Ông Phật
mũi đen
Một
ni sư cầu tìm giác ngộ, làm một tượng Phật mạ vàng. Bất
cứ ở đâu ni cũng mang nó theo mình.
Một
lần, ni đến sống trong ngôi đền ở một vùng quê. Đền
có rất nhiều tượng. Ni không muốn hương thơm mình đốt
cho Phật bay lạc sang những ông Phật khác, nên tạo một đường
ranh nhỏ để khói hương xuyên qua đó đến thẳng mũi ông
Phật của mình. Một thời gian sau, mũi ông Phật vàng đen
thui.
GIÁC
NGỘ là ngộ ra tâm Phật của mình. Giác nghĩa là Phật. Ngộ
được ông Phật của mình gọi là giác ngộ. TÌM CẦU GIÁC
NGỘ cũng là tu nhưng không phải tu để được chồng giàu,
vợ đẹp, con ngoan hay có đầy đủ tiền bạc, nhà lầu, xe
hơi như mình đang tu, mà là để khai mở trí tuệ Phật của
chính mình. Kinh Pháp Hoa gọi nó là TRI KIẾN PHẬT. Ni đi tu
là để tìm cho ra cái tri kiến Phật đó của mình.
Vì
tìm cầu giác ngộ nên Ni không còn vướng vô nhà tôi, chồng
tôi, con tôi. Song tâm thức con người có tật là đụng đâu
vướng đó, buông cái này lập tức nắm cái kia, nên Ni mắc
vô ÔNG PHẬT CỦA TÔI. Của tôi, nên Ni chỉ cho Phật của
Ni hít hương còn các Phật khác cho ra rìa. Ni không biết chính
hành động đó là thứ khiến Ni xa rời tâm Phật của mình,
khiến Ni đi ngược lại sự tìm cầu giác ngộ của Ni. Vì
sao? Vì Phật tâm luôn chan hòa rộng mở, không chút ích kỷ.
Không phải chỉ lo cái của mình mà phải lo luôn cái của
người. Một lúc nào đó còn phải xả thân mạng và tài sản
của mình cho người nếu cần. Không phải thứ gì cũng chỉ
gói trọn trong cái tôi và cái của tôi.
Cái
tôi và cái của tôi luôn là đầu mối của những rắc rối,
nên dạy tới dạy lui gì, ba đời chư Phật, chục vạn Tổ
sư cũng dạy người tu là phải phá ngã, là phá đi cái tôi
của mình.
Thiền
sư Vinh Tây, một lần vì sự đói gạo đói cơm của một
gia đình hành khất mà đành phải cầm mớ vàng lá dùng tô
tượng Phật đưa cho người hành khất đi đổi gạo. Đệ
tử của ngài biểu lộ sự không vui, bao gồm cả nỗi sợ
hãi. Thiền sư vui vẻ giải thích “Các ông chẳng thể nào
hiểu nổi việc của ta. Chính vì tôn kính Phật mà ta làm
như thế”. Các đệ tử không đồng ý “Nếu thầy vì tôn
kính đức Phật mà làm thế thì chúng ta hãy mang tượng Phật
bán đi để mà bố thí. Không tôn trọng tín ngưỡng mà cho
là tôn kính sao?” Thiền sư Vinh Tây vẫn ôn hòa “Ta vẫn
trọng tín ngưỡng và tôn kính đức Phật nên mới làm như
thế”. Đệ tử không chịu, cứ lải nhải “Đem vàng lá
tô tượng Phật cho người mà cho là tôn kính Phật”. Sau
cùng, thiền sư phải lớn tiếng mắng “Lúc đức Phật còn
tu đạo, cắt thịt cho chim bồ câu, xả thân cho cọp đói
còn không tiếc, huống chỉ vài miếng vàng lá. Phật đối
với chúng sanh thế nào các ông có biết không?”. Lúc ấy
đệ tử mới hiểu việc làm của thiền sư là hợp với tâm
Phật.
Phật
thờ trên bàn thờ là Phật, nhưng chỉ là hình tượng Phật,
không có ông Phật nào có linh hồn. Ông Phật đó chẳng có
tác dụng gì ngoài việc nhắc cho mình nhớ lại ông Phật
của chính mình. Nói vậy không có nghĩa là xúi đừng thờ
Phật hoặc đập bỏ ông Phật đó đi. Xúi như vậy là tự
mình đầy mình vô đường khổ. Người giác ngộ không ai
làm chuyện đó nếu không vì muốn khai ngộ cho một số người
khác. Nói “không có giá trị” là để hiểu, phải quay lại
tìm Phật trong chính mình. Chỉ khi khai phá được tâm Phật
đó, mình mới thực sự an vui và hạnh phúc. Đó chính là
điều đức Phật muốn chúng sanh của ngài phải giác ngộ.
Mỗi
người đều có một ông Phật như ông Phật vàng của Ni sư.
Ở đâu, làm gì ông vẫn luôn hiện diện trong mình. Song vì
ông ở trong chính mình nên mình không thể thấy được mặt
mũi ông rõ ràng như thấy mọi người, chỉ có thể cảm nhận
được tác dụng của ông qua những việc hằng ngày như ăn,
uống, ngủ, nghỉ, thương yêu v.v… mà thôi.
Cái
sắc vàng phủ ngoài ông Phật không phải là chính ông Phật,
nhưng nó là thứ biểu trưng cho ông Phật không bị bụi trần
làm nhơ. Khi ta không để cho tham - sân - si phải quấy che mờ
chân tánh của mình, thì Phật tâm của ta cũng rỡ ràng như
thế. Tuy không thấy được thân tướng của Phật nhưng mình
có thể cảm nhận được sắc sáng đó của Phật. Song hiện
nay ta không thấy được sắc sáng đó vì ông Phật của mình
đã bị 3 thứ tham - sân - si phủ mờ, không phải trong một
đời mà trong vô số a tăng kỳ kiếp đời, nên Phật mình
không chỉ đen phần mũi mà toàn thân tối thui, che khuất hết
mọi thứ.
Phần
không trực nhận được ông Phật của mình, phần chỉ thấy
hình tượng Phật bên ngoài nên mình cứ tưởng ông Phật
xi măng mới là ông Phật thật.
Con
bé khoảng 20 tuổi, xinh xắn vô ngần nhưng gầy và xanh mét.
Tôi hỏi nó “Con nói con bị ma nhập thường xuyên nhưng nãy
giờ ngồi đây sao cô không thấy”.
Con
bé nhỏ nhẹ “Con không biết. Nhưng ở nhà, con bị vậy đó”.
Người
bạn chen vô “Nhập hoài à, em thấy nó nhảy từ trên nóc
xuống mà”.
“Con
có thích vậy không?”
“Con
sợ lắm”.
“Bây
giờ mới biết sợ, còn lúc đầu thì thích đúng không?”
Nó
cúi đầu không trả lời.
“Giờ
phải niệm Phật”.
Nó
lắc đầu ngoay ngoảy “Không, con niệm rồi, không ăn thua
gì hết. Mới đốt hương, nghe mùi hương nó nhập rồi”.
“Cô
nói con niệm Phật chứ không nói con thắp hương”.
Nó
nhìn tôi ngơ ngác không hiểu.
Tôi
giải thích “Ông Phật trên bàn thờ của con không phải là
ông Phật thật, chỉ là một tượng gỗ”. Con bé trố mắt
ngạc nhiên nhưng đồng thời cũng như vừa nhận ra được
một chân lý lý thú. “Ông Phật có năng lực giúp mình thoát
khổ nằm ở tâm mình. Muốn ông Phật đó xuất hiện con phải
niệm Phật. Khi nào tiếng niệm Phật được liên tục trong
con, ma sẽ không nhập được nữa”.
“Có niệm rồi nó vẫn nhập. Mà hay quên lắm”.
“Muốn
được liên tục thì phải cố gắng. Quên thì thôi. Nhớ là
phải niệm. Con niệm ra tiếng đúng không?”. Nó gật đầu.
“Nhưng chỉ là miệng đọc còn đầu thì mơ mơ màng màng”.
Nó trố mắt nhìn tôi tỏ vẻ không hiểu. “Giờ không niệm
ra miệng nữa mà niệm thầm thầm bên trong nhưng tai phải
nghe rõ ràng từng tiếng A Di Đà Phật hiểu không”.
“Cứ
nhớ là niệm hả cô?”
“Ừ.
Nếu con làm đúng như cô dặn thì ma không nhập nữa. Nếu
còn nhập thì cô đưa cái đầu cô cho con chặt. Con thấy đó,
ngồi đây với cô nãy giờ, ma có nhập đâu”.
Một
tháng sau, chỉ một tháng sau thôi, tôi được cô bạn báo
tin là con bé đã trở lại bình thường.
Thật
ra tôi chưa hề bị ma nhập, cũng chưa hề dùng câu niệm Phật
để trừ khử lũ ma mà bày cho thiên hạ như thế. Chẳng qua
tu thiền, nắm vững cái lý “Tâm tịnh thì cõi Phật tịnh”
nên mới dám đưa cái đầu ra mà cá với nó. Nói chắc là
để nó có niềm tin. Niềm tin rất quan trọng. Song quan trọng
nhất là nó đã ngán cái việc ma nhập rồi. Nó mà còn thích,
tức còn muốn nuôi cái nghiệp ma ấy, thì không thể nào quyết
tâm làm theo những gì mình chỉ được. Bất cứ công việc
gì dù là việc ngoài đời, không quyết tâm khó mà thành công.
Phật cũng đầu hàng đừng nói là mình.
Tôi
biết con bé chưa thể niệm Phật được liên tục, nhưng cũng
đủ để tâm nó có lại cái chủ. Chừng đó thôi, ma cũng
không thể nhập. Có điều, không ngờ mọi chuyện lại tiến
triển mau như thế. Nói chung thứ gì đủ nhân đủ duyên,
sẽ hiện thành. Vả lại, Phật đâu có ngoài mình mà không
mau. Chỉ cần nhớ đến Phật thì Phật sẽ hiện tiền. Không
phải Hòa thượng từng nói “Thấy, là chân tâm. Nghe, là
chân tâm” đó sao? Chân tâm là chỉ cho ông Phật của mình
đó. Đâu có xa. Tại mình quay lưng với ông Phật của mình
thành mới thấy xa, mới thấy Phật ở phương Tây cách mình
hàng vạn do tuần.
Giết cả
đàn trâu
Kinh
Bách dụ ghi :
Thuở
xưa có người nuôi 250 con trâu, thường thả ra đồng ăn cỏ.
Một hôm đàn trâu bị cọp vồ thịt mất một con. Bấy giờ
anh chủ trâu liền nghĩ “Mất một con rồi thì đàn trâu
còn làm gì được nữa …”. Nghĩ vậy, anh liền lùa hết
đàn trâu xuống vực sâu.
Chỉ
mất một con mà cho cả bầy xuống núi như thế thì anh chàng
này cũng thuộc loại hiếm có.
Thấy
tôi ăn chay mà cứ lai vãng nơi hàng thịt và nấu đồ mặn
cho con cái, thiên hạ coi bộ sốt ruột, lâu lâu lại có người
hỏi :
. Nấu
zậy rồi có nêm nếm gì không?
. Khi
có, khi không.
. Ăn
chay gì kỳ zậy?
. Kỳ
sao?
. Thì
nếm đồ ăn mặn.
. Không
nếm, dở quá đem đổ hết thùng rác sao?
. Ừ
hén. Nhưng zậy ăn chay chi?
. Một
ngày nếm mặn có 2 lần không hơn nuốt mặn hết cả ngày
sao?
. Ừ
hén!
Chắc
chắn là phải ừ hén rồi. Được cái gì thì hay cái nấy
chứ sao. Đã không ăn chay thì thôi, ăn chay thì cần phải
giữ cho thanh khiết, lẫn lộn chay mặn như thế bị phê bình
là phải. Nhưng duyên nghiệp mình chưa có điều kiện để
giữ cho nghiêm thì mình gắng được thứ gì hay thứ nấy.
Một lúc nào đó rồi nó cũng hoàn thiện tròn đầy. Không
thể như ông chủ trâu kia, mất một con rồi lùa hết bầy
trâu còn lại xuống vực. Con nào mất thì mất, con nào còn
thì giữ. Đủ điều kiện thì sắm con mới thay vào. Việc
gì lùa hết cho trắng tay.
Tu
hành cũng vậy, tu được chút gì thì tu, làm được chút gì
thì làm. Có 2000 thì cúng 2000, đừng nghĩ “2000 ít quá cúng
chi, khi nào có nhiều cúng luôn thể”. Có 2000 không cúng thì
biết đời nào mới có nhiều mà cúng luôn thể. Cái nhân
tuy ít nhưng với lòng thành thì cái quả sẽ nhiều. Lúc đó
mới có nhiều mà cúng luôn thể. Còn ít không cúng thì lấy
đâu ra nhiều mà đòi cúng cho nhiều.
Hoặc
như ngồi thiền, chỉ được 15 phút để tịnh tâm thì ngồi
15 phút tịnh tâm. Được 20 phút thì ngồi 20 phút. Tới chùa
nghe pháp ngày nào hay ngày nấy, tu được chút gì hay chút
nấy. Còn nghĩ “Hết làm ăn rồi tập trung tu luôn thể”
thì biết đến đời nào mới hết làm ăn để tới chùa nghe
pháp ngồi thiền mà tu luôn thể. Liệu còn sống đến ngày
đó không mà tu. Còn sống thì chắc gì gân cốt còn khỏe
để tu.
Phật
nói người giàu chịu tu là khó, nhưng hiện nay vẫn có nhiều
người giàu nứt tường đổ vách mà vẫn đến chùa tu hành,
hưởng được cả pháp vị của Phật pháp. Có người đang
làm giám đốc, bỗng nhiên thấy đầu trọc lóc đi tới đi
lui trong thiền viện. Người khó tu còn tu được như vậy,
sàng sàng như mình thì nghĩa lý gì, vì sao không tu? Pháp
vị đầy ra đó mà không hưởng thì rất uổng. Thành ít nhiều
gì cũng phải bòn. Bòn được chút nào hay chút đó. Không
đến chùa được thì tu ngay ở nhà, bớt giận, bớt hét,
bớt khó, mở lòng giúp đỡ mọi người, chính là tu. Thời
ni đừng tính chuyện tổng thể to lớn. Nạn tai, sông nước,
rủi ro nhiều quá, biết nó có chừa mình ra không mà tính
chuyện tương lai. Thôi thì bòn được chút gì hay chút nấy.
Nhỡ không may cái vô thường có tới thì cũng có chút hành
trang mang theo mà tạo dựng cho kiếp sau. Tính vậy đi cho chắc.
Quan
trọng là hiện tại mình phải biết chính xác về con người
mình.
Như
việc ăn chay nói trên, ăn được tám phần thanh tịnh thì
biết chỉ mới được tám phần. Hai phần còn lại kia cũng
phải biết rõ là do điều kiện chưa cho phép hay vì mình vẫn
còn muốn nhóm nhép nên kiếm cớ nhấm nháp cho vui, rồi đổ
thừa tại hoàn cảnh? Biết vậy là được. Đừng biện là
ta đã tự tại nên chay mặn không quan tâm. Tu thiền thì mọi
thứ không chấp, nhưng mình chưa phải là Tổ sư nên mọi
thứ luôn cần rõ ràng. Phải biết rõ sự hạn chế xuất
phát từ điều kiện bên ngoài hay do chính bản thân mình thì
khi có điều kiện mình mới hoàn thiện được mình. Nếu
không, dù điều kiện tốt có đến mình cũng cứ là kẻ làn
chàn giữa đời và đạo, nhưng thực chất là đang bị anh
vọng tưởng nhà mình dẫn chạy mà mình không biết.
Trước
tôi có quen một anh bạn. Biết tên mà chưa biết mặt. Anh
tu thiền nhưng không ăn chay. Điều đó không có gì để nói.
Vì hình thức ăn chay không phải là tất cả đạo Phật. Cái
chính của việc tu hành là làm sao để tham - sân - si của
mình hết, trí tuệ và từ bi của mình phát triển, thành chay
được thì tốt, không chay được cũng không có gì để bàn.
Khi tham - sân - si mình bớt, trí tuệ mình phát triển, mọi
thứ sẽ đâu vào đó. Chẳng có gì đáng lo. Điều tôi muốn
nói đây là cách suy nghĩ của anh về chay và mặn.
Anh
có cái nhìn rất ngộ nghĩnh. Anh nói, anh không ăn chay không
phải vì anh không có điều kiện để ăn, cũng không phải
là ăn không được, mà vì anh thấy điều đó không cần thiết.
Không cần thiết nên anh ca tụng luôn việc ăn mặn của mình.
Theo anh, ăn chay hết thì thế giới này sẽ ra sao khi mà lũ
súc vật không còn bị giết hại? Thế giới này sẽ thành
sở thú, mọi thứ là quá tải và chúng sẽ giẫm chết nhân
loại. Biện luận nghe rất logic. Nhiều người đồng tình
lắm đây …
Thế
giới này được hình thành từ 3 thứ là thần lực của chư
Phật, công hạnh của chư vị Bồ tát và hành nghiệp của
chúng sanh. Thần lực của chư Phật là muốn nói đến BẢN
THỂ TỐI CÙNG của vạn sự vạn vật ở cuộc đời này,
từ cái nhỏ nhất trong thế giới vi mô cho đến cái lớn
nhất trong thế giới vĩ mô, trong đó có con người. Bản thể
này, tất cả mọi loài đều sở hữu nó dù đó là người
Ấn hay Campuchia, Công giáo hay Phật giáo, người hay súc vật
… Tất cả đều lấy cái KHÔNG này làm bản thể. Song gọi
là thần lực của chư Phật vì chư Phật khám phá ra nó, vì
nó là phần GIÁC TÁNH rỗng suốt trong mỗi chúng sanh. GIÁC
nghĩa là Phật. Nên gọi là thần lực của chư Phật. Chỉ
do vô minh mà thành có thân tướng chúng sanh và thế giới
như hiện nay mình đang thấy đây. Việc này với đa số chắc
là khó tin và khó hiểu. Nhưng hãy làm quen với nó như bây
giờ mình làm quen với những khám phá mới của nền vật
lý hiện đại chẳng hạn. Một khi sự tu tập tiến triển,
trí tuệ hiển bày, mình sẽ không còn ngạc nhiên về những
điều như vậy.
Công
hạnh của chư vị Bồ tát là chỉ cho hành động thiện của
tất cả mọi loài. Các bạn đừng nghĩ phải là đức Quán
Thế Âm mới gọi là Bồ tát. Ai nghĩ thiện và làm thiện
người đó chính là Bồ tát. Không cần phải mang màu áo đạo
Phật mới gọi là Bồ tát. Khi bạn mang niềm vui đến cho
một người hay làm vơi đi nỗi thống khổ của một ai đó,
bạn làm một việc không phải chỉ vì lợi ích của bạn
mà còn vì lợi ích của người, LÚC ĐÓ bạn là hiện thân
của Bồ tát. Đơn giản vậy thôi.
Hành
nghiệp của chúng sanh là chỉ cho những việc làm liên quan
đến tham dục được sai sử bởi những tư kiến không đúng,
khiến bản thân mình đau khổ, thế giới chung quanh xảy ra
tranh tàn, cướp bóc, khổ đau.
Thế
giới này được hình thành từ 3 thứ đó : Tánh không của
vạn pháp, thiện nghiệp và bất thiện nghiệp của chúng sanh.
Việc này tương tự như bên Lão giáo nói “Từ một sanh lưỡng
cực âm dương. Từ lưỡng cực mà có thế giới”. Đây không
nói âm dương mà nói thiện nghiệp và bất thiện nghiệp.
Hai thứ đó làm duyên cho nhau mà có thế giới này. Nếu mất
một trong hai thứ đó, thế giới này tan hoại, không nói mấy
ngàn năm hay mấy tỉ năm. Đa số hành thiện nghiệp thì thế
giới an bình. Đa số hành bất thiện nghiệp thì thế giới
khổ đau. Điều này cũng đúng với trường hợp một quốc
gia, một gia đình hay một con người : Thiện nghiệp nhiều
thì yên vui an bình, thiện nghiệp ít thì đau khổ mất mát.
Thế giới này vốn như thế. Nếu chỉ thuần thiện hay thuần
ác thì thế giới như hiện nay tan hoại. Thế giới của
chư Phật là thế giới thuần thiện.
Nếu
tạo thiện nghiệp thì con người không phải đầu thai làm
súc sanh. Kinh nói, 3 cõi địa ngục ngạ quỉ và súc sanh là
do mình tạo nghiệp bất thiện mà có. Không tạo nghiệp bất
thiện thì không có 3 cõi đó. Nếu đa số người hành thiện
nghiệp thì súc sanh ở thế giới này cũng giảm hẳn. Thực
tế hiện nay cho thấy có người hành thiện nghiệp rất giỏi
mà có khi ăn chay vẫn chưa được. Bố thí, cúng dường, mở
lòng với mọi người và hạn chế những hành vi xấu ác coi
vậy mà dễ hơn ăn chay nhiều lắm. Dù cũng có người không
tu, vẫn ăn chay được. Vì thế đừng sợ ăn chay hết thì
thế giới này nguy biến. Sợ là sợ không biết làm sao để
bản thân mình và người ăn chay mà thôi.
Cũng
như sợ mọi người vào chùa tu hết thì không ai lao động
phát triển xã hội, không ai hộ trì Tam Bảo. Đừng sợ chuyện
đó. Đã nói nghiệp tập chúng sanh rất dày. Dừng cho được
cái lực đó không phải dễ. Muốn vô chùa lắm rồi nhưng
cứ lướng vướng, là do cái lực của nghiệp đời không
chịu buông mình. Thành muốn rồi, chưa chắc nó chịu cho mình
đi, huống là không muốn. Đạo Cao Đài có một câu nghe thì
vui, nhưng ngẫm lại mới thấy xót xa cho mình “Tu thì cũng
muốn mau thành Phật. Theo Phật thì con lại tiếc đời”.
Tu thì không khó nhưng có chịu tu không mới là khó. Thành
sợ là sợ mình và người không chịu tu, không phải sợ mình
và người tu hết thì thế giới này tan hoại. Tu hết thì
thế giới này thành thế giới của Di Đà, Di Lạc, là thế
giới Hoa Nghiêm của mười phương chư Phật, sợ gì? Nghe vậy
chắc còn hết hồn lẹ. Không biết lúc đó lấy đâu ra gà
vịt mà ăn hở trời!
Cho
nên, cái đáng sợ không nằm ở mấy thứ đó, mà chính là
ở anh VỌNG TƯỞNG nhà mình. VỌNG TƯỞNG là chỉ cho những
suy nghĩ hay quan niệm của mình đó. Anh mà có cơ phát triển
thì thôi rất nhiều thứ có lý để mình theo anh cho được
yên tâm. Trí Phật một khi bị che mờ thì luận lý và phân
tích bắt đầu xuất hiện. Cuộc đời vất vã vô ngần.
Bệnh
Kinh
Niết Bàn ghi :
Ca
Diếp bạch Phật rằng “Thế Tôn đã khỏi tất cả bệnh,
không còn đau khổ, không còn sợ sệt. Bạch Thế Tôn! Tất
cả chúng sanh có bốn mũi tên độc : Tham dục, sân khuể,
ngu si và kiêu mạn. Bốn thứ độc này là nhân sanh ra bệnh.
Nếu có nhân của bệnh thì có bệnh sanh ra, chính là những
thứ như hàn, nhiệt, bệnh phổi, ói mửa v.v… Chư Phật thì
không còn những thứ bệnh ấy, sao hôm nay Thế Tôn bảo Văn
Thù Sư Lợi rằng Phật đau lưng, các ông nên vì đại chúng
mà thuyết pháp.
Bạch
Thế Tôn! Có hai nhân duyên thời không bệnh khổ : Một là
thương xót tất cả chúng sanh. Hai là cung cấp thuốc men cho
người bệnh”.
Đoạn
này được trích từ kinh Niết Bàn phẩm Hiện Bệnh. HIỆN
BỆNH là chỉ cho cái tướng bệnh mình thấy ở mỗi người.
Đây trích 2 đoạn. Đoạn đầu là nói về nhân duyên tạo
ra bệnh. Đoạn sau là nói về cách trị bệnh. Đây là phần
Nhân Quả thâm sâu mà chỉ có Phật và hàng thánh chúng của
ngài mới chứng nghiệm được. Còn mình thì mình chỉ thấy
được phần nhân quả nổi. Đau đầu thì tới bác sĩ soi
tới soi lui coi thứ gì sinh ra chứng đau đầu. Do viêm soan
mà đau đầu. Do trúng gió mà đau đầu. Do stress mà đau đầu
v.v… Tùy cái nhân tìm được mà dùng thuốc trị cái quả
cho lành.
Ngày
nay y học tiến bộ rất nhiều nên việc tìm bệnh không mấy
khó khăn. Bệnh nào rồi cũng trị được. Cũng là cái phước
của nhân loại. Nhưng thật ra không phải ai cũng hưởng được
cái phước ấy. Cũng vẫn xảy ra trường hợp đáng tiếc
: Sai tuyến, sơ sót hoặc đoán nhầm bệnh.
Ông
nội cậu bạn tôi hư chiếc răng cấm, tìm đến bà nha sĩ
nổi tiếng. Bà không nhổ cái răng ấy, nhè cái răng bên cạnh
mà nhổ. Ông chửi om xòm, nhưng chửi gì thì chửi, bà cũng
không thể gắn cái răng ấy vô được, đành nhổ thêm cái
thứ hai, miễn hết chi phí nhổ răng cộng một lời xin lỗi,
rồi huề cả làng. Luôn có sự cố xảy ra khiến cho sự phát
triển của y học trở thành méo mó như thế. Tắc trách của
y bác sĩ, đưa đến bệnh viện không kịp, đi cấp cứu thì
xe cứu thương bị đụng … Biết bao việc tréo cẳng ngỗng
xảy ra. Đó là vì ngoài phần nhân quả nổi, vạn pháp ở
thế gian vẫn còn bị phần nhân quả thâm sâu chi phối. Nhân
tốt, mọi chuyện xảy ra đều tốt. Nhân xấu, mọi chuyện
xảy ra đều xấu. Tất cả đều do phần nhân quả thâm sâu
này chi phối. Ông bà mình thường nói “Phước chủ may thầy”
là đó.
Cái
bệnh của mình nó liên quan đến cái họa và cái phước của
mình mà ông thầy đâm ra có phần trong đó, không phải chỉ
nằm ở việc ông thầy giỏi hay không. Nói “không chỉ nằm”
là muốn nói mọi việc không phải chỉ lệ thuộc vào ông
thầy giỏi mà còn có thêm nhiều duyên khác phù trợ, không
phải là đả phá ông thầy giỏi. Thầy giỏi là cần thiết,
nhưng phải có thêm phần phước đức của thân chủ, cái
giỏi kia mới thành hình. Vì sao? Vì pháp thế gian là pháp
Nhân Duyên. Đủ nhân đủ duyên pháp mới hình thành. Không
có cái phước của mình thì thầy giỏi bao nhiêu, cái giỏi
ấy cũng đội nón ra đi.
Tôi
bệnh, kiếm thầy uống thuốc. Thầy nổi tiếng và được
hâm mộ rất nhiều. Nhìn thái độ của bệnh nhân, không khác
gì lũ mình đối với Hòa thượng của mình. Rất tin tưởng
và trân trọng. Vậy mà cố gắng đến mấy, tôi cũng đành
từ biệt thầy không một lời từ giã.
Đó
là do cái duyên của mình với thầy không thuận như với người
khác. Cái “phước” mình thiếu thành cái “may” của thầy
không thành. Pháp Nhân Duyên là như thế. Phật nói “Có cùng
có, không cùng không”. Thân chủ không phước thì cái may
của thầy cũng tiêu. Thầy giỏi bao nhiêu cũng trơ thây với
người bệnh vô duyên. Duyên Khởi hiện diện khắp mọi nơi,
không bỏ xót chỗ nào. Không lôi Duyên Khởi ra nói sao được.
Nói
DUYÊN KHỞI là nói thứ gì trên đời này cũng do nhân duyên
hợp thành. Không có thứ gì tự nó có ý nghĩa khi đứng một
mình. Nói xấu là phải xấu với quan niệm của người này.
Nói tốt là phải đi kèm với quan niệm của người kia. Nói
dài thì phải dài so với cái gì. Nói đẹp thì phải có xấu
để so sánh. Luôn phải có duyên đi kèm thì giá trị của
pháp mới thành hình. Còn bản thân pháp thì không có ngắn,
dài, xấu, tốt. Cái tốt hay xấu mà mình gắn cho pháp đó
là nói trên mặt đa số khi pháp ở trong duyên. Như sầu riêng,
nếu nhiều người thấy thơm thì mình nói sầu riêng thơm.
Nhiều người thấy hôi thì mình nói sầu riêng hôi. Nếu không
có cái duyên là con người, hoặc có con người mà lỗ mũi
không làm việc được thì chẳng thể nói sầu riêng thơm
hay hôi. Có thứ để duyên như thế pháp mới thành hình nên
gọi là pháp Duyên Khởi. Duyên Khởi là do duyên mới khởi
được. Đơn giản lắm, đừng nghe đến hai chữ DUYÊN KHỞI
mà sợ. Duyên Khởi hay Nhân Duyên Nhân Quả là như nhau, chỉ
tùy khía cạnh sử dụng mà có tên khác.
Như
đi thi hoa hậu, là lấy cái quan niệm xấu đẹp của đa số
người đời làm cái xấu đẹp của cô gái. Không có sự
phán xét của người đời thì bản thân cô gái là xấu hay
đẹp? Bản thân cô gái không xấu cũng không đẹp. Xấu hay
đẹp là nương vào quan niệm của mỗi người mà cô gái thành
xấu hay đẹp. Pháp hiển tướng nhờ vào duyên như vậy, gọi
là pháp DUYÊN KHỞI.
Lệ
thuộc vào duyên nên duyên thay đổi pháp cũng thay đổi. Nhưng
mình thì thứ gì đã xấu thì tất cả đều xấu, thứ gì
đã tốt thì trong mọi trường hợp đều tốt. Cái nhìn đó
không đúng chút nào. Không đúng vì nó không phù hợp với
qui luật Nhân Duyên của vạn pháp. Tốt hay xấu còn tùy trường
hợp, tùy điều kiện. Hiểu được như thế thì đỡ sức
tranh cãi, đỡ phiền não, đỡ rất nhiều thứ.
Đức
Thế Tôn sau khi thuyết giảng về DUYÊN KHỞI cho đại chúng
nghe ở phẩm trước – Phẩm Đại Chúng Sở Vấn – thì không
chịu thuyết giảng nữa, mà nói với đại chúng rằng “Này
thiện nam tử, phải tự tu tập tâm mình, chớ nên phóng dật.
Nay lưng ta có bệnh, cả mình đều đau nhức, ta muốn nằm
như trẻ nít và người thường có bệnh. Các ông Văn Thù
Sư Lợi … nên vì bốn bộ chúng mà giảng nói đại pháp”.
Phật viện cớ như thế rồi nằm dài ra, nhưng là nằm theo
thế nghiêng bên phải, không phải nằm theo kiểu thẳng cẳng
như mình. Vậy mà ngài Ca Diếp không chịu. Không chịu vì
2 lý do. Một, Như Lai là bậc có trí tuệ và oai đức lớn,
không phải như trẻ nít ngu si không biết nói năng mà nằm
ngửa nằm nghiêng không ai quở trách, khiến cho hàng trời
người phải lo rầu khốn khổ. Hai, làm cho 96 phái ngoại đạo
khinh mạn, cho Như Lai là vô thường. Vì 2 lý do đó mà tôn
giả Ca Diếp yêu cầu Như Lai ngồi dậy, không được nói
đau lưng rồi làm biếng. Nghe đệ tử nói thế, đức Như
Lai mĩm cười ngồi dậy, hiện thân tướng kiết già thanh
tịnh, dung nhan vuô(vẻ sáng rỡ, phóng ánh sáng lớn chiếu
khắp hư không.
Tướng
hiện bệnh của Như Lai là như thế, tương tự như tướng
hiện bệnh của ngài Duy Ma Cật “Vì chúng sanh bệnh nên ta
bệnh”. Chư Phật và chư vị Đại Bồ tát có bệnh là vì
chúng sanh mà hiện thân bệnh làm lợi ích cho chúng sanh, không
phải là loại bệnh như của phàm phu mình đây. Loại bệnh
đó là bệnh gì, đây mình không bàn, vì mình không phải là
hàng Đại Bồ tát. Có bàn thì nó cũng không mang lại lợi
ích cho mình, vì bệnh của mình là bệnh phàm phu. Vì thế
đây mình chỉ bàn đến loại bệnh mà hàng phàm phu hay mắc
phải để biết cái nhân mà tránh cái quả.
Tôn
giả Ca Diếp nói bệnh sinh ra là do 4 thứ tham, sân, si và kiêu
mạn. Nghĩa là, 4 thứ đó là nhân sinh ra bệnh cho chúng sanh.
Mình có bệnh là vì mình còn bị 4 thứ đó chi phối. Muốn
hết bệnh thì phải bỏ đi 4 thứ đó.
THAM
là chỉ cho những đòi hỏi của thân và tâm. Chữ THAM này
là anh em họ hàng với chữ MUỐN. Những gì đi quá đà, vượt
hạn mức cho phép đều thuộc về tham. Tham ăn, tham uống,
tham ngủ, tham dục, tham danh, tham vị, tham quyền, tham nhũng
v.v… Tu mà vượt hạn mức cho phép cũng gọi là tham mà là
tham tu. Thứ gì thuộc THAM, thứ đó sẽ dẫn mình đến bệnh
và khổ. Thân cũng có bệnh khổ mà tâm cũng có bệnh khổ.
Tham ăn, tham uống thì trúng thực, tiểu đường. Tham dục
thì sida, suy thận. Tham nhũng thì ở tù. Tham tu thì sinh bệnh,
vượt hạn mức cho phép nữa thì … khùng!
SÂN
là sân giận. Thứ gì thấy phùng mang trợn mắt, la hét om
sòm, vun tay múa chân, giận dữ, lăn đùng ra đất ... là tướng
của sân. Đó là tướng sân thô. Sân tế thì không có các
tướng kinh khủng đó mà là im lặng nhưng cái mặt sa sầm,
không chút vừa lòng.
Biến
dạng một chút nữa là HỜN. Nói gì mà nàng cứ lầm lầm
lì lì, không thì mím môi quay mặt, hoặc con mắt liếc ngang
có đuôi là biết đã hờn. Hờn là một biến dạng của sân,
là cái nhân của bệnh và khổ.
SI
thì không có hình tướng rõ ràng như tham và sân, nhưng nó
là nền tảng của 2 thứ đó. SI là tên khác của vô minh.
Không nhìn đúng thực chất của cuộc đời gọi là si. Do
si mà có tham và sân.
KIÊU
MẠN là thấy mình hơn người mà lại đi khuyếch trương cái
hơn đó lên. Kiêu mạn thường hình thành trong môi trường
nào nó thành công. Người thành công trong tiền bạc thì hay
kiêu mạn trong lãnh vực tiền bạc. Người thành công trong
việc tu hành thì hay kiêu mạn trong vấn đề tu hành. Người
cúng dường nhiều thì dễ sinh tâm kiêu mạn trong việc cúng
dường. Người giảng pháp hay thì dễ sinh tâm kiên mạn trong
lãnh vực giảng pháp v.v... Có kiêu mạn sẽ có cái quả của
kiêu mạn.
Kinh
Niết Bàn tuy chỉ đưa ra 4 thứ khiến chúng sanh có bệnh nhưng
không nói rõ nhân THAM gây ra bệnh gì, nhân SÂN gây ra bệnh
gì, nhân KIÊU MẠN gây ra bệnh gì. Chỉ biết một khi mình
có bệnh hay tật là vì mình còn tham, sân, si, kiêu mạn. Hết
những thứ đó thì hết bệnh tật.
Kinh
Trung Bộ tập III và luận Đại Trí Độ có nói đến mối
liên hệ giữa nhân và quả của bệnh tật. Người thời nay
hay đau ốm bệnh tật, NHÂN DUYÊN THỨ NHẤT là do đời trước
hay dùng roi gậy đánh khảo, giam trói, làm các thứ não hại
đối với loài hữu tình. Tùy mức độ gây nghiệp và tâm
trạng lúc sắp chết mà có cái quả ở địa ngục, súc sanh
hay ngạ quỉ. Nếu sinh ra trong loài người thì hay bị bệnh.
NHÂN DUYÊN THỨ HAI là đời nay không biết nuôi thân, ăn uống
không tiết độ, nằm, ngồi, đi, đứng không chừng mực v.v...
mà sinh bệnh, không phải do nghiệp của kiếp trước mà sinh
bệnh. Đó là 2 NHÂN chính, ngoài ra còn một số nguyên nhân
tạo bệnh khác, song đều không ra ngoài 4 thứ tham sân si kiêu
mạn.
Câu
Già Ly là đệ tử của Đề Bà Đạt Đa. Thầy chuyên môn
xúc xiểm Phật. Trò thì hay để ý đến đệ tử Phật. Xá
Lợi Phất và Mục Kiền Liên, một lần bị mưa phải trú
tạm trong nhà một người thợ gốm. Trong nhà lúc ấy có một
người nữ. Ông xem tướng thấy người nữ vừa xuất bất
tịnh nên quả quyết với mọi người rằng “Đệ tử của
Phật gian díu bất tịnh với người nữ” và đem chuyện
này tâu với đức Phật. [5]
Phật
nói với Ca Già Ly ba lần như vầy “Xá Lợi Phất và Mục
Kiền Liên, tâm thanh tịnh nhu nhuyến, ngươi chớ hủy báng
mà phải chịu khổ suốt đời”. Nhưng ông không nghe, một
mực cho cái thấy của mình là đúng. Sau đó toàn thân ông
sanh mụt nhọt, mới đầu như hạt cãi, rồi lớn dần như
hạt đậu, quả táo v.v... đau đớn như lửa đốt, kêu la
rên xiết, chết ngay trong đêm ấy.
Khổ
nạn đó là do khẩu nghiệp mà ra. Dù không cố ý nhưng do
cái trí của mình không xuyên thủng được sự thật của
vạn sự vạn vật đây mà thành nói oan cho người khác. Cái
quả mới ra như vậy. Song phỉ báng người bình thường chắc
không đến nỗi phải mang tật bệnh đau đớn như thế, nhưng
vì là hàng thánh chúng của Phật nên mới chịu cái quả nặng
nề.
Người
xưa nói “Bệnh từ khẩu nhập, họa từ khẩu xuất” là
vậy. Ăn quá nhiều. Ăn những thứ thân không cho phép mà cứ
ăn nên bệnh. Miệng hay nói, nói những thứ không nên nói
nên sinh họa.
Nói
sơ về những cái NHÂN trực tiếp sinh ra QUẢ bệnh tật như
thế là để mình soi rọi lại chính mình, xem mình có bệnh
có tật đó không. Nếu có thì trừ đi cái nhân ấy để khỏi
gặt cái quả. Không phải là thứ mình dùng để soi chiếu
ra ngoài. Bởi pháp thế gian là pháp Nhân Duyên. Có khi cùng
nhân mà quả lại có nhiều sai khác. Có khi quả thì như nhau
nhưng lại bắt nguồn từ nhiều nhân khác nhau. Đó là vì
trong quá trình đi từ nhân đến quả, còn phải chịu sự
chi phối của duyên.
Như
nghiệp sát sanh, cái quả của nó thường là chết yểu. Song
vẫn có thể nhờ cái duyên là tích tập công đức tu hành
mà chuyển hóa cái quả chết yểu thành bệnh tật. Cho nên,
nhiều khi mình thấy sao người hiếu hạnh phúc đức lại
nhiều tật bệnh, thực ra chính nhờ cái hiếu hạnh phúc đức
đó mà chỉ bị tật bệnh, không thì chết ngủm lâu rồi.
Kinh
Kim Cang nói, thấy người trong đời nay hành trì kinh Kim Cang
mà vẫn bị người đời khinh chê thì biết người đó đáng
nhẽ bị cái quả địa ngục nhưng do hành trì kinh Kim Cang
mà thoát kiếp địa ngục, chỉ bị người phỉ báng khinh
chê. Trong mọi lãnh vực đều như vậy, nhưng phải là loại
nghiệp bất định và sự chuyển hóa không chỉ nằm trên
việc làm phước mà phải chuyển cho được tâm chúng sanh
thành tâm thanh tịnh. Vì thế nói “Hành kinh Kim Cang”.
Biết
nhân sinh ra bệnh, muốn dứt quả bệnh thì phải trừ nhân.
Nhân là tham - sân - si và kiêu mạn. Phải trừ đi những thứ
nhân đó thì mình mới hết bịnh. Đây ngài Ca Diếp nói “Phải
thương xót tất cả chúng sanh và cung cấp thuốc men cho người
bệnh”. Vậy sự thương xót và cấp thuốc men cho người
bệnh đó liên quan thế nào với cái nhân tham - sân - si, mà
đây không dạy trừ bỏ tham sân si lại chỉ dạy thương xót
chúng hữu tình?
THƯƠNG
XÓT CHÚNG SANH là không ghét bỏ ai, không thấy mặt ai đáng
ghét, không thấy bực mình đau khổ khi phải đối diện với
họ. Đó gọi là thương xót. Chúng sanh là chỉ cho tất cả
mọi loài từ con người đến con vật. Không phải chó lông
xù thì thương mà chuột cống thì gớm. Người thương mình
thì mình thương mà người ghét mình thì mình ghét. Gớm thì
một ngày mát trời nào đó, mình sẽ đổ nước sôi luộc
chín nó. Không ưa thì cái gì nó làm, mình cũng thấy không
vừa lòng, hở cái là than phiền, nên mắc khẩu nghiệp. Rất
dễ sinh nhiều tội lỗi khi vướng vào thương và ghét. Có
khi giết người cũng nên. Quả báo không phải nhỏ. Nên Phật
dạy phải thương xót tất cả chúng hữu tình.
Song
muốn thương xót được chúng sanh bên ngoài, thì đầu tiên
là phải thương xót chúng sanh trong tâm. CHÚNG có nghĩa là
họp lại, tụ lại. SANH nghĩa là khởi lên. CHÚNG SANH, nghĩa
chính của nó là tụ lại mà sanh. Cái gì tụ lại? Tâm, ý
và ý thức[6] tụ lại mà phát khởi đủ thứ quan niệm,
suy nghĩ, vui, buồn v.v... là chỉ cho những gì khởi lên trong
tâm mình. Chính là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Mình phải
thương xót những em này trước. Những em này được bảo
bọc kỹ càng rồi thì tâm Phật của mình mới hiển lộ.
Một khi Phật tâm hiển lộ thì trí tuệ và từ bi xuất hiện.
TỪ BI có rồi thì thấy ai cũng thương. Thương này là thương
mà không dính mắc. Không phải thương theo kiểu mấy ông mấy
bà thương nhau rồi dẫn đến chuyện động trời động đất.
Cái nớ không phải là từ bi mà là ái dục.
DÍNH
MẮC là thứ để ta có thể phân biệt được từ bi với
ái dục. Nếu thương mà có dính mắc là ái dục, không dính
mắc là từ bi. Loại tình thương nào khiến mình bận tâm
với nó nhiều quá, là mình đã dính mắc với nó dù là tình
thương đối với một đứa trẻ hay một người nghèo khổ.
Dính mắc theo kiểu này, kinh không gọi nó là ái dục mà gọi
là ái kiến đại bi. Tốt đó nhưng bị chi phối bởi tình
cảm thường tình nhiều quá, thiếu trí tuệ và định lực,
nên gọi là ái kiến đại bi. Nếu đúng là đại bi, nó phải
là dụng của Phật tâm, không phải là loại tình thương bắt
nguồn từ những quan niệm định kiến của mình. Cái thương
ấy không làm mình dính mắc với vạn pháp, không khiến mình
làm chuyện hại người hại vật, cũng không bị hạn cuộc
dưới bất cứ một hình thức nào.
Cho
nên, tu không có nghĩa là trở thành cây khô cỏ đá, mà chỉ
là chuyển tình thương nhỏ hẹp của mình thành tình thương
rộng lớn. Đây là lý do vì sao bà cụ đốt am đuổi mất
thầy tăng. Bởi bà nắm vững tinh thần mà một người tu
chân chính cần đạt đến.
Chuyện
bà cụ đốt am đuổi tăng là vầy. Một lão bà phát tâm dựng
một chiếc am cho tăng nhân khi biết ông muốn nhập thất tu
hành. Sau mấy năm hầu hạ cơm nước đầy đủ, bà cụ bảo
đứa cháu gái “Con mang cơm vào cho thầy, sau đó ôm ngang
lưng thầy và hỏi ‘Ngay bây giờ thì thế nào?’. Coi thầy
trả lời sao rồi về thuật lại cho ta”. Đứa cháu gái y
theo lời mà làm, rồi hỏi “Ngay bây giờ thì thế nào?”.
Tăng trả lời “Khô mộc ỷ hàn nham, tam xuân vô nỗn khí”.
Cây khô trên núi lạnh, ba xuân không chút hơi ấm. Đại khái
là tôi bây giờ như cây khô không còn tình cảm gì đâu mà
thử. Lão bà nghe cháu gái thuật lại như thế điên tiết
nói “Lão tu thế nào ta không cần biết, nhưng ít nhất phải
còn chút tình cảm chứ! Thật uổng công ta nuôi ăn mấy năm”.
Nói rồi đốt am, đuổi quách thầy tăng.
Thầy
biết không xong, vào năn nỉ bà lão cất am cho nhập thất
lần nữa. Thời gian sau bà lão cũng bổn cũ soạn lại. Lần
này, tăng thoải mái trả lời “Tôi biết, cô biết, đừng
cho bà lão biết”. Đứa cháu về thuật lại cho bà cụ những
gì thầy tăng nói. Lần này bà cười khoái chí “Vậy mới
đúng là thánh tăng”.
Tu
là để trở lại tâm Phật của chính mình. Phật tâm thì
đầy đủ trí tuệ và tình thương nhưng không dính mắc, không
phải tu rồi thì trở thành cây khô cỏ đá. Vì thế chỉ
có “Cô biết, tôi biết, đừng cho bà lão biết” mà không
còn là “Cây khô trên núi lạnh, ba xuân không chút hơi ấm”
nữa.
BIẾT
rồi thôi, không sanh thêm gì nữa thì đó chính là Phật tâm.
Phật tâm thì bình đẳng không có phân biệt. Nói chính xác
là “Phân biệt cũng không phải ý”.[7] Nam không khác
nữ nhưng nam không phải là nữ. Vì thế mọi thứ thành hồn
nhiên mà không lẫn lộn. Cô thấy tôi thì chỉ thấy tôi rồi
thôi, đừng khởi lên tăng này đẹp quá, tăng này tu hành
gì mà kỳ, hoặc kèm thêm bao nhiêu cảm giác tâm tư khác nữa.
Mấy thứ khởi lên đó là mở đầu cho một cuộc hành trình
vất vả của tâm. Bởi thường đã thấy đẹp thì muốn nhìn.
Thấy thương thì muốn giữ. Từ cái giữ đó mà sinh chuyện.
Nói
“thường” tức không phải khi nào cũng vậy. Vẫn có người
chiêm nghiệm những thành quả của thiên nhiên mà không hề
bận tâm theo những thành quả đó. Một chút nên thơ trong
mộng của những người đã tỉnh mộng. “Nhạn quá trường
không, ảnh trầm hàn thủy, nhạn vô di tung chi ý, thủy vô
lưu ảnh chi tâm”. Chim nhạn bay ngang trên không, bóng in xuống
hồ lạnh. Nhạn không có ý để bóng. Nước không có tâm
giữ bóng. Đủ duyên thì hiện. Hết duyên liền không. Không
như tâm chúng sanh, đụng đâu cũng vướng như kẹo chewgum,
qua rồi rẩy mấy cũng không đi. Đều do phần ý thức phân
biệt mà ra.
Nếu
cô gái chỉ BIẾT như thế thì cô cũng là một thánh tăng.
Lúc đó cô có thể biết tất cả pháp mà không vướng tất
cả pháp. Phật tuệ hiện tiền thì tình thương dung dị đầy
đủ nhưng không hề dính mắc. Nếu tâm đã không mà giữ
chặt cái không ấy, thì không làm sao tiếp độ được chúng
hữu tình. Không làm sao thấy được tâm người mà tiếp độ.
Bao
nhiêu người đến với Hòa thượng vì Hòa thượng lạnh lùng,
ánh mắt không một chút tình thương? Sẽ chẳng còn ai. Người
ta đến với đạo vì người ta tìm thấy nơi đức Phật sự
thương yêu che chở, bao dung và tha thứ. Là nơi có thể tha
thứ mọi tội lỗi trái khuấy của người đời. Chính nhờ
thứ tình thương vô trụ ấy mà chúng sanh tìm đến với đạo.
Muốn vậy thì tâm phải KHÔNG mà không được thủ lấy cái
không ấy. Nhuần nhuyễn lưu chảy và không để lại dấu
vết.
Thương
theo kiểu ái kiến thường tình của người đời không được
đã đành mà trơ trơ như cây đá cũng không xong. Đó là hai
thái cực mà người tu cần phải tránh. Cái cực khô ngắt
kia có thể là một chặn đường mà người tu phải đi qua,
nhưng đó không phải là chỗ rốt ráo. Khó lắm không phải
dễ. Có tình thương mà không được dính mắc. Ác là ở chỗ
đó.
CUNG
CẤP THUỐC MEN cho người bệnh thì dễ hiểu rồi. Nhưng chỗ
này cũng phải khéo. Thuốc không phải là thứ mà người này
uống hay thì người khác uống cũng vậy, rồi đụng đâu
cũng cung cấp. Không phải. Phải tùy duyên. Cái duyên này rất
quan trọng. Không cẩn thận không được. Cho nên, tuy nói cung
cấp thuốc men nhưng ý là làm sao giúp phương tiện để người
bệnh được lành. Cung cấp mà phải có lòng thương xót tất
cả thì việc cung cấp thuốc men của mình mới không bị hạn
chế.
Thiền
sư Phật Quang đối với đồ chúng rất từ mẫn. Dù là kẻ
du phương tham học hay lưu học sinh đều được Sư ra lệnh
cung cấp đầy đủ các thứ cần dùng, nhất là với người
có bệnh. Thuốc men khi nào cũng chu toàn.
Một
lần, chưởng quản Khế Hội cầm một xấp biên nhận lên
than với Sư về việc chửa răng của đồ chúng, thuốc men
quá tốn kém, không thể lo nổi. Sư trả lời “Không lo nổi
cũng phải tìm cách lo cho nổi”. Khế Hội thấy Sư dứt khoát
như thế mới nói “Tuy thọ của thường trụ nhưng họ lại
không biết ơn, còn bất mãn. Con thấy không nên xuất tiền
lo cho uổng”. Thiền sư Phật Quang trả lời “Hạng ấy tuy
thốt ra toàn lời không tốt, nhưng không vì thế mà không
trang điểm được cho họ một cái răng tốt”.
Cách
xử sự của chư lão thiền sư là như thế. Tâm lão bà, khi
cung cấp thuốc men cho ai, không quan tâm đến việc người
ấy tốt hay không. Chỉ biết người đang cần thì cung cấp,
bất kể là thân hay sơ, giàu hay nghèo, tốt hay không tốt.
Thương xót hết thảy chúng sanh thì phải vậy.
Sử
dụng được hai nhân duyên đó thì mình sẽ tránh được bệnh
tật trong tương lai. Nếu có bệnh trong hiện tại, mình cũng
gặp được thầy được thuốc chữa trị đúng đắn, không
đến nổi tiền mất tật mang, tổn hại đến bản thân. Song
bệnh thân không bằng bệnh tâm. Bệnh tâm hết, cuộc sống
của mình mới thật là hết bệnh.
Khóa trình
cần phải tu
Tinh
Vân Thiền Thoại ghi :[8]
Học
tăng Nguyên Trì tham học trong pháp hội của thiền sư Vô Đức.
Tuy dụng công siêng năng nhưng rốt cuộc đối với thiền
pháp không cách gì thể nhập. Một lần trong giờ tham vấn,
Nguyên Trì bạch thầy “Đệ tử vào tùng lâm đã nhiều năm
nhưng vẫn mờ mịt không biết gì. Ngày qua ngày luống thọ
sự cúng dường của tín thí mà không ngộ. Xin thầy từ bi
chỉ dạy, mỗi ngày ngoài việc tu trì ra, còn khóa nào cần
tu thêm không?”. Thiền sư Vô Đức đáp “Tốt nhất là hãy
trông coi hai con kên kên, hai con nai, hai con nhạn và cột một
con trùng trong miệng, đồng thời chiến đấu với một con
gấu và chăm sóc một bệnh nhân. Nếu làm được như thế
và tận tâm với nhiệm vụ của mình, ta tin đó là sự trợ
giúp tốt nhất cho ông”.
Nguyên
Trì là một tăng nhân trong pháp hội của thiền sư Vô Đức.
Tuy nhiệt tình tu hành nhưng tăng không làm sao thể nhập được
thiền pháp. Thiền pháp là chỉ cho những chiêu mà các thiền
sư đưa ra để dạy môn đồ trực nhập bổn tánh của mình.
Đại khái như ngày nay mình đang lang thang trong thiền viện,
bỗng thấy thầy Trụ trì hỏi một tăng nhân “Ông có phải
là chủ núi Hương Sơn chăng?” Tăng nhân trả lời “Muối,
trà, dầu tùy ý mua chút ít v.v...”. Nghe vậy mà mình cứ
ngớ người ra không biết hai vị đó có đau thần kinh không,
là mình đang ở trong tâm trạng của tăng Nguyên Trì đây.
Sống trong chúng đã lâu mà như trên trời rơi xuống như thế,
thì rõ ràng việc tu học của mình có vấn đề. Tăng Nguyên
Trì cũng vậy. Xét lại bản thân, Nguyên Trì thấy mình rất
tinh tấn. Tụng kinh, sám hối, ngồi thiền … nhưng vì sao
mọi thứ không như ý? Vì tu chưa đủ. Vì thế, tăng đã thỉnh
nguyện thiền sư Vô Đức chỉ dạy.
Kên
kên, nhạn, nai, trùng, gấu và bệnh nhân, thiền sư Vô Đức
giải thích là chân, tay, mắt, lưỡi, ý và thân bệnh của
mình. Ta nói kên kên, là ông phải thường cảnh giác 2 con
mắt của mình, phi lễ chớ nhìn. Hai con nai là cần phải giữ
gìn hai chân mình, đừng để nó chạy theo hướng tội ác,
phi lễ chớ hành. Hai con nhạn, là hai tay ông phải thường
làm công tác, tận tình trong trách nhiệm của mình, phi lễ
chớ động. Một con trùng là cái lưỡi của ông, phải cột
chặt lại, phi lễ chớ nói. Một con gấu chính là tâm ông,
ông phải khắc chế cá nhân riêng tư của mình, phi lễ chớ
tưởng. Người bệnh là chỉ cho thân ông, hy vọng ông đừng
để nó phạm tội ác. Ta mong rằng trên đường tu đạo, những
khóa trình cần phải tu đó không thể thiếu.
Mình
tụng kinh giỏi, ngồi thiền lâu mà không ngộ được cái
gì cho ra hồn, vì mình không quản thúc kỹ những con vật
mình đang sở hữu. Không phải chỉ có tăng nhân mới thực
hiện các điều dạy đây. Ngay cả cư sĩ ngoài đời, tu chỉ
để hết khổ thì không nói, nhưng nếu muốn thể hội được
thiền pháp, ngộ ra được bản tánh của mình đều phải
quản kỹ những con vật mà thiền sư Vô Đức đã chỉ dạy.
Ta
nói kên kên, là ông phải thường cảnh giác 2 con mắt của
mình, phi lễ chớ nhìn. Mắt là mắt của mình, vạn vật cũng
bày hiện tự do quanh mình, nhưng không phải thứ gì cũng có
quyền nhìn và có thể nhìn được. Ngay ở ngoài đời đây,
nếu những thứ không cho phép nhìn mà nhìn, pháp luật cũng
không cho, phải tốn tiền bồi thường, đừng nói là người
tu. Vì thế PHI LỄ CHỚ NHÌN. Phi lễ là chỉ cho những gì
trái lễ nghĩa, những gì vượt mức cho phép.
Người
ta tắm trong phòng tắm, mình khoét một lỗ nhìn cho thấu,
phi lễ đã đành, mà người ta mặc bikini đi vòng vòng trên
bãi biển, mình chong mắt ra nhìn cũng thuộc phi lễ. Tăng nhân
ngang qua hồ sen ngửi chút hương thơm còn bị quở, huống
là những thứ có hình có tướng mỹ miều? Với thiền, thứ
gì có sự chăm chú chiếu soi hướng ngoại, đều là phi lễ.
PHI LỄ thì CHỚ NHÌN.
Thật
ra, thiền không cắm nhìn thứ gì hết. Có thể nhìn mọi thứ
với điều kiện không được trụ chết ở thứ nào. Nhưng
tật của mình là nhìn thứ gì vừa ý rồi, mất hồn luôn
vào thứ đó. Không thì bươi bươi móc móc như con kên kên
dõi mắt tìm xác chết. Đụng đâu cũng chiếu cũng soi. Vì
thế, thiền sư Vô Đức dạy tăng Nguyên Trì PHI LỄ CHỚ NHÌN.
Khỏi nhìn luôn cho chắc. Tâm không động, cũng chẳng ai muốn
nhìn những thứ như thế.
Hai
con nai là cần phải giữ gìn hai chân mình, đừng để nó
chạy theo tội ác, phi lễ chớ hành. Đang trong lúc tu hành
mà đâu cũng thích bương chãi, rất là khó tu. Đi nhiều, tiếp
xúc nhiều, thân động, tâm động … Khó mà bảo quản thằng
ý thức của mình. Cái thích đi nhiều đó cũng nói lên cái
động của mình. Động mới không chịu yên. Quảng cho được
cái đi đó chính là tu. Còn muốn đi là đứng dậy đi thì
đi sẽ thành nghiệp (thói quen). Thành nghiệp rồi thì nó sẽ
có lực dẫn mình đi nữa. Đi mãi ... Quên mất đường về.
Trong
giai đoạn đang tu hành như mình, là giai đoạn phải dừng
bớt cái động để thể nhập cái tịnh, thì tịnh thân tịnh
tâm là điều cần thiết. Được cái tịnh đó rồi, mới
có thể thể nhập được THỂ TÁNH “không động cũng không
tịnh” của mình. Nhà thiền gọi đó là kiến tánh. Được
cái không động không tịnh đó xong, tùy duyên mà có động
hay tịnh. Vì thế đi không phải là lỗi. Nhưng đang trong giai
đoạn tu hành điều thân điều tâm mà đi nhiều thì lỗi.
Đi nhiều khó mà điều thân điều tâm. Muốn ngộ được
thiền pháp mà thân tâm không định làm sao ngộ được? Trăng
muốn hiện thì nước phải yên, nước chao mặt thì trăng
không thể hiện. Vì thế muốn ngộ được thiền pháp thì
phải giữ cặp giò cho chặt. Đi đâu cũng phải đi trong chánh
niệm. Đi được trong chánh niệm thì muốn đi đâu đó đi.
Nghĩa là, thiền hành quán tâm thì tốt, nhưng xách xe chạy
vòng vòng coi thiên hạ buôn bán ra sao, thành phố có gì thay
đổi thì Phật cũng chạy. PHI LỄ CHỚ ĐI là vậy.
Hai
con nhạn, là hai tay ông phải thường làm công tác, tận tình
trong trách nhiệm của mình, phi lễ chớ động. Hai cái chân
không nên đi nhưng hai cái tay phải làm. Vì sao? Vì “Một
ngày không làm, một ngày không ăn”. Tập nghiệp của mình
dày lắm. Lao động công tác là thứ giúp mình thải bớt những
năng lực “trời cho” của mình. Chưa phải là hàng quốc
sách mà chỉ có ăn với ngủ thì đại nạn sẽ xảy ra. Thành
làm gì làm, đừng nên làm biếng. Đừng ương ương dỡ dỡ
như người không hồn. Làm biếng người ta nhìn vô cười
đã đành mà mình cũng không thể tu hành lâu dài được. Năng
lực trời cho đó mà không giải tỏa bớt qua phần học tập
hay lao động thì nó sẽ khiến mình sải bước đi rong. Cho
nên, đợi nhập thất rồi hãy làm biếng. Đó là lúc mình
có quyền làm biếng cái tay để tập trung phát huy cái BIẾT.
Còn bình thường thì phải học, phải làm việc. Mọi thứ
đều phải thực hành trong chánh niệm.
Làm
trong chánh niệm là làm thứ gì chỉ biết thứ đó thôi. Cố
gắng chăm chú vào việc mình đang làm. Đã không làm thì thôi,
đã làm thì phải làm cho tới nơi tới chốn, cho hết lòng.
Khi làm cũng không nên phân tâm thành hai ba việc một lúc.
Tâm sẽ chẳng có ĐỊNH LỰC khi tay thì làm, miệng thì nói,
mắt lại nhìn đâu đâu, chỉ chuyên chú vào nơi không dính
gì đến việc mình đang làm. Làm việc như vậy, chẳng bao
giờ có cơ hội đập bể được thùng sơn.
Tay
là để làm việc, chân là để tréo lại ngồi thiền. Không
phải có chân để đi bát phố nhìn thiên hạ rồi thấy gì
cũng bốc cũng lũm. Thứ không phải của mình cũng lấy. Đụng
đâu cũng lục cũng soạn. Đó gọi là táy máy tay chân. Chẳng
qua vì tâm động. Nên nói PHI LỄ CHỚ ĐỘNG. Động là chỉ
cho sự táy máy.
Một
con trùng là cái lưỡi của ông, phải cột chặt lại, phi
lễ chớ nói. Nói, không phải lỗi. Nói nếu là lỗi thì Phật
Tổ và chư thiện tri thức đều im. Song các vị vẫn nói.
Vậy thì biết, nói không phải là lỗi. Lỗi là do mình nói
không đúng lúc, đúng thời. Nói khiến người ta đau lòng,
nói cho người ta gây nhau, nói để hạ cơn giận của mình,
phi lễ đã đành, mà lúc đang tập trung tu hành, cần giữ
mồm giữ miệng cho mốc như chiếc quạt mùa đông cũng nói,
đều thuộc phi lễ.
Một
ngày không làm, một ngày không ăn coi vậy mà dễ hơn một
ngày không nói. Không nói ra miệng thì cũng thầm thầm thì
thì trong đầu. Thành đủ duyên một cái là trào ra như suối.
Người ta không nghe, mình cũng nói. Nói đến nổi người ta
ngủ rồi, mình cũng nói. Nói kiểu đó thì khó mà trực nhập
được thiền pháp.
Cái
nói này liên quan mật thiết đến con gấu của mình. Một
con gấu chính là tâm ông, ông phải khắc chế ngự cá nhân
tiêng tư của mình, phi lễ chớ tưởng. Dòng vọng tưởng
tương tục của mình chưa ngắt quãng, nên mình không thể
làm chủ lấy cái nói của mình. Mình cứ tưởng mình làm
chủ lấy cái nói, lấy tư tưởng của mình, nhưng thật ra
dòng tương tục suy nghĩ đó đang dẫn mình chạy, làm cái
biết của mình bị lu mờ. Biết đã lu thì chủ cũng chẳng
còn. Nên một khi có cơ xuất ngôn là khỏi ngừng, tranh nhau
mà nói, nói không kịp thở.
TÂM
mà thiền sư Vô Đức nói đây là chỉ chung cho những gì khởi
lên trong tâm mình. Với thiền, mọi hình ảnh suy nghĩ của
3 thời đều thuộc phi lễ. Thứ gì có tính cách riêng tư,
cá nhân, tức thuộc về cái tôi và những cái của tôi thì
phải coi chừng. Giường tôi, áo tôi, công việc của tôi,
ý kiến của tôi v.v… Một khi mình còn coi trọng những thứ
đó thì thế nào cũng có đụng chạm thị phi. Không vừa lòng
là đầu mối của mọi sinh sự. Phải làm sao vượt qua những
thứ không vừa lòng này. Đó chính là tu, là đang phá đi cái
tôi của mình.
Trong
công việc và ngủ nghỉ, cố gắng sống với những gì hiện
thực trước mắt. Đang tụng kinh thì chỉ một việc tụng
kinh thôi, đừng có tay thì gõ mõ, miệng thì tụng kinh mà
đầu thì đang tưởng đến chuyện khác. Dù chuyện khác đó
có là chuyện tu hành cao cả đến đâu thì cái cao cả tu hành
ấy cũng lỗi. Vì mình làm việc không có chánh niệm. Làm
việc mà tâm chỉa ba như thế thì không cách gì định được
tâm. Vì thế nhiều khi thấy hình thức rất chăm chỉ nhưng
những thứ cần quản, mình không quản cho đúng, thành ngày
tháng cứ trôi qua mà việc sáng tâm thì không thấy.
Quản
tâm rồi bây giờ đến quản thân. Người bệnh là chỉ cho
thân ông, hy vọng ông không để nó vướng vào tội ác. Gọi
là thân bệnh vì nó vẫn còn bị sai sử bởi 3 thứ tham -
sân - si. Còn bị những thứ đó dẫn dắt thì mình rất dễ
thuận theo những thứ đó. Cái điển hình gần nhất là làm
biếng. Đến giờ ngồi thiền sao thấy cái thân nó mỏi thành
không ngồi. Thiền sư nằm thiền không sao nhưng mình nằm
một chặp là nhập định. Nhập định rồi gặp cảnh giới
lạ, thấy đi chỗ này, chỗ kia, cười nói lung tung, gặp bà
con họ hàng đủ thứ. Đến khi người bạn bên cạnh đập
một phát vào mông, mình mới thức giấc.
Bạn
có tin làm biếng là tội ác không? Làm biếng có khi là tội
ác. Nói có khi vì hai chữ làm biếng thường chỉ cho thói
xấu. Nhưng có khi làm biếng mà không xấu. Vì xấu hay tốt
là tùy duyên. Một lần ăn chè xong, làm biếng nên tôi quăn
chén đó không rửa. Qua một đêm kiến đầy nhóc. Con thì
chết, con vỗ hoài không đi. Song thời gian thì có hạn, vỗ
một chặp không xong đâm bực, thế là có con phải dẹp dưới
bàn tay nhanh nhẩu của mình. Hàng vạn sinh linh tử nạn chỉ
vì một tật làm biếng. Rõ ràng những loại làm biếng như
thế dễ gây cái nhân tội lỗi. Đó là trong công việc hằng
ngày, việc tu học cũng vậy.
Một
thời gian dài, cứ tréo chân lên ngồi thiền là tôi đau đầu.
Đau ghê gớm. Đau đến nổi thấy tọa cụ bồ đoàn là nổi
gai óc. Sợ, thành bắt đầu làm biếng. Thay vì ngồi, thả
chân đánh một giấc cho khoẻ. Giấc 4 giờ đó, không ngủ
thì thôi, ngủ được là nhập định liền. Nhập định rồi
có cảnh giới lạ. Lần này, thấy mình lang thang vào một
bệnh viện, dưới chân la lết người bệnh. Rồi thấy mình
chen chân qua những bệnh nhân trong tâm trạng rất bình yên.
Bổng thấy mình rùn mình. Khi sự sợ hãi xuất hiện, liền
thấy máu nơi người bệnh tuôn ra, bắn tung toé vào người
mình. Giật mình, hoảng hốt, tôi tréo chân trở lại bồ đoàn.
Cơn đau rồi cũng qua đi. Mọi thứ bình yên như cũ.
Đó
chỉ là giấc mơ. Song nó nhắc mình nhớ mối quan hệ nhân
duyên giữa con người với con người. Mình cứ tưởng những
gì là mình thì không can hệ gì đến người chung quanh. Việc
mình làm chỉ là của riêng mình, không can hệ gì đến người
khác. Nhưng thực ra mọi thứ đều có quan hệ mật thiết
với nhau. Việc mình làm luôn ảnh hưởng đến người chung
quanh. Ảnh hưởng đó sẽ tác động ngược trở lại mình.
Song với con mắt thường của mình đây, mình không thấy thủng
được điều đó.
Thiếu
trí tuệ, hành xử của mình dễ mang lại đau khổ cho mình
và người. Nói chính xác là cho người có nhân duyên với
mình. Nhưng không phải chừng đó rồi thôi. Vì sao? Vì một
khi mình đã gây nhân thì đủ duyên mình sẽ gặt cái quả
của cái nhân đã gieo đó. Mình gây ra và mình phải nhận
lại. Mình khiến người đau khổ thì mình sẽ phải gặt cái
quả đau khổ đó. Vì thế, phải làm sao để trí tuệ của
mình phát triển. Muốn trí tuệ phát triển thì phải chịu
khó học hỏi và tọa thiền, không được làm biếng. Làm
biếng thì trí tuệ không có. Trí tuệ không thì dễ tạo nghiệp
xấu, rồi lại phải lãnh báo nghiệp xấu đã gây ra đó.
Thứ
gì trong đời, muốn có quả đều phải gieo nhân. Muốn việc
tu học của mình có kết quả, mình phải tự trồng lấy cái
nhân tu học cho chính mình. Muốn thâm nhập được thiền pháp
mình phải có trí tuệ. Muốn có trí tuệ thì phải học những
hạnh thiền sư Vô Đức đã dạy cho tăng Nguyên Trì. Những
hạnh mình phải tu tập đó chính là cái nhân để mình có
cái quả là trí tuệ. Gieo đúng nhân thì nhất định sẽ gặt
đúng quả.
Xem nắn
bình
Kinh
Bách Dụ ghi :
Xưa
có hai người đi ngang nhà của người thợ gốm, thấy người
thợ nắn bình rất đẹp, trông mãi không chán. Một người
bỏ đi dự dạ hội. Người ở lại xem thợ gốm nắn bình
và tự nghĩ “Đợi xem anh thợ gốm nắn bình xong, mình sẽ
đến ăn sau”. Thế rồi anh đứng xem anh thợ gốm nắn bình
đến khi trời tối, không được gì ngoài việc mệt mỏi
và đói bụng. Trong khi anh kia vừa được thức ăn ngon lại
có cả đồ quí báu.
Ngày
còn sống, bố mua hai miếng đất xa thành phố … Ông muốn
tìm hơi hướm chút miền quê lúc tuổi già. Chưa già nhưng
điềm báo đã xuất hiện. Bốn mươi tuổi, đầu bố trắng
híu. Danh vọng, tiền tài sừng sững nhưng mệt mỏi cũng len
dần trong sớ thịt làn da. Bố muốn đời sống an bình nơi
thôn dã, nhưng không thể bỏ mặc hiện tại với phố lệ
đầy hoa. Muốn nghỉ ngơi nhưng phải đợi về già.
Chưa
kịp già, ông mất. Khi mọi thứ vẫn còn đầy đủ. Vợ con,
danh vọng, tiền tài … mọi thứ vẫn còn đó, chỉ mình ông
ra đi. Tuổi già không kịp hưởng. Ông mất, mẹ không có
thì giờ để chăm sóc mảnh vườn, cũng không có thì giờ
để nghĩ đến tuổi già. Miếng đất bỏ mặc không ai coi,
rồi biến mất trong tay người khác. Người đi, của cũng
đi …
Đời
người là như thế. Ai cũng mãi say với chiếc bình gốm của
mình. Những chiếc bình sặc sỡ nên hình rồi vỡ vụn. Thời
gian mãi trôi ... Nhiều kẻ ăn cổ đã quay về mà có người,
bình ngắm vẫn chưa xong. Kẻ này nối tiếp kẻ kia. Quên mất
thời gian không chờ đợi. Quên mất vô thường bất chợt
đến. Vẫn mãi mê không ngừng …
Qua
rồi tuổi bốn mươi. Tất bật như bố không còn. Phố lệ
đầy hoa không ham. Chỉ một mảnh vườn xới tung chưa có
hồi kết. Chữ nghĩa bút giấy … Không biết còn kịp quay
về dùng bữa cổ đầu hôm? Hay vẫn như kẻ mãi nhìn chiếc
bình gốm chưa xong.
Chân
Hiền Tâm
Sáu
Cửa Vào Động Thiếu Thất nói về Nhân Quả thiện ác như
sau :
MÊ
TÂM TU THIỆN[9] thì chưa ra khỏi tam giới, sanh ở ba cõi
nhẹ :
1.
Tu thập thiện, mong cầu sự khoái lạc thì sanh ở các cõi
trời.
2.
Giữ năm giới, vọng khởi yêu ghét, chưa ra khỏi sân giới
thì sanh ở cõi người.
3.
Chấp các pháp hữu vi, tin theo cái tà để cầu phước thì
sanh trong giới Atula.
BUÔNG
LUNG THAM SÂN SI chỉ tạo các nghiệp ác thì sanh vào 3 cõi nặng.
1.
Nghiệp tham nặng, rơi vào cõi ngạ quỉ.
2.
Nghiệp sân nặng, rơi vào cõi địa ngục.
3.
Nghiệp si nặng, rơi vào cõi súc sanh.
Chú
Thích
1
Tùy duyên có thể hiểu là tùy điều kiện tùy trường hợp.
2
Pháp là từ dùng để chỉ chung cho tất cả mọi thứ từ
thứ nhỏ nhất cho đến thứ lớn nhất, từ thứ có hình
tướng cho đến thứ không hình tướng. Con người là một
pháp. Quả táo là một pháp. Niết bàn là một pháp. Tư tưởng
là một pháp v.v… 3 Hóa chất phẫu thuật thẩm mỹ PAAG.
4
Đạo Vật Lý
5
Muốn rõ chi tiết xin xem luận Đại Trí Độ quyển I – Bồ
tát Long Thọ. HT Thích Trí Siêu dịch, trang 527.
6
Muốn hiểu phần này thì nghiên cứu luận Đại Thừa Khởi
Tín – Chân Hiền Tâm dịch và giải. Phạm vi tập sách này
không giải rộng.
7
Lời của ngài Huyền Giác.
8
Trích trong Giai Thoại Nhà Thiền tập I. Bản dịch của thầy
Đạo Tâm.
9
Mê tâm tu thiện : Chưa nhận ra được mình có bản tâm thanh
tịnh, tức chưa tin nhận được mình có Phật tánh, chỉ làm
các việc cầu phước thiện ở thế gian.
CHUYỆN
XƯA CHUYỆN NAY
Chân
Hiền Tâm
Chịu
trách nhiệm xuất bản
TRẦN
ĐÌNH VIỆT
Biên
tập : Châu Anh Kỳ
Sửa
bản in : Hồng Nguyên
Trình
bày : Thủy Tiên
Bìa
: Minh Hiếu
NHÀ
XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP HỒ CHÍ MINH
62
Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1
ĐT:
8225340-8296764-8220405-8296713-8222637
Fax:
84.8.298540 – Email : nxbtphcm@bdvn.vnd.net
Thực
hiện liên kết : Thủy Tiên 8443138
In
2000 bản, khổ 14,5x20,5cm. Tại Cty TNHH IN KHUYẾN HỌC PHÍA NAM,
Q.3 TpHCM. Số đăng ký xuất bản : 429-2006/CXB/27-35THTPHCM. Quyết
định xuất bản số : 609/QD-2006THTPHCM ngày 19.06.2006. In xong
và nộp lưu chiểu quí III-2006.