Tất Cả Pháp Không
Cố Ðịnh
Mọi
con người chúng ta đều mắc phải bệnh cố chấp, muốn cái
gì mình yêu thích phải còn như vậy mãi. Mỗi khi những cái
đó đổi thay, mình sinh ra đau khổ chán chường, trách tại
sao cái đó không giống ngày xưa. Bệnh cố chấp ấy khiến
chúng ta sống trong hiện tại mà tâm hồn vẫn lùi về quá
khứ. Quá khứ đã qua, đã mất, mà chúng ta cứ sống với
cái mất, chính chúng ta đang sống mà đã chết đi rồi.
Trên đời, muôn vật luôn thay đổi
như dòng nước chảy, chúng ta muốn nắm đứng chúng lại
chỉ là việc toi công. Sự biến chuyển đã thành qui luật
của thiên nhiên, không ai có quyền làm sai qui luật ấy. Nếu
chúng ta muốn khác đi với qui luật này, là chúng ta tự rước
lấy sự đau khổ vào mình. Bởi thời gian cứ chạy mãi thì
muôn vật cũng theo đó đổi thay. Chúng ta mới mua chiếc xe
Honda thấy mới toanh, chạy mấy tháng sau đã phai màu, có vài
bộ phận mòn lỏng. Nhớ lại lúc mới mua xe đem về, chúng
ta cảm thấy buồn chiếc xe cũ rồi. Một cái nhà mới cất,
chúng ta thấy hài lòng, nhưng ở được vài ba năm đã thấy
trên tường có mấy lằn rạn nứt, những màu nước vôi đã
trắng bạc, các cánh cửa đã lung lay. Chúng ta cảm thấy buồn,
cái nhà mới cất mấy năm mà đã cũ. Mọi vật chúng ta luôn
luôn biến đổi, biến đổi theo thời gian và biến đổi do
nhân duyên hội tụ đủ thiếu. Ðóa hoa sen trong hồ, xây ở
trước sân, vừa nở tròn thơm nhẹ, nhìn nó chúng ta cảm
thấy vui lâng lâng. Vài hôm sau từng cánh hoa rơi lả tả,
chúng ta trông thấy lòng buồn rười rượi. Cây cam trước
nhà sung sức cành lá sum sê, trái đeo cằn nhánh, chúng ta nhìn
nó với nụ cười thích thú. Mây năm sau, cây cam già lụi
lá rụng cành khô, chúng ta nhìn nó với vẻ buồn thất vọng.
Chúng ta muốn giữ mãi cái gì làm đẹp mắt chúng ta. Chúng
ta cố bám chặt cái gì đem lại quyền lợi cho chúng ta và
những cái gì có tính thân tình liên hệ với chúng ta, khi
mất mát nó chúng ta mới thật buồn khổ. Ðây là lòng tham
cố giữ cái sở hữu của mình. Nếu chiếc xe của người
khác hư, cái nhà người khác cũ, chúng ta có buồn không? Quả
là do cái chấp ngã sở của chúng ta, nên khi vạn vật vô
thường sinh diệt, chúng ta liền bị lôi kéo theo. Cố chấp
là si mê, không thể thấy được sự thật của cuộc đời.
Con người chúng ta cũng thế, về
thể xác thì tế bào sinh diệt, diệt sinh liên tục không dừng.
Hết thời tăng trưởng tới thời suy tàn, như dòng nước
thủy triều hết lên lại xuống. Thế mà, chúng ta nghe nói
thân này già là cảm thấy buồn. Có những người thời trai
trẻ khuân vác gánh gồng, làm nhiều mà không thấy mệt. Ðến
khi tuổi sắp lục tuần, ra làm chút ít đã thất thở hào
hển, tự trách tại sao bây giờ yếu lắm vậy. Họ đâu biết
thân họ đã đến lúc tàn cỗi rồi. Người ta cứ tưởng
mình như thuở nào, chớ không biết mình đang xê dịch lần
về cõi chết. Bởi vậy nghe nói cái chết đâm ra hoảng sợ.
Ðó là chúng ta không biết thể xác này luôn luôn biến đổi
vô thường. Sợ chết, sợ mất thân này là do si mê chấp
ngã mà ra. Ðến phần tinh thần cũng vậy, trong ấy luôn luôn
biến đổi diệt sinh. Tâm niệm này sinh tâm niệm kia diệt,
cứ mãi đổi thay không cùng. Có ai đó nghĩ rằng tâm niệm
mình trước sau như một, đây là một nhận định sai lầm.
Bởi họ cho tâm niệm mình trước sau như một, nên thấy tâm
ai trước trắng sau đen, họ đâm ra bực bội căm hờn. Họ
quên rằng mỗi khi hoàn cảnh đổi thay, hoặc hội nhập vào
xã hội xa lạ, tâm con người liền chuyển đổi theo thời
theo cảnh. Chúng ta đừng ngây thơ nghĩ rằng kẻ kia trước
thế nào, ngày nay dù hoàn cảnh khác đi tâm họ vẫn như xưa.
Ðó là nhận định sai lầm khiến ta ôm hận suốt đời. Nỗi
đau khổ của con người là sợ già sợ chết, sợ người
thân đổi dạ thay lòng. Song cái sợ ấy làm sao tránh khỏi.
Chỉ cần sáng suốt nhận rõ rằng thân này là tướng vô
thường hoại diệt, tâm này là một dòng biến chuyển vô
chừng. Ðược vậy, thân ta có già có chết cũng không buồn,
lòng người có đổi trắng thay đen cũng chẳng lạ. Thế là
chúng ta sống cuộc đời an ổ vô cùng.
Ðây tôi thuật lại chuyện "Cố
nhân về thăm cố hương" cho quí vị nghe: Tôi rời khỏi quê
hương năm 1947, đến năm 1980 tôi trở về thăm. Quê hương
tôi là nơi tôi đã sống hơn hai mươi năm thật là gắn bó
và thân thiết biết bao. Từ chùa Phước Hậu thuê thuyền
máy đưa thầy trò chúng tôi về Rạch Tra. Ðến vàm Rạch
Tra rồi! Chú phụ lái ngồi trước nói. Tôi vội vàng chun
ra khỏi mui, ngồi trước mũi thuyền. Ðây là giòng sông thân
thuộc chứa chan biết bao kỷ niệm ngày xưa. Tôi tin rằng
không thể nào quên được những ngôi nhà của bà con thân
quyến nằm bên cạnh bờ sông. Nhưng than ôi! nhìn hai bên bờ
sông tôi thấy lạ hết, những cảnh ngày xưa tôi biết,ngày
nay đổi khác. Nào là nhà bác Chín Chiếu, nhà ông Cả Lập...,
tôi không tìm ra ở chỗ nào. Cho đến bến sông nhà tôi ngày
xưa, một chiếc cầu thang bắc xuống sông, bên phải bụi
tầm vông, bên trái cây mít, kế một cái xẻo đi vô trong,
nơi để ghe xuồng khi chúng tôi đi đâu về. Những hình ảnh
này tôi tìm mãi, tìm mãi mà không thấy. Thuyền đi khá xa,
tôi đã biết ra khỏi nhà xưa của chúng tôi rồi. Bảo dừng
thuyền lại, tôi tìm lên cầu lên bờ hỏi thăm, mới biết
là đã đi quá hơn nửa cây số. Thuyền quay trở lại, ghé
ngay bến theo người hàng xóm chỉ. Tôi theo cây cầu dừa bắc
duỗi xuống sông trơn trợt, chống cây làm gượng lên đến
bờ. Những đứa bé lớn có nhỏ có ở các nhà xung quanh thấy
thuyền đậu, chúng chạy úa đến xem. Tôi nhớ nhà tôi ngày
xưa ở giữa, bên cạnh xẻo là nhà chú Tám, bên trái nhìn
ra đường là nhà anh Hai Nhất, kế đó là nhà chú Bảy ...
mà nay nhà cất loạn, không còn một chút dấu tích gì của
ngày xưa. Cho đến những người thân ngày xưa đâu mất cả,
tôi không thấy ai, chỉ thấy đám người trẻ xa lạ không
biết tôi, cũng như tôi không biết họ. Mấy mươi phút sau,
có mấy ông già, bà già đến, nhìn ra tôi mới biết đây
là anh Bảy, Nhung con cô Năm tôi, kia là cô Tư con chú Bảy
tôi, rồi thiếm Sáu Cừ dâu chú Tám tôi ... Nhìn ra tôi, mỗi
người nghẹn ngào vừa mừng vừa khóc. Tôi cũng cảm thấy
nao nao trong lòng. Các vị ấy dẫn tôi đi thăm nền nhà cũ
của tôi, ở đây chỉ còn là một khoảnh đất trống, cuốc
thành những luống khoai, trồng bắp. Tôi chợt nhớ đến hai
câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: "Lối xưa xe ngựa hồn thu
thảo, Nền cũ lâu đài bóng tịch dương". Những hình ảnh
xưa sống lại trong ký ức tôi. Kế đến đi thăm những ngôi
mộ của ông nội, bà nội tôi, mà ngày xưa mỗi năm ông thân
tôi và tôi đều tảo mộ vào dịp hai mươi tháng chạp. Sắp
từ giã trở về chùa Phước Hậu, mọi người vây quanh tôi
nhắc chuyện năm xưa, khi kia mọi người đều còn trẻ, mà
nay hầu hết đã từ biệt cõi đời, chỉ còn sót lại một
ít người gặp nhau mà không nhận ra nhau, khiến lòng tôi se
lại. Từ giã mọi người, chúng tôi trở về chùa Phước
Hậu. Lòng tôi cứ ôn đi ôn lại, mình là "cố nhân về thăm
cố hương" hay là "người mới về thăm cảnh mới". Cảnh
đã hoàn toàn mới, người cũng mới, bản thân tôi cũng mới
luôn. Khi xưa ra đi, tôi là một thanh niên trên hai mươi tuổi,
ngày nay trở về tôi là ông già đầu bạc hoa râm. Khi xưa
tôi là người cư sĩ, ngày nay tôi là kẻ xuất gia. Từ thể
xác lẫn tinh thần đều đổi mới. Nếu tôi cứ buồn trách
cảnh thay đổi, người thay đổi, sao tôi không tự trách tôi
cũng đã thay đổi. Ðúng như hai câu thơ của Thiền sư Mãn
Giác: "Trước mắt việc đi mãi, trên đầu già đến rồi"
(Sự trục nhãn tiền quá, lão tùng đầu thượng lai). Chúng
ta mới thấm thía lẽ "Tất cả đều thay đổi, không có gì
là cố định". Cố bám lấy hình ảnh xưa cũ, chúng ta sẽ
đau buồn vì nó không còn như mình nhớ. Mọi vật là một
dòng biến thiên từng phút giây, chúng ta luôn luôn sống với
cái mới. Nhận thức được như vậy, chúng ta sẽ cười khi
dòng đời luân lưu biến chuyển.
Bản thân các pháp là chuyển động
là đổi dời. Thấy rõ sự chuyển động đó là thấy được
sự thật. Nghĩ là các pháp là nguyên vẹn không đổi dời,
là cái nghĩ sai lầm. Trên cái nghĩ sai lầm này, lại sinh tâm
buồn phiền than trách là cố chấp. Cố chấp là nguồn gốc
khổ đau. Cho nên người học Phật phải thấy các pháp đúng
sự thật của nó. Chính cái thấy đúng sự thật này là khoa
học. Vì khoa học nhận thấy sự vật là một dòng sinh diệt
bất tận. Với con mắt khoa học hiện đại không thấy có
một sự vật nào mà không sinh diệt và đứng yên một chỗ.
Từ thân người cho đến cây cỏ, từng tế bào sinh diệt
trong ấy. Vì vậy người vật hết thời kỳ tăng trưởng,
đến thời kỳ lão hóa và bại hoại. Có cái gì bền lâu
nguyên vẹn mà chúng ta cố chấp. Nếu cố chấp là si mê không
giác ngộ, là sai lầm không đúng khoa học.
Sở dĩ các pháp biến chuyển không
cố định, vì bản chất nó là vô thường vô ngã. Chúng ta
định nghĩa sống là gì? Là động. Còn luân lưu biến động
là còn sống. Dừng sự biến động là chết. Bản thân ta
là động, muôn vật là động. Ðã là động thì biến chuyển
đổi dời, đấy là vô thường. Sống trong biển biến động
vô thường của vạn vật mà chúng ta muốn nó được thường,
thực là một điều không bao giờ có. Hành tinh chúng ta đang
ở, nó quay tròn mãi không dừng, nếu dừng lại là nổ tung.
Chính thân chúng ta, tim đập mãi không dừng, một khi nó dừng
là chúng ta chết. Con người và muôn vật đều bám vào quả
đất mà sống, bản thân quả đất lại quay cuồng, thì con
người và muôn vật làm sao an định được. Cho nên sự tồn
tại của quả đất, cũng như sự tồn tại của muôn vật
là động, đấy là lý vô thường Phật đã dạy. Thấu triệt
lý vô thường này, chúng ta sẽ cười trước mọi biến đổi,
nhất là sự biến đổi của thân ta lúc bại hoại.
Con người và muôn vật sống trên
quả đất, kể cả quả đất đều do nhiều nguyên tố họp
lại thành hình. Không có vật nào đơn thuần từ một nhân
tố mà thành. Ðã do nhiều nhân tố chung hợp thành sự vật,
những nhân tố ấy nhà Phật gọi là nhân duyên. Nếu phân
tích một con người hay sự vật, chúng ta thấy nhiều lớp
nhân duyên tụ họp thành. Nơi con người thì có mấy tỷ tế
bào chung họp, mỗi loại đều có chức năng riêng. Ở mỗi
vật cũng do nhiều tế bào kết hợp, hay những hạt nguyên
tử đang quay cuồng xoắn chặt vào nhau. Ðã nhiều loại nhiều
thứ thì loại nào thứ nào là chủ? Hoặc do nhiều thứ họp
lại thành, tức không có thực thể. Không có chủ, không thực
thể, Phật gọi là vô ngã. Từ vô ngã là chỉ cho mọi vật
do nhân duyên hợp không có chủ thể, nên nói "chư pháp vô
ngã". Bởi vô ngã nên chúng ta không chấp mình thật, vật
thật. Không chấp mình là không chấp ngã, không chấp vật
là không chấp ngã sở. Không chấp ngã và ngã sở thì còn
cái gì để chúng ta tham cầu. Nếu không tham cầu thì còn
gì lo sợ, còn gì bực tức. Thế là do thấy được lẽ thật
nơi con người và sự vật, chúng ta dứt được si mê. Do hết
si mê, chúng ta dừng được tâm tham lam và nóng giận, ngang
đây tam độc không còn. Ðó là kết quả tốt đẹp cuả người
tu Phật.
Tóm lại, do biết rõ các pháp không
cố định tức là vô thường, vô ngã, nên chúng ta buông xả
tất cả cố chấp si mê. Chính đây là "chánh kiến"
trong Bát Chánh Ðạo. Mọi cố chấp đều y cứ nơi con người
và sự vật. Thấy rõ người vật đều tạm bợ biến thiên
không thật, thì mọi cố chấp đâu còn. Không còn cố chấp
thì tất cả khổ đau đều tan biến. Sở dĩ chúng ta nhiều
buồn khổ là sợ thân này bệnh, chết. Biết bệnh chết là
lẽ thường, con đường mà ai cũng phải đến, còn gì sợ
hãi việc bệnh và chết. Chúng ta sợ cái bất thường chỉ
đến riêng mình, nên cố gắng né tránh. Nếu là việc chung
của tất cả, chúng ta có sợ cũng chỉ vô ích thôi. Cho nên
Tuệ Trung Thượng Sĩ khi sắp tịch, nằm trên cái giường
tại Dưỡng Chân Trang nhắm mắt tịch. Các bà thê thiếp khóc
rống lên, Ngài mở mắt quở: "Sanh tử là lẽ thường, tại
sao làm náo động chân tánh ta". Rồi ngài nhắm mắt an nhiên
mà tịch. Cho đến mọi vật sở hữu của ta cũng thế, nó
là vật vô thường bại hoại, chúng ta muốn nó còn mãi sao
được. Chi bằng thấy chúng là tướng giả dối tan hợp vô
thường, khi chúng còn thì chúng ta dùng, khi chúng mất thì
chúng ta cười, vì lẽ thường là như thế. Kinh Kim Cang Phật
dạy: "Phàm cái gì có tướng đều là hư dối" (Phàm
sở hữu tướng giai thị hư vọng). Lối nhìn này là trọng
tâm thoát khổ của chúng sanh. Chúng ta sợ khổ mà không chịu
mở con mắt trí tuệ thấy được lẽ thật nầy thì muôn
đời cũng không hết khổ.