc biệt
khi bạn đối mặt với những quấy nhiễu buồn bực.
14
Thấy
vọng tưởng tức là bốn thân
Là
sự bảo vệ vô thượng của tánh Không.
Trong
châm ngôn “Thấy vọng tưởng tức là bốn thân / Là sự
bảo vệ vô thượng của tánh Không,” câu hỏi căn bản là
bảo vệ cho ai, bảo vệ cái gì ? Mọi loại câu hỏi khác
đều bao hàm trong đó, nhưng căn bản chúng ta đang nói về
việc có một thấu hiểu hay chứng ngộ cách thế chúng ta
tri giác những sự vật như chúng là.
Trong
tri giác, trước hết có một cảm thức chờ đợi hay rỗng
rang. Nơi đó có sự không chắc chắn như làm sao để tri giác
những sự vật, không phải là biết làm sao để khiến cho
một tình huống riêng biệt nào đó thành nắm bắt được.
Rồi chúng ta có một ý niệm rõ ràng làm sao để tổ chức
những sự vật. Thứ ba, chúng ta bắt đầu tạo một tương
quan giữa hai cái đó. Và cuối cùng chúng ta có một kinh nghiệm
toàn bộ về cái toàn thể. Điều ấy tạo thành bốn trạng
thái của tâm thức mà chúng ta đi qua, bốn giai đoạn của
tâm thức hay tiến trình tâm thức. Bốn tiến trình này liên
hệ với bốn thân : dharmakaya (pháp thân), sambhogakaya (báo thân),
nirmanakaya (hóa thân) và svabavikakaya (tự tánh thân).
Bản
chất pháp thân của phản ứng của chúng ta với thế giới
thì thường thường không chắc chắn, mơ hồ. Những chiến
lược chưa được thành hình, kế hoạch hoàn toàn chưa tổ
chức – nó chỉ là một cảm thức rỗng rang căn bản. Phương
diện hóa thân là giai đoạn thứ hai của tiến trình này.
Ở điểm này có một loại sáng tỏ nào đó trong ấy chúng
ta có một nắm bắt căn bản về tình huống một cách tổng
quát. Và để tạo một nối kết giữa sự bất định hay
rỗng rang với sự sáng tỏ, chúng ta cần báo thân, nó là
cầu nối qua khoảng trống giữa hai lãnh vực và nối kết
chúng với nhau. Thế nên pháp thân và hóa thân được nối
kết với nhau nhờ báo thân. Theo truyền thống đặc biệt
này, đó là cách hiện thực để nhìn vào những sự vật.(1)
Tự
tánh thân là sự thấu hiểu toàn bộ sự vật, kinh nghiệm
toàn thể bao quát. Khi chúng ta bắt đầu lóe sáng tâm thức
chúng ta để chớp ảnh một đối tượng, khi chúng ta có một
nắm bắt về nó, khi chúng ta bắt đầu thấu hiểu một liên
hệ nào giữa những thân – cái toàn thể đó gọi là tự
tánh thân.
Tự
tánh thân là một trạng thái tổng quát của hiện hữu, và
trạng thái ấy của tâm thức cũng chứa đựng cái được
biết như là siêu vượt khỏi sanh, diệt và trụ. Siêu vượt
khỏi sanh nghĩa là tiến trình tư tưởng không xảy ra được.
Không có cái gì như là sự sanh của một tâm thức hay sự
sanh của một tư tưởng xảy ra trong trạng thái hiện thể
ấy của chúng ta cả, chỉ đơn giản là hiện hữu và rỗng
rang. Siêu vượt khỏi diệt nghĩa là không có tư tưởng nào
thực sự lắng xuống, trừ phi chúng được thay thế hay gối
lên bởi một cái khác. Và siêu vượt khỏi trụ nghĩa là
những tư tưởng không trụ ở đâu cả, dù cho có một loại
cái gì đó tạm thời theo duyên có mặt. Thế nên ý tưởng
về tự tánh thân là thấy vượt khỏi sanh diệt và trụ của
tiến trình tư tưởng.
Lý
do bốn thân – pháp thân, báo thân, hóa thân và tự tánh thân
– trở thành một sự bảo vệ vĩ đại là : chúng ta bắt
đầu thấu hiểu cách thức tâm thức của chúng ta hoạt động
như thế nào, trạng thái của hiện thể chúng ta là gì. Chúng
ta thấu hiểu rằng bất cứ cái gì xảy đến trong tâm thức
chúng ta luôn luôn thuộc về dòng chảy ấy, hồ sơ lai lịch
ấy, bản chất ấy. Đau đớn thình lình, giận dữ thình lình,
hiếu chiến thình lình, đam mê thình lình – bất cứ cái
khởi lên luôn luôn theo thể thức tương tự, tiến trình tương
tự. Mọi sự luôn luôn tương hợp với bốn thân. Dù cho chúng
ta có không xem tự tâm của chúng ta là hoàn toàn siêu việt
và giác ngộ hay tỉnh thức, thì khuôn mẫu của nó vẫn là
khuôn mẫu của bốn thân. Những tư tưởng khởi lên như vậy
: bạn không thể trông chừng sự sanh ra của nó, chúng có
đó như vậy. Chúng chết đi, chúng như vậy (Vidyadhara búng
ngón tay). Chúng không trụ, chúng như vậy (Vidyadhara lại búng
ngón tay). Toàn bộ sự việc là một tiến trình tự nhiên.
Châm
ngôn này có vẻ hơi tối nghĩa, nhưng nó liên quan với ý niệm
Bồ đề tâm tuyệt đối về việc hiểu tâm thức của bạn
bằng cách nghiên cứu và canh chừng chính bạn và thực hành
shamatha và vipashyana. Bằng cách thực hành những kỷ luật
này, bạn bắt đầu chứng nghiệm rằng yếu tính của tâm
bạn là trống không, rằng bản tánh của tâm bạn là sáng
và trong, và rằng sự diễn đạt hay biểu lộ của tâm bạn
là hoạt động. Sự thấu hiểu này chỉ có thể đến khi
bạn đang ngồi trên đệm thiền. Chỉ ở trên đệm thiền
bạn có thể thấy rằng tâm thức bạn không có nguồn gốc.
Những tư tưởng khởi lên không từ nơi đâu, bạn có thể
phán đoán điều ấy bằng cách nhìn vào chúng dầu xa bao lâu.
Bạn cũng không biết những tư tưởng đi về đâu. Tư tưởng
đến và tan biến, chỉ như thế. Hơn nữa bạn cũng không
biết những tư tưởng của bạn trụ chỗ nào – đặc biệt
khi bạn đã phát triển một cảm thức căn bản của chánh
niệm và tỉnh giác.
Khi
bạn tiếp tục thực hành chánh niệm và tỉnh giác, sự hình
như lộn xộn và hỗn loạn trong tâm thức bạn bắt đầu
có vẻ vô lý. Bạn bắt đầu nhận ra rằng những tư tưởng
của bạn không có chỗ sanh thực sự, không nguồn gốc, chúng
đúng là xuất hiện như Pháp thân. Chúng không sanh. Và những
tư tưởng của bạn không đi đâu cả, chúng không diệt. Bởi
thế, tâm thức của bạn được thấy là Báo thân. Và hơn
nữa, không có hoạt động nào thực sự xảy ra trong tâm thức
bạn, thế nên ý niệm cho là tâm thức bạn có thể trụ vào
cái gì cũng bắt đầu tỏ ra vô lý, bởi vì không có gì để
trụ vào. Bởi thế tâm thức bạn được thấy là Hóa thân.
Hợp toàn bộ sự việc với nhau – hoàn toàn không có sanh,
không có diệt và không hành động hay trụ ở – bởi thế
tâm thức bạn được thấy là Tự tánh thân. Vấn đề không
phải là làm cho tâm thức bạn thành một cái trống không.
Chính như là một kết quả của siêu chánh niệm và siêu tỉnh
giác mà bạn bắt đầu thấy rằng không có gì thực sự xảy
ra – dù đồng thời bạn cũng biết rằng một số sự vật
đang xảy ra.
Chứng
ngộ rằng sự lộn xộn và hỗn loạn trong tâm thức bạn
không có nguồn gốc, không dứt diệt và không trụ ở đâu
cả là sự bảo vệ tốt nhất. Tánh không là sự bảo vệ
tốt nhất bởi vì nó cắt đứt sự vững chắc, cứng đặc
của những tư tưởng của bạn. “Tôi có tư tưởng vững
chắc của tôi” hay “Đây là tư tưởng quan trọng của tôi”
hay “Tư tưởng của tôi rất hấp dẫn” hay “Trong những
tư tưởng của tôi, tôi hình dung một điều vĩ đại nào
đó” hay “Con người ‘ngôi sao’ đó bước xuống và nói
chuyện với tôi” hay “Thành Cát Tư Hãn hiện diện trong
trí tôi” hay “Chính Jesus Christ hiển lộ trong tâm thức tôi”
hay “Tôi có một dự án khổng lồ để làm sao xây dựng
một đô thị, hay làm sao viết một vở nhạc kịch lớn hay
làm sao chinh phục thế giới” – chúng có thể là mọi thứ,
từ mức độ ấy xuống đến : “Làm sao tôi kiếm sống sau
sự việc này ?” hay “Đâu là cách tốt nhất cho tôi để
làm sắc bén nhân cách của tôi hầu tôi được nổi bật
trong thế giới ?” hay “Tôi ghét những vấn đề rắc rối
của tôi làm sao !” Mọi dự phóng và tư tưởng và ý niệm
đều rỗng không ! Nếu bạn nhìn phần đằng sau của chúng,
thì cũng giống như một chiếc mặt nạ. Nếu bạn nhìn phần
đằng sau của một chiếc mặt nạ, bạn thấy nó là một
phần trống. Có thể có vài lỗ trống, nơi mũi và miệng
– nhưng nếu bạn nhìn đằng sau nó, nó chẳng giống cái
gì là bộ mặt, nó chỉ là một thứ tạp nhạp với những
lỗ trống trong đó. Chứng ngộ điều đó là sự bảo vệ
tốt nhất của bạn. Bạn thấu hiểu rằng bạn không là một
nghệ sĩ sáng tạo vĩ đại nhất nữa, rằng bạn không là
cái gì trong những ý niệm lớn lao của bạn. Bạn nhận ra
rằng bạn chỉ đang dàn dựng những sự việc không có thật,
vô lý. Đó là sự bảo vệ tốt nhất để cắt đứt mê lầm,
vọng tưởng.
Châm
ngôn này liên hệ với việc đem mọi sự vào con đường đạo
ở mức độ Bồ đề tâm tuyệt đối. Nó rất tinh tế. Có
khả năng rằng khi bạn nghe câu đó, nếu bạn chỉ đơn giản
thiền định về bốn thân, mọi sự rồi sẽ được bảo
vệ, bạn có thể nghĩ rằng thằng bé choai choai của bạn
sẽ được bảo vệ, những anh chị của bạn, tài sản và
xe cộ của bạn được bảo vệ. Nhưng sự bảo vệ này hoàn
toàn không phải ở cấp độ đó ; nó là sự bảo vệ của
tánh Không, đó là bạn không có chỗ nào để trụ nữa, bạn
lơ lửng trong tánh Không. Nó là một cách tiếp cận rất thông
tuệ toàn bộ sự vật. Bạn không nói về tính cách vô ngã
ở đây, bạn đang cố gắng tìm ra sự che chở cho bạn. Nhưng
bạn thấy ra tự thân bạn là vô ngã và chứng ngộ rằng
không có cái gì để bảo vệ cả. Thế nên sự bảo vệ của
bạn là không nền tảng. Nó là một tiếp cận rất có tính
y học lâm sàng trong ý nghĩa nào đó. Không thể có mầm mống
ở đâu cả khi bạn không có nền tảng, miếng đất để
gieo giống vào trên đó.
Ý
niệm bốn thân không đặc biệt cho mật thừa, nó là tư tưởng
cao cấp của đại thừa. Ba thân xuất hiện trong lần chuyển
bánh xe Pháp thứ ba trong Uttaratantra của Maitreya(2) và trong
Kinh Kim Cương.(3) Thế nên nó không đặc biệt là một ý niệm
mật thừa. Nhưng đồng thời, nó là mật thừa trong một số
ý nghĩa. Nếu tôi có thể nói thế, ý niệm đối xử với
những došn và với những hộ pháp chịu ảnh hưởng nhiều
bởi mật thừa. (Xem châm ngôn tiếp theo “Bốn thực hành
là cái tốt nhất của những phương pháp.”) Toàn bộ sự
việc đặt nền trên những nguyên lý đại thừa, nhưng có
một dòng ngầm những kỹ thuật được mượn từ kim cương
thừa. Thế nên cái hiểu được trình bày từ quan điểm đại
thừa, nhưng những kỹ thuật là mật thừa.
15
Bốn
thực hành là cái tốt nhất của những phương pháp.
Châm
ngôn này là một câu khó hơn, thật vậy, nhưng nó có nhiều
ý nghĩa. Nó ám chỉ đến những hoạt động đặc biệt, để
làm thế nào tiếp tục cuộc đời hàng ngày của bạn, được
dịch là “cái tốt nhất của những phương pháp”. Những
phương pháp tốt nhất này gồm bốn phạm trù : tích tập
công đức, buông bỏ hạnh xấu, cúng dường cho những došn
và cúng dường cho những hộ pháp (dharmapala).
Tích
tập công đức
Sự
áp dụng thứ nhất là tích tập công đức, không phải theo
nghĩa chúng ta tích tập cái gì cho công việc của bản ngã
chúng ta, mà từ quan điểm cố gắng liên hệ với cái gì
là thiêng liêng hay thánh trí. Chúng ta đang làm một nối kết
với những lãnh vực thiêng liêng của thực tại : cái ý niệm
đích thực của những giáo lý hay pháp, và sự hiện hữu
của cái minh mẫn căn bản, nó được biểu trưng trong các
tác phẩm nghệ thuật, hình tượng, bức họa, sách, mọi loại
biểu tượng và mọi loại màu sắc. Chúng ta phối hợp chúng
ta với cái ấy. Tạo công đức là làm việc với những hoàn
cảnh như thế và vận dụng cố gắng và năng lực của chúng
ta càng nhiều càng tốt. Một cảm thức kính ngưỡng trở
thành rất quan trọng.
Sự
tích tập công đức cũng đặt nền trên sự tin tưởng trọn
vẹn vào ba loại khích lệ. Ba cái này không phải là những
châm ngôn ; chúng là những dòng khích lệ cho châm ngôn, có
thể nói như thế. Ba dòng khích lệ này là :
Xin
sự ban phước của ngài nếu tốt hơn cho con là bị bệnh.
Xin
sự ban phước của ngài nếu tốt hơn cho con là được sống
còn.
Xin
sự ban phước của ngài nếu tốt hơn cho con là chết.
Đó
là ý niệm rốt ráo về sự tạo ra công đức. Điều này
nói rằng, chúng ta không thể có một chuỗi công đức hoàn
toàn chứa đầy toàn bộ lãnh vực một cách tuyệt đối.
Trước khi chúng ta xin, bình bát khất thực của chúng ta phải
trống trơn ; khác đi thì không có ai cho chúng ta cái gì cả.
Để nhận cái gì, trước tiên cần có một cảm thức rỗng
rang, từ bỏ, cho đi. Nó không liên quan với chính bạn, nó
chỉ là để cho sự vật tự chúng hiện hữu. Bất cứ cái
gì xảy đến, hãy biết ơn nó. Không phải bạn đang nói đến
người nào ; thay vì thế, nó cũng giống như nói, “Hãy để
cho trời mưa” hay “Hãy để cho đất rung chuyển.” Đó
là một lời pháp thuật, đơn giản như thế. Có điều gì
thực sự xảy ra khi bạn làm thế, nhưng bạn không nhắm riêng
đến người nào. Tôi không biết tôi có thể nói điều ấy
một cách ngôn ngữ học như thế nào : “Xin sự ban phước
của ngài”, hay “Hãy để nó xảy ra.”
Theo
truyền thống, người ta tạo ra công đức bằng cách tạo
những tượng, tháp và cúng dường cho tăng già – cho đi tiền
bạc của chúng ta và khuyến khích loại tạo dựng này. Nhưng
chúng ta không chỉ cho đi năng lực nhợt nhạt của chúng ta.
Chúng ta cũng cố gắng buông bỏ sự ích kỷ của chúng ta.
Chẳng hạn, nếu bệnh tật là tốt hơn cho chúng ta, chúng
ta hãy để nó như vậy. “Xin hãy để nó là sự ban phước
của chúng ta.”
Chúng
ta có thể xem lối tiếp cận này là phương cách của một
người rất chất phác chấp nhận một cách tuyệt đối mọi
sự vào mọi lúc. Nhưng trong trường hợp này, sự tiếp cận
là một cách cực kỳ thông minh, nó khiến chúng ta tiến lên
và cởi mở hoàn toàn chúng ta với tình huống. Điều này
có vẻ là một điểm rất quan trọng – chúng ta không thể
chỉ có một niềm tin mù quáng. Chúng ta phải có một niềm
tin thông minh buông bỏ sự nắm giữ lại của chúng ta. Nắm
giữ lại tạo ra một loại tinh thần buôn bán : “Nếu tôi
không có được điều này, bấy giờ tôi cần thỉnh cầu
Phật, Pháp, Tăng – một cách ẩn dụ, một cách hiện thực,
hay thứ gì khác. Nếu tôi không được lại tiền bạc, có
lẽ tôi đã bị lừa.” Nhưng ở đây không phải là ăn miếng
trả miếng như vậy, mà là để cho sự vật theo cách của
chính chúng : “Bất cứ cái gì xảy ra, tôi sẽ buông bỏ
sự bám giữ lại này.” Nó rất đơn giản. Nó cực kỳ đơn
giản và thực tiễn. Đó đích xác là sự tạo ra hay tích
tập công đức.
Chúng
ta không thể tích tập công đức nếu chúng ta có một cảm
thức kiêu hãnh và ngạo mạn đàn ông rằng chúng ta đã có
đủ chân lý và đức hạnh tích tập được công đức và
bây giờ chúng ta sắp gom góp thêm nữa. Người tích tập công
đức phải khiêm hạ và sẵn sàng cho đi hơn là sẵn sàng
gom góp. Một người càng sẵn sàng cho đi thì sự tích tập
công đức càng hiệu quả. Đó là tại sao có ba châm ngôn
phụ hay ba câu nhắc nhở này. Chúng ta có thể thực sự gọi
nó là những thần chú, như thế thì tốt hơn. Bản thân những
châm ngôn là những nhắc nhở, thế thì những thần chú này
là những nhắc nhở cho những nhắc nhở.
Khi
chúng ta nói về công đức, chúng ta không nói về sự gom góp
cái gì cho bản ngã các bạn mà về sự vặn ngược căn bản
làm thế nào trừng trị bản ngã của bạn. Cái lý là bạn
luôn luôn muốn sung sướng, nhưng cái bạn có được luôn
luôn là đau khổ. Tại sao điều ấy xảy ra ? Nó xảy ra vì
chính hành động tìm kiếm sung sướng đã đem lại đau khổ.
Bạn luôn luôn có một cư xử sai lầm và tệ hại – luôn
luôn. Bạn có một cư xử tệ hại bởi vì bạn bắt đầu
từ một chỗ sai lầm.
Điểm
cốt yếu của sự thực hành hay áp dụng này là bạn cần
hy sinh cái gì đó hơn là chỉ tìm cầu sung sướng. Bạn phải
bắt đầu ở chỗ đúng ngay từ bước đầu. Để làm thế,
bạn phải tránh khỏi những hành động xấu xa và trau dồi
những hành động đức hạnh. Để làm thế, bạn phải triệt
hạ tất cả hy vọng và sợ hãi khiến cho bạn không hy vọng
có được cái gì từ sự thực hành của bạn và bạn không
sợ hãi gì những kết quả xấu.
Bất
cứ cái gì xảy ra, hãy để nó xảy ra – bạn không trông
mong gì về sung sướng hay đau khổ. Như những khấn nguyện
đi cùng với sự thực hành đặc biệt này nói : “Nếu tốt
hơn cho tôi là chết, hãy để cho tôi chết ; nếu tốt hơn
cho tôi là còn sống, hãy để cho tôi sống. Nếu tốt hơn
cho tôi là sung sướng, hãy để cho tôi có sung sướng ; nếu
tốt hơn cho tôi là đau khổ, hãy để cho tôi có đau khổ.”
Đây là cách tiếp cận rất trực tiếp, như lao xuống một
hồ bơi lạnh cóng giữa mùa đông. Nếu đó là điều tốt
nhất cho thể chất của bạn, hãy tiến lên và làm đi. Nó
là việc có một nối kết trực tiếp với thực tại, rất
đơn giản, không có một kế hoạch nào. Đặc biệt, nếu
có một tham muốn hay sợ hãi nào, bạn hành động theo chiều
ngược lại : bạn nhảy vào sợ hãi của bạn và bạn tránh
khỏi tham muốn của bạn. Nó cũng y như sự tiếp cận nhận
lấy đau khổ của người khác và cho họ hạnh phúc của bạn.
Bạn không ngạc nhiên nữa khi chúng ta có một cách thức lạ
lùng để đối xử với toàn bộ sự việc – nhưng nó luôn
luôn hiệu quả. Chúng ta có thể nói nó hiệu quả một trăm
phầm trăm, còn khoảng hai trăm phần trăm, tôi không dám chắc.
Buông
bỏ hạnh xấu
Cái
thứ hai của bốn thực hành là buông bỏ những hạnh xấu
hay những ngu ngốc loạn thần của bạn. Như một kết quả
của tích tập công đức, bởi vì bạn đã học làm tiêu tan
hy vọng và sợ hãi, bạn đã phát triển một cảm thức an
hòa và minh mẫn. Đã làm như thế, ý niệm căn bản của việc
buông bỏ những hạnh xấu là có tính cách tâm lý : bạn nhìn
lại và bạn nói, “Trời ơi ! Tôi đã quá ngu ngốc, thậm
chí tôi cũng không hiểu được nó !” Một thái độ như
vậy phát triển bởi vì bạn ít ra đã đạt đến một mức
độ tinh vi nào đó. Khi nhìn trở lại, bạn bắt đầu thấy
bạn đã rối rắm lộn xộn như thế nào. Lý do bạn không
ghi nhận nó trước kia là do loại ngu dốt nào đó. Thế nên
điểm cốt yếu là nhìn lại và hiểu rằng bạn đã làm và
sẽ không làm trở lại cùng lỗi lầm ấy nữa. Tôi nghĩ điều
ấy rất thẳng tắt.
Chúng
ta đã dịch danh từ dikpa của Tây Tạng thành “những hành
động xấu” hay “những ngu ngốc loạn thần” thay vì “tội
lỗi”.(4) Từ “tội lỗi” có đủ loại hàm ý. Dikpa nghĩa
đen là tội lỗi nhưng không phải theo truyền thống Thiên
Chúa giáo hay Do Thái giáo. “Những ngu ngốc loạn thần”
có những nội dung tâm lý hơn là thuần túy đạo đức. Khi
sự loạn thần bắt đầu khởi lên, bạn bắt đầu đi theo
tiến trình này và bắt đầu làm điều quái dị. Nó có vẻ
kỳ dị và khác thường, nhưng nó thoát thai từ sự lông bông
theo quan điểm này. Thế nên loạn thần là xương sống và
sự trôi dạt lông bông là những hoạt động.
Bản
thân sự ngu ngốc có thể kết thúc thành mọi loại tội ác
và hủy diệt. Điều chúng ta đang bàn là cái nguyên lý căn
bản của sự loạn thần này nó gây ra mọi loại hoạt động
trôi dạt lông bông. Chúng ta đang sám hối điều đó. Chúng
ta không nói đến sự sám hối như đi đến một vị thầy
tu trong một phòng nhỏ và nói, “Thưa Cha, con đã làm một
việc kinh khủng vào hôm qua, con nên làm gì bây giờ ?” Và
vị tu sĩ nói, “Hãy nói điều ấy hai mươi lần và chúng
tôi có thể để bạn ra đi.” Rồi bạn có thể trở lại
đây lần tới, nói điều tương tự và vị ấy có thể nói,
“Bạn đã dở tệ trong quá khứ, thế nên lần này bạn nói
nó năm mươi lần...” Nhưng trong trường hợp này, nó là
một tình cảnh cá nhân hơn. Trong cách sám hối Phật giáo,
không có chỗ nào đặc biệt để bạn vào thú tội cho những
hành động xấu hay những ngu ngốc loạn thần của bạn. Có
một cách với bốn bước để làm toàn bộ sự việc, nó
không phải là thú tội mà đúng hơn là cất bỏ tội lỗi
hay những ngu ngốc loạn thần.
Bước
thứ nhất là mệt mỏi chán ngán với chứng loạn thần
của chính mình. Đây là việc quan trọng đầu tiên. Nếu bạn
không nhàm chán việc lập đi lập lại cùng sự việc, luôn
luôn như thế, nếu bạn thích thú phát triển nó, chắc chắn
bạn không bao giờ có cơ may để làm gì với nó. Nhưng một
khi bạn bắt đầu mệt mỏi, chán ngán nó, bạn nói, “Tôi
không nên làm điều đó” hay “Giờ đây tôi sắp tiến hành
trở lại”, hay “Tôi nên biết rõ hơn”, hay “Tôi không
cảm thấy tốt lắm”. Đấy là những loại ghi nhận, lưu
ý của bạn, đặc biệt khi bạn thức dậy vào buổi sáng
với một thành quả nặng nề. Tốt, đó là dấu hiệu bạn
có thể thực sự sám hối những ngu ngốc loạn thần của
bạn. Bạn hồi tưởng lại và nói điều bạn đã làm hồi
hôm hay hôm qua hay điều bạn đã làm trước đó. Mọi thứ
ấy đều rất xấu hổ, thật kinh khủng. Bạn cảm thấy không
muốn ra khỏi giường bạn. Bạn không muốn ra khỏi nhà hay
đối mặt với thế giới.
Cái
cảm giác đích thực của sự xấu hổ toàn diện này, bực
dọc toàn diện này, nói cách thô thiển, cái cảm giác toàn
bộ ruột gan bạn bị thối mục, là bước đầu tiên. Cái
cảm giác ân hận này không thuần túy là một ân hận xã
hội – nó là một ân hận cá nhân. Và cảm giác hổ thẹn
ấy bắt đầu thấm qua từ tủy đến xương và ra tận óc.
Ánh sáng mặt trời qua cửa sổ cũng bắt đầu chế giễu
chúng ta. Cách kiểu của sự việc này là như vậy. Đó là
bước thứ nhất. Và sự biểu hiện của những cái đó được
xem là một dẫn hướng rất tốt lành đến cái thứ hai.
Bước
thứ hai là tránh khỏi sự sai lầm ấy hay là hối hận
“Từ bây giờ trở đi tôi không làm điều đó nữa. Tôi
sẽ từ bỏ điều tôi đã làm.” Hối hận thường xảy ra
trong chúng ta khi chúng ta bắt đầu cảm thấy rằng chúng ta
đã làm một việc rắc rối trước kia : “Tôi có còn muốn
làm điều đó nữa không ? Có thể nó là chuyện đùa, nhưng
vẫn tốt hơn là không làm điều đó.” Khi chúng ta nghĩ càng
nhiều về nó, có vẻ việc lập lại nó là một ý tưởng
điên rồ. Thế nên có một cảm thức tránh khỏi nó, ngăn
ngừa không làm nữa. Đây là bước thứ hai để sám hối
hay cắt bỏ những hành động xấu hay những ngu ngốc loạn
thần của chúng ta.
Bước
thứ ba là quy y. Chúng ta nhận thức rằng đã làm những
điều như vậy, chúng không đặc biệt tùy thuộc vào sự
tha thứ của một cá nhân nào. Đây có vẻ là một khác biệt
với truyền thống tôn giáo độc thần. Không ai có thể lau
sạch sự loạn thần của bạn bằng cách nói, “Ta tha thứ
cho con.” Hoàn toàn có thể người mà bạn tha thứ sẽ không
tấn công bạn nữa, nhưng người ấy có thể sẽ giết một
người khác. Từ quan điểm này, trừ phi toàn bộ sự ngu ngốc
gây ra tội ác hoàn toàn chìm lặng, còn sự tha thứ chẳng
giúp gì. Nó không chỉ không giúp ích, thậm chí nó còn có
thể khuyến khích bạn phạm tội hơn nữa. Từ cách tiếp
cận Phật giáo, sự kiện một người đã xí xóa cho bạn
những ngu ngốc loạn thần của bạn, đã có một tương giao
tốt với bạn, hiểu và tha thứ cho bạn sẽ gây cảm hứng
để bạn mắc thêm vào tội lỗi. Thế nên trong trường hợp
này, tha thứ có nghĩa là người ta phải tự chấm dứt hoàn
toàn. Người phạm tội phải dừng lại hoàn toàn hơn là tội
lỗi được tha thứ.
Riêng
chỉ những hành động không hoàn toàn là chuyện lớn lao ;
những tác nhân căn bản khiến một người phạm vào một
tội mới là quan trọng hơn. Người ta đã bắt đầu hiểu
ra điều này, ngay cả trong thế giới hiện đại. Chúng ta
bắt đầu nhận thức rằng chúng ta phải cải hóa những người
trong tù ngục và cho họ những huấn luyện thêm nữa để
họ không trở lại những ngu ngốc gây ra tội ác của họ.
Thường thường họ chỉ được cho ăn ở, và khi bản án
kết thúc họ có thể có vui thú bởi vì đã thi hành xong án,
họ được tha thứ, và mọi sự đều tốt đẹp. Nếu họ
lại đói, không tiền, không thức ăn, chỗ ở, họ có thể
làm bậy trở lại. Thế nên ý tưởng cải tạo thì rất dối
gạt. Theo lịch sử, những người Phật giáo không bao giờ
có nhà tù, ngay cả với hoàng đế A Dục. Ngài là người
đầu tiên bãi bỏ tù ngục.
Ý
tưởng quy y là hoàn toàn quy phục. Hoàn toàn quy phục đặt
nền trên ý niệm rằng bạn phải từ bỏ người phạm tội
hơn là tội lỗi được tha thứ. Đó là ý tưởng quy y Phật
như là gương mẫu, Pháp như là con đường và Tăng như là
người đồng hành – từ bỏ chính mình, từ bỏ sự chấp
chặt của mình.
Bước
thứ tư là hoàn thiện hơn tiến trình quy phục này. Tới
điểm này, một người là hoàn toàn quy phục, dâng hiến,
và mở rỗng rang toàn diện. Một người cần thực sự dấn
thân vào một sự cầu xin thoát khỏi hy vọng và sợ hãi.
Điều này rất quan trọng. “Nếu hy vọng là rất đáng mong
cầu, mong cầu rằng tôi không quá hy vọng. Nếu sợ hãi là
rất đáng sợ hãi, mong rằng tôi không quá sợ hãi.” Siêu
vượt khỏi cả hy vọng và sợ hãi, bạn bắt đầu phát triển
một cảm thức tự tin rằng bạn có thể đi xuyên qua toàn
bộ sự việc. Đó là năng lực của hoạt động để cắt
bỏ những hành động xấu của mình.
Thế
nên bước thứ nhất là một cảm thức ghê tởm với việc
bạn đã làm. Bước thứ hai là kiềm chế, tránh khỏi nó.
Bước thứ ba, khi hiểu thế rồi, bạn bắt đầu quy y Phật,
Pháp, Tăng – dâng cúng cơn loạn thần của bạn. Đã dâng
cúng sự loạn thần hay là quy y thật sự, bạn bắt đầu
tự cam kết làm một người đi trên đường đạo hơn là
một công việc nào hay người kiếm tiền trên con đường.
Tất cả những tiến trình này liên kết với nhau. Và cuối
cùng, không có hy vọng và sợ hãi nào : “Nếu là hy vọng,
hãy để cho hy vọng của chúng ta tồn tại ; nếu là sợ hãi,
nguyện sự sợ hãi của chúng ta cũng tồn tại.” Đó là
bước thứ tư.
Cúng
dường cho những Došn
Mục
ba này theo truyền thống gọi là “cho các hồn ma ăn uống”.
Nó ám chỉ những hồn ma gây ra bệnh tật, bất hạnh hay thứ
gì đại loại, gọi là došn trong tiếng Tây Tạng. Ý tưởng
là nói với họ : “Tôi cảm thấy rất biết ơn các người
đã gây hại cho tôi trong quá khứ, và tôi muốn mời các người
trở lại hoài để làm mãi chuyện đấy cho tôi. Tôi rất
biết ơn các bạn đã đánh thức tôi dậy từ giấc ngủ của
tôi, từ sự lười biếng của tôi. Ít ra khi tôi bị cảm
cúm, tôi cảm thấy khác nhiều với sự uể oải và ngu si
bình thường của tôi, sự trầm mình bình thường trong lạc
thú của tôi.” Bạn yêu cầu họ đánh thức bạn dậy càng
nhiều càng tốt. Bất kỳ khi nào những tình huống khó khăn
xảy đến, bạn bắt đầu cảm thấy biết ơn. Tới điểm
này bạn nhìn mọi thứ gì đánh thức bạn dậy đều là tốt.
Bạn nhìn cái gì đem lại cho bạn cơ hội cho sự chánh niệm
hay tỉnh giác, cái gì đụng chạm đến bạn, là tốt, hơn
là luôn luôn cố gắng tránh mọi vấn đề.
Theo
truyền thống, người ta cúng cho những ma quỷ thức ăn, hay
torma. Torma tiếng Tây Tạng nghĩa là “cúng bánh”. Nếu bạn
đã xem một lễ Tây Tạng, bạn có thể thấy những cái bánh
nhỏ ngộ nghĩnh làm bằng bơ và bột. Chúng gọi là torma.
Chúng tượng trưng ý tưởng quà tặng hay đồng xu. Một quan
niệm tương tự ở Tây phương là bánh sinh nhật, nó được
trình bày theo một kiểu nhất định, được trang trí nghệ
thuật. Thế nên chúng ta cho những tặng phẩm tới những người
gây hại chúng ta, nghĩa đen là những người tạo ra một ảnh
hưởng xấu lên chúng ta.
Sự
thực hành thứ nhất, sự sám hối những tội lỗi, chỉ là
sự chán ngán tự nhiên cơn loạn thần liên tục của mình.
Sự loạn thần của mình không đặc biệt là một sự kiện
bước ngoặt, nó chỉ là một điều tự nhiên xuất hiện,
không phải là một cuộc tấn công lớn. Nhưng một došn là
một cuộc tấn công lớn hay một tình huống động đất thình
lình làm cho bạn suy nghĩ gấp đôi. Một bất ngờ đụng đến
bạn và những sự việc thình lình bắt đầu xảy ra cho bạn.
Thế nên cái gì đáng kể xảy ra. Cái thứ nhất theo cách
nào đó là một cái bướu của lạc đà hơn là một vách
đứng. Nó chỉ đơn giản là những gập ghềnh, những đau
khổ. Áp dụng thứ hai nói về chán ngán mệt mỏi với những
vấn đề riêng của bạn. Bạn có một cảm giác về sự loạn
thần của bạn diễn tiến trong mọi lúc. Nó giống như người
đang đau đầu : cơn đau xảy ra trở đi trở lại. Bạn mệt
mỏi với nó. Bạn mệt mỏi phải làm cùng những việc như
nhau trở đi trở lại. Sự thực hành hay áp dụng thứ ba nói
rằng chúng ta cần đem torma cho những người hại chúng ta,
những došn.
Došn
là rất bất ngờ, rất trực tiếp. Mọi sự đang bình thản
và thình lình một cuộc tấn công xảy ra : bà nội bạn tước
quyền thừa kế của bạn, hay có một thay đổi vận may. Došn
thường thường tấn công thình lình ; họ chi phối bạn một
cách tức thời. “Khống chế” thật sự là từ mật thiết
nhất của chữ došn. Họ có nghĩa tương đương với sự khống
chế, chiếm hữu vì họ tấn công bạn thình lình và bất
ngờ. Thình lình bạn rơi vào một tâm trạng phiền muộn tồi
tệ dù mọi sự vẫn đang ngon lành.
Đề
tài này thật là một chủ đề rất rắc rối. Chúng ta không
chỉ nói về việc cố gắng nuôi dưỡng kẻ làm chúng ta hoảng
sợ, những nhân vật thần tiên chống lại chúng ta : “Chúng
ta hãy cho họ vài cái bánh nhỏ này và họ sẽ ra đi. Nó liên
quan với toàn thể ý niệm Tây Tạng về došn, cái này có
từ truyền thống Bošn(5) nhưng cũng có vẻ áp dụng được
cho truyền thống Phậât giáo. Danh từ došn nghĩa là một cảm
thức hay kinh nghiệm về một cái gì hiện hữu chung quanh chúng
ta thình lình làm cho chúng ta sợ hãi một cách vô lý, tức
giận nóng nảy một cách vô lý, nổi dục và đam mê một
cách vô lý hay đồi bại một cách vô lý. Những tình huống
loại đó xảy ra cho chúng ta suốt đời. Có một loại cúm
hay sốt xảy đến với chúng ta suốt đời, nó khống chế,
chiếm hữu chúng ta. Chúng ta kinh hãi mà không có lý do gì.
Chúng ta tức giận và bồn chồn không có lý do. Chúng ta dâm
đãng không có lý do. Chúng ta thình lình kiêu ngạo không có
lý do. Nó là một loại tấn công tâm thần, được gọi là
došn. Nếu chúng ta tiếp cận điều đó từ một quan điểm
bên ngoài, thì quả có một số hiện tượng khiến chúng ta
làm thế. Mở rộng lý luận này, chúng ta có thể nói rằng
có những ma quỷ hiện hữu bên ngoài chúng ta : “Con ma Washington
đánh vào chúng ta, khiến chúng ta chạy đua vào ghế tổng
thống”, hay bất cứ thứ gì đại loại.
Cảm
giác về một thứ loạn thần ẩn nấp luôn luôn chờ cơ hội
vọt ra gọi là došn. Nó xảy ra cho chúng ta mọi lúc. Thình
lình chúng ta bật khóc, tuyệt đối chẳng vì lý do gì. Chúng
ta la khóc và la khóc và suy sụp hoàn toàn. Và tới một lúc
nào chúng ta muốn tiêu diệt toàn bộ thế giới và đá tung
mọi người ra ngoài. Chúng ta muốn hủy hoại căn nhà của
chúng ta. Nếu chúng ta có vợ hay con, chúng ta có thể làm đo
ván họ. Chúng ta đến những cực đoan, dĩ nhiên. Và đôi
khi, došn không đi cùng với chuyện đó.
Những
došn giống như một loại cúm xảy ra cho chúng ta và thường
không báo trước. Nó đến với chúng ta mọi lúc, đôi khi
yếu đôi khi mạnh. Ý tưởng là hiểu và nhận thức rằng
những sự việc như vậy xảy ra trong chúng ta, tiến trình
loạn thần bắt đầu bộc phát trong chúng ta. Chúng ta có thể
cám ơn vì điều đó. Chúng ta có thể nói điều ấy xảy
ra là rất tuyệt : “Thật tuyệt khi bạn giật lại món nợ
mà tôi đã mắc với bạn, bạn tịch thu món nợ mà tôi đã
mắc với bạn. Xin hãy trở lại và làm lại điều đó lần
nữa và lần nữa. Xin hãy trở lại và làm lại như thế.”
Chúng ta không nhìn toàn bộ sự việc như là một trò gian
dối hay cách cư xử, rằng nếu chúng ta cho họ đủ, họ sẽ
ra đi – họ phải trở lại nữa.
Và
chúng ta nên mời họ trở lại, những thăng trầm của những
cuộc tấn công thình lình của sự loạn thần. Nó hoàn toàn
nguy hiểm : những bà vợ có thể sợ vì bị tối sầm trở
đi trở lại, những ông chồng có thể sợ vì không thể vào
nhà họ hay có được một bữa ăn tối ngon lành. Nhưng vẫn
quan trọng là mời họ trở đi trở lại, để thực hiện
những khả năng của họ. Chúng ta không tìm cách thoát khỏi
họ. Chúng ta cần ghi nhớ và cám ơn điều đó đã xảy ra.
Thường thường một sự bộc phát như vậy trùng hợp với
một cơn yếu đuối về thể chất, như thể chúng ta sắp
bị cảm cúm hay cảm lạnh.
Đôi
khi bạn không cẩn thận. Bạn không ăn thức ăn tốt và bạn
ra ngoài không áo choàng và bạn cảm lạnh. Hay bạn không để
ý bước chân và bạn trượt làm bể cái dĩa hay bạn gãy
xương sườn. Khi nào có một chỗ hở nhỏ, các došn có thể
chui vào, theo cách chúng ta bị cảm lạnh. Sự việc luôn luôn
xảy ra theo cách đó. Bạn có thể có một sự kiểm soát trọn
vẹn toàn bộ sự việc, nhưng mặt khác, những vấn nạn cũng
có sự kiểm soát trọn vẹn, điều đó gây ra sự mất chánh
niệm. Thế nên một số došn tấn công bạn. Ý tưởng là
nếu bạn hoàn toàn làm việc với chánh niệm tỉnh giác hai
mươi bốn giờ một ngày thì bạn sẽ không có những došn,
bạn không có cảm cúm, bạn không mắc cảm lạnh. Nhưng một
khi bạn không ở mức độ này, bạn có mọi điều xảy ra.
Bạn phải đối mặt với sự kiện này. Có thể nói rằng
ở mức độ chánh niệm tỉnh giác, những vấn đề như vậy
tuyệt đối không có. Đó là một quảng cáo cho chánh niệm
tỉnh giác.
Bạn
chào mời những tấn công như vậy khi nào bạn mất chánh
niệm. Chúng là những nhắc nhở và bạn biết ơn bởi vì
chúng nói cho bạn biết bạn đang không chánh niệm. Chúng luôn
luôn được chào đón : “Chớ đi, xin hãy trở lại.” Nhưng
đồng thời bạn tiếp tục với chánh niệm của bạn. Cũng
như khi bạn sống với vị thầy của bạn. Bạn không tìm
cách tránh vị thầy. Nếu bạn đang tốt đẹp, bạn luôn luôn
có một loại điểm quy chiếu với vị thầy. Nhưng tới lúc
nào vị thầy có thể hét lên với bạn, “A !” và bạn vẫn
phải làm việc với tiếng hét đó. Bạn đón chào những tấn
công đó bởi vì sự có mặt của chúng có nghĩa là có cái
gì đến với bạn trong ý hướng của bạn, cái gì đang diễn
tiến thuận lợi.
Thường
thường điều xảy ra với chúng ta là chúng ta có một thời
khóa biểu và mọi sự diễn biến bình thản và lý tưởng,
mọi sự đều tốt và không có vấn đề gì – và một ngày
chúng ta thình lình bồn chồn, một ngày chúng ta quá xuống
tinh thần. Mọi sự đều êm ả và bình thường và rồi có
những gập ghềnh lên xuống này, những hoàn cảnh nhỏ làm
“xẹp lốp” này trong đời chúng ta. Những lỗ rò nhỏ,
những bộc phát nhỏ xảy ra mọi lúc. Ý tưởng là cho những
lực lượng này thức ăn torma.
Nếu
chúng ta làm điều đó một cách cụ thể, chắc chắn chúng
ta luôn luôn có hứng khởi. Ý tưởng cúng torma là một cái
gì tượng trưng trong trường hợp này. Tôi không nghĩ chúng
ta có thể thoát khỏi những thăng trầm bằng cách cho họ
một ít đồ cúng theo lối Tây Tạng. Điều ấy là gượng
gạo. Tha thứ cho tôi, nhưng việc ấy là thực, quả vậy.
Nó cần một thái độ hơn là chỉ làm vậy. Nếu chúng ta
có một cảm giác thực sự về sự cúng cái gì nó đại diện
cho đời sống chúng ta và bày nó ra như một biểu lộ hay
chứng tỏ sự rỗng rang và cho đi của chúng ta, điều đó
ô-kê. Nhưng điều đó chỉ có ở một mức độ cao hơn. Riêng
người ta trong môi trường này không được huấn luyện quen
với loại thế giới nghi lễ ấy, thế nên người ta có rất
ít cảm giác về những việc như vậy. Những nghi lễ trở
thành một mê tín hơn là một buổi lễ thiêng liêng. Điều
này đã trở thành vấn đề. Số ít người đã kinh nghiệm
điều gì thuộc bản chất này và nó trở thành có ý nghĩa.
Nó nghĩa là chúng ta phải thực sự cam kết hơn là chỉ có
ai rắc nước lên chúng ta, cố gắng làm chúng ta cảm thấy
tốt đẹp và hạnh phúc. Chúng ta không kinh nghiệm sự sâu
xa của nghi lễ đến mức độ mà chúng ta có thể thực sự
bày ra những bánh cho các došn đến độ họ không còn tấn
công chúng ta nữa. Để làm thế chúng ta cần sự thích hợp
hơn nữa trong trạng thái của con người chúng ta cũng như
một cảm thức về sự minh mẫn bao la.
Cúng
dường cho những Hộ pháp
Mục
thứ tư là cầu xin các Hộ pháp, những vị bảo vệ giáo
pháp, giúp đỡ bạn trong sự thực hành của bạn. Điều này
không hoàn toàn giống như cầu nguyện vị thánh bổn mạng
của bạn, xin ngài bảo đảm cho bạn vượt sông an toàn. Hãy
để tôi cho bạn một ý niệm rất bình thường, căn bản
về điều này. Bạn có guru gốc của bạn, bổn sư của bạn,
ngài hướng dẫn bạn và ban phước cho bạn, để bạn có
thể trở thành một đệ tử xứng đáng. Ở một mức độ
thấp hơn, bạn có những vị bảo vệ giáo pháp, họ sẽ đẩy
bạn trở lại vào trong kỷ luật của bạn nếu bạn đi lạc
vào những vấn đề rắc rối nào. Một cách nào đó, họ
giống như những người chăn cừu : nếu một con cừu định
chạy đi, người chăn cừu hướng nó trở lại đàn. Bạn
biết rằng nếu bạn đi trệch, những hộ pháp sẽ dạy bạn
làm sao trở lại. Họ sẽ cho bạn mọi thứ thông điệp. Chẳng
hạn, khi bạn đang ở giữa một cơn giận dữ và hiếu chiến
ghê gớm và bạn trở nên một người hoàn toàn không tương
hợp với Pháp, bạn có thể đóng sầm cửa lại và kẹt trong
đó. Điều ấy dạy bạn cái gì đó. Nó là cái nguyên lý
dồn ép bạn trở lại thế giới mà bạn thuộc về. Nếu
bạn có ý định dù nhỏ nhất bước ra khỏi thế giới của
Pháp, những hộ pháp sẽ ngăn bạn trở lại, hú bạn trở
lại với thế giới đó. Đây là ý nghĩa cầu xin chư hộ
pháp để giúp đỡ bạn trong thực hành của bạn.
Các
hộ pháp đại diện cho tánh giác căn bản của chúng ta. Tánh
giác ấy không chỉ được chúng ta trầm vào trong thiền định
mà còn hiện hành hay chăm sóc cho chúng ta sau thiền định.
Đó là lý do tại sao theo truyền thống, chúng ta có sự tụng
ca vào cuối ngày, khi đến giờ đi ngủ hay ăn tối và khi
đến giờ thức dậy buổi sáng. Ý tưởng là từ sáng đến
tối, cuộc đời chúng ta được điều phục hay bảo đảm
thuần túy bằng thực hành và học hỏi suốt mọi lúc. Thế
nên cuộc đời chúng ta thì thiêng liêng.
Cuối
ngày, hoàn toàn có khả năng chúng ta có thể bị gián đoạn
với hoạt động thiêng liêng và hoạt động thiền định.
Vào lúc đó, hoàn toàn có thể mọi loại loạn thần quá mức
tấn công chúng ta. Thế nên đó là thời gian nguy hiểm nhất.
Bóng tối liên hệ với quỷ ma trong một nghĩa nào đó, không
phải như quan niệm Satan của Thiên Chúa giáo, mà quỷ ma như
là một loại loạn thần ẩn nấp nó có thể được thả
lỏng và bởi thế có thể gây ra những chướng ngại cho chứng
ngộ. Hơn nữa, sự thực hành thiền định của chúng ta có
thể buông lơi – thế nên để không tạo ra một sự gián
đoạn hoàn toàn với thực hành ngồi thiền hay kỷ luật,
để tiếp tục, chúng ta cầu xin những hộ pháp này làm việc
với chúng ta. Họ không khác gì hơn chúng ta. Họ là sự biểu
lộ của trí thông minh hay của tâm thức chúng ta, nó thường
trực hiện diện. Và công việc đặc biệt của họ là phá
hủy mọi thứ bạo động hay mê lầm xảy ra trong chúng ta.
Thường
thường mê lầm liên hệ nhiều với hiếu chiến, sân giận.
Nó là phi pháp. Pháp không có một ý nghĩa hiếu chiến ; nó
chỉ đơn thuần là chân lý. Nhưng chân lý có thể bị lệch
hướng hay bị thách thức hay xác định lại bởi đủ loại
ý niệm vọng tưởng. Chân lý có thể bị cắt thành từng
mảnh bởi sự hiếu chiến cá nhân của mình. Cũng có khả
năng rằng sự hiếu chiến cá nhân của chúng ta không được
xem là một hiếu chiến dơ bẩn mà là một hiếu chiến rất
lễ phép, thoa một lớp mật và sữa. Hiếu chiến như vậy
được biết như là một trò ma mãnh của bản ngã, và nó
cần được cắt tiệt.
Theo
sự áp dụng đặc biệt này, rất cần thiết làm việc với
loại năng lực ấy. Để làm thế chúng ta đã phát triển
đủ loại tụng tán ở Tây phương cũng như ở Tây Tạng.
Chúng ta có một số lượng lớn sadhana về nhiều mahakala mà
công việc của các ngài là cắt đoạn sự nói tầm phào lầm
bầm của tiềm thức khát máu, nó không cho phép bất kỳ cảm
thức nào về sự rỗng rang và đơn giản, bình an hay dịu
dàng. Ý tưởng là liên hệ với tính dịu dàng ở điểm này.
Và để đưa sự dịu dàng vào hiệu lực, có thể nói như
vậy, chúng ta phải cắt tiệt sự hiếu chiến cùng lúc. Khác
đi, sẽ không có sự dịu dàng. Những bài tán tụng truyền
thống tượng trưng cho ý tưởng rằng kẻ nào đã xâm phạm
sự dịu dàng phải được cắt đứt bằng chính sự dịu
dàng. Khi sự dịu dàng trở nên quá gay gắt, nó có thể trở
thành rất mãnh liệt và nó cắt đứt ngay. Bằng cách cắt
đứt, nó tạo ra thêm sự dịu dàng. Ấy cũng giống như khi
một bác sĩ nói rằng đây không phải là cái sắp làm bạn
bị thương, nó chỉ là một mũi chích nhỏ. Một phát chích
nhỏ và bạn được chữa lành. Đó là loại ý tưởng như
vậy.
Một
hiểu thêm về những mahakala hay những hộ pháp chúng ta mời
đón liên hệ với sự trình bày những giáo lý và làm sao
nó có thể được xử lý trong tâm thức của một cá nhân.
Đó là một trong những quan tâm lớn nhất của chúng ta –
hay ít nhất là sự quan tâm lớn nhất của tôi. Nếu giáo
lý không được trình bày thích hợp hay trình bày sai hay theo
một kiểu nhát gan nào đó – nếu giáo lý chân thật không
được trình bày, chúng ta có thể bị đánh gục vì nó. Thế
nên chúng ta cầu xin những hộ pháp ban cho chúng ta sự giúp
đỡ và hồi chuyển qua những giáo lý, qua sự phá sản, qua
những bất hạnh có tổ chức, qua được thành tỷ phú hay
nói chung qua công việc. Nó gồm mọi sự. Chúng ta đang có
ở đây một số cơ may. Chúng ta không có cơ may vật chất
nhiều bằng có cơ may tâm linh. Đấy có vẻ là điểm căn
bản của chuyện chúng ta đang làm. Và cúng dường đồ cúng
đến những hộ pháp là điều chúng ta đã nói để phù hợp
với sự bình giảng này của Jamgošn Kongtrušl.
16
Bất
cứ điều gì bạn gặp không ngờ,
hãy
nối kết nó với thiền định.
Có
ba bộ châm ngôn về cách làm sao để đem mọi chuyện xảy
ra hàng ngày vào sự thực hành của bạn trên con đường.
Bộ thứ nhất liên hệ với Bồ đề tâm tương đối và gồm
những châm ngôn “Hướng mọi trách móc về mình” và “Hãy
biết ơn mọi người”. Bộ thứ hai liên hệ với Bồ đề
tâm tuyệt đối và bao gồm châm ngôn “Thấy vọng tưởng
tức là bốn thân / Là sự bảo vệ vô thượng của Tánh Không.”
Bộ thứ ba là những hoạt động chuyên biệt về sự đi theo
con đường. Châm ngôn đứng đầu của bộ thứ ba này là
“Bốn thực hành là cái tốt nhất của những phương pháp.”
Và đã bàn luận ba phạm trù này, có một kết thúc, đó là
châm ngôn này “Bất cứ điều gì bạn gặp không ngờ, hãy
nối kết nó với thiền định.” Nó không nhất thiết là
cái kém nhất, nhưng là cái chót nhất. Đó là châm ngôn chót
của điểm thứ ba về tu tâm, nó liên hệ với sự đem kinh
nghiệm của bạn vào con đường một cách thích đáng, và
nó thực sự là một điều rất hứng thú.
Trong
châm ngôn này, chữ nối kết cho cảm giác ghép bánh mì với
bơ. Bạn ghép hay nối kết những hoàn cảnh, tình huống với
thiền định, hay với shamatha – vipashyana. Ý tưởng là bất
cứ cái gì xảy đến không phải là một đe dọa thình lình
hay một khuyến khích hay một thứ nhảm nhí nào. Thay vì thế,
nó chỉ đơn giản đồng hành cùng với kỷ luật của mình,
sự tỉnh giác của lòng bi của mình. Nếu ai đó đánh bạn
vào mặt, tốt lắm. Hay ai đó định đánh cắp chai Coca của
bạn, cũng tốt lắm. Điều này là cái gì có vẻ chất phác
ngây thơ, nhưng đồng thời nó rất mạnh mẽ.
Nói
chung thính giả Tây phương có một vấn đề rắc rối với
loại sự việc này. Nó nghe như thương yêu – và – vô tư,
theo kiểu đạo đức của các híp-pi “Mọi sự đều ô-kê.
Mỗi người là tài sản của mỗi người, mỗi vật là tài
sản của mỗi người. Bạn có thể chia xẻ bất cứ điều
gì với bất cứ ai. Chớ để cho bản ngã nắm lấy gì cả.”
Nhưng đây là cái gì hơn thế. Nó không phải là thương yêu
– và – vô tư. Nó đơn giản là rỗng rang và chính xác,
đồng thời biết rõ lãnh địa của bạn. Bạn đang liên hệ
với sự loạn thần của riêng bạn hơn là mở rộng gieo rắc
sự loạn thần ấy đến những người khác.
“Bất
cứ điều gì bạn gặp” có thể hoặc là một tình huống
sung sướng hay đau khổ – nhưng nó luôn luôn đến trong hình
thức một bất ngờ. Bạn nghĩ rằng bạn đã ổn định những
công việc của bạn một cách thích đáng : bạn có một căn
phòng nhỏ và bạn yên ổn ở thành phố New York ; những bạn
bè bao quanh, và mọi sự đều ô-kê ; công việc đều tốt.
Thình lình, không từ đâu cả, bạn nhận ra rằng bạn cạn
tiền ! Hay bạn trai hay bạn gái của bạn bỏ bạn. Hay sàn
nhà bị sập. Ngay những tình huống đơn giản có thể đến
hoàn toàn như một bất ngờ : bạn đang giữa sự bình an,
thực hành an định, mọi sự đều tốt – và rồi có ai nói,
“Mẹ mày !” Một lời nhục mạ không từ đâu. Mặt khác,
có thể người nào đó nói, “Tôi nghĩ anh thật là một người
kỳ quái”, hay bạn bất ngờ thừa kế một triệu đô la
ngay khi bạn đã dựng lại căn nhà bị sập. Sự bất ngờ
có thể đến theo cả hai cách.
“Bất
cứ điều gì bạn gặp” ám chỉ mọi sự cố bất ngờ như
thế. Đấy là tại sao châm ngôn nói rằng bất cứ điều
gì bạn gặp, tình huống nào bạn vượt qua, cần được nối
kết ngay với thiền định. Bất cứ cái gì làm rung động
bạn cần được nhập thân vào con đường không trì hỗn,
ngay tức khắc. Bằng sự thực hành shamatha – vipashyana, những
cái có vẻ chướng ngại có thể được điều hợp ngay tại
chỗ nhờ tia lửa thình lình của tỉnh giác. Ý tưởng là
không phản ứng ngay với những tình huống khổ hay sướng.
Thay vào đó, một lần nữa, người ta cần suy nghĩ về sự
trao đổi của cho và nhận, hay kỷ luật tonglen. Nếu bạn
thừa hưởng một triệu đô la, bạn cho nó đi, nói rằng,
“Cái này không dành cho tôi. Nó thuộc về tất cả chúng
sanh.” Nếu bạn bị bồi thường một triệu đô la, bạn
nói, “Tôi chịu trách nhiệm, và bất cứ cái gì tốt đẹp
sinh ra từ việc này thì thuộc về tất cả chúng sanh.”
Rõ
ràng, có thể có vấn đề khi bạn mới nghe tin xấu hay tốt.
Vào lúc đó bạn thốt lên, “A a !” (Vidhyadhara há hốc mồm).
Cái a a ! này là một loại Bồ đề tâm tối hậu. Nhưng sau
đó, bạn cần trau dồi Bồ đề tâm tương đối để làm
cho toàn bộ sự việc thành thực tiễn. Bởi thế, việc bạn
thực hành cho và nhận là cần thiết. Điểm quan trọng là
khi nhận, bạn nhận cái xấu nhất ; và khi cho, bạn cho cái
tốt nhất.
Khi
bạn bắt đầu ổn định với loại thực hành này, với cấp
độ đứng đắn và tốt đẹp này, bạn bắt đầu cảm thấy
rất thoải mái và thư thả trong thế giới của bạn. Nó thực
sự xua tan hoàn toàn nỗi lo âu của bạn, vì bạn không giả
bộ chút nào. Bạn có một cảm thức chung rằng bạn không
phải phòng thủ và bạn không phải tấn công ai. Có sự điều
hợp nhiều bên trong bạn. Và từ đó sanh ra một loại năng
lực : điều bạn nói bắt đầu có ý nghĩa thực sự với
người khác. Toàn bộ sự việc vận hành rất kỳ diệu. Không
cần phải trở thành người hy sinh tử đạo. Nó vận hành
rất ngoạn mục.
Đến
đây chấm dứt sự bàn luận của chúng ta về kỷ luật đem
bất kỳ cái gì xảy ra trong đời sống chúng ta vào con đường,
nó liên kết với nhẫn nhục và bất bạo động.