".
Nhưng đại dương có phải là một thực tại ?
-
Không, đại dương là một giấc mộng."
Thiền
là một giấc mộng, một giấc mộng đặt trên một giấc
môïng, một cơn sống biển trào bọt đặt trên một cơn sóng
biển trào bọt, một đại dương đặt trên một đại dương.
".
Nhưng đại dương có phải là một thực tại ? Không, đại
dương là một giấc mộng."
Câu
nói trên của Gottfried Benn, thi sĩ nước Đức; Gottfreid Benn
là Nguyễn Du của nước Đức ở thế kỷ XX.
".
Nhưng đại dương có phải là một thực tế không ? Không,
đại dương là một giấc mộng; một giấc chiêm bao ?"
Tôi
xin kể một giấc chiêm bao. Tôi nằm chiêm bao, tôi thấy tôi
đứng trên một giảng đường và nói về Thiền học và Thiền
tông, tôi thấy mọi người đều bỏ ra về. Tôi nằm chiêm
bao thấy mình đứng trước một giảng đường trống người.
Cả một giảng đường hoang trống như một nhà xác. Mọi
người đều bỏ ra về. Tôi vẫn đứng và tiếp tục nói.
Mấy chục hàng ghế trống đang nghe tôi nói. Không, có một
người nào đó bỗng hiện lên và ngồi cuối giảng đường.
Chỉ một người. Người ấy là ai, có phải người ấy là
một con ma ? Hai con mắt của người ấy đỏ hừng như hai
cục than. Tóc bỏ dài đến mang tai. Người con trai ấy có
phải là một con ma ? Mọi người đều bỏ ra về. Chỉ còn
có một con ma đang ngồi cuối giảng đường và nghe tôi nói.
Rồi tôi cũng bỏ ra về và chỉ còn tiếng nói ở lại với
hồn ma.
Tôi
có quen thân với một thanh niên khoảng mười tám tuổi, tôi
gặp anh ta tại Đà Lạt năm 1959. tôi ở chung phòng trọ với
anh tại một ngọn đồi thơ mộng tại Đà-Lạt; hai năm sau,
vào năm 1962, anh chết trước mắt tôi tại một tu viện trên
một ngọn đồi Nha Trang. Anh có tên thơ mộng là Hoàng Đại
Dương. Năm 1962, anh chết trước mắt tôi, một đại dương
đi vào một đại dương.
".
Một dúm thời giờ lặng câm
trong
cơn gió vèo ở vùng Sils-Maria"
Thi
sĩ Gottfried Benn gợi đến tên Sils-Maria, nơi mà Nietzsche đã
sống cô liêu.
"...
Một dúm thời giờ lặng câm
trong
cơn gió vèo ở vùng Sils-Maria"
Tiếp
theo câu trên, Gottfried Benn viết tiếp:
".
Sự thành tựu đều nặng nề những vết thương.".
Hoàng
Đại Dương chết trước mắt tôi, nặng nề với những thương
tích. Anh đã thành tựu chưa? Anh không trả lời, vì anh chết
đi mang theo:
".Một
dúm thời giờ câm lặng
trong
cơn gió vèo ở vùng Sils-Maria"
Giống
như Nguyễn Du chết đi mang theo "một dúm thời giờ câm lặng
trong cơn gió vèo ở vùng Trường Sơn".
Anh
đã chết trước mắt tôi vào năm 1962 tại một thiền viện
trên ngọn đồi ở Nha Trang. Chết trước mắt tôi, nhưng tại
sao bây giờ anh lại ngồi trước mắt tôi ở cuối giảng
đường ? Có phải hồn ma của anh đang ngồi dưới đó? Chính
hai tay tôi đã cầm xẻng để đào đất, để chôn quan tài
anh ở dưới ngọn đồi gần biển. Chính tay tôi đã ném những
cục đất cuối cùng vào quan tài anh, nhưng ngay giờ phút này,
anh lại ngồi dưới cuối giảng đường như là còn sống
? Hay tôi bị quáng mắt, bị hoa mắt ? Tại sao tất cả đã
bỏ ra về và không thấy anh, mà chỉ có tôi là nhìn thấy
anh?
Tôi
gặp anh tại Đà Lạt vào năm 1959. Dạo ấy, anh là giáo sư
Anh văn tại trường Trung học Việt Anh ở Đà Lạt. Nét mặt
anh xanh xao, gầy, hốc hác, vì dường như anh không bao giờ
ngủ. Tôi ở phòng trọ chung với anh trong một biệt thự cho
thuê. Tôi vẫn thấy đèn phòng anh sáng suốt đêm. Thỉnh thoảng,
đêm khuya, tôi có nghe anh ho khan, một thứ ho khan của những
người câm lặng, sống âm thầm bí mật. Phòng anh thường
đóng kín cửa, có lẽ ban ngày anh không chịu được ánh sáng
mặt trời. Có một lần anh bảo tôi rằng anh ghét thù mặt
trời. Tôi cười và thú thực là không hiểu anh muốn nói
gì. Nhưng có một lần tôi chợt hiểu câu nói của anh. Một
hôm chiều, đi dạy học trở về, bỗng thấy từ trên đỉnh
đồi đỏ xẫm, mặt trời lặn ngay trên đỉnh đồi, có một
bóng đen từ trong mặt trời trên đồi nhô ra và đi xuống
dưới đồi. Anh từ mặt trời bước ra và đi xuống, khi mình
mờ mắt thì dễ thấy như thế.
Có
một lần tôi hỏi anh:
- Anh
là một kẻ đi ra mặt trời, từ mặt trời đi ra.
Anh
ngạc nhiên trả lời:
- Chính
mặt trời đã đi vào tôi, đi vào tim tôi. Lồng ngực tôi
nóng ran, tôi chịu không nổi. Mặt trời là kẻ thù của tôi.
Sau
này được dịp đọc sách về Thiền học, tôi mới hiểu
rằng người tham thiền có khi suy tưởng về mặt trời và
tưởng tượng rằng mặt trời đằng xa thu hình lại bé nhỏ
và tiến rồi nhập một với trái tim ; sự tưởng tượng
ấy quá mạnh đến nỗi người tham thiền cảm thấy nóng
ran, ấm nóng cả lồng ngực, ấm cả thân người.
Chẳng
hạn như ở Hy Mã Lạp Sơn, có những đạo sĩ cởi truồng,
không mặc áo quần, và vẫn ngồi trên tuyết lạnh. Nói theo
danh từ nhà Phật thì họ chuyển lửa Tam muội. Nói theo danh
từ thông thường thì đó là sức mạnh suy tưởng (những
vị nào học triết Tây phương chắc còn nhớ Socrate đã đi
hai chân không và đứng trọn đêm ngay ngoài trời tuyết, vì
lúc đó Socrate đang suy tưởng và quên hết mọi sự, có người
thức cả đêm để rình ông và ngạc nhiên khi thấy Socrate
đứng sững trên tuyết như đinh đóng vào gỗ. Sức mạnh
của tư tưởng đã cột dính Socrate, giống như con ruồi lằn
bị dính vào keo. Dân ở thành phố Athènes thường gọi Socrate
là "một con ruồi nhặng" vì ông hay quấy phá sự tự mãn
tinh thần của dân chúng. Con ruồi ấy bị dính keo mà chết,
chứ không phải bị chết vì uống thuốc độc như lịch sử
truyền lại).
Dạo
đó, tôi gặp anh Hoàng Đại Dương và chỉ biết mang máng
về anh, nghe những người khác kể lại. Hình như anh có tham
thiền gì đó. Sau này, anh chết trước mặt tôi. Cuộc đời
anh, tôi được biết đại khái như sau đây, do bạn bè và
người nhà anh kể lại (mặc dù anh thường nói với tôi rằng
anh không có gia đình và không có bạn bè, đôi lúc khôi hài
tịch mịch, anh nói: "bạn bè của tôi là những con ruồi,
cha mẹ tôi ư ? Anh có thấy những con chuột đẻ con không?"
Anh nói rồi cười sặc lên như điên. Tôi, người bình thường
không chịu được ngôn ngữ bất thường của anh. Cho nên,
tôi bỏ anh đứng giữa đường khuya Đà Lạt. Dường như
sáng hôm sau, anh vẫn còn đứng ở đó lúc ấy Đà Lạt chưa
có giới nghiêm).
Theo
người ta kể lại thì anh là con một gia đình giàu có ở
miền Nam. Cha mẹ anh triệu phú, rồi sau bị phá sản, trở
nên nghèo khó hơn bất cứ người nghèo nào ở Việt Nam. Ngay
lúc gia đình còn giàu, anh đã sống bất thường rồi, dường
như anh khinh bỉ tiền bạc, không chịu sống đời sống giàu
sang phú quí của công tử nhà giàu.nghe nói lúc nhỏ, 13-14
tuổi, anh đã say mê Marxisme, đọc sách Marxisme suốt ngày đêm,
và muốn làm cách mạng, đi vào bưng biền để đánh Pháp.
Năm 16 tuổi, anh bị công an bắt nhốt vào xà lim và tra tấn.
Mặc dù anh không phải là một người cộng sản, nhưng đầu
óc anh nhiễm đầy tư tưởng Marx và Lénine, anh rất ái quốc
và muốn làm một cái gì đó để chuyển hóa xã hội, anh
không chịu nổi bất công, không chịu nổi sự đau khổ của
con người Việt Nam. Dường như, theo người nhà kể lại,
thì anh bị một người cán bộ khai tên chỉ điểm. Tất nhiên
đó chỉ là khai gian thôi, vì anh không có tham gia một tổ
chức chính trị gì cả. Sau một thời gian bị đánh đập,
bị tra khảo đủ điều, thì anh bỗng được thả ra nhờ
người nhà quyền thế can thiệp. Sau khi ra tù thì hình như
anh không còn để tâm tới chính trị nữa, có lẽ không phải
vì anh sợ bị tra tấn nữa, mà có lẽ vì anh nghĩ anh đã
chết hụt một lần và anh không muốn chết hụt theo lối
cũ, mà có lẽ chết hụt bằng lối khác. (Anh nghĩ rằng có
một loại người sinh ra để làm Quang Trung hay Trần Hưng Đạo
thì cũng có một loại người sinh ra để làm Nguyễn Du hay
Hàn Mặc Tử. Không phải chỉ làm tướng là ái quốc thôi,
mà sống với hồn thơ tuyệt đỉnh cũng là một cách ái quốc
khác).
Thầm
lặng hơn, Anh đã chọn con đường đi của Nguyễn Du. Và để
cho những người khác làm Quang Trung. Thật ra không có sự
chọn lựa, vì mọi việc xảy ra đều như cây mọc lá, tự
nhiên như máu chảy trong cơ thể. Giòng máu anh
là
giòng máu thi sĩ, nghệ sĩ, chứ không phải máu của người
hành động.
Hồi
nhỏ, anh học trường thầy dòng,
nhưng
sau anh bỏ đạo và bỏ đi nhà thờ. Anh bắt đầu say mê ngất
ngưỡng với tiếng hét thịnh nộ của Nietzsche. Giống như
phần đông thanh niên ở khắp thế giới, tuổi trẻ của anh
đã bị ngấm độc, nhiễm nặng thuốc độc của Nietzsche.
Tất nhiên, một người nào đã nhiễm bệnh Nietzsche thì chính
trị, dấn thân, hành động, ái quốc, xây dựng lý tưởng,
tôn giáo, vân vân, đều trở thành khói thuốc. Nietzsche dạy
anh cỗng tuổi trẻ của anh trên hai vai của chính anh. Từ
một người gương mẫu, lạc quan, tin tưởng, đầy tinh thần
vị tha, ái quốc, đầy tinh thần xây dựng, anh bỗng trở
thành con người lạc lõng, bơ vơ, ích kỷ, buông rơi, kiêu
ngạo, ngang tàng, khinh bỉ tất cả mọi sự, khinh bỉ cả
những gì nhỏ nhoi trong người anh, anh luôn luôn đen tối,
mắt đầy ngờ vực, lấy đêm làm ngày, "đêm bốc lửa, thế
giới bốc lửa". Anh sống như con thú dữ với cơn hỏa hoạn
bắn lửa trong đầu, trong tim và trong cuộc đời. Đã qua rồi
ái quốc, đã qua rồi lý tưởng cao đẹp, đã qua rồi niềm
tin sắt đá của tuổi thơ. Trong phòng anh, có kẻ chỉ thấy
những hình ảnh của Nietzsche, Van Gogh, Rimbaud, Henry Miller và
Dostoievsky. Nhưng một sớm đẹp trời nào đó, bỗng nhiên
anh xé bỏ hết Nietzsche, Van Gogh, Rimbaud, Dostoievsky và Henry
Miller. Anh tự cho rằng mình đã lớn, đã mạnh, đã đủ sức,
thừa sức để đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình
và nằm một mình. Chỉ có một mình và một mình, anh sống
một mình với một mình của anh. Đối với anh, tất cả giá
trị đều sụp đổ, anh thấy rằng anh không còn hiểu gì
nữa, anh bước đi trong bóng tối không thấy gì cả và
chỉ bước đi trong bóng tối. Mọi người đều bỏ xa anh,
bạn bè bỏ anh, gia đình bỏ anh, chính anh rồi cũng bỏ cả
anh, anh chỉ còn là cái xác đi trong tối. Trong một đêm tuyệt
vọng, anh lảo đảo như một người lên đồng. Tình cờ,
anh dở quyển sách bỏ quên dưới đất. Quyển sách ấy là
quyển Zen Buddhism của D.T. Suzuki. Anh không hề biết Zen
là cái gì cả. Nhưng khi đọc tình cờ một câu trong quyển
sách ấy :
- Làm
sao tôi có thể nhập đạo?
Một
môn đệ hỏi Thiền Sư, Thiền
Sư
trả lời:
- Con
có nghe tiếng suối reo ?
Thế
thì đùng một cái, anh mới sực nhớ rằng anh đã sống cái
đạo gọi là đạo Thiền trước khi anh đọc sách về Thiền.
Toàn thân anh run rẫy, anh có cảm tưởng đi hỏng chân trên
một đại dương.
Giai
đoạn ấy là giai đoạn tôi gặp anh tại Đà Lạt. Bây giờ
nhắc lại tôi vẫn còn được cái cảm giác đố kî với
anh. Dạo ấy, tôi đố kî với điệu sống của anh, tôi thấy
anh sống tràn lan như ống nước bể vòi, anh sống vô tâm
như cỏ cây, chim chóc, anh yêu đời một cách khó giải thích,
tôi cho rằng anh là một thằng điên, một tên gàn, một kẻ
lập dị. Đôi lúc anh nói với tôi rằng anh chán đời,
anh buồn, anh muốn tự tử, vân vân, nhưng trong cách nói
của anh và cử chỉ của anh tôi hiểu rằng anh muốn nói :
"tôi quá yêu đời, quá vui, quá sống, sống, sống." Chữ "buồn"
trong miệng của anh cũng vui lây nữa. Nếu lúc ấy anh có tự
tử đi nữa thì tôi vẫn cho anh tự tử vì quá sướng, quá
vui, quá đẹp. Khó thấy một người nào sống đã đời như
anh, đôi lúc tôi ghen với những ý tưởng trong cái đầu bồng
bềnh tóc của anh.
Tôi
chắc những ý tưởng trong đầu anh chỉ là hoa vàng, hoa mai,
hoa mận, bông cúc, bông hồng, cánh đồng xanh, chim bướm.
Có một đêm anh hỏi tôi :
- Tôi
là ai ?
Tôi
trả lời bằng lý luận :
- Anh
là những gì tôi nghĩ về anh.
Anh
vụt trả lời như một nhát gươm đập vào nước :
- Tôi
trả lời cho câu hỏi anh rồi.
Tôi
không hiểu hỏi lại :
- Tôi
đã hỏi gì đâu ?
Anh
lặp lại
- Tôi
là ai ?
Tôi
vụt lặp lại :
- Tôi
là ai ?
Vừa
nói xong thì tôi vụt thấy rằng con chim vỗ cánh bên ngoài
là con chim vỗ cánh trong đầu tôi. Cắt cái đầu tôi liệng
đi thì con chim cũng mất theo. Lúc ấy, tôi cũng học đòi về
Thiền Tông trong năm sáu cuốn sách của D.T. Suzuki, Alan Watts,
Chang Chen-Chi, Hubert Benoit ; tôi cũng có đọc quyển Pháp
bảo đàn kinh và Vô môn quan và Truyền đăng lục.
Có
một lần tôi hỏi anh về D.T. Suzuki,
anh
trả lời :
- Chính
nhờ D.T. Suzuki tôi mới biết đến Thiền, lần đầu tiên
đọc D.T. Suzuki tôi có cảm giác leo lên núi Hy Mã Lạp Sơn,
tôi lạnh cả người, nhưng bây giờ tôi coi D.T. Suzuki như
con gà mở cửa mả.
Tôi
hỏi lại :
-Nghĩa
là thế nào ?
Anh
hỏi lại tôi :
- Anh
có tin rằng người chết trở lại?
Tôi
trả lời :
- Tôi
tin có.
Anh
nói lại :
- Tôi
chỉ học được D.T. Suzuki rằng người chết không có
trở lại và cũng không không có trở lại.
- Nghĩa
là làm sao ?
- Nghĩa
là anh phải chết.
- Nghĩa
là làm sao ?
- D.T.
Suzuki chỉ lặp lại những kinh điển một cách dễ hiểu theo
ngôn ngữ thời đại, còn kinh điển chỉ lặp lại một cách
dễ hiểu những gì không thể lặp lại.
- Như
những gì ?
- Như
giấc mộng, như cái chết.
- Đạo
Thiền là đạo sống.
Anh
vội nói lại :
- Sống
là chết, bắt chước D.T. Suzuki, bắt chước những Thiền
sư thì chúng có thể nói như vậy, nói rằng sống là chết,
Niết bàn là Luân hồi, khổ là vui, vân vân, không có
mà
cũng không không, vừa có được sự im lặng cũng là
vừa nói, vân vân, nhưng tôi đang chết.
-
Biết rằng mình đang chết là sống.
Anh
nói lại :
- Nếu
anh có thích lý luận thì cứ lý luận.
Tôi
hỏi anh :
- Tại
sao có một Thiền sư nói rằng gặp Phật thì giết Phật,
gặp Tổ thì giết Tổ?
Anh
trả lời :
- Gặp
Phật thì Phật chết, gặp Tổ thì Tổ chết.
- Nghĩa
là làm sao ?
- Nghĩa
là cái chết gặp cái chết.
- Cái
chết gặp cái chết thì làm sao ?
- Thì
anh không hỏi "làm sao" nữa.
- Heidegger
có nhắc lại câu của Abrahama Santa Clara : "Kẻ nào chết
trước khi chết thì không chết lúc hắn chết". Phải chănganh
muốn nói rằng
cái
chết gặp cái chết thì sống mới bùng dậy lại ?
- Tôi
không hiểu.
Tôi
đã thuật lại câu chuyện giữa tôi và anh. Nhưng tôi không
thể diễn tả lại ấn tượng lạ lùng trong tâm thức tôi,
tôi vừa nghe anh nói: "tôi không hiểu" thì tôi có cảm giác
bắt chợt rằng một trái sung chín vàng rụng vào cái miệng
hả rộng của anh khờ.
Sau
này, tôi có nghe anh cạo đầu đi tu. Tôi rất lấy làm lạ,
vì theo tôi nghĩ thì anh không cần tu cũng là tu rồi. Đối
với tâm hồn như anh, tu hay không tu cũng thế thôi.
Nhưng đôi lúc tôi cũng nghĩ rằng tu cũng là một chuyến đi
chơi dài của anh vào những đồng cỏ bát ngát tịch mịch.
Lúc tôi gặp anh tại một tu viện ở Nha Trang, tôi có hỏi
anh :
- Thiền
học là gì ?
Anh
trả lời :
- Là
học về Thiền.
Tôi
hỏi lại :
- Học
cái gì, học làm sao ?
- Học
thở.
- Phải
học thở thế nào ?
Anh
hỏi lại :
- Không
phải anh đang thở đó sao ?
Tôi
hỏi :
- Thiền
Tông là gì ?
- Là
một Tông phái đề cao hơi thở.
- Tại
sao phải ngồi để thở?
- Vì
ngồi thẳng lưng dễ thở, nhưng đối với một người có
nội công, nội lực thì đi cũng thở, đứng cũng thở, làm
gì cũng dễ thở. Chỉ chán đời thất vọng u sầu khi nào
hơi thở bị nghẽn.
- Tại
sao những Thiền sư đốt tượng Phật, chặt đầu mèo, phá
giới, coi kinh điển như giấy bẩn ?
- Vì
họ muốn giải thoát hơi thở.
- Không,
họ chỉ phá hoại ?
- Phá
hoại thiếu hơi thở (gọi là phá hoại hụt hơi) khác hẳn
với phá hoại qua hơi thở.
- Anh
chỉ ngụy biện !
- Như
thế không còn vấn đề gì nữa đáng nói.
Tôi
im lặng. Anh cũng im lặng và mỉm cười thoải mái. Đến năm
1962, tôi nghe người báo tin anh chết một cách đột ngột.
Tôi vội leo lên Thiền viện ở đồi Nha trang, tôi nhìn anh
nằm dài thản nhiên, mắt anh nhắm lại như nằm mộng, tôi
chợt nhìn thấy một con bướm nhỏ đủ màu đậu ngay giữa
trán anh. Tôi vừa đọc xong câu chú chữ Phạn: "Gate, gate,
paragaté, parasamgaté, bodhi, svaha!" thì con bướm vụt bay
đi, băng qua đồi, tôi nhìn theo và thấy con bướm bay sang
biển.
"Nhưng
đại dương có phải là một thực tại ? Không, đại dương
là một giấc mộng."
Anh
chết đi và để lại niềm bí ẩn cho tôi, câu hỏi trước
kia mà tôi đã từng hỏi anh :
- Thiền
học là gì ? Thiền tông là gì?
Anh
vẫn chưa trả lời cho tôi, tất cả còn lại cuộn giấy nhàu
tôi lượm ở dưới giường anh nằm. Đó là một cuộn giấy
dơ mà anh viết chằng chịt, giữa những giòng chữ đen, anh
thường hay vẽ những vòng tròn, tôi không hiểu tại sao anh
thích vẽ những vòng tròn như thế. Giữa những giòng chữ
bôi đen, tôi còn đọc được những đoạn mà anh viết về
Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư đệ nhất của Thiền Tông.
Anh
chết đi và không trả lời cho câu hỏi mà tôi thắc mắc
bao nhiêu năm nay.
Đứng
trước thân xác anh nằm dài, nhắm mắt chết nhẹ nhàng như
giấc mộng, tại ngọn đồi ở Nha trang năm 1962, tôi muốn
hỏi thầm :
- Thiền
học và Thiền Tông là gì ?
Vừa
hỏi thầm thế, rồi khi vừa tụng xong một câu thần chú
chữ Phạn :
"Gate,
gate, paragaté, parasamgaté, bodhi, svaha." rồi khi tôi vừa dứt
chữ "bodhi svaha !" thì bỗng con bướm đủ màu giữa vầng
trán anh vụt bay ra khỏi phòng, bay khỏi đồi, bay lượn băng
qua biển xanh, "biển xanh trộn lẫn với mặt trời."
Phạm
Công Thiện