Phật
(lý tưởng đạt đến của Bồ tát), bậc thành tựu tất
cả mọi khả năng có thể có của một con người, được
gọi là Lưỡng Túc Tôn, bậc đã thành tựu viên mãn hai sự
tích tập trí tuệ (tự giác) và sự tích tập phước đức
phụng sự chúng sinh (giác tha), nghĩa là bậc Trí và Bi trọn
vẹn.
I.Ý
nghĩa Bồ tát
Bồ
tát, từ người mới bắt đầu (sơ phát tâm) cho đến những
vị dã nhiều đời sống theo hạnh Bồ tát (Đại Bồ tát)
đều có một hướng đi rõ rệt: nỗ lực sống giải thoát
và giác ngộ bằng chính cuộc đời mình và dùng cuộc đời
đó để giúp đỡ những người khác giải thoát và giác ngộ,
và hơn nữa, chính trong nỗ lực giúp đỡ những người khác
giải thoát và giác ngộ mà vị ấy giải thoát và giác ngộ.
Như vậy, Bồ tát có hai công việc chính:
- Tự
mình giải thoát và giác ngộ, đây là công việc của trí
tuệ soi thấy tánh không hay vô tự tánh của tất cả các
hiện tượng (các pháp), của tất cả không gian và thời gian.
Công việc này được gọi là tích tập trí tuệ.
- Phụng
sự chúng sinh (để họ giải thoát và giác ngộ), đây là
công việc của lòng đại bi. Sở dĩ gọi là “đại”, bởi
vì đó không phải là công việc của một đời mà là công
việc của một số đời bằng số đời của tất cả chúng
sinh, công việc của một đời sống “không bỏ chúng sinh”
và do đó mà “không sợ sinh tử luân hồi”. Phụng sự,
làm lợi lạc cho chúng sinh trải qua nhiều đời, trong mọi
mặt, công việc này được gọi là tích tập phước đức.
Và cũng vì điều này Bồ tát được gọi là “Anh hùng”.
Bởi
vậy, Phật (lý tưởng đạt đến của Bồ tát), bậc thành
tựu tất cả mọi khả năng có thể có của một con người,
được gọi là Lưỡng Túc Tôn, bậc đã thành tựu viên mãn
hai sự tích tập trí tuệ (tự giác) và sự tích tập phước
đức phụng sự chúng sinh (giác tha), nghĩa là bậc Trí và
Bi trọn vẹn. Cũng do sự tích tập phước đức mà một vị
Phật có Sắc thân với đủ 32 tướng tốt, và do sự tích
tập trí tuệ vị ấy có Pháp thân, sự giải thoát tự do
rốt ráo, đồng nhất giữa tất cả những vị Phật.
Bồ
tát là một đời sống hòa hợp được hai cái mâu thuẫn:
một mặt nỗ lực giải thoát khỏi sinh tử, mặt khác không
lìa bỏ sinh tử. Giải thoát sinh tử bằng tánh không (sự
thật vô ngã và vô pháp) đồng thời không bỏ sinh tử vì
lòng đại bi. Như thế, trên con đường Bồ tát cuối cùng
hai cái tưởng chừng như mâu thuẫn tánh không và đại bi
trở thành một, bất khả phân và Bồ tát hòa hợp được
hai phương diện mâu thuẫn này là nhờ phương tiện thiện
xảo. Nhưng cũng chính từ phương tiện thiện xảo này, với
một trí tuệ sáu sắc và một lòng bi bao la, Bồ tát thấy
được ý nghĩa của sinh tử. Sinh tử không phải là cái gì
đáng ghét và ghê gớm như một đống rác hôi hám nên vứt
ra ngoài càng sớm càng tốt, mà rác cũng có cái ích lợi của
nó; đây là mặt tích cực của sinh tử trên con đường thành
Phật. Cũng do đó mà Bồ tát có sự nhớ ơn đối với sinh
tử, với chúng sinh, và trong hạnh Bồ tát có bao hàm phần
nào sự nhớ ơn đó:
“Nếu
thấy cái Vô vi (vô sinh, tánh không, Niết bàn) mà nhập chánh
vị thì không còn có thể phát tâm vô thượng Bồ đề được
nữa. Tuy nhiên, người sống giữa những cái hữu vi, trong
những nẻo phiền não, dù chưa thấy chân lý rốt ráo, cũng
có thể thật sự phát tâm Bồ đề.
Ví
như chỗ đất cao không thể sinh hoa sen. Nơi bùn lầy ẩm thấp
mới sinh hoa ấy. Như vậy thấy pháp vô vi rồi nhập chánh
vị rốt cuộc chẳng còn sinh được những phẩm tính Phật.
Trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh khởi sinh những
phẩm tính Phật. Lại như gieo hạt giống giữa không trung,
rốt cuộc chẳng sinh được, ở đất phân bùn mới tốt tươi...
Thế nên phải biết: Hết thảy phiền não là hạt giống Như
Lai. Ví như không lặn xuống biển cả thì không thể được
ngọc quý vô giá, cũng vậy không vào biển cả phiền não
thì không thể được Nhất Thiết Trí vô giá (Kinh
Duy Ma Cật – phẩm Phật đạo).
Ở
mức độ bình thường của con người, có thể nói rằng Bồ
tát là người bên trong thì hiểu và thâm nhập tánh không,
an trụ trong tánh không, bên ngoài thì hoạt động trong thế
giới hiện tượng. Bồ tát là người sống trong thế giới
sai biệt, nhưng trong tâm thì tương ưng với tánh không, do
đó mà không phân biệt, không động, như kinh Duy Ma Cật diễn
tả:
Hay
khéo phân biệt tướng các pháp (Mà) nơi đệ nhất nghĩa (tánh
không, pháp tánh) thường không động.
Chúng
ta thấy trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có những gương
mặt tiêu biểu rõ nét cho sự nhập thế tích cực đồng thời
tâm thức rất giải tháot như Thái sư Khuông Việt, các Thiền
sư Vạn Hạnh, Trần Nhân Tông, Thiền sư Hương Hải... chúng
ta cũng thấy cuốn kinh được dịch đầu tiên ở nước ta
là Lục Độ
Tập Kinh (theo sự khảo cứu của học giả Lê Mạnh Thát),
một kinh điển nói về hạnh Bồ tát (Lục độ). Có lẽ vì
thế mà động lực của dòng chảy Phật giáo Việt Nam là
con đường Bồ tát chăng? Và một vị chỉ mới cách đây
40 năm mà chúng ta tôn vinh là Bồ
tát Quảng Đức, khi ngài tự thiêu để bảo vệ Phật
pháp, hình ảnh ngài ngồi trong lửa mà nét mặt vẫn bình
thản, nếu không nói là vui tươi, đã dạy cho chúng ta ít
nhiều về Bồ tát: ngồi trong biển lửa sinh tử mà vẫn an
trụ trong lòng pháp tánh (hay tánh không) nên vẫn điềm nhiên
bất động. Hình ảnh của ngài đúng như hai câu thơ của
Thiền sư Ngộ Ấn ở thế kỷ XI
Trên
non ngọc cháy màu thường thắm
Lò
lửa hoa sen nở vẫn tươi.
(Xem
thêm Nguyễn Lang, Việt
Nam Phật giáo sử luận)
II.Tính
cách của Bồ tát
Dĩ
nhiên chúng ta không thể nào nói hết những phẩm tính của
Bồ tát, bởi vì trong quá trình tiến hóa qua nhiều kiếp sống,
những đức tính nào con người có thể có, đều được khai
triển mức hoàn hảo nơi một Bồ tát. Ở đây chúng ta chỉ
nêu lên vài tính cách của Bồ tát phù hợp với ngữ cảnh
của bài này:
1.
Lạc quan không bờ bến. Con đường Bồ tát có thể gian khổ,
nhưng con đường đó đặt trên một nền tảng: tôi và tất
cả chúng sinh đều có Phật tính, đều sẽ đạt dến mức
toàn thiện và toàn diện nhất, tức là thành Phật. Do đó,
mọi tương quan tôi có với người này người nọ, dù tốt
dù xấu, dù thuận dù nghịch, đều là tương quan của những
vị Phật sẽ thành, tương quan tác thành cho nhau giúp nhau thành
Phật. Mỗi người là một hoa sen, bởi thế tương quan giữa
những con người là tương quan của những vị Phật sẽ thành.
Như thế toàn bộ đời sống là một sự “sẽ thành Phật”
bao la, rộng khắp, tất cả đều được chuyển hóa trong sự
việc “đều sẽ thành Phật” này. Và đây là một nguồn
lạc quan không bờ bến của một người theo hạnh Bồ tát.
2.
Giúp đỡ và chia xẻ. Bồ tát là người muốn giúp đỡ và
chia xẻ với người khác. Thậm chí giải thoát là cái vô
hình vô tướng, hầu như không chia xẻ được, vậy mà Bồ
tát cũng muốn chia xẻ với mọi người. Bồ tát đạt giải
thoát là để chia xẻ với mọi người. Và như vậy giác ngộ
trở thành cái gì chung như kinh điển thường nói: “Như thế
đến hai muôn Đức Phật đều đồng một tên hiệu Nhật
Nguyệt Đăng Minh, lại cùng đồng một họ Phả La Đọa”
(kinh Pháp Hoa). Bồ tát không những muốn chia xẻ giải thoát
với chúng sinh, mà còn chia xẻ cùng với chúng sinh sự khổ
đau, những vấn nạn, cả cuộc sinh tử của chúng sinh. Sự
giúp đỡ và chia xẻ này sâu rộng đến mức tột độ thì
như Bồ tát Quán Thế Âm: “Trên hợp với Bản Giác Diệu
Tâm của mười phương chư Phật, dưới hợp với tất cả
chúng sinh trong sáu nẻo, cùng với các chúng sinh đồng một
Bi ngưỡng” (Kinh Lăng Nghiêm).
3.
Bồ đề tâm. Hiểu đơn giản, Bồ đề tâm là ý nguyện giải
thoát và giác ngộ, đồng thời giúp cho người khác giải
thoát và giác ngộ. Nói tóm, đó là phụng sự chúng sinh bằng
Phật pháp. Đó là cốt lõi mà mọi hành động, mọi ý nghĩ,
mọi biến cố trong cuộc đời một Bồ tát quay quanh. Thiết
lập cuộc đời trên Bồ đề tâm, lý tưởng của mình, đời
một con người thôi lao đao nghiêng ngã, thôi dật dờ phiêu
bạt, và trong một mức độ nào, nó đã liên kết được
cuộc đời nó với tất cả những cuộc đời của những
bậc đã đi trước mình, đã vững vàng và làm được những
Phật sự rộng lớn bao la, nói cách khác, theo kinh Hoa Nghiêm,
nó đã đặt cuộc đời bèo bọt của nó vào trong “biển
đại nguyện” thường trụ của chư đại Bồ tát và chư
Phật.
4.
Chuyển hóa những khó khăn, trở ngại, thất bại, khổ đau
thành chính con đường giải thoát. Bồ tát làm được điều
này nhờ phương tiện thiện xảo.
III.Con
đường Bồ tát và xã hội hiện đại.
Thật
ra đạo Bồ tát hay hạnh Bồ tát không phải là cái gì xa
lạ quá với con người bình thường – giúp đỡ và chia xẻ
thì có gì là lạ lùng với cuộc sống bình thường? Từ khi
sống trong nhóm bộ lạc cho đến những hình thái xã hội
ngày nay, con người luôn luôn thấy trách nhiệm của mình với
người khác, luôn luôn gắn liền sự tiến hóa của bản thân
mình với sự tiến hóa của cộng đồng. Trong những kinh điển
nói về hạnh nguyện Bồ tát, từ ngữ “quyến thuộc của
Bồ tát” thường được nhắc đến nhiều. Ngay cả một
thực tại cao siêu như đại bi, thì đó cũng là sự khai triển
đến mức cùng tột của cái mà chúng ta thường nói hàng
ngày là “tình người”. Như vậy, những gì đạo Phật chỉ
dạy không phải là một lý thuyết xa lạ được gán ghép
một cách giả tạo vào số phận con người, mà trái lại,
nó là một số phận tất yếu, con đường tiến hóa tất
yếu mà con người phải trải qua, như những đại Bồ tát
và những vị Phật là những người tiến hóa, đi trước
chúng ta.
Tích
tập phước đức đơn giản là làm lợi ích cho một ai đó.
Như vậy tích tập phước đức chỉ có trong tương quan. Và
trong xã hội ngày nay nhờ giao thông, thông tin... những tương
quan giữa người trở nên phong phú, đa dạng, mở rộng trên
toàn thế giới. Ngay trong việc kiếm sống hàng ngày, trồng
lúa gạo, cây trái, hay sản xuất trong nhà máy, phẩm vật
đó sẽ đi đến một tỉnh nào hay nước nào trên thế giới.
Vậy thì trong việc làm hàng ngày này, bằng sự nghĩ đến
lợi ích cho người khác, thêm vào một chút tình thương và
lòng bi, thêm vào sự không chấp thủ ta và cái của ta (tích
tập trí tuệ: không trụ vào sắc thanh hương vị xúc pháp
mà bố thí), chúng ta đã làm một công việc Bồ tát, đó
là sự tích tập phước đức và trí tuệ. Và trong đó có
niềm vui của phụng sự, niềm vui của tình thương, niềm
vui của sự không chấp thủ, niềm vui của con đường Bồ
tát.
Trong
kinh điển, chúng ta thấy có Bồ tát làm cầu đường, làm
nghề dược, nghề y... như kinh Hoa Nghiêm, phẩm “Thập Địa”
nói: “Đại Bồ tát này vì lợi ích chúng sinh nên học tập
đủ tất cả kỹ nghệ thế gian, thông đạt văn tự, toán
số, ấn loát. Lại giỏi những thứ văn bút, tán vịnh, ca
vũ, kỷ nhạc, diểu cười, đàm luận. Biết rành cách thức
kiến trúc, hầm mỏ... tất cả các việc thế gian khác”.
Như thế, tất cả mọi người, trong tất cả lĩnh vực đều
đã sẵn sàng ở trên mặt bằng của sự tích tập phước
đức, chỉ cần thêm vào đó một phần “tinh thần Bồ tát”
là công việc ấy trở thành một phần của đạo Bồ tát.
Với trí tuệ và lòng bi, công việc hàng ngày trở thành phương
tiện thiện xảo để thực hàh đạo Bồ tát. Và với trí
tuệ và lòng bi, nghề nghiệp và tài năng của một người
trở thành phương tiện để phụng sự, và như vậy được
phát triển, nâng cấp trong sự mở rộng thay vì dính mắc
vào đó (dính mắc nào cũng gây ra khổ đau), và vì không dính
mắc, không chấp chặt, mà chính nghề nghiệp ấy có không
gian hoạt động rộng hơn, cái nhìn sáng tạo hơn. Từ đó
chúng ta thấy rằng nghề nghiệp, tài năng, công việc, đức
tính trở thành “hạnh” như những Bồ tát và những vị
Phật đã thành tựu qua hạnh của các ngài, như danh hiệu
của ngài đã diễn tả: “Lắng nghe âm thanh cuộc đời”
(Bồ tát Quan Thế Âm), “Thiện ý” (Phật Thiện Ý – trong
Nghi thức sám hối), những Bồ tát Địa Tạng, Phổ Nhãn,
Vô Tận Tạng... những vị Phật Dược Sư, Phật Từ Tạng,
Phật Vô Lượng Quang...
Theo
những kinh điển Đại thừa, thế giới là tánh không, và
do đó thế giới là sự tương tác lẫn nhau một cách vô ngại
của tất cả mọi hiện tượng. Như vậy, thân khẩu ý của
một người có tham dự – dù cố ý hay vô tình, biết –
hay không biết – với thế giới. Chính từ cái nhìn như vậy
mà chúng ta thấy rằng mỗi người, với thân khẩu ý của
mình, đều chịu trách nhiệm với tất cả thế giới, với
tất cả những gì xảy ra trong thế giới. Mỗi chúng ta đều
có trách nhiệm với toàn bộ thế giới, chúng ta bắt đầu
sống trong con đường Bồ tát.
Nhìn
vào xã hội ngày nay, chúng ta thấy có sự đan xen nhiều lĩnh
vực vào trong một lĩnh vực. Một biến cố nào ở một phần
nào của thế giới đều ảnh hưởng lên tất cả thế giới.
Mỗi người trở nên “quốc tế” hơn, tham gia vào mọi mặt
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghĩa là toàn bộ đời
sống của thế giới. Dĩ nhiên đó chỉ là cái nhìn trên bề
mặt hiện tượng. Nhưng tính cách đan xen tương tác này cũng
khiến chúng ta nghĩ đến tính cách trùng trùng duyên khởi
vô tận của pháp giới của các đại Bồ tát; đó cũng là
môi trường sinh hoạt của các ngài. Ít ra dù chỉ trên mặt
hiện tượng, chúng ta cũng phần nào cảm nhận ra tính cách
đan xen, tương tác lẫn nhau, tính cách “xã hội hóa”, “toàn
cầu hóa”, nghĩa là tính cách mở rộng mọi mặt của cuộc
sống bình thường của chúng ta. Và trước sự mở rộng ra
của thế giới, chúng ta cảm thấy tâm thức chúng ta cũng
cần mở rộng ra, để ôm lấy thế giới, trong chiều rộng
cũng như chiều sâu, bằng ánh sáng của trí tuệ và sự sống
động ẩn mật của lòng bi. Và phải chăng ôm trọn toàn bộ
đời sống bằng trí tuệ và lòng bi như vậy chính là sự
an vui, ý nghĩa của con đường Bồ tát?
Tất
cả đời sống con người đang được đa dạng hóa, toàn cầu
hóa. Chúng ta cũng thấy toàn cầu hóa không phải là một nền
kinh tế áp đặt luật lệ của mình lên những nền kinh tế
khác và không chỉ riêng về mặt kinh tế. Xã hội hóa, toàn
cầu hóa là sự tương thông lẫn nhau, chia xẻ với nhau những
mặt vật chất và tinh thần, chia xẻ với nhau sự sống vốn
hàm chứa nhiều ý nghĩa bí mật. Đó là một quá trình mở
rộng phạm vi tâm thức, mở rộng giới hạn cuộc sống của
mỗi chúng ta. Trong một thế giới đan xen lẫn nhau, tương
tác hỗ tương lẫn nhau như vậy, nếu chúng ta biết mở rộng
tâm thức để nhìn, để thấy, để sống thì có lẽ cuộc
sống hiện đại là một môi trường – đầy nguy hiểm đồng
thời cũng đầy cơ hội – để chúng ta khám phá ra một thế
giới rộng lớn hơn (pháp giới) và những gì là lớn, là
đại: đại trí, đại bi, đại hạnh... Sự khám phá bằng
cách mở rộng tâm thức, làm cho tâm thức thêm tinh tế này
sẽ đưa chúng ta bước vào một đời sống sâu rộng hơn,
bao trùm hơn, mầu nhiệm hơn, đó chính là ý nghĩa cuộc đời
Bồ tát.
Như
vậy, đạo Phật giúp chúng ta nâng cấp những tương quan,
nhìn thấy ý nghĩa, nội dung chân thật của những tương quan
để càng lúc càng đi sâu vào thế giới trùng trùng những
tương quan vô tận mà đạo Phật gọi là pháp giới, môi trường
sinh hoạt bình thường của những Bồ tát. Đó là đời sống
của kinh Hoa Nghiêm: một thế giới trong đó cái Một tương
quan với Tất cả và Tất cả tương quan với Một, pháp giới
duyên khởi trùng trùng vô tận, pháp giới của sự tương
quan vô ngại của Một với Tất cả, Tất cả với Một, và
Tất cả với Tất cả.
Tóm
lại, qua vài phân tích sơ bộ và hẳn có nhiều thiếu sót,
chúng ta có thể thấy rằng con đường Bồ tát, con đường
dẫn tới sự thành tựu trọn vẹn mọi mặt của con người
(con đường thành tựu giác ngộ), không phải là cái gì xa
lạ và giả tạo do từ bên ngoài bản thân chúng ta, mà là
một cái gì rất gần gũi, rất thân thiết, khia triển từ
chính chiều sâu của mỗi chúng ta, nằm trong chính cuộc sống
hàng ngày của chúng ta.