THƯ VIỆN HOA SEN
SearchEnglishMirrorsite
.
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
.
CHUYỆN XƯA CHUYỆN NAY
Chân Hiền Tâm
Nhà Xuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh 2006

Ông Phật mũi đen

Một ni sư cầu tìm giác ngộ, làm một tượng Phật mạ vàng. Bất cứ ở đâu ni cũng mang nó theo mình.

Một lần, ni đến sống trong ngôi đền ở một vùng quê. Đền có rất nhiều tượng. Ni không muốn hương thơm mình đốt cho Phật bay lạc sang những ông Phật khác, nên tạo một đường ranh nhỏ để khói hương xuyên qua đó đến thẳng mũi ông Phật của mình. Một thời gian sau, mũi ông Phật vàng đen thui.

GIÁC NGỘ là ngộ ra tâm Phật của mình. Giác nghĩa là Phật. Ngộ được ông Phật của mình gọi là giác ngộ. TÌM CẦU GIÁC NGỘ cũng là tu nhưng không phải tu để được chồng giàu, vợ đẹp, con ngoan hay có đầy đủ tiền bạc, nhà lầu, xe hơi như mình đang tu, mà là để khai mở trí tuệ Phật của chính mình. Kinh Pháp Hoa gọi nó là TRI KIẾN PHẬT. Ni đi tu là để tìm cho ra cái tri kiến Phật đó của mình. 

Vì tìm cầu giác ngộ nên Ni không còn vướng vô nhà tôi, chồng tôi, con tôi. Song tâm thức con người có tật là đụng đâu vướng đó, buông cái này lập tức nắm cái kia, nên Ni mắc vô ÔNG PHẬT CỦA TÔI. Của tôi, nên Ni chỉ cho Phật của Ni hít hương còn các Phật khác cho ra rìa. Ni không biết chính hành động đó là thứ khiến Ni xa rời tâm Phật của mình, khiến Ni đi ngược lại sự tìm cầu giác ngộ của Ni. Vì sao? Vì Phật tâm luôn chan hòa rộng mở, không chút ích kỷ. Không phải chỉ lo cái của mình mà phải lo luôn cái của người. Một lúc nào đó còn phải xả thân mạng và tài sản của mình cho người nếu cần. Không phải thứ gì cũng chỉ gói trọn trong cái tôi và cái của tôi. 

Cái tôi và cái của tôi luôn là đầu mối của những rắc rối, nên dạy tới dạy lui gì, ba đời chư Phật, chục vạn Tổ sư cũng dạy người tu là phải phá ngã, là phá đi cái tôi của mình. 

Thiền sư Vinh Tây, một lần vì sự đói gạo đói cơm của một gia đình hành khất mà đành phải cầm mớ vàng lá dùng tô tượng Phật đưa cho người hành khất đi đổi gạo. Đệ tử của ngài biểu lộ sự không vui, bao gồm cả nỗi sợ hãi. Thiền sư vui vẻ giải thích “Các ông chẳng thể nào hiểu nổi việc của ta. Chính vì tôn kính Phật mà ta làm như thế”. Các đệ tử không đồng ý “Nếu thầy vì tôn kính đức Phật mà làm thế thì chúng ta hãy mang tượng Phật bán đi để mà bố thí. Không tôn trọng tín ngưỡng mà cho là tôn kính sao?” Thiền sư Vinh Tây vẫn ôn hòa “Ta vẫn trọng tín ngưỡng và tôn kính đức Phật nên mới làm như thế”. Đệ tử không chịu, cứ lải nhải “Đem vàng lá tô tượng Phật cho người mà cho là tôn kính Phật”. Sau cùng, thiền sư phải lớn tiếng mắng “Lúc đức Phật còn tu đạo, cắt thịt cho chim bồ câu, xả thân cho cọp đói còn không tiếc, huống chỉ vài miếng vàng lá. Phật đối với chúng sanh thế nào các ông có biết không?”. Lúc ấy đệ tử mới hiểu việc làm của thiền sư là hợp với tâm Phật. 

Phật thờ trên bàn thờ là Phật, nhưng chỉ là hình tượng Phật, không có ông Phật nào có linh hồn. Ông Phật đó chẳng có tác dụng gì ngoài việc nhắc cho mình nhớ lại ông Phật của chính mình. Nói vậy không có nghĩa là xúi đừng thờ Phật hoặc đập bỏ ông Phật đó đi. Xúi như vậy là tự mình đầy mình vô đường khổ. Người giác ngộ không ai làm chuyện đó nếu không vì muốn khai ngộ cho một số người khác. Nói “không có giá trị” là để hiểu, phải quay lại tìm Phật trong chính mình. Chỉ khi khai phá được tâm Phật đó, mình mới thực sự an vui và hạnh phúc. Đó chính là điều đức Phật muốn chúng sanh của ngài phải giác ngộ. 

Mỗi người đều có một ông Phật như ông Phật vàng của Ni sư. Ở đâu, làm gì ông vẫn luôn hiện diện trong mình. Song vì ông ở trong chính mình nên mình không thể thấy được mặt mũi ông rõ ràng như thấy mọi người, chỉ có thể cảm nhận được tác dụng của ông qua những việc hằng ngày như ăn, uống, ngủ, nghỉ, thương yêu v.v… mà thôi. 

Cái sắc vàng phủ ngoài ông Phật không phải là chính ông Phật, nhưng nó là thứ biểu trưng cho ông Phật không bị bụi trần làm nhơ. Khi ta không để cho tham - sân - si phải quấy che mờ chân tánh của mình, thì Phật tâm của ta cũng rỡ ràng như thế. Tuy không thấy được thân tướng của Phật nhưng mình có thể cảm nhận được sắc sáng đó của Phật. Song hiện nay ta không thấy được sắc sáng đó vì ông Phật của mình đã bị 3 thứ tham - sân - si phủ mờ, không phải trong một đời mà trong vô số a tăng kỳ kiếp đời, nên Phật mình không chỉ đen phần mũi mà toàn thân tối thui, che khuất hết mọi thứ. 

Phần không trực nhận được ông Phật của mình, phần chỉ thấy hình tượng Phật bên ngoài nên mình cứ tưởng ông Phật xi măng mới là ông Phật thật.

Con bé khoảng 20 tuổi, xinh xắn vô ngần nhưng gầy và xanh mét. Tôi hỏi nó “Con nói con bị ma nhập thường xuyên nhưng nãy giờ ngồi đây sao cô không thấy”. 

Con bé nhỏ nhẹ “Con không biết. Nhưng ở nhà, con bị vậy đó”. 

Người bạn chen vô “Nhập hoài à, em thấy nó nhảy từ trên nóc xuống mà”.

“Con có thích vậy không?”

“Con sợ lắm”.

“Bây giờ mới biết sợ, còn lúc đầu thì thích đúng không?”

Nó cúi đầu không trả lời.

“Giờ phải niệm Phật”.

Nó lắc đầu ngoay ngoảy “Không, con niệm rồi, không ăn thua gì hết. Mới đốt hương, nghe mùi hương nó nhập rồi”.

“Cô nói con niệm Phật chứ không nói con thắp hương”.

Nó nhìn tôi ngơ ngác không hiểu.

Tôi giải thích “Ông Phật trên bàn thờ của con không phải là ông Phật thật, chỉ là một tượng gỗ”. Con bé trố mắt ngạc nhiên nhưng đồng thời cũng như vừa nhận ra được một chân lý lý thú. “Ông Phật có năng lực giúp mình thoát khổ nằm ở tâm mình. Muốn ông Phật đó xuất hiện con phải niệm Phật. Khi nào tiếng niệm Phật được liên tục trong con, ma sẽ không nhập được nữa”.

  “Có niệm rồi nó vẫn nhập. Mà hay quên lắm”.

“Muốn được liên tục thì phải cố gắng. Quên thì thôi. Nhớ là phải niệm. Con niệm ra tiếng đúng không?”. Nó gật đầu. “Nhưng chỉ là miệng đọc còn đầu thì mơ mơ màng màng”. Nó trố mắt nhìn tôi tỏ vẻ không hiểu. “Giờ không niệm ra miệng nữa mà niệm thầm thầm bên trong nhưng tai phải nghe rõ ràng từng tiếng A Di Đà Phật hiểu không”.

“Cứ nhớ là niệm hả cô?” 

“Ừ. Nếu con làm đúng như cô dặn thì ma không nhập nữa. Nếu còn nhập thì cô đưa cái đầu cô cho con chặt. Con thấy đó, ngồi đây với cô nãy giờ, ma có nhập đâu”.

Một tháng sau, chỉ một tháng sau thôi, tôi được cô bạn báo tin là con bé đã trở lại bình thường. 

Thật ra tôi chưa hề bị ma nhập, cũng chưa hề dùng câu niệm Phật để trừ khử lũ ma mà bày cho thiên hạ như thế. Chẳng qua tu thiền, nắm vững cái lý “Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh” nên mới dám đưa cái đầu ra mà cá với nó. Nói chắc là để nó có niềm tin. Niềm tin rất quan trọng. Song quan trọng nhất là nó đã ngán cái việc ma nhập rồi. Nó mà còn thích, tức còn muốn nuôi cái nghiệp ma ấy, thì không thể nào quyết tâm làm theo những gì mình chỉ được. Bất cứ công việc gì dù là việc ngoài đời, không quyết tâm khó mà thành công. Phật cũng đầu hàng đừng nói là mình. 

Tôi biết con bé chưa thể niệm Phật được liên tục, nhưng cũng đủ để tâm nó có lại cái chủ. Chừng đó thôi, ma cũng không thể nhập. Có điều, không ngờ mọi chuyện lại tiến triển mau như thế. Nói chung thứ gì đủ nhân đủ duyên, sẽ hiện thành. Vả lại, Phật đâu có ngoài mình mà không mau. Chỉ cần nhớ đến Phật thì Phật sẽ hiện tiền. Không phải Hòa thượng từng nói “Thấy, là chân tâm. Nghe, là chân tâm” đó sao? Chân tâm là chỉ cho ông Phật của mình đó. Đâu có xa. Tại mình quay lưng với ông Phật của mình thành mới thấy xa, mới thấy Phật ở phương Tây cách mình hàng vạn do tuần.
 


Giết cả đàn trâu

Kinh Bách dụ ghi : 

Thuở xưa có người nuôi 250 con trâu, thường thả ra đồng ăn cỏ. Một hôm đàn trâu bị cọp vồ thịt mất một con. Bấy giờ anh chủ trâu liền nghĩ “Mất một con rồi thì đàn trâu còn làm gì được nữa …”. Nghĩ vậy, anh liền lùa hết đàn trâu xuống vực sâu. 

Chỉ mất một con mà cho cả bầy xuống núi như thế thì anh chàng này cũng thuộc loại hiếm có. 

Thấy tôi ăn chay mà cứ lai vãng nơi hàng thịt và nấu đồ mặn cho con cái, thiên hạ coi bộ sốt ruột, lâu lâu lại có người hỏi :

. Nấu zậy rồi có nêm nếm gì không? 

. Khi có, khi không. 

. Ăn chay gì kỳ zậy? 

. Kỳ sao? 

. Thì nếm đồ ăn mặn. 

. Không nếm, dở quá đem đổ hết thùng rác sao?

. Ừ hén. Nhưng zậy ăn chay chi?

. Một ngày nếm mặn có 2 lần không hơn nuốt mặn hết cả ngày sao? 

. Ừ hén! 

Chắc chắn là phải ừ hén rồi. Được cái gì thì hay cái nấy chứ sao. Đã không ăn chay thì thôi, ăn chay thì cần phải giữ cho thanh khiết, lẫn lộn chay mặn như thế bị phê bình là phải. Nhưng duyên nghiệp mình chưa có điều kiện để giữ cho nghiêm thì mình gắng được thứ gì hay thứ nấy. Một lúc nào đó rồi nó cũng hoàn thiện tròn đầy. Không thể như ông chủ trâu kia, mất một con rồi lùa hết bầy trâu còn lại xuống vực. Con nào mất thì mất, con nào còn thì giữ. Đủ điều kiện thì sắm con mới thay vào. Việc gì lùa hết cho trắng tay.

Tu hành cũng vậy, tu được chút gì thì tu, làm được chút gì thì làm. Có 2000 thì cúng 2000, đừng nghĩ “2000 ít quá cúng chi, khi nào có nhiều cúng luôn thể”. Có 2000 không cúng thì biết đời nào mới có nhiều mà cúng luôn thể. Cái nhân tuy ít nhưng với lòng thành thì cái quả sẽ nhiều. Lúc đó mới có nhiều mà cúng luôn thể. Còn ít không cúng thì lấy đâu ra nhiều mà đòi cúng cho nhiều. 

Hoặc như ngồi thiền, chỉ được 15 phút để tịnh tâm thì ngồi 15 phút tịnh tâm. Được 20 phút thì ngồi 20 phút. Tới chùa nghe pháp ngày nào hay ngày nấy, tu được chút gì hay chút nấy. Còn nghĩ “Hết làm ăn rồi tập trung tu luôn thể” thì biết đến đời nào mới hết làm ăn để tới chùa nghe pháp ngồi thiền mà tu luôn thể. Liệu còn sống đến ngày đó không mà tu. Còn sống thì chắc gì gân cốt còn khỏe để tu. 

Phật nói người giàu chịu tu là khó, nhưng hiện nay vẫn có nhiều người giàu nứt tường đổ vách mà vẫn đến chùa tu hành, hưởng được cả pháp vị của Phật pháp. Có người đang làm giám đốc, bỗng nhiên thấy đầu trọc lóc đi tới đi lui trong thiền viện. Người khó tu còn tu được như vậy, sàng sàng như mình thì nghĩa lý  gì, vì sao không tu? Pháp vị đầy ra đó mà không hưởng thì rất uổng. Thành ít nhiều gì cũng phải bòn. Bòn được chút nào hay chút đó. Không đến chùa được thì tu ngay ở nhà, bớt giận, bớt hét, bớt khó, mở lòng giúp đỡ mọi người, chính là tu. Thời ni đừng tính chuyện tổng thể to lớn. Nạn tai, sông nước, rủi ro nhiều quá, biết nó có chừa mình ra không mà tính chuyện tương lai. Thôi thì bòn được chút gì hay chút nấy. Nhỡ không may cái vô thường có tới thì cũng có chút hành trang mang theo mà tạo dựng cho kiếp sau. Tính vậy đi cho chắc.

Quan trọng là hiện tại mình phải biết chính xác về con người mình. 

Như việc ăn chay nói trên, ăn được tám phần thanh tịnh thì biết chỉ mới được tám phần. Hai phần còn lại kia cũng phải biết rõ là do điều kiện chưa cho phép hay vì mình vẫn còn muốn nhóm nhép nên kiếm cớ nhấm nháp cho vui, rồi đổ thừa tại hoàn cảnh? Biết vậy là được. Đừng biện là ta đã tự tại nên chay mặn không quan tâm. Tu thiền thì mọi thứ không chấp, nhưng mình chưa phải là Tổ sư nên mọi thứ luôn cần rõ ràng. Phải biết rõ sự hạn chế xuất phát từ điều kiện bên ngoài hay do chính bản thân mình thì khi có điều kiện mình mới hoàn thiện được mình. Nếu không, dù điều kiện tốt có đến mình cũng cứ là kẻ làn chàn giữa đời và đạo, nhưng thực chất là đang bị anh vọng tưởng nhà mình dẫn chạy mà mình không biết. 

Trước tôi có quen một anh bạn. Biết tên mà chưa biết mặt. Anh tu thiền nhưng không ăn chay. Điều đó không có gì để nói. Vì hình thức ăn chay không phải là tất cả đạo Phật. Cái chính của việc tu hành là làm sao để tham - sân - si của mình hết, trí tuệ và từ bi của mình phát triển, thành chay được thì tốt, không chay được cũng không có gì để bàn. Khi tham - sân - si mình bớt, trí tuệ mình phát triển, mọi thứ sẽ đâu vào đó. Chẳng có gì đáng lo. Điều tôi muốn nói đây là cách suy nghĩ của anh về chay và mặn. 

Anh có cái nhìn rất ngộ nghĩnh. Anh nói, anh không ăn chay không phải vì anh không có điều kiện để ăn, cũng không phải là ăn không được, mà vì anh thấy điều đó không cần thiết. Không cần thiết nên anh ca tụng luôn việc ăn mặn của mình. Theo anh, ăn chay hết thì thế giới này sẽ ra sao khi mà lũ súc vật không còn bị giết hại? Thế giới này sẽ thành sở thú, mọi thứ là quá tải và chúng sẽ giẫm chết nhân loại. Biện luận nghe rất logic. Nhiều người đồng tình lắm đây … 

Thế giới này được hình thành từ 3 thứ là thần lực của chư Phật, công hạnh của chư vị Bồ tát và hành nghiệp của chúng sanh. Thần lực của chư Phật là muốn nói đến BẢN THỂ TỐI CÙNG của vạn sự vạn vật ở cuộc đời này, từ cái nhỏ nhất trong thế giới vi mô cho đến cái lớn nhất trong thế giới vĩ mô, trong đó có con người. Bản thể này, tất cả mọi loài đều sở hữu nó dù đó là người Ấn hay Campuchia, Công giáo hay Phật giáo, người hay súc vật … Tất cả đều lấy cái KHÔNG này làm bản thể. Song gọi là thần lực của chư Phật vì chư Phật khám phá ra nó, vì nó là phần GIÁC TÁNH rỗng suốt trong mỗi chúng sanh. GIÁC nghĩa là Phật. Nên gọi là thần lực của chư Phật. Chỉ do vô minh mà thành có thân tướng chúng sanh và thế giới như hiện nay mình đang thấy đây. Việc này với đa số chắc là khó tin và khó hiểu. Nhưng hãy làm quen với nó như bây giờ mình làm quen với những khám phá mới của nền vật lý hiện đại chẳng hạn. Một khi sự tu tập tiến triển, trí tuệ hiển bày, mình sẽ không còn ngạc nhiên về những điều như vậy.

Công hạnh của chư vị Bồ tát là chỉ cho hành động thiện của tất cả mọi loài. Các bạn đừng nghĩ phải là đức Quán Thế Âm mới gọi là Bồ tát. Ai nghĩ thiện và làm thiện người đó chính là Bồ tát. Không cần phải mang màu áo đạo Phật mới gọi là Bồ tát. Khi bạn mang niềm vui đến cho một người hay làm vơi đi nỗi thống khổ của một ai đó, bạn làm một việc không phải chỉ vì lợi ích của bạn mà còn vì lợi ích của người, LÚC ĐÓ bạn là hiện thân của Bồ tát. Đơn giản vậy thôi.

Hành nghiệp của chúng sanh là chỉ cho những việc làm liên quan đến tham dục được sai sử bởi những tư kiến không đúng, khiến bản thân mình đau khổ, thế giới chung quanh xảy ra tranh tàn, cướp bóc, khổ đau. 

Thế giới này được hình thành từ 3 thứ đó : Tánh không của vạn pháp, thiện nghiệp và bất thiện nghiệp của chúng sanh. Việc này tương tự như bên Lão giáo nói “Từ một sanh lưỡng cực âm dương. Từ lưỡng cực mà có thế giới”. Đây không nói âm dương mà nói thiện nghiệp và bất thiện nghiệp. Hai thứ đó làm duyên cho nhau mà có thế giới này. Nếu mất một trong hai thứ đó, thế giới này tan hoại, không nói mấy ngàn năm hay mấy tỉ năm. Đa số hành thiện nghiệp thì thế giới an bình. Đa số hành bất thiện nghiệp thì thế giới khổ đau. Điều này cũng đúng với trường hợp một quốc gia, một gia đình hay một con người : Thiện nghiệp nhiều thì yên vui an bình, thiện nghiệp ít thì đau khổ mất mát. Thế giới này vốn như thế. Nếu chỉ thuần thiện hay thuần ác thì thế giới  như hiện nay tan hoại. Thế giới của chư Phật là thế giới thuần thiện.

Nếu tạo thiện nghiệp thì con người không phải đầu thai làm súc sanh. Kinh nói, 3 cõi địa ngục ngạ quỉ và súc sanh là do mình tạo nghiệp bất thiện mà có. Không tạo nghiệp bất thiện thì không có 3 cõi đó. Nếu đa số người hành thiện nghiệp thì súc sanh ở thế giới này cũng giảm hẳn. Thực tế hiện nay cho thấy có người hành thiện nghiệp rất giỏi mà có khi ăn chay vẫn chưa được. Bố thí, cúng dường, mở lòng với mọi người và hạn chế những hành vi xấu ác coi vậy mà dễ hơn ăn chay nhiều lắm. Dù cũng có người không tu, vẫn ăn chay được. Vì thế đừng sợ ăn chay hết thì thế giới này nguy biến. Sợ là sợ không biết làm sao để bản thân mình và người ăn chay mà thôi. 

Cũng như sợ mọi người vào chùa tu hết thì không ai lao động phát triển xã hội, không ai hộ trì Tam Bảo. Đừng sợ chuyện đó. Đã nói nghiệp tập chúng sanh rất dày. Dừng cho được cái lực đó không phải dễ. Muốn vô chùa lắm rồi nhưng cứ lướng vướng, là do cái lực của nghiệp đời không chịu buông mình. Thành muốn rồi, chưa chắc nó chịu cho mình đi, huống là không muốn. Đạo Cao Đài có một câu nghe thì vui, nhưng ngẫm lại mới thấy xót xa cho mình “Tu thì cũng muốn mau thành Phật. Theo Phật thì con lại tiếc đời”. Tu thì không khó nhưng có chịu tu không mới là khó. Thành sợ là sợ mình và người không chịu tu, không phải sợ mình và người tu hết thì thế giới này tan hoại. Tu hết thì thế giới này thành thế giới của Di Đà, Di Lạc, là thế giới Hoa Nghiêm của mười phương chư Phật, sợ gì? Nghe vậy chắc còn hết hồn lẹ. Không biết lúc đó lấy đâu ra gà vịt mà ăn hở trời! 

Cho nên, cái đáng sợ không nằm ở mấy thứ đó, mà chính là ở anh VỌNG TƯỞNG nhà mình. VỌNG TƯỞNG là chỉ cho những suy nghĩ hay quan niệm của mình đó. Anh mà có cơ phát triển thì thôi rất nhiều thứ có lý để mình theo anh cho được yên tâm. Trí Phật một khi bị che mờ thì luận lý và phân tích bắt đầu xuất hiện. Cuộc đời vất vã vô ngần. 


Bệnh

Kinh Niết Bàn ghi :

Ca Diếp bạch Phật rằng “Thế Tôn đã khỏi tất cả bệnh, không còn đau khổ, không còn sợ sệt. Bạch Thế Tôn! Tất cả chúng sanh có bốn mũi tên độc : Tham dục, sân khuể, ngu si và kiêu mạn. Bốn thứ độc này là nhân sanh ra bệnh. Nếu có nhân của bệnh thì có bệnh sanh ra, chính là những thứ như hàn, nhiệt, bệnh phổi, ói mửa v.v… Chư Phật thì không còn những thứ bệnh ấy, sao hôm nay Thế Tôn bảo Văn Thù Sư Lợi rằng Phật đau lưng, các ông nên vì đại chúng mà thuyết pháp.
Bạch Thế Tôn! Có hai nhân duyên thời không bệnh khổ : Một là thương xót tất cả chúng sanh. Hai là cung cấp thuốc men cho người bệnh”. 

Đoạn này được trích từ kinh Niết Bàn phẩm Hiện Bệnh. HIỆN BỆNH là chỉ cho cái tướng bệnh mình thấy ở mỗi người. Đây trích 2 đoạn. Đoạn đầu là nói về nhân duyên tạo ra bệnh. Đoạn sau là nói về cách trị bệnh. Đây là phần Nhân Quả thâm sâu mà chỉ có Phật và hàng thánh chúng của ngài mới chứng nghiệm được. Còn mình thì mình chỉ thấy được phần nhân quả nổi. Đau đầu thì tới bác sĩ soi tới soi lui coi thứ gì sinh ra chứng đau đầu. Do viêm soan mà đau đầu. Do trúng gió mà đau đầu. Do stress mà đau đầu v.v… Tùy cái nhân tìm được mà dùng thuốc trị cái quả cho lành. 

Ngày nay y học tiến bộ rất nhiều nên việc tìm bệnh không mấy khó khăn. Bệnh nào rồi cũng trị được. Cũng là cái phước của nhân loại. Nhưng thật ra không phải ai cũng hưởng được cái phước ấy. Cũng vẫn xảy ra trường hợp đáng tiếc : Sai tuyến, sơ sót hoặc đoán nhầm bệnh.

Ông nội cậu bạn tôi hư chiếc răng cấm, tìm đến bà nha sĩ nổi tiếng. Bà không nhổ cái răng ấy, nhè cái răng bên cạnh mà nhổ. Ông chửi om xòm, nhưng chửi gì thì chửi, bà cũng không thể gắn cái răng ấy vô được, đành nhổ thêm cái thứ hai, miễn hết chi phí nhổ răng cộng một lời xin lỗi, rồi huề cả làng. Luôn có sự cố xảy ra khiến cho sự phát triển của y học trở thành méo mó như thế. Tắc trách của y bác sĩ, đưa đến bệnh viện không kịp, đi cấp cứu thì xe cứu thương bị đụng … Biết bao việc tréo cẳng ngỗng xảy ra. Đó là vì ngoài phần nhân quả nổi, vạn pháp ở thế gian vẫn còn bị phần nhân quả thâm sâu chi phối. Nhân tốt, mọi chuyện xảy ra đều tốt. Nhân xấu, mọi chuyện xảy ra đều xấu. Tất cả đều do phần nhân quả thâm sâu này chi phối. Ông bà mình thường nói “Phước chủ may thầy” là đó. 

Cái bệnh của mình nó liên quan đến cái họa và cái phước của mình mà ông thầy đâm ra có phần trong đó, không phải chỉ nằm ở việc ông thầy giỏi hay không. Nói “không chỉ nằm” là muốn nói mọi việc không phải chỉ lệ thuộc vào ông thầy giỏi mà còn có thêm nhiều duyên khác phù trợ, không phải là đả phá ông thầy giỏi. Thầy giỏi là cần thiết, nhưng phải có thêm phần phước đức của thân chủ, cái giỏi kia mới thành hình. Vì sao? Vì pháp thế gian là pháp Nhân Duyên. Đủ nhân đủ duyên pháp mới hình thành. Không có cái phước của mình thì thầy giỏi bao nhiêu, cái giỏi ấy cũng đội nón ra đi.

Tôi bệnh, kiếm thầy uống thuốc. Thầy nổi tiếng và được hâm mộ rất nhiều. Nhìn thái độ của bệnh nhân, không khác gì lũ mình đối với Hòa thượng của mình. Rất tin tưởng và trân trọng. Vậy mà cố gắng đến mấy, tôi cũng đành từ biệt thầy không một lời từ giã.

Đó là do cái duyên của mình với thầy không thuận như với người khác. Cái “phước” mình thiếu thành cái “may” của thầy không thành. Pháp Nhân Duyên là như thế. Phật nói “Có cùng có, không cùng không”. Thân chủ không phước thì cái may của thầy cũng tiêu. Thầy giỏi bao nhiêu cũng trơ thây với người bệnh vô duyên. Duyên Khởi hiện diện khắp mọi nơi, không bỏ xót chỗ nào. Không lôi Duyên Khởi ra nói sao được.

Nói DUYÊN KHỞI là nói thứ gì trên đời này cũng do nhân duyên hợp thành. Không có thứ gì tự nó có ý nghĩa khi đứng một mình. Nói xấu là phải xấu với quan niệm của người này. Nói tốt là phải đi kèm với quan niệm của người kia. Nói dài thì phải dài so với cái gì. Nói đẹp thì phải có xấu để so sánh. Luôn phải có duyên đi kèm thì giá trị của pháp mới thành hình. Còn bản thân pháp thì không có ngắn, dài, xấu, tốt. Cái tốt hay xấu mà mình gắn cho pháp đó là nói trên mặt đa số khi pháp ở trong duyên. Như sầu riêng, nếu nhiều người thấy thơm thì mình nói sầu riêng thơm. Nhiều người thấy hôi thì mình nói sầu riêng hôi. Nếu không có cái duyên là con người, hoặc có con người mà lỗ mũi không làm việc được thì chẳng thể nói sầu riêng thơm hay hôi. Có thứ để duyên như thế pháp mới thành hình nên gọi là pháp Duyên Khởi. Duyên Khởi là do duyên mới khởi được. Đơn giản lắm, đừng nghe đến hai chữ DUYÊN KHỞI mà sợ. Duyên Khởi hay Nhân Duyên Nhân Quả là như nhau, chỉ tùy khía cạnh sử dụng mà có tên khác.

Như đi thi hoa hậu, là lấy cái quan niệm xấu đẹp của đa số người đời làm cái xấu đẹp của cô gái. Không có sự phán xét của người đời thì bản thân cô gái là xấu hay đẹp? Bản thân cô gái không xấu cũng không đẹp. Xấu hay đẹp là nương vào quan niệm của mỗi người mà cô gái thành xấu hay đẹp. Pháp hiển tướng nhờ vào duyên như vậy, gọi là pháp DUYÊN KHỞI. 

Lệ thuộc vào duyên nên duyên thay đổi pháp cũng thay đổi. Nhưng mình thì thứ gì đã xấu thì tất cả đều xấu, thứ gì đã tốt thì trong mọi trường hợp đều tốt. Cái nhìn đó không đúng chút nào. Không đúng vì nó không phù hợp với qui luật Nhân Duyên của vạn pháp. Tốt hay xấu còn tùy trường hợp, tùy điều kiện. Hiểu được như thế thì đỡ sức tranh cãi, đỡ phiền não, đỡ rất nhiều thứ. 
 
Đức Thế Tôn sau khi thuyết giảng về DUYÊN KHỞI cho đại chúng nghe ở phẩm trước – Phẩm Đại Chúng Sở Vấn – thì không chịu thuyết giảng nữa, mà nói với đại chúng rằng “Này thiện nam tử, phải tự tu tập tâm mình, chớ nên phóng dật. Nay lưng ta có bệnh, cả mình đều đau nhức, ta muốn nằm như trẻ nít và người thường có bệnh. Các ông Văn Thù Sư Lợi … nên vì bốn bộ chúng mà giảng nói đại pháp”. Phật viện cớ như thế rồi nằm dài ra, nhưng là nằm theo thế nghiêng bên phải, không phải nằm theo kiểu thẳng cẳng như mình. Vậy mà ngài Ca Diếp không chịu. Không chịu vì 2 lý do. Một, Như Lai là bậc có trí tuệ và oai đức lớn, không phải như trẻ nít ngu si không biết nói năng mà nằm ngửa nằm nghiêng không ai quở trách, khiến cho hàng trời người phải lo rầu khốn khổ. Hai, làm cho 96 phái ngoại đạo khinh mạn, cho Như Lai là vô thường. Vì 2 lý do đó mà tôn giả Ca Diếp yêu cầu Như Lai ngồi dậy, không được nói đau lưng rồi làm biếng. Nghe đệ tử nói thế, đức Như Lai mĩm cười ngồi dậy, hiện thân tướng kiết già thanh tịnh, dung nhan vuô(vẻ sáng rỡ, phóng ánh sáng lớn chiếu khắp hư không. 

Tướng hiện bệnh của Như Lai là như thế, tương tự như tướng hiện bệnh của ngài Duy Ma Cật “Vì chúng sanh bệnh nên ta bệnh”. Chư Phật và chư vị Đại Bồ tát có bệnh là vì chúng sanh mà hiện thân bệnh làm lợi ích cho chúng sanh, không phải là loại bệnh như của phàm phu mình đây. Loại bệnh đó là bệnh gì, đây mình không bàn, vì mình không phải là hàng Đại Bồ tát. Có bàn thì nó cũng không mang lại lợi ích cho mình, vì bệnh của mình là bệnh phàm phu. Vì thế đây mình chỉ bàn đến loại bệnh mà hàng phàm phu hay mắc phải để biết cái nhân mà tránh cái quả. 

Tôn giả Ca Diếp nói bệnh sinh ra là do 4 thứ tham, sân, si và kiêu mạn. Nghĩa là, 4 thứ đó là nhân sinh ra bệnh cho chúng sanh. Mình có bệnh là vì mình còn bị 4 thứ đó chi phối. Muốn hết bệnh thì phải bỏ đi 4 thứ đó. 

THAM là chỉ cho những đòi hỏi của thân và tâm. Chữ THAM này là anh em họ hàng với chữ MUỐN. Những gì đi quá đà, vượt hạn mức cho phép đều thuộc về tham. Tham ăn, tham uống, tham ngủ, tham dục, tham danh, tham vị, tham quyền, tham nhũng v.v… Tu mà vượt hạn mức cho phép cũng gọi là tham mà là tham tu. Thứ gì thuộc THAM, thứ đó sẽ dẫn mình đến bệnh và khổ. Thân cũng có bệnh khổ mà tâm cũng có bệnh khổ. Tham ăn, tham uống thì trúng thực, tiểu đường. Tham dục thì sida, suy thận. Tham nhũng thì ở tù. Tham tu thì sinh bệnh, vượt hạn mức cho phép nữa thì … khùng!

SÂN là sân giận. Thứ gì thấy phùng mang trợn mắt, la hét om sòm, vun tay múa chân, giận dữ, lăn đùng ra đất ... là tướng của sân. Đó là tướng sân thô. Sân tế thì không có các tướng kinh khủng đó mà là im lặng nhưng cái mặt sa sầm, không chút vừa lòng.

Biến dạng một chút nữa là HỜN. Nói gì mà nàng cứ lầm lầm lì lì, không thì mím môi quay mặt, hoặc con mắt liếc ngang có đuôi là biết đã hờn. Hờn là một biến dạng của sân, là cái nhân của bệnh và khổ.

SI thì không có hình tướng rõ ràng như tham và sân, nhưng nó là nền tảng của 2 thứ đó. SI là tên khác của vô minh. Không nhìn đúng thực chất của cuộc đời gọi là si. Do si mà có tham và sân.

KIÊU MẠN là thấy mình hơn người mà lại đi khuyếch trương cái hơn đó lên. Kiêu mạn thường hình thành trong môi trường nào nó thành công. Người thành công trong tiền bạc thì hay kiêu mạn trong lãnh vực tiền bạc. Người thành công trong việc tu hành thì hay kiêu mạn trong vấn đề tu hành. Người cúng dường nhiều thì dễ sinh tâm kiêu mạn trong việc cúng dường. Người giảng pháp hay thì dễ sinh tâm kiên mạn trong lãnh vực giảng pháp v.v... Có kiêu mạn sẽ có cái quả của kiêu mạn. 

Kinh Niết Bàn tuy chỉ đưa ra 4 thứ khiến chúng sanh có bệnh nhưng không nói rõ nhân THAM gây ra bệnh gì, nhân SÂN gây ra bệnh gì, nhân KIÊU MẠN gây ra bệnh gì. Chỉ biết một khi mình có bệnh hay tật là vì mình còn tham, sân, si, kiêu mạn. Hết những thứ đó thì hết bệnh tật. 

Kinh Trung Bộ tập III và luận Đại Trí Độ có nói đến mối liên hệ giữa nhân và quả của bệnh tật. Người thời nay hay đau ốm bệnh tật, NHÂN DUYÊN THỨ NHẤT là do đời trước hay dùng roi gậy đánh khảo, giam trói, làm các thứ não hại đối với loài hữu tình. Tùy mức độ gây nghiệp và tâm trạng lúc sắp chết mà có cái quả ở địa ngục, súc sanh hay ngạ quỉ. Nếu sinh ra trong loài người thì hay bị bệnh. NHÂN DUYÊN THỨ HAI là đời nay không biết nuôi thân, ăn uống không tiết độ, nằm, ngồi, đi, đứng không chừng mực v.v... mà sinh bệnh, không phải do nghiệp của kiếp trước mà sinh bệnh. Đó là 2 NHÂN chính, ngoài ra còn một số nguyên nhân tạo bệnh khác, song đều không ra ngoài 4 thứ tham sân si kiêu mạn.

Câu Già Ly là đệ tử của Đề Bà Đạt Đa. Thầy chuyên môn xúc xiểm Phật. Trò thì hay để ý đến đệ tử Phật. Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, một lần bị mưa phải trú tạm trong nhà một người thợ gốm. Trong nhà lúc ấy có một người nữ. Ông xem tướng thấy người nữ vừa xuất bất tịnh nên quả quyết với mọi người rằng “Đệ tử của Phật gian díu bất tịnh với người nữ” và đem chuyện này tâu với đức Phật.  [5]

Phật nói với Ca Già Ly ba lần như vầy “Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, tâm thanh tịnh nhu nhuyến, ngươi chớ hủy báng mà phải chịu khổ suốt đời”. Nhưng ông không nghe, một mực cho cái thấy của mình là đúng. Sau đó toàn thân ông sanh mụt nhọt, mới đầu như hạt cãi, rồi lớn dần như hạt đậu, quả táo v.v... đau đớn như lửa đốt, kêu la rên xiết, chết ngay trong đêm ấy. 

Khổ nạn đó là do khẩu nghiệp mà ra. Dù không cố ý nhưng do cái trí của mình không xuyên thủng được sự thật của vạn sự vạn vật đây mà thành nói oan cho người khác. Cái quả mới ra như vậy. Song phỉ báng người bình thường chắc không đến nỗi phải mang tật bệnh đau đớn như thế, nhưng vì là hàng thánh chúng của Phật nên mới chịu cái quả nặng nề.

Người xưa nói “Bệnh từ khẩu nhập, họa từ khẩu xuất” là vậy. Ăn quá nhiều. Ăn những thứ thân không cho phép mà cứ ăn nên bệnh. Miệng hay nói, nói những thứ không nên nói nên sinh họa.

Nói sơ về những cái NHÂN trực tiếp sinh ra QUẢ bệnh tật như thế là để mình soi rọi lại chính mình, xem mình có bệnh có tật đó không. Nếu có thì trừ đi cái nhân ấy để khỏi gặt cái quả. Không phải là thứ mình dùng để soi chiếu ra ngoài. Bởi pháp thế gian là pháp Nhân Duyên. Có khi cùng nhân mà quả lại có nhiều sai khác. Có khi quả thì như nhau nhưng lại bắt nguồn từ nhiều nhân khác nhau. Đó là vì trong quá trình đi từ nhân đến quả, còn phải chịu sự chi phối của duyên. 

Như nghiệp sát sanh, cái quả của nó thường là chết yểu. Song vẫn có thể nhờ cái duyên là tích tập công đức tu hành mà chuyển hóa cái quả chết yểu thành bệnh tật. Cho nên, nhiều khi mình thấy sao người hiếu hạnh phúc đức lại nhiều tật bệnh, thực ra chính nhờ cái hiếu hạnh phúc đức đó mà chỉ bị tật bệnh, không thì chết ngủm lâu rồi. 

Kinh Kim Cang nói, thấy người trong đời nay hành trì kinh Kim Cang mà vẫn bị người đời khinh chê thì biết người đó đáng nhẽ bị cái quả địa ngục nhưng do hành trì kinh Kim Cang mà thoát kiếp địa ngục, chỉ bị người phỉ báng khinh chê. Trong mọi lãnh vực đều như vậy, nhưng phải là loại nghiệp bất định và sự chuyển hóa không chỉ nằm trên việc làm phước mà phải chuyển cho được tâm chúng sanh thành tâm thanh tịnh. Vì thế nói “Hành kinh Kim Cang”. 

Biết nhân sinh ra bệnh, muốn dứt quả bệnh thì phải trừ nhân. Nhân là tham - sân - si và kiêu mạn. Phải trừ đi những thứ nhân đó thì mình mới hết bịnh. Đây ngài Ca Diếp nói “Phải thương xót tất cả chúng sanh và cung cấp thuốc men cho người bệnh”. Vậy sự thương xót và cấp thuốc men cho người bệnh đó liên quan thế nào với cái nhân tham - sân - si, mà đây không dạy trừ bỏ tham sân si lại chỉ dạy thương xót chúng hữu tình? 

THƯƠNG XÓT CHÚNG SANH là không ghét bỏ ai, không thấy mặt ai đáng ghét, không thấy bực mình đau khổ khi phải đối diện với họ. Đó gọi là thương xót. Chúng sanh là chỉ cho tất cả mọi loài từ con người đến con vật. Không phải chó lông xù thì thương mà chuột cống thì gớm. Người thương mình thì mình thương mà người ghét mình thì mình ghét. Gớm thì một ngày mát trời nào đó, mình sẽ đổ nước sôi luộc chín nó. Không ưa thì cái gì nó làm, mình cũng thấy không vừa lòng, hở cái là than phiền, nên mắc khẩu nghiệp. Rất dễ sinh nhiều tội lỗi khi vướng vào thương và ghét. Có khi giết người cũng nên. Quả báo không phải nhỏ. Nên Phật dạy phải thương xót tất cả chúng hữu tình.

Song muốn thương xót được chúng sanh bên ngoài, thì đầu tiên là phải thương xót chúng sanh trong tâm. CHÚNG có nghĩa là họp lại, tụ lại. SANH nghĩa là khởi lên. CHÚNG SANH, nghĩa chính của nó là tụ lại mà sanh. Cái gì tụ lại? Tâm, ý và ý thức[6]  tụ lại mà phát khởi đủ thứ quan niệm, suy nghĩ, vui, buồn v.v... là chỉ cho những gì khởi lên trong tâm mình. Chính là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Mình phải thương xót những em này trước. Những em này được bảo bọc kỹ càng rồi thì tâm Phật của mình mới hiển lộ. Một khi Phật tâm hiển lộ thì trí tuệ và từ bi xuất hiện. TỪ BI có rồi thì thấy ai cũng thương. Thương này là thương mà không dính mắc. Không phải thương theo kiểu mấy ông mấy bà thương nhau rồi dẫn đến chuyện động trời động đất. Cái nớ không phải là từ bi mà là ái dục. 

DÍNH MẮC là thứ để ta có thể phân biệt được từ bi với ái dục. Nếu thương mà có dính mắc là ái dục, không dính mắc là từ bi. Loại tình thương nào khiến mình bận tâm với nó nhiều quá, là mình đã dính mắc với nó dù là tình thương đối với một đứa trẻ hay một người nghèo khổ. Dính mắc theo kiểu này, kinh không gọi nó là ái dục mà gọi là ái kiến đại bi. Tốt đó nhưng bị chi phối bởi tình cảm thường tình nhiều quá, thiếu trí tuệ và định lực, nên gọi là ái kiến đại bi. Nếu đúng là đại bi, nó phải là dụng của Phật tâm, không phải là loại tình thương bắt nguồn từ những quan niệm định kiến của mình. Cái thương ấy không làm mình dính mắc với vạn pháp, không khiến mình làm chuyện hại người hại vật, cũng không bị hạn cuộc dưới bất cứ một hình thức nào.

Cho nên, tu không có nghĩa là trở thành cây khô cỏ đá, mà chỉ là chuyển tình thương nhỏ hẹp của mình thành tình thương rộng lớn. Đây là lý do vì sao bà cụ đốt am đuổi mất thầy tăng. Bởi bà nắm vững tinh thần mà một người tu chân chính cần đạt đến.

Chuyện bà cụ đốt am đuổi tăng là vầy. Một lão bà phát tâm dựng một chiếc am cho tăng nhân khi biết ông muốn nhập thất tu hành. Sau mấy năm hầu hạ cơm nước đầy đủ, bà cụ bảo đứa cháu gái “Con mang cơm vào cho thầy, sau đó ôm ngang lưng thầy và hỏi ‘Ngay bây giờ thì thế nào?’. Coi thầy trả lời sao rồi về thuật lại cho ta”. Đứa cháu gái y theo lời mà làm, rồi hỏi “Ngay bây giờ thì thế nào?”. Tăng trả lời “Khô mộc ỷ hàn nham, tam xuân vô nỗn khí”. Cây khô trên núi lạnh, ba xuân không chút hơi ấm. Đại khái là tôi bây giờ như cây khô không còn tình cảm gì đâu mà thử. Lão bà nghe cháu gái thuật lại như thế điên tiết nói “Lão tu thế nào ta không cần biết, nhưng ít nhất phải còn chút tình cảm chứ! Thật uổng công ta nuôi ăn mấy năm”. Nói rồi đốt am, đuổi quách thầy tăng.

Thầy biết không xong, vào năn nỉ bà lão cất am cho nhập thất lần nữa. Thời gian sau bà lão cũng bổn cũ soạn lại. Lần này, tăng thoải mái trả lời “Tôi biết, cô biết, đừng cho bà lão biết”. Đứa cháu về thuật lại cho bà cụ những gì thầy tăng nói. Lần này bà cười khoái chí “Vậy mới đúng là thánh tăng”. 
 
Tu là để trở lại tâm Phật của chính mình. Phật tâm thì đầy đủ trí tuệ và tình thương nhưng không dính mắc, không phải tu rồi thì trở thành cây khô cỏ đá. Vì thế chỉ có “Cô biết, tôi biết, đừng cho bà lão biết” mà không còn là “Cây khô trên núi lạnh, ba xuân không chút hơi ấm” nữa. 

BIẾT rồi thôi, không sanh thêm gì nữa thì đó chính là Phật tâm. Phật tâm thì bình đẳng không có phân biệt. Nói chính xác là “Phân biệt cũng không phải ý”.[7]  Nam không khác nữ nhưng nam không phải là nữ. Vì thế mọi thứ thành hồn nhiên mà không lẫn lộn. Cô thấy tôi thì chỉ thấy tôi rồi thôi, đừng khởi lên tăng này đẹp quá, tăng này tu hành gì mà kỳ, hoặc kèm thêm bao nhiêu cảm giác tâm tư khác nữa. Mấy thứ khởi lên đó là mở đầu cho một cuộc hành trình vất vả của tâm. Bởi thường đã thấy đẹp thì muốn nhìn. Thấy thương thì muốn giữ. Từ cái giữ đó mà sinh chuyện. 

Nói “thường” tức không phải khi nào cũng vậy. Vẫn có người chiêm nghiệm những thành quả của thiên nhiên mà không hề bận tâm theo những thành quả đó. Một chút nên thơ trong mộng của những người đã tỉnh mộng. “Nhạn quá trường không, ảnh trầm hàn thủy, nhạn vô di tung chi ý, thủy vô lưu ảnh chi tâm”. Chim nhạn bay ngang trên không, bóng in xuống hồ lạnh. Nhạn không có ý để bóng. Nước không có tâm giữ bóng. Đủ duyên thì hiện. Hết duyên liền không. Không như tâm chúng sanh, đụng đâu cũng vướng như kẹo chewgum, qua rồi rẩy mấy cũng không đi. Đều do phần ý thức phân biệt mà ra. 

Nếu cô gái chỉ BIẾT như thế thì cô cũng là một thánh tăng. Lúc đó cô có thể biết tất cả pháp mà không vướng tất cả pháp. Phật tuệ hiện tiền thì tình thương dung dị đầy đủ nhưng không hề dính mắc. Nếu tâm đã không mà giữ chặt cái không ấy, thì không làm sao tiếp độ được chúng hữu tình. Không làm sao thấy được tâm người mà tiếp độ. 

Bao nhiêu người đến với Hòa thượng vì Hòa thượng lạnh lùng, ánh mắt không một chút tình thương? Sẽ chẳng còn ai. Người ta đến với đạo vì người ta tìm thấy nơi đức Phật sự thương yêu che chở, bao dung và tha thứ. Là nơi có thể tha thứ mọi tội lỗi trái khuấy của người đời. Chính nhờ thứ tình thương vô trụ ấy mà chúng sanh tìm đến với đạo. Muốn vậy thì tâm phải KHÔNG mà không được thủ lấy cái không ấy. Nhuần nhuyễn lưu chảy và không để lại dấu vết. 

Thương theo kiểu ái kiến thường tình của người đời không được đã đành mà trơ trơ như cây đá cũng không xong. Đó là hai thái cực mà người tu cần phải tránh. Cái cực khô ngắt kia có thể là một chặn đường mà người tu phải đi qua, nhưng đó không phải là chỗ rốt ráo. Khó lắm không phải dễ. Có tình thương mà không được dính mắc. Ác là ở chỗ đó. 

CUNG CẤP THUỐC MEN cho người bệnh thì dễ hiểu rồi. Nhưng chỗ này cũng phải khéo. Thuốc không phải là thứ mà người này uống hay thì người khác uống cũng vậy, rồi đụng đâu cũng cung cấp. Không phải. Phải tùy duyên. Cái duyên này rất quan trọng. Không cẩn thận không được. Cho nên, tuy nói cung cấp thuốc men nhưng ý là làm sao giúp phương tiện để người bệnh được lành. Cung cấp mà phải có lòng thương xót tất cả thì việc cung cấp thuốc men của mình mới không bị hạn chế.

Thiền sư Phật Quang đối với đồ chúng rất từ mẫn. Dù là kẻ du phương tham học hay lưu học sinh đều được Sư ra lệnh cung cấp đầy đủ các thứ cần dùng, nhất là với người có bệnh. Thuốc men khi nào cũng chu toàn.

Một lần, chưởng quản Khế Hội cầm một xấp biên nhận lên than với Sư về việc chửa răng của đồ chúng, thuốc men quá tốn kém, không thể lo nổi. Sư trả lời “Không lo nổi cũng phải tìm cách lo cho nổi”. Khế Hội thấy Sư dứt khoát như thế mới nói “Tuy thọ của thường trụ nhưng họ lại không biết ơn, còn bất mãn. Con thấy không nên xuất tiền lo cho uổng”. Thiền sư Phật Quang trả lời “Hạng ấy tuy thốt ra toàn lời không tốt, nhưng không vì thế mà không trang điểm được cho họ một cái răng tốt”. 

Cách xử sự của chư lão thiền sư là như thế. Tâm lão bà, khi cung cấp thuốc men cho ai, không quan tâm đến việc người ấy tốt hay không. Chỉ biết người đang cần thì cung cấp, bất kể là thân hay sơ, giàu hay nghèo, tốt hay không tốt. Thương xót hết thảy chúng sanh thì phải vậy.

Sử dụng được hai nhân duyên đó thì mình sẽ tránh được bệnh tật trong tương lai. Nếu có bệnh trong hiện tại, mình cũng gặp được thầy được thuốc chữa trị đúng đắn, không đến nổi tiền mất tật mang, tổn hại đến bản thân. Song bệnh thân không bằng bệnh tâm. Bệnh tâm hết, cuộc sống của mình mới thật là hết bệnh. 


Khóa trình cần phải tu

Tinh Vân Thiền Thoại ghi :[8] 

Học tăng Nguyên Trì tham học trong pháp hội của thiền sư Vô Đức. Tuy dụng công siêng năng nhưng rốt cuộc đối với thiền pháp không cách gì thể nhập. Một lần trong giờ tham vấn, Nguyên Trì bạch thầy “Đệ tử vào tùng lâm đã nhiều năm nhưng vẫn mờ mịt không biết gì. Ngày qua ngày luống thọ sự cúng dường của tín thí mà không ngộ. Xin thầy từ bi chỉ dạy, mỗi ngày ngoài việc tu trì ra, còn khóa nào cần tu thêm không?”. Thiền sư Vô Đức đáp “Tốt nhất là hãy trông coi hai con kên kên, hai con nai, hai con nhạn và cột một con trùng trong miệng, đồng thời chiến đấu với một con gấu và chăm sóc một bệnh nhân. Nếu làm được như thế và tận tâm với nhiệm vụ của mình, ta tin đó là sự trợ giúp tốt nhất cho ông”. 

Nguyên Trì là một tăng nhân trong pháp hội của thiền sư Vô Đức. Tuy nhiệt tình tu hành nhưng tăng không làm sao thể nhập được thiền pháp. Thiền pháp là chỉ cho những chiêu mà các thiền sư đưa ra để dạy môn đồ trực nhập bổn tánh của mình. Đại khái như ngày nay mình đang lang thang trong thiền viện, bỗng thấy thầy Trụ trì hỏi một tăng nhân “Ông có phải là chủ núi Hương Sơn chăng?” Tăng nhân trả lời “Muối, trà, dầu tùy ý mua chút ít v.v...”. Nghe vậy mà mình cứ ngớ người ra không biết hai vị đó có đau thần kinh không, là mình đang ở trong tâm trạng của tăng Nguyên Trì đây. Sống trong chúng đã lâu mà như trên trời rơi xuống như thế, thì rõ ràng việc tu học của mình có vấn đề. Tăng Nguyên Trì cũng vậy. Xét lại bản thân, Nguyên Trì thấy mình rất tinh tấn. Tụng kinh, sám hối, ngồi thiền … nhưng vì sao mọi thứ không như ý? Vì tu chưa đủ. Vì thế, tăng đã thỉnh nguyện thiền sư Vô Đức chỉ dạy. 

Kên kên, nhạn, nai, trùng, gấu và bệnh nhân, thiền sư Vô Đức giải thích là chân, tay, mắt, lưỡi, ý và thân bệnh của mình. Ta nói kên kên, là ông phải thường cảnh giác 2 con mắt của mình, phi lễ chớ nhìn. Hai con nai là cần phải giữ gìn hai chân mình, đừng để nó chạy theo hướng tội ác, phi lễ chớ hành. Hai con nhạn, là hai tay ông phải thường làm công tác, tận tình trong trách nhiệm của mình, phi lễ chớ động. Một con trùng là cái lưỡi của ông, phải cột chặt lại, phi lễ chớ nói. Một con gấu chính là tâm ông, ông phải khắc chế cá nhân riêng tư của mình, phi lễ chớ tưởng. Người bệnh là chỉ cho thân ông, hy vọng ông đừng để nó phạm tội ác. Ta mong rằng trên đường tu đạo, những khóa trình cần phải tu đó không thể thiếu. 

Mình tụng kinh giỏi, ngồi thiền lâu mà không ngộ được cái gì cho ra hồn, vì mình không quản thúc kỹ những con vật mình đang sở hữu. Không phải chỉ có tăng nhân mới thực hiện các điều dạy đây. Ngay cả cư sĩ ngoài đời, tu chỉ để hết khổ thì không nói, nhưng nếu muốn thể hội được thiền pháp, ngộ ra được bản tánh của mình đều phải quản kỹ những con vật mà thiền sư Vô Đức đã chỉ dạy.

Ta nói kên kên, là ông phải thường cảnh giác 2 con mắt của mình, phi lễ chớ nhìn. Mắt là mắt của mình, vạn vật cũng bày hiện tự do quanh mình, nhưng không phải thứ gì cũng có quyền nhìn và có thể nhìn được. Ngay ở ngoài đời đây, nếu những thứ không cho phép nhìn mà nhìn, pháp luật cũng không cho, phải tốn tiền bồi thường, đừng nói là người tu. Vì thế PHI LỄ CHỚ NHÌN. Phi lễ là chỉ cho những gì trái lễ nghĩa, những gì vượt mức cho phép.

Người ta tắm trong phòng tắm, mình khoét một lỗ nhìn cho thấu, phi lễ đã đành, mà người ta mặc bikini đi vòng vòng trên bãi biển, mình chong mắt ra nhìn cũng thuộc phi lễ. Tăng nhân ngang qua hồ sen ngửi chút hương thơm còn bị quở, huống là những thứ có hình có tướng mỹ miều? Với thiền, thứ gì có sự chăm chú chiếu soi hướng ngoại, đều là phi lễ. PHI LỄ thì CHỚ NHÌN. 

Thật ra, thiền không cắm nhìn thứ gì hết. Có thể nhìn mọi thứ với điều kiện không được trụ chết ở thứ nào. Nhưng tật của mình là nhìn thứ gì vừa ý rồi, mất hồn luôn vào thứ đó. Không thì bươi bươi móc móc như con kên kên dõi mắt tìm xác chết. Đụng đâu cũng chiếu cũng soi. Vì thế, thiền sư Vô Đức dạy tăng Nguyên Trì PHI LỄ CHỚ NHÌN. Khỏi nhìn luôn cho chắc. Tâm không động, cũng chẳng ai muốn nhìn những thứ như thế. 

Hai con nai là cần phải giữ gìn hai chân mình, đừng để nó chạy theo tội ác, phi lễ chớ hành. Đang trong lúc tu hành mà đâu cũng thích bương chãi, rất là khó tu. Đi nhiều, tiếp xúc nhiều, thân động, tâm động … Khó mà bảo quản thằng ý thức của mình. Cái thích đi nhiều đó cũng nói lên cái động của mình. Động mới không chịu yên. Quảng cho được cái đi đó chính là tu. Còn muốn đi là đứng dậy đi thì đi sẽ thành nghiệp (thói quen). Thành nghiệp rồi thì nó sẽ có lực dẫn mình đi nữa. Đi mãi ... Quên mất đường về. 

Trong giai đoạn đang tu hành như mình, là giai đoạn phải dừng bớt cái động để thể nhập cái tịnh, thì tịnh thân tịnh tâm là điều cần thiết. Được cái tịnh đó rồi, mới có thể thể nhập được THỂ TÁNH “không động cũng không tịnh” của mình. Nhà thiền gọi đó là kiến tánh. Được cái không động không tịnh đó xong, tùy duyên mà có động hay tịnh. Vì thế đi không phải là lỗi. Nhưng đang trong giai đoạn tu hành điều thân điều tâm mà đi nhiều thì lỗi. Đi nhiều khó mà điều thân điều tâm. Muốn ngộ được thiền pháp mà thân tâm không định làm sao ngộ được? Trăng muốn hiện thì nước phải yên, nước chao mặt thì trăng không thể hiện. Vì thế muốn ngộ được thiền pháp thì phải giữ cặp giò cho chặt. Đi đâu cũng phải đi trong chánh niệm. Đi được trong chánh niệm thì muốn đi đâu đó đi. Nghĩa là, thiền hành quán tâm thì tốt, nhưng xách xe chạy vòng vòng coi thiên hạ buôn bán ra sao, thành phố có gì thay đổi thì Phật cũng chạy. PHI LỄ CHỚ ĐI là vậy.

Hai con nhạn, là hai tay ông phải thường làm công tác, tận tình trong trách nhiệm của mình, phi lễ chớ động. Hai cái chân không nên đi nhưng hai cái tay phải làm. Vì sao? Vì “Một ngày không làm, một ngày không ăn”. Tập nghiệp của mình dày lắm. Lao động công tác là thứ giúp mình thải bớt những năng lực “trời cho” của mình. Chưa phải là hàng quốc sách mà chỉ có ăn với ngủ thì đại nạn sẽ xảy ra. Thành làm gì làm, đừng nên làm biếng. Đừng ương ương dỡ dỡ như người không hồn. Làm biếng người ta nhìn vô cười đã đành mà mình cũng không thể tu hành lâu dài được. Năng lực trời cho đó mà không giải tỏa bớt qua phần học tập hay lao động thì nó sẽ khiến mình sải bước đi rong. Cho nên, đợi nhập thất rồi hãy làm biếng. Đó là lúc mình có quyền làm biếng cái tay để tập trung phát huy cái BIẾT. Còn bình thường thì phải học, phải làm việc. Mọi thứ đều phải thực hành trong chánh niệm. 

Làm trong chánh niệm là làm thứ gì chỉ biết thứ đó thôi. Cố gắng chăm chú vào việc mình đang làm. Đã không làm thì thôi, đã làm thì phải làm cho tới nơi tới chốn, cho hết lòng. Khi làm cũng không nên phân tâm thành hai ba việc một lúc. Tâm sẽ chẳng có ĐỊNH LỰC khi tay thì làm, miệng thì nói, mắt lại nhìn đâu đâu, chỉ chuyên chú vào nơi không dính gì đến việc mình đang làm. Làm việc như vậy, chẳng bao giờ có cơ hội đập bể được thùng sơn.

Tay là để làm việc, chân là để tréo lại ngồi thiền. Không phải có chân để đi bát phố nhìn thiên hạ rồi thấy gì cũng bốc cũng lũm. Thứ không phải của mình cũng lấy. Đụng đâu cũng lục cũng soạn. Đó gọi là táy máy tay chân. Chẳng qua vì tâm động. Nên nói PHI LỄ CHỚ ĐỘNG. Động là chỉ cho sự táy máy. 

Một con trùng là cái lưỡi của ông, phải cột chặt lại, phi lễ chớ nói. Nói, không phải lỗi. Nói nếu là lỗi thì Phật Tổ và chư thiện tri thức đều im. Song các vị vẫn nói. Vậy thì biết, nói không phải là lỗi. Lỗi là do mình nói không đúng lúc, đúng thời. Nói khiến người ta đau lòng, nói cho người ta gây nhau, nói để hạ cơn giận của mình, phi lễ đã đành, mà lúc đang tập trung tu hành, cần giữ mồm giữ miệng cho mốc như chiếc quạt mùa đông cũng nói, đều thuộc phi lễ. 

Một ngày không làm, một ngày không ăn coi vậy mà dễ hơn một ngày không nói. Không nói ra miệng thì cũng thầm thầm thì thì trong đầu. Thành đủ duyên một cái là trào ra như suối. Người ta không nghe, mình cũng nói. Nói đến nổi người ta ngủ rồi, mình cũng nói. Nói kiểu đó thì khó mà trực nhập được thiền pháp. 

Cái nói này liên quan mật thiết đến con gấu của mình. Một con gấu chính là tâm ông, ông phải khắc chế ngự cá nhân tiêng tư của mình, phi lễ chớ tưởng. Dòng vọng tưởng tương tục của mình chưa ngắt quãng, nên mình không thể làm chủ lấy cái nói của mình. Mình cứ tưởng mình làm chủ lấy cái nói, lấy tư tưởng của mình, nhưng thật ra dòng tương tục suy nghĩ đó đang dẫn mình chạy, làm cái biết của mình bị lu mờ. Biết đã lu thì chủ cũng chẳng còn. Nên một khi có cơ xuất ngôn là khỏi ngừng, tranh nhau mà nói, nói không kịp thở.

TÂM mà thiền sư Vô Đức nói đây là chỉ chung cho những gì khởi lên trong tâm mình. Với thiền, mọi hình ảnh suy nghĩ của 3 thời đều thuộc phi lễ. Thứ gì có tính cách riêng tư, cá nhân, tức thuộc về cái tôi và những cái của tôi thì phải coi chừng. Giường tôi, áo tôi, công việc của tôi, ý kiến của tôi v.v… Một khi mình còn coi trọng những thứ đó thì thế nào cũng có đụng chạm thị phi. Không vừa lòng là đầu mối của mọi sinh sự. Phải làm sao vượt qua những thứ không vừa lòng này. Đó chính là tu, là đang phá đi cái tôi của mình. 

Trong công việc và ngủ nghỉ, cố gắng sống với những gì hiện thực trước mắt. Đang tụng kinh thì chỉ một việc tụng kinh thôi, đừng có tay thì gõ mõ, miệng thì tụng kinh mà đầu thì đang tưởng đến chuyện khác. Dù chuyện khác đó có là chuyện tu hành cao cả đến đâu thì cái cao cả tu hành ấy cũng lỗi. Vì mình làm việc không có chánh niệm. Làm việc mà tâm chỉa ba như thế thì không cách gì định được tâm. Vì thế nhiều khi thấy hình thức rất chăm chỉ nhưng những thứ cần quản, mình không quản cho đúng, thành ngày tháng cứ trôi qua mà việc sáng tâm thì không thấy.

Quản tâm rồi bây giờ đến quản thân. Người bệnh là chỉ cho thân ông, hy vọng ông không để nó vướng vào tội ác. Gọi là thân bệnh vì nó vẫn còn bị sai sử bởi 3 thứ tham - sân - si. Còn bị những thứ đó dẫn dắt thì mình rất dễ thuận theo những thứ đó. Cái điển hình gần nhất là làm biếng. Đến giờ ngồi thiền sao thấy cái thân nó mỏi thành không ngồi. Thiền sư nằm thiền không sao nhưng mình nằm một chặp là nhập định. Nhập định rồi gặp cảnh giới lạ, thấy đi chỗ này, chỗ kia, cười nói lung tung, gặp bà con họ hàng đủ thứ. Đến khi người bạn bên cạnh đập một phát vào mông, mình mới thức giấc. 

Bạn có tin làm biếng là tội ác không? Làm biếng có khi là tội ác. Nói có khi vì hai chữ làm biếng thường chỉ cho thói xấu. Nhưng có khi làm biếng mà không xấu. Vì xấu hay tốt là tùy duyên. Một lần ăn chè xong, làm biếng nên tôi quăn chén đó không rửa. Qua một đêm kiến đầy nhóc. Con thì chết, con vỗ hoài không đi. Song thời gian thì có hạn, vỗ một chặp không xong đâm bực, thế là có con phải dẹp dưới bàn tay nhanh nhẩu của mình. Hàng vạn sinh linh tử nạn chỉ vì một tật làm biếng. Rõ ràng những loại làm biếng như thế dễ gây cái nhân tội lỗi. Đó là trong công việc hằng ngày, việc tu học cũng vậy. 

Một thời gian dài, cứ tréo chân lên ngồi thiền là tôi đau đầu. Đau ghê gớm. Đau đến nổi thấy tọa cụ bồ đoàn là nổi gai óc. Sợ, thành bắt đầu làm biếng. Thay vì ngồi, thả chân đánh một giấc cho khoẻ. Giấc 4 giờ đó, không ngủ thì thôi, ngủ được là nhập định liền. Nhập định rồi có cảnh giới lạ. Lần này, thấy mình lang thang vào một bệnh viện, dưới chân la lết người bệnh. Rồi thấy mình chen chân qua những bệnh nhân trong tâm trạng rất bình yên. Bổng thấy mình rùn mình. Khi sự sợ hãi xuất hiện, liền thấy máu nơi người bệnh tuôn ra, bắn tung toé vào người mình. Giật mình, hoảng hốt, tôi tréo chân trở lại bồ đoàn. Cơn đau rồi cũng qua đi. Mọi thứ bình yên như cũ.

Đó chỉ là giấc mơ. Song nó nhắc mình nhớ mối quan hệ nhân duyên giữa con người với con người. Mình cứ tưởng những gì là mình thì không can hệ gì đến người chung quanh. Việc mình làm chỉ là của riêng mình, không can hệ gì đến người khác. Nhưng thực ra mọi thứ đều có quan hệ mật thiết với nhau. Việc mình làm luôn ảnh hưởng đến người chung quanh. Ảnh hưởng đó sẽ tác động ngược trở lại mình. Song với con mắt thường của mình đây, mình không thấy thủng được điều đó.

Thiếu trí tuệ, hành xử của mình dễ mang lại đau khổ cho mình và người. Nói chính xác là cho người có nhân duyên với mình. Nhưng không phải chừng đó rồi thôi. Vì sao? Vì một khi mình đã gây nhân thì đủ duyên mình sẽ gặt cái quả của cái nhân đã gieo đó. Mình gây ra và mình phải nhận lại. Mình khiến người đau khổ thì mình sẽ phải gặt cái quả đau khổ đó. Vì thế, phải làm sao để trí tuệ của mình phát triển. Muốn trí tuệ phát triển thì phải chịu khó học hỏi và tọa thiền, không được làm biếng. Làm biếng thì trí tuệ không có. Trí tuệ không thì dễ tạo nghiệp xấu, rồi lại phải lãnh báo nghiệp xấu đã gây ra đó. 

Thứ gì trong đời, muốn có quả đều phải gieo nhân. Muốn việc tu học của mình có kết quả, mình phải tự trồng lấy cái nhân tu học cho chính mình. Muốn thâm nhập được thiền pháp mình phải có trí tuệ. Muốn có trí tuệ thì phải học những hạnh thiền sư Vô Đức đã dạy cho tăng Nguyên Trì. Những hạnh mình phải tu tập đó chính là cái nhân để mình có cái quả là trí tuệ. Gieo đúng nhân thì nhất định sẽ gặt đúng quả.
 


Xem nắn bình

Kinh Bách Dụ ghi :

Xưa có hai người đi ngang nhà của người thợ gốm, thấy người thợ nắn bình rất đẹp, trông mãi không chán. Một người bỏ đi dự dạ hội. Người ở lại xem thợ gốm nắn bình và tự nghĩ “Đợi xem anh thợ gốm nắn bình xong, mình sẽ đến ăn sau”. Thế rồi anh đứng xem anh thợ gốm nắn bình đến khi trời tối, không được gì ngoài việc mệt mỏi và đói bụng. Trong khi anh kia vừa được thức ăn ngon lại có cả đồ quí báu. 

Ngày còn sống, bố mua hai miếng đất xa thành phố … Ông muốn tìm hơi hướm chút miền quê lúc tuổi già. Chưa già nhưng điềm báo đã xuất hiện. Bốn mươi tuổi, đầu bố trắng híu. Danh vọng, tiền tài sừng sững nhưng mệt mỏi cũng len dần trong sớ thịt làn da. Bố muốn đời sống an bình nơi thôn dã, nhưng không thể bỏ mặc hiện tại với phố lệ đầy hoa. Muốn nghỉ ngơi nhưng phải đợi về già. 

Chưa kịp già, ông mất. Khi mọi thứ vẫn còn đầy đủ. Vợ con, danh vọng, tiền tài … mọi thứ vẫn còn đó, chỉ mình ông ra đi. Tuổi già không kịp hưởng. Ông mất, mẹ không có thì giờ để chăm sóc mảnh vườn, cũng không có thì giờ để nghĩ đến tuổi già. Miếng đất bỏ mặc không ai coi, rồi biến mất trong tay người khác. Người đi, của cũng đi … 

Đời người là như thế. Ai cũng mãi say với chiếc bình gốm của mình. Những chiếc bình sặc sỡ nên hình rồi vỡ vụn. Thời gian mãi trôi ... Nhiều kẻ ăn cổ đã quay về mà có người, bình ngắm vẫn chưa xong. Kẻ này nối tiếp kẻ kia. Quên mất thời gian không chờ đợi. Quên mất vô thường bất chợt đến. Vẫn mãi mê không ngừng … 

Qua rồi tuổi bốn mươi. Tất bật như bố không còn. Phố lệ đầy hoa không ham. Chỉ một mảnh vườn xới tung chưa có hồi kết. Chữ nghĩa bút giấy … Không biết còn kịp quay về dùng bữa cổ đầu hôm? Hay vẫn như kẻ mãi nhìn chiếc bình gốm chưa xong.

Chân Hiền Tâm

Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất nói về Nhân Quả thiện ác như sau :
MÊ TÂM TU THIỆN[9]  thì chưa ra khỏi tam giới, sanh ở ba cõi nhẹ :
1. Tu thập thiện, mong cầu sự khoái lạc thì sanh ở các cõi trời.
2. Giữ năm giới, vọng khởi yêu ghét, chưa ra khỏi sân giới thì sanh ở cõi người.
3. Chấp các pháp hữu vi, tin theo cái tà để cầu phước thì sanh trong giới Atula. 
BUÔNG LUNG THAM SÂN SI chỉ tạo các nghiệp ác thì sanh vào 3 cõi nặng.
1. Nghiệp tham nặng, rơi vào cõi ngạ quỉ.
2. Nghiệp sân nặng, rơi vào cõi địa ngục.
3. Nghiệp si nặng, rơi vào cõi súc sanh. 
 

Chú Thích
1 Tùy duyên có thể hiểu là tùy điều kiện tùy trường hợp. 
2 Pháp là từ dùng để chỉ chung cho tất cả mọi thứ từ thứ nhỏ nhất cho đến thứ lớn nhất, từ thứ có hình tướng cho đến thứ không hình tướng. Con người là một pháp. Quả táo là một pháp. Niết bàn là một pháp. Tư tưởng là một pháp v.v… 3 Hóa chất phẫu thuật thẩm mỹ PAAG. 
4 Đạo Vật Lý 
5 Muốn rõ chi tiết xin xem luận Đại Trí Độ quyển I – Bồ tát Long Thọ. HT Thích Trí Siêu dịch, trang 527. 
6 Muốn hiểu phần này thì nghiên cứu luận Đại Thừa Khởi Tín – Chân Hiền Tâm dịch và giải. Phạm vi tập sách này không giải rộng. 
7 Lời của ngài Huyền Giác. 
8 Trích trong Giai Thoại Nhà Thiền tập I. Bản dịch của thầy Đạo Tâm. 
9 Mê tâm tu thiện : Chưa nhận ra được mình có bản tâm thanh tịnh, tức chưa tin nhận được mình có Phật tánh, chỉ làm các việc cầu phước thiện ở thế gian.
 

CHUYỆN XƯA CHUYỆN NAY
Chân Hiền Tâm
Chịu trách nhiệm xuất bản
TRẦN ĐÌNH VIỆT
Biên tập  : Châu Anh Kỳ 
Sửa bản in  : Hồng Nguyên
Trình bày  : Thủy Tiên
Bìa   : Minh Hiếu
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP HỒ CHÍ MINH
62 Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1
ĐT: 8225340-8296764-8220405-8296713-8222637
Fax: 84.8.298540 – Email : nxbtphcm@bdvn.vnd.net
Thực hiện liên kết : Thủy Tiên 8443138
In 2000 bản, khổ 14,5x20,5cm. Tại Cty TNHH IN KHUYẾN HỌC PHÍA NAM, Q.3 TpHCM. Số đăng ký xuất bản : 429-2006/CXB/27-35THTPHCM. Quyết định xuất bản số : 609/QD-2006THTPHCM ngày 19.06.2006. In xong và nộp lưu chiểu quí III-2006.

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap