II.
TIẾN SĨ IAN STEVENSON
Tiến
Sĩ Ian Stevenson sanh ngày 31 Tháng 10 Năm 1918 tại Montreal, Gia
Nã Ðại. Cha ông là phóng viên của Tạp Chí Time, Luân Ðôn.
Ian Stevenson học về y khoa và tâm lý tại Ðại Học Y Khoa
Mac Gill, Montreal, Gia Nã Ðại và đậu Y Khoa Bác Sĩ năm 1943.
Tiến Sĩ Ian Stevenson đã phục vụ tại Bệnh Viện Saint Joseph,
Tiểu Bang Arizona, Hoa Kỳ, Viện Ðại Học Louisana, New Orleans
từ Năm 1947 đến Năm 1957. Bắt đầu năm 1957 Tiến Sĩ điều
khiển Ngành Tâm Trí và là Viện Trưởng Viện Tâm Trí tại
Ðại Học Virginia, Charlotsville.
Tiến
Sĩ là tác giả của nhiều bài khảo luận về Bệnh Tâm Trí
đăng trên các Tập San Y Học. Ngoài việc trị bệnh cho các
bệnh nhân Tiến Sĩ còn phụ trách giảng dạy tại các Trường
Ðại Học Hoa Kỳ.
Tiến
Sĩ là một nhà phân tích về tâm trí có biệt tài và đến
năm 48 tuổi Tiến Sĩ đã đạt đến nấc thang danh vọng cuối
cùng; thế mà Tiến Sỉ bỏ nghề y khoa chuyên môn để bước
sang một lĩnh vực khác, đó là công cuộc điều tra và nghiên
cứu về Luân Hồi.
Trong
một cuộc phỏng vấn, Ký Giả Eugene Kinkaid của tờ New Yorker
đã hỏi Tiến Sĩ lý do gÌ đã khiến Tiến Sĩ bỏ nghề y
khoa chuyên môn để đi theo một nghề không chính thống. Tiến
Sĩ đã trả lời:
"Tôi
không đồng ý các phương pháp áp dụng để chữa trị các
bệnh nhân tinh thần. Lý thuyết của ngành tâm trí hiện nay
cho rằng cá tính của một con người là do ảnh hưởng của
tính chất di truyền hoặc là ảnh hưởng thời gian của người
cha hay người mẹ trước và sau khi sanh, Song rất nhiều trường
hợp tôi đã khám phá ra chúng ta không thể đồng ý với lý
thuyết trên cả về tính cách di truyền lẫn ảnh hưởng thời
gian."
Tiến
Sĩ Ian Stevenson đã giải thích trong việc nghiên cứu về luân
hồi Ông đã phải dùng đến nhiều phương pháp chuyên môn
của một nhà sử học, một nhà luật học, một nhà tâm trí
học và tìm các dữ kiện qua những chứng nhân, tài liệu
như nhật ký, giấy khai sanh, báo cáo giảo nghiệm, hồ sơ
bệnh lý, tin tức của các báo chí vân vân...
Tập
San về Bệnh Thần Kinh và Trí Não (The Journal of Nervous and Mental
Desease) số 165 Tháng 9 Năm 1977 đã dành riêng nói về công
cuộc nghiên cứu luân hồi, về có sự sống sau khi chết của
Tiến Sĩ đã khiến cho các độc giả cùng các nhà khoa học
gia rất chú ý đến những chứng minh của Tiến Sĩ. Cũng trong
Tháng 5 Năm 1977 Tiến Sĩ đã đăng một bài khảo luận "The
Explanatory Value of The Idea of Reincarnation" nêu vấn đề luân
hồi trên tập san này.
Phản
ứng của các độc giả ra sao? Tiến Sĩ Eugene Brody, nhà xuất
bản tờ báo cũng là một nhà tâm trí học của Viện Ðại
Học Y Khoa Maryland trong một cuộc phỏng vấn đã cho biết
như sau: "Tôi đã nhận được lối 300 đến 400 lá thư của
các Khoa Học Gia yêu cầu cho in lại số báo trên. Quả là
đã có nhiều người chú trọng đến vấn đề này."
Tiến
Sĩ Ian Stevenson đặc biệt khảo cứu các trẻ em trên thế
giới cả Ðông lẫn Tây có ký ức về tiền kiếp. Ông đã
xuất bản 5 cuốn sách về luân hồi, trong đó có cuốn "Children
Who Remember Previous Life" (Những Thiếu Nhi Còn Nhớ Tiền Kiếp)
do nhà Xuất Bản University Press of Virginia, Charlotsville phát
hành năm 1987 mà chúng tôi xin trích dịch vài truyện trong tác
phẩm này.
-ooOoo-
-8-
GOPAL
GUPTA
Tác
giả: Tiến Sĩ Ian Stevenson
Gopal
Gupta sanh ngày 26 Tháng 8 Năm 1956 tại Dehli Ấn Ðộ. Cha mẹ
của Gopal thuộc giai cấp trung lưu, học vấn không đáng kể.
Từ lúc lọt lòng đến lúc 2 tuổi không có gì đặc biệt.
Khi
Gopal bắt đầu biết nói từ khoảng 2 đến 2 tuổi rưỡi,
có một người khách đến thăm gia đình Gopal. Cha của Gopal
sai Gopal đem cất cái ly người khách vừa uống xong. Gopal đã
làm cho mọi người ngạc nhiên. Em nói rằng: "Con không thể
làm việc đó vì con là một Sharma (thuộc Bà La Môn, một giai
cấp thượng lưu của Ấn Ðộ). Trong cơn giận giữ, Gopal
đã làm vỡ cái ly. Cha của Gopal bắt Gopal giải thích lý do.
Gopal liền kể lại vài chi tiết về tiền kiếp của em. Em
cho biết trước kia em ở thành phố Mathura, cách xa Dehli 160
dậm về phía nam. Em là chủ nhân một hãng thuốc Sukh Shancharak,
có một căn nhà rất lớn, có nhiều đầy tớ, có hai người
anh và một người vợ. Em đã cãi nhau với một trong hai người
anh và đã bị bắn chết.
Gopal
cho biết ở tiền kiếp em thuộc dòng dõi Bà La Môn nên từ
chối không chịu cất ly vì người Bà La Môn thường không
bao giờ cầm những vật dụng gì mà người giai cấp thấp
hơn đã đụng tới. Gia đình của Gopal hiện tại thuộc dòng
Bania, giai cấp thương mại.
Cha
mẹ của Gopal không có liên hệ gì với Mathura, nên sự phát
hiện của Gopal về tiền kiếp không gợi cho cha mẹ Gopal một
ký ức nào cả. Mẹ của Gopal không thích và cũng chẳng bao
giờ khuyến khích Gopal nói về tiền kiếp cả. Cha của Gopal
thì lại càng lạnh nhạt với những câu chuyện về tiền
kiếp khi Gopal kể. Tuy nhiên thỉnh thoảng cha của Gopal có
kể lại cho vài người bạn nghe về chuyện tiền kiếp của
Gopal. Một trong những người này cho biết hình như ông ta
có nghe thấy một vụ giết người trùng hợp với câu chuyện
trên ở Mathura, nhưng cha của Gopal chưa tin nên cũng chẳng
mấy quan tâm để đi Mathura tìm hiểu sự việc có thật hay
không.
Cho
đến năm 1964, nhân cơ hội có một buổi đại hội về tôn
giáo tổ chức tại Mathura, cha của Gopal trong lúc đi dự hội
đã khám phá ra là tại Mathura có hãng thuốc Sukh Shancharak.
Ông tìm đến Hãng thuốc và được gặp viên Quản Lý. Ông
kể lại cho Viên Quản Lý nghe chuyện Gopal nói về tiền kiếp.
Viên Quản Lý rất ngạc nhiên vì có một chủ nhân của hãng
này đã bị người anh ruột bắn chết cách đây mấy năm.
Người chủ này là Shaktipal Sharma chết ngày 27 Tháng 5 năm
1948, vài ngày sau khi bị bắn.
Viên
Quản Lý báo cho gia đình Sharma biết việc viếng thăm của
cha Gopal. Vài người trong gia đình Sharma đã tới Dehli thăm
gia đình Gopal và đã mời Gopal tới Mathura. Trong những cuộc
gặp gỡ tại Mathura cũng như Dehli, Gopal đã nhận ra một số
người và một số nơi mà trước kia Shaktipal đã quen biết
và thêm vài tin tức đặc biệt về đời tư của Shaktipal
Sharma. Gia đình của Sharma rất ngạc nhiên vì Gopal đã cho
biết trước đây Shaktipal Sharma dự định muốn mượn một
số tiền của vợ và muốn lấy số tiền để cho anh mình
vay hùn vốn vào công ty. Cuộc cãi vã đã xảy ra giữa hai
anh em, Shaktipal muốn cho người anh nguôi giận đã tăng số
tiền cho vay lên nhưng người vợ lại từ chối không cho.
Do đó người anh đã cáu kỉnh và trong lúc nóng giận đã
bắn Shaktipal Sharma. Chi tiết của tấn thảm kịch này đã
được dấu kín không ai được biết ngoại trừ những người
trong gia đình. Vụ người anh giết em này đã được đăng
tải trên báo chí. Sự hiểu biết tường tận về nội vụ
cùng với sự nhận dạng được một số người trước đây
đã quen với Shaktipal khiến cho gia đình của Shaktipal Sharma
phải công nhận Gopal chính là hiện thân của Shaktipal. Song
song với những lời tuyên bố về tiền kiếp, Gopal đã tỏ
ra phong thái của một người Bà La Môn giàu có cho nên cá
tính của em đã làm trở ngại không ít đến gia đình hiện
tại của em. Em đã không ngần ngại nói rằng em thuộc giòng
dõi cao quý hơn những người hiện tại của gia đình em. Em
đã từ khước những công việc nội trợ cho rằng những
công việc này chỉ đáng để cho những người đầy tớ làm
mà thôi. Em không bao giờ uống sửa nếu sửa nếu được
rót vào một cái ly đã có người khác sử dụng.
Tiến
Sĩ Jamua Prasad đã từng cộng tác với tôi (Ian Stevenson) nhiều
năm trong nhiều trường hợp tại Ấn Ðộ, đã bắt tay điều
tra vụ này năm 1965. Riêng tôi bắt đầu vào năm 1969 khi tôi
đích thân phỏng vấn hai gia đình tại Dehli cũng như Mathura.
Tôi vẫn còn liên lạc với họ cho đến năm 1974. Sau khi đi
thăm Mathura vào năm 1965 thì Gopal không có ý định đến thăm
nơi này nữa. Vài năm sau 1965 thỉnh thoảng Gopal có đến Dehli
thăm hai người chị của Shaktipal. Nhưng sau đó thì sự liên
lạc giữa hai gia đình đã không được duy trì nữa. Gopal
càng lớn lên thì cái phong thái Bà La Môn của tiền kiếp
thể nhập nơi anh ngày dần biến mất và anh từ từ hòa mình
với đời sống khiêm tốn của gia đình hiện tại. Anh cũng
ít nói đến đời sống của Shaktipal Sharma, nhưng đến cuối
năm 1974 cha của Gopal vẫn nghĩ rằng con của ông còn nhớ
đến những ký ức của chuyện này.
Ðối
với tôi (Ian Stevenson) trường hợp luân hồi này rất đáng
được kể đến vì sự trung thực, làm sao Gopal có thể biết
rõ về lúc sống cũng như lúc chết của Shaktipal Sharma. Tuy
Shaktipal Sharma thuộc một gia đình khá giả tại Mathura và
việc anh bị thảm sát đã làm xôn xao dư luận nhưng hai gia
đình Sharma và Gopal đã sống ở hai thành phố cách xa nhau
và thuộc hai giai cấp khác hẳn nhau. Ðời sống xã hội của
hai gia đình ở trong hai qóy đạo riêng biệt và chính tôi
tin tưởng mãnh liệt là hai gia đình theo như lời họ thuật
lại đã không bao giờ được biết nhau cho đến khi xảy ra
sự việc trên.
-ooOoo-
-9-
CORLISS
CHOTKIN JR.
Tác
Giả: Ian Stevenson
Trường
hợp này là lời nói trước của một người đánh cá lớn
tuổi ở Tlingit, Alaska tên Victor Vincent. Ông cô cho người cháu
gái Corliss Chotkin Sr biết là sau khi ông cô chết, ông cô sẽ
đầu thai làm đứa con trai của cô ta. Ông cô chỉ cho cô ta
thấy hai vết thẹo sau hai lần giảì phẫu, một trên sống
mủi và một đằng sau lưng. Ông cô nói là đứa con cô ta
(tức là ông cô tái sanh) sẽ mang 2 vết thẹo như trên.
Victor
Vincent chết vào mùa xuân năm 1946. Khoảng mười tám tháng
sau, ngày 15 tháng 12 năm 1947, cháu gái của ông cô sanh một
đứa con trai và được đặt tên là Corliss Chotkin Jr. Ðứa
nhỏ mang hai vết thẹo y như hai vết thẹo của Victor Vincent
trước kia. Vào năm 1962, lần đầu tiên khi tôi (Ian Stevenson)
xem xét hai vết thẹo tôi được Bà Chotkin cho biết hai vết
thẹo có thay đổi theo thời gian nhưng hãy còn rất rõ ràng.
Nhất là vết thẹo đằng sau lưng đã làm tôi kinh ngạc, nó
rộng chừng 5 ly, dài chừng 3 phân, so với chỗ da khác thì
vết thẹo này có mầu sậm hơn và hơi lồi, có nhiều chấm
đen chung quanh tựa như vết thương được khâu nhiều mủi.
Khi
Corliss vừa được 13 tháng Bà Chotkin thường tập cho Corliss
gọi tên của nó, thì Corliss thường nóng nảy nói rằng: "Mẹ
không biết con là ai à? Con là Kahkody mà". Kahkody là cái tên
do Bà lúc đặt cho Victor Vincent khi còn sống. Bà Chotkin có
kể lại cho một người cô thì bà này cho biết là sau khi
Victor Vincent qua đời được ít lâu bà có nằm mơ thấy Victor
Vincent trở về sống với gia đình Chotkin. Bà Chotkin chưa bao
giờ cho bà cô ấy biết là chính Victor Vincent đã nói trước
với bà là sẽ tái sanh làm con trai bà.
Khi
được chừng 2, 3 tuổi Corliss đã nhận ra nhiều người mà
trước đây Victor Vincent đã từng quen biết trong đó có người
vợ của Victor Vincent. Corliss còn kể 2 biến cố xảy ra trong
cuộc đời của Vincent mà chỉ có mình Vincent biết được
mà thôi. Thêm nữa còn có nhiều nét đặc biệt giống như
Victor Vincent, chẳng hạn như cách chải đầu. Corliss đã chải
kiểu tóc giống như Vincent trước đây. Cả hai cùng nói lắp
(cà lăm), cùng thích bơi lội và tầu bè, cùng thuận tay trái,
cùng có chung khuynh hướng về tôn giáo. Cũng như Vincent, Corliss
có khiếu về máy móc, có khả năng về sử dụng và sửa
chữa. Mẹ của Corliss cho biết đã tự học một mình cách
làm sao cho chiếc thuyền máy chạy được. Khác hẳn với cha
là ông Chotkins, một người không mấy thích máy móc và càng
không có năng khiếu về máy móc.
Khi
lên 9 tuổi, Corliss ít nói đến tiền kiếp của mình, cho đến
năm 1962 thì hầu như Corliss không còn nhớ gì nữa.
Tôi
(Ian Stevenson) đã gặp Corliss và gia đình cả thảy 3 lần và
đầu năm 1960 và 1 lần vào năm 1972. Lần gặp cuối cùng tôi
thấy Corliss không còn nói lắp (cà lăm) như trước nữa, khuynh
hướng về tôn giáo của anh cũng giảm đi song anh vẫn còn
thích máy móc. Trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, Corliss
đã được gửi sang chiến đấu trong đoàn Pháo Binh. Một
trái đạn nổ gần bên đã làm Corliss bị điếc. Năm 1972
lần cuối cùng gặp lại Corliss, tôi thấy anh vẫn mạnh khoẻ
và đang làm việc tại một nhà máy xay bột gần nhà của
anh tại Sitka Alaska'
-ooOoo-
-10-
MA
TIN AUNG MYO
Tác
Giả: Ian Stevenson
Ma
Tin Aung Myo sanh ngày 26 Tháng 12 năm 1953 tại làng Nathul miền
thượng Miến Ðiện. Cha Cô là U Aye Maung và mẹ cô là Daw
Aye Tin. Khi còn đang mang thai Ma Tin Aung Myo, 3 lần Bà mơ thấy
một người lính Nhật cởi trần, mặc quần soọc đã theo
bà và nói rằng ông ta sẽ đến ở với vợ chồng Bà.
Khoảng
3, 4 tuổi, Myo đã có những hiện tượng nhớ đến tiền kiếp
của mình. Mỗi lần thấy máy bay bay ngang làng Nathul, Myo đều
sợ hãi và khóc. Tình trạng này kéo dài nhiều năm. Lúc lên
4 tuổi có lần Myo khóc sướt mướt; được hỏi lý do cô
trả lời là cô khao khát được về nước Nhật. Rồi sau
đó Myo kể là Myo là người lính Nhật đóng quân ở Nathul
trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến khi Quân Ðội Nhật Bản chiếm
giữ Miến Ðiện. Myo nói rằng cô là hỏa đầu quân và bị
bắn chết trong một cuộc oanh tạc của máy bay Ðồng Minh.
Myo cung cấp vài chi tiết khác về tiền kiếp mà cô còn nhớ.
Trước kia Myo ở phía Bắc nước Nhật, đã lập gia đình
và có một con. Trước khi nhập ngũ gia đình có một cửa
hàng nhỏ.
Trong
lúc Quân Ðội Nhật rút lui khỏi Miến Ðiện, Cô bị máy
bay bắn chết. (Có thể sự việc xảy ra vào năm 1945). Cô
đã mô tả lối ăn mặc của người lính Nhật và cách thức
ẩn tránh khi bị máy bay oanh tạc. Riêng cô bị kẹt ngoài
bờ đê nên đã bị bắn chết. Myo không nhớ tên cũng như
quê quán của người lính Nhật. Tuy nhiên những gì Myo kể
lại rất phù hợp với những biến chuyển trong thời gian
Quân Ðội Nhật chiếm đóng Miền Thượng Miến Ðiện. Mẹ
của Myo cho biết có quen thân với một người lính Nhật làm
hỏa đầu quân khi quân đội Nhật Bản đóng tại nơi đây,
nhưng không biết anh lính Nhật này chết tại đâu.
Lối
xử sự của Myo rất khác thường, giống như phong cách của
một người lính Nhật. Myo không thích khí hậu nóng bức tại
miền thượng Miến Ðiện và cũng không thích các món ăn nấu
theo kiểu địa phương, Myo thích ăn đồ ăn có đường, cá
sống. Myo thường tỏ vẻ mong đợi ngày trở về Nhật Bản
và có nhiều khi nằm úp mặt khóc vì nhớ nhà. Myo cũng thường
tức giận mỗi khi có ai nhắc tới người Anh hoặc người
Mỹ trước mặt Myo.
Ðiều
đặc biệt nhất là Myo thích làm con trai. Cô hay mặc quần
áo đàn ông và thích cắt tóc kiểu con trai. Vì vậy khi đi
học Myo bị nhà trường bắt buộc phải ăn mặc theo kiểu
phụ nữ. Myo đã từ chối và năm lên 11 tuổi Myo đã bỏ
học. Vì học vấn kém nên Myo đã phải làm nghề tầm thường.
Năm 1974 khi tôi (Ian Stevenson) gặp Myo lần đầu tiên thì cô
đang bán rong đồ ăn ở ga xe lửa.
Thưở
còn nhỏ, Myo thích chơi trò đóng vai người Lính. Myo đòi
cha lần nào đi Mandalay cũng phải mua cho cô một cây súng giả.
Ba người chị cũng như người em trai độc nhất của cô lại
không thích trò này. Myo thích chơi đá banh và khúc côn cầu,
hai môn thể thao chỉ dành cho con trai.
Cha
mẹ Myo đã có 3 người con gái trước khi sanh Myo. Tuy cả hai
ông bà đều muốn có một đứa con trai, nhưng điều đó không
có nghĩa là hoan nghênh tinh thần thích làm con trai của cô.
Người mẹ phản đối con kịch liệt còn người cha thì khoan
dung hơn.
Càng
lớn, Myo càng có vẻ đàn ông, Myo thích ăn mặc theo kiểu
con trai và không nghĩ đến việc lấy chồng. Ngược lại Myo
nói rằng thích một người vợ. Myo coi mình như một nam nhi
và không thích được đối xử như một phụ nữ. Khi U Win
Maung, người phụ tá của tôi (Ian Stevenson) tại Miến Ðiện
gọi Myo bằng "Ma", tiếng lịch sự để chỉ người phụ nữ
Miến, thì cô yêu cầu được gọi cô là Maung, tiếng thông
dụng để chỉ thanh niên Miến hoặc không dùng danh từ nào
cả. Trong một cuộc phỏng vấn, cô đã nói với tôi và U
Win Maung rằng cô sẽ rất hài lòng nếu chúng tôi chọn bất
cứ cách nào để giết cô miễn là bảo đảm cho cô khi được
sanh trở lại cô sẽ là đàn ông. Gia đình Myo cho rằng sự
luyến ái của Myo khác thường như vậy vì tiền kiếp Myo
là đàn ông và cũng xác nhận cái tính khí y hệt thanh niên
của cô là do tiền kiếp cô là người lính Nhật Bản.
Tuy
rằng chi tiết để xác minh người lính Nhật không được
đầy đủ nhưng tất cả những hành động cũng như tính tình
của Myo đã phản ảnh rõ ràng Myo đúng là hiện thân của
một người Lính Nhật Bản.
Tôi
(Ian Stevenson) đã gặp lại Myo vào năm 1975 và sau đó thì không
gặp nữa nhưng U Win Maung, người phụ tá của tôi tại Miến
Ðiện đã gặp Myo vào năm 1970, sau này còn gặp lại cô 2
lần nữa vào năm 1977 và năm 1981.
-ooOoo-
-11-
MỐI
TÌNH TUYỆT VỌNG
Tác
Giả: Ian Stevenson
Ðây
là một trường hợp Tiến Sĩ Ian Stevenson đăng trên tờ Journal
of Nervous and Mental Disease (Tì Báo nói về Bệnh Thần Kinh và
Tâm Trí) và năm 1983.
Tại
Rio Grand Do Sul, một Tiểu Bang cận nam của Ba Tây, một bé
gái của một trại chủ giàu có tên là Senor C.J. De Oliveiro
ra đời. Tên bé gái là Maria nhưng thường gọi là Sinha và
thân mật hơn là Sinhazinha.
Khi
lớn lên Sinha rất yêu mến đời sống thôn dã nơi quê cha
và thỉnh thoảng nàng thường đến chơi làng Dom Feliciano cách
12 dậm. Nơi đây Sinha quen với Ida Lorenz, vợ một giáo viên.
Rồi
thì 2 lần tình yêu đến nhưng lần nào nàng cũng đều bị
người cha nghiêm khắc bảo thủ ngăn cản và một trong 2 thanh
niên đã tự tử vì tuyệt vọng. Sinha ngày càng héo hon sầu
não. Lo lắng người cha đã thu xếp cho nàng đi du ngoạn Pelotes,
một thị trấn ven biển trong mùa hội nhưng tình trạng của
nàng cũng không khả quan hơn.
Với
mục đích hủy hoại thân mình nàng đã tự hành xác bằng
cách dầm thân dưới trời giá lạnh cho đến khi kiệt sức.
Nàng bị khan tiếng, nhiễm trùng cổ họng, sưng phổi rồi
ho lao. Vài tháng sau nàng chết.
Trước
khi chết nàng có tâm sự với người bạn thân Ida Lorenz rằng
bệnh hoạn là tự nàng làm ra. Nàng còn căn dặn 2 điều:
"Một,
tôi sẽ tái sanh làm con gái của Ida và hai, khi biết nói tôi
sẽ kể lại mọi điều về đời sống hiện tại của tôi
lúc đó chị sẽ nhận ra".
Ida
có nói cho chồng biết và hai người cùng chờ xem sự việc
xảy ra sao. Ngoài ra không một ai trong gia đình biết cả.
Vài
tháng sau khi Sinha chết, Ida sanh được một bộ gái đặt tên
là Marta. Marta có những nét đặc biệt tương tự như Sinha.
Khi Marta chưa đầy 1 tuổi, người cha của Sinha đến thăm
gia đình Ida Lorenz, một gia đình khác ông Valentin cũng đến
chơi cùng lúc ấy. Ông Valentin có vẻ thương yêu chiều chuộng
Marta, nhưng ngược lại Marta cứ đeo theo cha của Sinha mặc
dầu ông này thường không thích trẻ nhỏ. Marta đã vuốt
râu ông và nói: "Chào Ba". Lúc đó với ông lời chào ấy không
có ý nghĩa gì nhưng rồi 11 năm sau ông mới công nhận là
Sinha tái sanh thành Marta.
Sau
đây là lời của ông Ida Lorenz, người cha hiện tại của
Marta kể lại do Tiến Sĩ Ian Stevenson, người điều tra vụ
này chuyển dịch Người chị tên Lola của Marta đã thấy một
chuyện sau:
"Lúc
Marta được 2 tuổi rưỡi, một hôm sau khi giặt xong quần
áo ở một con suối gần nhà Marta và Lola trở về nhà. Marta
nói với chị: "Lola cõng em đi" Lola (cũng như tất cả trẻ
con hàng xóm của chúng tôi) không biết gì về lời hứa sẽ
tái sanh của Sinha nên trả lời: "Em đi được đâu cần chị
cõng". Marta nói: "Dạo trước lúc em lớn và chị nhỏ em thường
cõng chị đó". Lola vừa cười vừa vặn lại: "Em lớn lúc
nào?" Marta trả lời: "Lúc em không ở đây, mà ở xa chỗ này,
nơi có nhiều bò đực, bò sửa, có nhiều cây cam, và có nhiều
con vật như dê, nhưng không phải các con dở này (nó muốn
nói các con cừu mà nó chưa bao giờ thấy ). Câu này mô tả
cái nông trại của cha mẹ Sinha.
Rồi
vừa đi vừa chuyện trò Marta và Lola về tới nhà. Lola kể
cho chúng tôi những ý tưởng lạ lùng của Marta và tôi nói
với Marta: "Này con gái nhỏ của Ba, Ba chưa bao giờ ở đấy
sao con lại nói con ở đấy?" Marta trả lời: "Ðúng vậy, lúc
đó con có cha mẹ khác".
Một
người chị khác của Marta trêu em:
"Thế
em cũng có một người đầy tớ da đen như bây giờ phải
không?" (muốn nói đến đứa con gái da đen mồ côi mà chúng
tôi đang nuôi). Marta trả lời ngay: "Không, lúc đó người
đầy tớ da đen của chúng tôi đã lớn và biết cả nấu
ăn, chúng tôi cũng có một em da đen nhỏ, và một hôm em nhỏ
này quên không múc nước về nên bị cha tôi đánh".
Nghe
vậy tôi liền nói: "Cha chưa bao giờ đánh một em nhỏ da đen
nào cả con gái bộ nhỏ ạ" Marta nói: "Nhưng đó là người
cha kia của con mà; bị đánh em nhỏ kêu khóc và cầu cứu
con: Sinhazinha hãy cứu tôi! và con đã xin cha đừng đánh nó
nữa và thằng nhỏ chạy ngay đi múc nước về".
Tôi
hỏi: "Vậy ai là Sinha hay Sinhazinha? ". Marta trả lời: "Chính
là con đấy, con còn có tên là Maria và một cái tên nữa mà
con không nhớ".
Tên
đầy đủ của Sinha la Maria Januaria De Oliveiro.
Ðể
thử xem Marta nói có đúng không, Ida cũng hỏi một câu: "Mẹ
thường đến nông trại thăm Sinha, vậy Sinha thường làm gì
để đón tiếp mẹ?" Marta nói nó thường pha sẵn cà phê,
vừa đứng chờ trước nhà vừa nghe máy hát để trên thềm
đá.
Sau
khi phỏng vấn người em gái của Sinha, Tiến Sĩ Ian Stevenson
được biết quả đúng như vậy. Sinha thường làm thế để
tiếp đón người bạn quý của mình tức người mẹ hiện
tại.
Ida
hỏi Marta là Sinha đã nói thế nào khi Ida đến thăm Sinha lần
cuối cùng trước khi Sinha chết. Marta đã diễn tả: "Nàng
thều thào bên tai Ida, chỉ vào cuống họng mình rằng nàng
không thể nói được vì đau cuống họng". Cảnh này chỉ
một mình Ida biết mà thôi.
Liên
tiếp mấy năm sau, Marta kê khai 120 bản về đời sống của
Sinha và về những người mà Sinha quen biết. Người cha hiện
nay của nàng còn giữ tất cả những tài liệu này. Có nhiều
điều ông ta, vợ ông ta và ngay cả đến những đứa trẻ
khác trong gia đình hoàn toàn không biết nhưng sau khi phối
kiểm thì thấy đều rất trung thực.
Bấy
giờ Marta thường nhắc đến căn nhà của Sinha và mong ước
được về thăm nhưng mãi đến năm 12 tuổi vào cái tuổi
mà Marta ít nhắc đến tiền kiếp của mình thì Marta mới
được mãn nguyện. Vừa đặt chân tới nhà có Marta đã nhận
ra cái đồng hồ treo tường và nói là của mình. Nàng còn
nói đằng sau cái đồng hồ có in tên nàng bằng chữ vàng.
Người cha ở tiền kiếp nghe vậy bèn lấy cái đồng hồ
xuống, quả nhiên đằng sau có in dòng chữ vàng: "Maria Januaria
De Oliveiro". Cái đồng hồ do Sinha mua và tự mình lên dây.
Ðó là đồ vật duy nhất mà Marta nhận được tại nông trại.
Sau
chuyến viếng thăm của Marta, một người bà con của Sinha
nghe nói Sinha tái sanh, đã không báo trước mà tìm đến nhà
ông bà Lorenz và hỏi Marta như sau: "Nếu quả cô là Sinha, xin
cho tôi biết quan hệ giữa chúng ta như thế nào?" Không chút
ngặp ngừng Marta đã trả lời đúng: "Bà là chị họ và cũng
là mẹ đỡ đầu". Người đàn bà này hoàn toàn chưa bao giờ
biết làng Dom Feliciano, nơi mà gia đình và Marta đang sống.
Một
chuyện khác xảy ra khi Marta 19 tuổi và được một nông trại
mời đến kèm trẻ. Gia đình này theo đạo Cơ Ðốc Giáo gốc
nên không bao giờ Marta đề cập đến luân hồi. Một phụ
nữ già da đen cũng làm tại nơi đây thấy Marta đã nói với
mọi người: "Cô gái này giống hệt như Sinha ". Hóa ra người
đàn bà da đen chính là người đầy tớ trước đây của
nông trại Oliveiro mà lúc lên 2 tuổi rưỡi Marta đã có lần
nhắc tới.
Sinha
tìm cái chết bằng cách tự hủy hoại thân thể mình với
bệnh lao phổi và thanh quản - nay hai bệnh nghiệp chướng
trên đã trở lại với nàng - Marta rất dễ bị cảm lạnh
và sưng phổi trong khi những đứa con khác của gia đình Lorenz
không một ai bị bệnh này cả. Tiến Sĩ Ian Stevenson đã bình
luận: "Bệnh đau về hệ thống hô hấp và yết hầu của
Marta hiện nay đúng là bệnh tình trước đây của Sinha. Tôi
tin rằng trong hiện tại Marta hay mắc chứng bệnh này là vì
có sự liên quan đến tiền kiếp và cái chết của Sinha".
Hậu
quả thứ hai là hoàn cảnh trái ngang có thể đưa nàng đến
ý định tự hủy hoại thân mình. Marta có xác nhận với Tiến
Sĩ Ian Stevenson, mặc dù chưa bao giờ có ý định tự tử cả,
xong có thể làm việc ấy nếu có sẵn một khẩu súng.
Trên
bình diện xác thực và khích lệ, nàng đã vượt đến sự
tốt đẹp của bản thân tiền kiếp. Nàng đã được nhiều
người đặc biệt nhớ đến nàng vì tình thương yêu và lòng
nhân ái đã được thể hiện trong cuộc sống hiện tại của
nàng. Với kinh nghiệm tái sanh nàng đã tìm được cách hữu
hiệu để làm giảm bớt sự đau khổ và ưu sầu của những
người chung quanh.
Tiến
Sĩ Ian Stevenson đã viết trong báo cáo:
"Một
ngày nọ một thiếu phụ đến thăm gia đình Lorenz và ta thán
về cái chết của người cha. Thiếu phụ này nói: "Ồ các
bạn thân mến, người chết rồi không bao giờ trở lại được".
Nghe vậy Marta đã lên tiếng: "Xin bà đừng nói thế, tôi cũng
đã chết và bà có thấy không tôi đang sống lại đấy".
Một
bửa khác trong cơn mưa bão, một người chị của Marta đã
lo lắng cho người em Emilia mới chết có thể bị ướt dưới
mộ sâu. Marta đã nói: "Chị đừng nói vậy, Emilia đâu còn
ở nghĩa địa, Emilia đã ở một nơi an toàn tốt đẹp hơn
nơi của chúng ta hiện nay, linh hồn không bao giờ bị ướt
cả".
-ooOoo-
-12-
SHAMLINIE
PREMA
Tác
Giả: Ian Stevenson
Shamlinie
Prema sanh ngày 16 Tháng 10 năm 1962 tại Sri Lanka Colombo. Cha mẹ
của Shamlinie sống ở Gonagela, cách Colombo 60 cây số về phía
nam và lớn lên tại đó.
Cha
mẹ của Shamlinie nhận thấy ngay từ khi biết nói, Shamlinie
đã rất sợ nước, thường dẫy dụa khóc thét lên mỗi khi
có ai muốn đem em nhúng xuống nước. Em cũng sợ cả xe buýt
và thường khóc lóc mỗi khi cha mẹ đem lên xe buýt hay nhìn
thấy xe buýt từ đằng xa. Sự việc này làm cho cha mẹ em
bối rối, ông bà cho rằng những biến cố ở kiếp trước
đã ảnh hưởng tới đời sống hiện tại của em.
Ðến
khi biết nói em đã liên tiếp kể chuyện tiền kiếp của
em cho cha mẹ cũng như những người thân thuộc. Em cho biết
ở tiền kiếp em sống tại làng Galtudawa cách xa Gonagela 2 cây
số. Em nói rằng cha mẹ tiền kiếp của em còn đang sống
tại Galtudawa và em thường nhắc đến bà mẹ Galtudawa. Em cũng
nói tới mấy người chị và hai người bạn học cùng trường.
Em tả căn nhà ở tiền kiếp mà em đã sống, địa thế cũng
như đặc điểm khác hẳn cái nhà mà em đang sống. Em kể
nguyên do cái chết của em xảy ra như thế nào. Một buổi
sáng để điểm tâm trước giờ đi học em đi mua bánh mì
trên con đường bị ngặp nước. Một chiếc xe buýt chạy
ngang làm bắn tung nước và em bị hất xuống ruộng. Em chỉ
còn biết dở tay vẫy gọi "Mẹ" và sau đó em cảm thấy như
ngủ thiếp đi.
Ở
Galtudawa có một cô gái tên là Hemaseelie Guneratne bị chết
đuối ngày 8 tháng 5 năm 1961 trong hoàn cảnh tương tự. Hemaseelie
đã lùi một bước để tránh xe buýt và cô bị rơi xuống
ruộng lúa ngặp nước. Hemaseeli là một học sinh 11 tuổi.
Cha mẹ Shamlinie không hề quen biết gia đình Hemaseelie và cũng
chưa gặp Hemaseelie lần nào cả. Tuy nhiên cha mẹ Shamlinie có
được nghe chuyện cô học sinh chết đuối, cũng cảm thấy
buồn nhưng sau đó rồi ông bà cũng quên bẵng đi.
Lần
đầu tiên nghe em kể câu chuyện bị chết đuối cha mẹ em
không nghĩ rằng em có liên quan đến cô bộ Hemaseelie bị chết
đuối cả. Khi Shamlinie lên 3 tuổi em nhận ra một người anh
em họ của Hemaseelie khi người này đang đi trên đường phố
ở Gonagela. Hơn một năm sau, Shamlinie lại nhận ra người chị
của Hemaseelie cũng tại Gonagela. Ðồng thời Shamlinie đòi đi
Galtudawa để thăm "Mẹ Galtudawa" và em cho rằng người mẹ
hiện tại không sánh bằng "Mẹ Galtudawa" ở tiền kiếp.
Cuối
cùng cha mẹ của em đã đưa em đến nhà Hemaseelie Gueratne ở
Galtudawa. Nhiều người tụ tập nơi đây vì họ nghe nói có
một cô gái tái sanh trở về thăm làng có. Sự hiện diện
của những người lạ mặt khiến Shamlinie thấy thiếu thoải
mái. Tuy nhiên Shamlinie cũng nhận ra "bà mẹ của Hemaseelie tên
là W.L. Podi Nona" trong khi đó gia đình Guneratnes vẫn còn hoài
nghi. Cuộc viếng thăm rất ích lợi vì đã xác minh được
những việc mà Shamlinie đã từng tuyên bố. Hầu hết những
chuyện Shamlinie kể về tiền kiếp đều trùng hợp với đời
sống của Hemaseelie tại Galtudawa. Thêm vào đó, hai gia đình
trong khi trao đổi tin tức đều nhận thấy Hemaseelie và Shamlinie
đều có nhiều điểm giống nhau về cách thức ăn mặc cũng
như sở thích ăn uống.
Tôi
(Ian Stevenson) bắt đầu điều tra vụ này và năm 1966, vài
tuần lễ sau khi Shamlinie viếng thăm Galtudawa lần đầu tiên.
Tôi đã phỏng vấn một số người còn nhớ rõ những điều
Shamlinie đã kể và đã làm, về cả cuộc đời tiền kiếp
của Hemaseelie. Mấy năm sau tôi có đến thăm cả hai gia đình
để có thể kiểm chứng và cũng để xem sự tiến triển
của Shamlinie ra sao. Ngoại trừ một vài điều cách biệt nho
nhỏ, còn tất cả những tin tức mà tôi thâu lượm được
đều rất xác thực và các nguồn tin mới này vẫn rất phù
hợp với những điều mà họ nói trước kia.
Sau
lần viếng thăm đầu tiên Galtudawa, Shamlinie trở lại thêm
vài lần nữa thăm gia đình Guneratnes và sau đó các chuyến
viếng thăm thưa dần ngày càng ít đi và Shamlinie càng lớn
lên thì những ký ức về tiền kiếp của em mờ dần đi.
Ðến năm 7 tuổi thì Shamlinie không còn kể về tiền kiếp
của em nữa. Khi lên 11 tuổi vào năm 1973, Shamlinie đã hoàn
toàn quên hẳn ký ức về tiền kiếp ngay cả đến những
việc trước đây em thường nhắc đến. Em cũng không còn
sợ nước như hồi 4 tuổi nữa và khi em lên 8 tuổi thì em
cũng không còn sợ hãi khi trông thấy xe buýt tuy nhiên vẫn
còn một chút sợ sệt.
Năm
1973 tôi có trở lại thăm Shamlinie và thấy em đã trở thành
một cô gái Sinhalese bình thường.
Trường
hợp luân hồi của Shamlinie rất trung thực. Hai gia đình ở
cách xa nhau 2 cây số và cũng không là thân thuộc mà Shamlinie
lại hiểu biết đời sống của Hemaseelie với nhiều chi tiết
rõ ràng.
Theo
sự xét đoán của tôi (Ian Stevenson) sự liên hệ của hai gia
đình không có, nên không thể nào giải thích nổi tại sao
Shamlinie lại có thể hiểu biết tường tận đời sống cũng
như cá tính khác thường của Hemaseelie. Phải chăng Hemaseelie
đã tái sanh thành Shamlinie?
-ooOoo-
-13-
SULEYMAN
ANDARY
Tác
Giả: Ian Stevenson
Suleyman
sanh ngày 4 Tháng 3 Năm 1954 tại Falougha, Lebanon. Gia đình Suleyman
thuộc dòng Druses, một tôn giáo bắt nguồn từ Islam (Hồi
Giáo). Tuy nhiên tôn giáo này đã tách ra khỏi khối Hồi Giáo
chính thống và những người theo đạo Druses cũng coi như không
còn lệ thuộc vào khối Hồi Giáo. Luân Hồi là một giáo
lý căn bản của Ðạo Druses.
Khi
còn thơ ấu Suleyman nhớ vài chi tiết về tiền kiếp của
anh. Ðôi khi qua các giấc mộng, anh kể là anh đã có con ở
tiền kiếp và còn nhớ cả tên của chúng nữa. Anh nhớ anh
sống tại Gharife và là chủ của một hãng ép dầu.
Không
giống đa số các trường hợp luân hồi khi còn nhỏ tuổi
nhớ kiếp trước nhiều hơn, càng lớn tuổi anh càng nhớ
lại nhiều về tiền kiếp. Trong lúc ở với bà nội khi anh
11 tuổi, anh cảm thấy anh có nhiều ký ức về tiền kiếp.
Một hôm bà ngoại anh đến nhà mượn một cuốn kinh về đạo
Druses. Suleyman đã từ chối không cho mượn còn lỗ mãng bắt
lỗi bà ngoại không có cuốn kinh trong nhà. Bà nội anh bất
mãn về thái độ cư xử của anh và yêu cầu anh giải thích.
Bất ngờ anh nhớ lại ở tiền kiếp anh có rất nhiều kinh
sách về Ðạo Druses và không bao giờ anh cho ai đem những cuốn
kinh này ra khỏi nhà. Người Druses rất quý trọng các cuốn
kinh và thường giữ gìn cẩn thận. Hành động của Suleyman
nếu là một thiếu niên thì quả là vô lễ, nhưng với một
người đã trưởng thành như Suleyman thì lại là một việc
bình thường.
Sau
câu chuyện trên, Suleyman đã kể nhiều các chi tiết về đời
sống tiền kiếp của anh. Anh nhớ anh là một tù trưởng ở
Gharife và có tên là Abdallah Abu Hamdan. Anh còn kể thêm nhiều
chi tiết cuộc đời của Hamdan. Lúc bấy giờ Suleyman rất
sợ bị chế nhạo khi nhận là tù trưởng ở tiền kiếp.
Anh nghĩ là gia đình và bạn bè sẽ cho anh là ngạo mạn và
sẽ châm biếm anh. Cho nên anh đã dấu kín trong lòng. Hai năm
sau anh mới kể lại cho một số bạn bè trước cho một số
người ít tuổi và về sau cho một số người lớn.
Vài
người thân đứng tuổi của gia đình Suleyman đề nghị đem
Suleyman đi Gharife để phối kiểm các tin tức nói về tiền
kiếp của Syleyman. Gharife cách xa Falougha chừng 30 cây số,
thuộc một vùng khác phạm vi Lebanon. Muốn đi Falougha đến
Gharife phải có lý do xác đáng. Gia đình của Suleyman không
quen ai ở Gharife cả và cũng không có một liên hệ nào với
Gharife cả. Có một người trong gia đình Suleyman làm việc
tại Gharife trong một thời gian ngắn nhưng cũng không biết
những lời kể của Suleyman đúng hay sai. Sau đó chính người
này đến Gharife điều tra đã xác nhận những điều Suleyman
kể lại đều rất đúng. Cùng lúc ấy có vài người khác
công nhận tính cách trung thực của các sự việc trên.
Giống
như trường hợp của Á Ðông, câu chuyện của Suleyman được
nhiều người biết đến. Một người anh em họ của Suleyman
đã gặp vài người Gharife ở Saudi Arabia và được biết những
lời kể của Suleyman rất xác thực. Người tên là Abdallah
Abu Hamdan mà Suleyman nhận là tiền kiếp của mình là chủ
nhân một hãng dầu ép và làm tù trưởng nhiều năm trước
khi chết vì bệnh tim năm 1942 lúc 65 tuổi. Những người Gharife
đã mời Suleyman đến thăm Gharife. Lúc đầu anh từ chối nhưng
đến năm 1967 anh đã đi Gharife 2 lần, vào mùa hạ và mùa
thu. Khi tới Gharife anh cảm thấy thẹn thùng và bỡ ngỡ. Người
vợ góa của Abdallah Abu Hamdan và 2 người con còn sống tại
Gharife nhưng anh không nhận ra họ và cũng không nhận được
những người thân quyến. Anh nhận được 3 người khác và
vài nơi tại Gharife. Có lẽ điều quan trọng nhất là anh đã
chỉ một con đường có từ năm 1967 không còn sử dụng, con
đường trước kia dẫn đến nhà Abdallah Abu Hamdan. Tuy nhiên
tầm quan trọng của trường hợp Suleyman không nằm trong sự
xác nhận của anh mà là những cá tính riêng biệt của anh
phát sanh từ tiền kiếp. Trước khi Gharife, cũng như trong cuộc
viếng thăm lần đầu, Suleyman đã 17 lần nói về tiền kiếp
của anh. Những lời anh kể gồm có tên các con anh và các
chi tiết khác về đời sống của anh. Những lời phát biểu
của anh đều đúng ngoại trừ hai trường hợp: 1) Salim là
em chứ không phải con anh, 2) Salim không bị mù mà Naseeb con
anh mới bị mù.
Tôi
(Ian Stevenson) bắt đầu điều tra vụ này vào tháng 3 năm 1968
và tiếp tục cho đến năm 1972. Tôi đã phỏng vấn nhiều
người tại Falougha và Gharife. Sau này Suleyman di cư sang Saudi
Arabia và từ năm 1972 tôi không còn gặp Suleyman nữa. Khi Suleyman
còn nhỏ tuổi anh đã tỏ ra phong thái một người lớn. Anh
thích giao du với người lớn hơn là người đồng lứa tuổi
và ngay cả giữa đám người lớn anh cũng chọn chỗ ngồi
dành riêng cho những vị có đặc quyền. Anh không thích bị
ai la rầy và khi ấy anh thường nói: "Ðừng mắng tôi, tôi
là người lớn mà". Suleyman thường sợ bị người khác chế
nhạo nếu họ biết anh nhận là ông tù trưởng ở tiền kiếp.
Gia đình và bạn bè thường chế anh là "Ông Tù Trưởng".
Ðiều này cũng không làm anh buồn mấy vì một số người
trong gia đình đã tin anh và thân yêu gọi anh bằng cái tên
này. Dĩ nhiên họ chỉ tin anh sau khi anh đã xác thực được
những điều anh kể về tiền kiếp của Abdallah Abu Hamdan.
Trong gia đình Suleyman cũng tỏ ra là người mộ đạo hơn những
người khác giống hệt như Abdallah Abu Hamdan. Trước khi chết,
Hamdan đã trở thành tộc trưởng, một chức vị cao cấp mà
nhiều người mơ ước.
Tôi
thấy Suleyman không muốn đến thăm Gharife nên anh đã từ chối
lần đầu. Gia đình của Suleyman hiểu rõ hơn cho rằng anh
không thích đi Gharife vì anh không muốn nhìn lại những thảm
kịch trong đời sống của Hamdan. Các con của Hamdan không mấy
nên người, có nhiều thói hư tật xấu, một người thì di
dân sang Hoa Kỳ, một người thì ăn ở với Hamdan không hiếu
thuận. Trong những ngày cuối cùng Hamdan gặp khó khăn. Vì
muốn giúp đỡ một người bạn Hamdan đã ngụy tạo một
tài liệu khiến chính phủ khám phá ra được và Hamdan bị
cất chức. Cuối cùng Hamdan đã đầu tư vào việc ép dầu
nhưng tình trạng tài chánh eo hẹp nên việc buôn bán không
kết quả. Việc đầu tư thất bại làm Hamdan buồn phiền,
nhuốm bệnh rồi qua đời. Hamdan chết năm 1942, 12 năm trước
khi Suleyman sanh ra đời. Ðược hỏi về thời gian 12 năm chưa
luân hồi thì Suleyman ở đâu, Suleyman trả lời không nhớ
gì cả.
Với
ký ức của Suleyman về tiền kiếp là Abdallah Abu Hamdan, tôi
(Ian Stevenson) không nghĩ rằng những tin tức do Suleyman thâu
lượm được bằng cách thông thường vì hai làng cách xa nhau
đến 30 cây số và hai gia đình cũng không có liên lạc gì
với nhau cả.
-ooOoo-
-14-
TIỀN
THÂN BONGKUCH PROMSIN
Tác
giả: Ian Stevenson
Bongkuch
Promsin sanh ngày 12 Tháng 2 Năm 1962 tại làng Don Kha, Tỉnh Nakhon
Sawan, Thái Lan. Ông Pamorn Promsin, cha Bongkuch là Hiệu Trưởng
một trường Trung Học gần Don Kha. Tuy ông có kiến thức khá
nhưng lương hàng tháng lại ít ỏi nên cuộc sống của gia
đình rất đạm bạc.
Ngay
khi biết nói rành rẽ, Bongkuch đã hay kể chuyện về tiền
kiếp của mình. Bongkuch tả cho gia đình nghe nhiều chi tiết
về đời sống trước như em ở làng Hua Tanon cách Don Kha chừng
9 cây số, em có tên là Chamrat và còn nhớ tên cha mẹ của
Chamrat. Em cũng kể ra các vật dụng mà em có như là con dao,
chiếc xe đạp, và gia đình ở tiền kiếp có nuôi 2 con bà.(Gia
đình hiện tại của em không nuôi bà). Em cho biết một chi
tiết đặc biệt là đã bị hai tên sát nhân giết chết ở
Hua Tanon. Họ đã đâm em nhiều nhát để lấy chiếc đồng
hồ đeo tay và sợi giây chuyền của em. Sau đó họ đã vất
thây em xuống ruộng. (Khi kể chuyện này Bongkuch chừng 2 tuổi).
Bongkuch cho biết sau khi chết em ở trên một ngọn cây gần
nơi bị giết một thời gian là bảy năm. Một hôm trời mưa
em trông thấy người cha hiện tại (Pamorn Promsin) đi ngang,
em đã theo ông về nhà bằng xe buýt. Cha của Bongkuch xác nhận
là trước khi vợ ông mang thai Bongkuch, ông có đi Hua Tanon để
dự một phiên họp và hôm đó trời mưa.
Mẹ
của Bongkuch cho biết có lần Bà đi tìm măng ở khu vực xảy
ra án mạng trước khi mang thai Bongkuch nhưng không nhớ rõ thời
gian nào. Bà nói rằng Bà không đến nơi gia đình Chamrat cư
ngụ. Ông Pamorn Promsin vì nghề nghiệp có quen biết vài thầy
giáo ở Hua Tanon nhưng không có bà con hoặc bạn bè ở đấy.
Cả hai vợ chồng đều xác nhận với tôi (Ian Stevenson) là
không biết gì về vụ Chamrat, một thiếu niên bị giết cả.
Những tin tức giết người của một làng như Hua Tanon có
được loan truyền đến các vùng lân cận như Don Kha nhưng
những vụ án mạng thời ấy thường hay xảy ra nên người
ta không mấy quan tâm đến và hầu như đã quên vụ án xảy
ra. Hơn nữa vụ án xảy ra nay đã trên 10 năm thì tôi cho rằng
dù cha mẹ Bongkuch có nghe kể vụ Chamrat bị giết cũng ít
chú ý và gần như là quên ngay.
Chuyện
Bongkuch kể về tiền kiếp của mình đã đến tai gia đình
Chanrat và một vài người đã tới Don Kha thăm Bongkuch.(Lúc
này Bongkuch chừng 2 tuổi rưỡi). Sau đó Bongkuch có theo gia
đình đến Hua Tanon. Những chuyến viếng thăm này chỉ có
mục đích là để kiểm chứng những điều Bongkuch nói về
tiền kiếp. Chuyện về tiền kiếp của Bongkuch là có thực.
Hai người dính líu trong vô giết Chamrat, một người đã tẩu
thoát được, còn một người tuy bị bắt nhưng được tha
vì thiếu chứng cớ. Tôi (Ian Stevenson) có thẩm vấn vài người
cảnh sát hiện còn nhớ rõ vụ án, họ đã xác nhận những
lời Bongkuch cho biết về vụ giết người rất là trung thực
kể cả tên những người bị tình nghi.
Các
báo cáo về trường hợp này đã được đăng trên báo chí
Thái Lan vào tháng 3 năm 1965 và một thông tin viên đã gọi
cho tôi. Bác Sĩ Sophon Nakphairaj (Giám Ðốc Bệnh Viện của
Chánh Phò Tỉnh Nakhon Sawan) đã điều tra vụ này năm 1965.
Còn tôi điều tra vụ này năm 1966. Tôi đã phỏng vấn cả
hai gia đình tại Don Kha và Hua Tanon. Tôi vẫn tiếp tục điều
tra vào những năm sau đó, và lần chót tôi gặp cha mẹ Bongkuch
vào năm 1980. Tính tình khác thường của Bongkuch đã khiến
cho gia đình em và sau ngay cả tôi cũng đều phải quan tâm
đến em. Trong thời gian nói nhiều đến tiền kiếp gia đình
thường thấy em có nhiều tật xấu, chẳng hạn như cách thức
rửa tay và đôi khi em nói những tiếng mà gia đình không hiểu.
Sở thích về ăn uống của Bongkuch không giống như những
người trong gia đình vì gia đình Chamrat là một gia đình Lào.
(Người Thái cho rằng những món ăn của người Lào không
tinh khiết bằng những món ăn của Thái và tiếng nói lạ
lùng chính là tiếng Lào). Gia đình Bongkuch không có ai biết
nói tiếng Lào ngay cả những người dân làng Don Kha. Bongkuch
thích các món ăn Lào, chẳng hạn như món ăn cơm nếp mà người
Lào ưa chuộng. Bongkuch thù ghét các người giết Chamrat và
em hăm dọa là sẽ trả thù khi có dịp. Thỉnh thoảng em lấy
một cây gậy nhỏ và đánh vào một cái trụ mà em tưởng
tượng là kẻ thù đã giết Chamrat; em vừa đánh vừa gọi
tên những kẻ sát nhân. Có lúc em nghĩ rằng em là một người
lớn bị tù túng trong một thân hình đứa nhỏ cho nên em có
cử chỉ của một người lớn. Em đánh răng (Trẻ con Thái
Lan thường không đánh răng). Ðặc biệt có lần em đã tới
tiệm hớt tóc để xin cạo râu. Em không để ý đến những
bộ gái cùng lứa tuổi mà chú ý đến các thiếu nữ. Một
hôm có một thiếu nữ đến thăm gia đình em và dự định
ở chơi ít bửa, nhưng vì thái độ mơn trớn ve vãn của em
khiến thiếu nữ bực mình phải ra về sớm. Ngoài tính hơi
phóng đãng, đôi khi anh lại muốn xuất gia đầu Phật. Hai
bản chất trái ngược này của Bongkuch rất phù hợp với
tính tình của Chamrat. Trước khi chết, Chamrat có gắn bó với
một người bạn gái, Chamrat cũng đặc biệt lưu ý đến tôn
giáo và anh muốn trở thành một thầy tu. (Ðiều này không
có gì là bất thường vì ở Thái Lan, rất nhiều thanh niên
vào Chùa tu một thời gian và sau đó trở về đời sống cư
sĩ và lập gia đình).
Khi
Bongkuch càng lớn lên thì trí nhớ về tiền kiếp càng mờ
dần. Trong làng, các trẻ khác vẫn thường chế nhạo em là
"đứa trẻ có hai đời sống", điều này làm em muốn quên
ký ức. Ðến năm 10 tuổi thì em không còn kể chuyện với
ai về tiền kiếp của mình nữa Ký ức mờ nhạt dần với
thời gian, em đã trở lại hoàn toàn bình thường.
Năm
1980, vào lần cuối cùng tôi (Ian Stevenson) gặp lại em, lúc
này em đã 18 tuổi đang theo theo học ở một trường Tỉnh
Nakhon Sawan. Một điều mà em không bỏ được là tính thích
ăn cơm nếp như những người Lào.
-ooOoo-
-15-
TIỀN
THÂN CỦA GILLIAN VÀ JENNIFER POLLOCK
Tác
Giả: Ian Stevenson
Gillian
và Jennifer Pollock, hai chị em sanh đôi, sanh ngày 4 tháng 10 năm
1958 tại Hexam Northumberland, Anh Quốc. Trong khoảng thời gian
từ hai tuổi đến bốn tuổi, 2 em thường nhắc đến cuộc
đời của 2 người chị có tên là Joanna và Jacqueline. Ngày
5 Tháng 5 Năm 1957, một người điên lái xe hơi đã đâm lên
vỉa hỗ tông vào Joanna và Jacqueline đang đi bộ làm hai em
chết ngay tại chổ. Lúc xảy ra tai nạn, Joanna được 11 tuổi
và Jacqueline 6 tuổi.
Thảm
kịch làm cho ông bà Pollock đau đớn. Tuy nhiên Ông John Pollock
vùng tin ở luân hồi nhưng vợ ông thì không. Vào đầu năm
1958 khi bà mang thai ông quả quyết rằng Joanna và Jacqueline
đã đầu thai song sanh để trở lại với gia đình. Bất chấp
hồ sơ y khoa đã ghi nhận Bà Florence Pollock chỉ sanh một người
con, ông John Polloch vẫn tin là vợ ông sẽ sanh đôi.
Ðúng
như sự dự đoán của ông, vợ ông đã sanh đôi. Ông bà Pollock
nhận thấy em Jennifer có hai bớt cùng một cỡ và cùng một
vị trí như 2 vết bớt trên người Jacqueline, một vết trên
trán gần sống mủi Jacqueline. Jacqueline có vết thẹo này là
vì bị té, còn vết kia là một mụn ruồi mầu nâu ở phía
trái thắt lưng của Jennifer giống y như Jacqueline.
Trong
thời gian từ 2 đến 4 tuổi, hai chị em song sanh thường nói
đến đời sống của 2 người chị đã chết. Hai em nhận
ra vài món đồ chơi mà chị của chúng đã chơi trước kia
và tỏ ra rất quen thuộc như đã từng có. Ông Bà Pollock xác
nhận là ông bà cũng không bao giờ đề cập đến 2 đứa
con đã chết với đôi trẻ song sanh và chúng cũng chưa bao
giờ nhìn thấy các đồ chơi trước khi chúng nhắc đến hai
người chị.
Jennifer
thường ỷ lại vào chị là Gillian cũng như trước đây Jacqueline
thường nương tựa vào Joanna. Khi hai em bắt đầu học viết
thì Gillian, ngay từ buổi ban đầu đã biết cầm bút một
cách rành rẽ giữa các ngón tay, còn ngược lại Jennifer thì
cầm cây viết bằng cả nắm tay. Joanna lúc chết đã 11 tuổi
nên đã biết viết còn Jacqueline chỉ mới 6 tuổi còn đang
tập viết nên cầm cây viết bằng cả nắm tay.
Tôi
(Ian Stevenson) bắt đầu điều tra vụ này năm 1964 và thường
xuyên liên lạc với gia đình Pollock cho đến năm 1985. Lòng
nhiệt thành tin vào luân hồi của ông Pollock có thể làm cho
trường hợp bị suy giảm và một số người không tin rằng
hai ông bà hay những người khác trong gia đình đã không nói
trước mặt 2 em về cái chết của 2 người chị. Ðể trả
lời việc nói rằng quan niệm quá tin tưởng về luân hồi
của ông có thể làm thiệt hại cũng như sai lạc hẳn ý nghĩa
của trường hợp, ông đã khôn khéo trả lời việc đó cũng
có nhưng chỉ một phần nào thôi. Việc không dấu diếm về
luân hồi khiến ông ghi nhớ các nhận xét và các tính tình
của 2 đứa con song sanh giống như 2 đúa chị đã chết nhưng
hầu hết các bậc cha mẹ người Âu Châu thường không tin
mà còn nhạo báng.
Năm
1978 tôi (Ian Stevenson) đã thử máu 2 chị em song sanh để xem
chúng sanh ra từ một trứng hay hai trứng. Cuộc thử máu này
cho thấy hai chị em do một trứng sanh ra, có nghĩa là cùng
một chủng tử. Có những người cho rằng những vết bớt
trên người Jennifer là do di truyền nhưng nếu như vậy thì
Gillian cũng phải có các vết bớt đó; đằng này Gillian không
có vết nào cả. Những vết bớt trên Jennifer lại trùng hợp
với những vết bớt trên người Jacqueline cả về kích thước
lẫn vị trí. (Phải chăng Jennifer chính là hiện thân của
Jacqueline nên đã có những vết này).
Gillian
và Jennifer đã lớn lên bình thường như mọi người và hầu
như đã quên hẳn những chuyện khi còn thơ ấu thường hay
kể ký ức về tiền kiếp. Lần tôi gặp hai cô vào năm 1985,
hai cô không còn nhắc gì đến tiền kiếp của mình nữa tuy
nhiên hai cô cũng không từ chối các bằng chứng trước đây
mà ông bà Pollock đã nhận thấy khi hai cô còn thơ ấu.
-ooOoo-
-16-
SAMUEL
HELANDER
Tác
Giả: Ian Stevenson
Samuel
Helander sanh ngày 15 tháng 4 năm 1976 tại Helsinki, Phần Lan, Âu
Châu. Từ một đến hai tuổi em thường nói đến đời sống
của người cậu (em trai mẹ) có tên là Pertti Haikio. Về sau
càng lớn Samuel càng giống tính tình của cậu Pertti.
Tôi
điều tra vụ này vào năm 1978 và năm 1981. Những người cung
cấp tin tức cho tôi gồm có mẹ Samuel, bà ngoại Samuel, người
này cũng là mẹ của Pertti.
Pertti
Haikio sanh ngày 8 tháng 6 năm 1957 tại Helsinki, Phần Lan, chết
vì bệnh tiểu đường ngày 10 tháng 6 năm 1975 khi vừa 18 tuổi.
Vài tháng trước khi chết, Pertti mắc bệnh tiểu đường trầm
trọng - đã uống thật nhiều nước mà gia đình không ai để
ý đến việc này - Pertti đã bị bất tỉnh và chết.
Mẹ
Pertti, Bà Anneli Lagerqvist (đã tái giá sau khi ly dị với cha
Pertti) và người con gái là Marja Helander mẹ của Samuel) rất
buồn thảm sau cái chết của Pertti. Lúc có mang Samuel được
10 tuần, Marja có ý định muốn phá thai. Trong một giấc mộng,
Marja nằm mơ thấy Pertti căn dặn "đừng phá thai, hãy giữ
đứa nhỏ".
Khi
Samuel được 1 tuổi rưỡi, được hỏi đến tên thì Samuel
trả lời "Pelti". (Ở thời điểm này và sau một thời gian
nữa Samuel không nói rõ được vần r trong chữ Pertti). Gia
đình rất lấy làm lạ vì đã nhiều lần căn dặn tên là
Samuel nhưng em cứ nhất định là Pelti (sau này thì Pertti).
Năm lên 6 tuổi Samuel vẫn cho mình là Pelti. Tuy nhiên em không
từ chối lại gần mẹ mỗi lần bà gọi em là Samuel. Samuel
đã nhớ một vài điều liên quan đến tiền kiếp chẳng hạn
nhận ra vài người trong ảnh hay vài món đồ quen thuộc của
Pertti. Những tấm hình chụp Pertti khi chưa tới 10 tuổi thường
làm Samuel chú ý. Nhìn vào một bức hình Pertti lên ba, Samuel
nói rằng lúc chụp tấm hình này Pertti bị chó cắn vào bắp
chân trong khi Samuel chưa bao giờ bị chó cắn và nghe ai nói
đến việc Pertti bị chó cắn. Bức hình cũng không có dấu
vết gì cho biết Pertti bị chó cắn. Nhìn một bức hình Pertti
mang nạng, Samuel nói đó là hình Samuel, em đã phải nằm nhà
thương để băng bột đôi chân. Khi tôi (Ian Stevenson) đến
Helsinki để tìm hiểu, tôi có được xem tấm hình này. Tấm
hình chụp Pertti mang nạng và người ta có thể đoán là Pertti
bị thương đôi chân nhưng bực hình không có dấu vết gì
cho biết đôi chân Pertti đã bị băng bột trước khi chụp
hình. Vào khoảng 4 tuổi Pertti đã bị tai nạn gẫy 2 chân.
Và lúc nói ra điều này thì Samuel cũng khoảng gần 4 tuổi.
Mỗi dịp thấy hình của Pertti, Samuel đều nhận là hình của
em. Nhìn tấm hình cha Pertti, Samuel nói "Ðây là hình cha tôi".
Bà Marja vẫn dấu tấm hình này vì sợ người chồng sau ghen
tuông nên quả quyết là Samuel chưa bao giờ nhìn thấy tấm
hình đó cả. Samuel cũng nhận được nhiều món đồ của
Pertti: một cây đàn lục huyền cầm, một cái áo lạnh bằng
nhung sọc và một chiếc đồng hồ có vứt trong một ngăn
tủ, toàn đồ linh tinh bỏ đi. Khi thấy chiếc đồng hồ,
Samuel vội chụp ngay, nói là của em và xin được giữ lại
mặc dầu chiếc đồng hồ đã mất cả quai. Khi ngủ có lúc
em để dưới gối, có lúc cất trong ngăn kéo giường.
Hỏi
về cái chết của Pertti thì Samuel nói rằng Pertti đã được
quàn tại một nơi có nhiều quan tài, có vài chiếc được
mở nắp. (Samuel chưa bao giờ được dẫn tới một nhà quàn
nào cả). Xác của Pertti sau khi chết được mang tới một
nhà quàn. Samuel còn cho biết mẹ Pertti (Bà Ngoại Samuel) đã
khóc thảm thiết như thế nào. Khi được đưa tới nghĩa trang,
Samuel đã chỉ vào ngôi mộ Pertti mà nói rằng "Ðây là mộ
tôi".
Bà
ngoại cũng như mẹ Samuel đều nhận thấy Samuel có cá tính
giống Pertti. Khi Pertti còn nhỏ có lần bị uống nước trong
bồn tắm nên đã sợ nước, sau đó khoảng 15, 16 tuổi Pertti
lại bị ngã từ một cầu tầu xuống biển, suýt chết dưới
nước sau tai nạn này, Pertti càng bị nước ám ảnh. Vì vậy
Pertti không bao giờ bơi lội cả. Samuel cũng vậy, em rất sợ
nước, tắm với Samuel là "một cực hình" - nên em luôn luôn
phản đối mỗi lần phải tắm. Khi bắt đầu biết nói, Samuel
gọi Bà Anneli Lingerqvist là "Mẹ" (Bà ngoại Samuel và là mẹ
Pertti) còn mẹ ruột của em là Marja Helander thì em lại gọi
bằng tên và nói "Bà không phải mẹ tôi đâu". Samuel thường
tỏ ra âu yếm và quyến luyến Anneli (Bà Ngoại) và thường
đòi bú sửa của Bà. Mãi đến khi lên 5, Samuel mới thôi không
gọi Bà Anneli là "Mẹ" nữa.
Khi
Pertti còn sống, cứ vào chiều ngày lễ Giáng Sinh, khi mọi
người thân đã quây quần đầy đủ, Pertti có thói quen đi
hôn từng người một. Trong gia đình chỉ có mình Pertti làm
vậy. Vào Giáng Sinh năm 1978 khi được 2 tuổi rưỡi Samuel
đi vòng quanh phòng và hôn từng người một y như Pertti đã
làm ngày trước. Samuel cũng có hai bộ điệu giống như Pertti,
khi đứng thì chân trước chân sau và tay thì chống nạnh,
khi đi thì hai tay chắp đằng sau lưng. Trong gia đình không
một ai có cử chỉ như trên cả.
Qua
sự thực và những bằng chứng hiển nhiên đã được phối
kiểm về trường hợp luân hồi này, Pertti chết năm 18 tuổi
vào ngày 10 tháng 6 năm 1975 đã tái sanh ngày 15 tháng 4 năm
1976 làm con của chị ruột là Marja Helander và mang tên hiện
nay la Samuel Helander.
-ooOoo-
-17-
ROBERTA
MORGAN
Tác
Giả: Ian Stevenson
Tôi
được biết trường hợp luân hồi này vào tháng 2 năm 1971
khi Bà Shirley Morgan, mẹ của Roberta ở Minnesota điện thoại
đến Ðại Học Ðường Virginia nói là từ mấy năm nay Roberta,
con Bà cứ quả quyết là có "cha mẹ" khác. Em muốn đến thăm
nhưng gần như tuyệt vọng. Em nói em đã hứa về thăm cha
mẹ khác này và em muốn giữ đúng lời hứa.
Roberta
sanh ngày 28 tháng 8 năm 1961 và đến tháng 2 năm 1971 em được
9 tuổi rưỡi. Em bắt đầu nói về tiền kiếp từ khi em khoảng
2 tuổi đến 2 tuổi rưỡi (1). Bà Morgan cho biết trong khoảng
thời gian này em nói nhiều đến tiền kiếp nhưng lúc này
Bà chưa hiểu về luân hồi nên cho rằng Roberta nói vớ vẩn
mà thôi. Về sau nhờ đọc sách và suy luận Bà mới thấy
là Roberta quả đã nhớ được tiền kiếp của mình và sự
việc Bà cấm đoán không cho Roberta nói về tiền kiếp là
sai.
(1)
Nhưng đến năm 1971, em đã thôi nhắc tới, tôi sẽ nói rõ
lý do sau.
Ðến
năm 1971, sau khi có ít khỏi niệm về luân hồi, Bà cảm thấy
có trách nhiệm là phải tìm ra gia đình tiền kiếp của Roberta.
Sau khi được điện thoại của Bà, tôi có liên lạc với
Bà và yêu cầu Bà viết ra tất cả những gì mà Roberta nhớ
được về tiền kiếp của em. Bà Morgan đã làm theo những
lời tôi dặn và đã trả lời những câu hỏi của tôi trong
những thư kế tiếp.
Tháng
7 năm 1972 tôi đến Minnesota thăm Roberta và Bà Shirley Morgan
- (tôi không gặp cha Roberta) - Roberta đã tỏ ra thân thiện
với tôi nhưng vào lúc này em đã quên hẳn tiền kiếp của
mình. Qua các cuộc đàm thoại và các tin tức Bà Morgan cung
cấp cho tôi được biết câu chuyện như sau.
Trong
thời kỳ em hay nhắc đến tiền kiếp thì em cư xử giống
như một người con nuôi. Em nhớ rõ căn nhà của gia đình
em. Nhà em trên một ngọn đồi không có nhà nào kế bên và
phải đi qua một con đường đất dài mới tới. Gia đình
em có một trang trại nuôi ngựa và chó. Có lần lúc 4 tuổi
em được đưa tới chuồng ngựa, em đã đi thẳng lại những
con ngựa và cho chúng ăn. Có người hỏi em: "Em có sợ ngựa
không?" Em đã trả là i: "Không em đã cưỡi ngựa nhiều lần
". Roberta cũng nói đến chiếc xe hơi của người cha. Em không
nhớ rõ là xe chở khách hay xe chở hàng nhưng xe này thỉnh
thoảng người cha của em vẫn chạy. Roberta nói rằng: "Cha
và mẹ khác cũng sống ở thành phố này " (Thành phố này
khác thành phố mà tôi đến thăm họ). Có một lần cùng ngồi
xe với mẹ, Roberta đã chỉ một con đường nói là em ở đó.
Em cho biết con đường đất cũng dẫn đến xa lộ. Em muốn
xuống xe đến thăm ngôi nhà xưa nhưng Bà Morgan ngăn cản vì
lúc đó Bà chưa hiểu gì về luân hồi nên đâu có để ý
đến lời nói của một đứa trẻ. Roberta đã cằn nhằn mẹ
nhiều ngày vì Bà không dẫn em đến thăm cha mẹ ở tiền
kiếp nhân dịp tốt này.
Roberta
đòi mẹ mua những đồ chơi giống như đồ chơi mà em thường
có, khi nghe mẹ nói không biết đó là những đồ chơi nào
thì Roberta bảo rằng là Bà kém thông minh. Và một lần khác
em đã gắt gỏng vì Bà không nhớ đến tiền kiếp của em,
theo em Bà Morgan phải biết đến tiền kiếp của em.
Quả
là Roberta đã nhớ rất rõ tiền kiếp. Về người mẹ ở
tiền kiếp Roberta nói với Bà Morgan: "Mẹ (hiện tại) cư xử
giống hệt như người mẹ trước của con nhưng Bà ấy nhìn
không giống mẹ". Roberta khen người mẹ trước nội trợ giỏi
nhất là về nấu ăn. Khi Bà Shirley Morgan nấu vài món ăn mới
cho bửa cơm chiều thì đôi khi Roberta lại nói là em đã ăn
nhiều lần món ăn này. Một hôm Bà Morgan nấu món bắp nhồi
sẽ để dành cho gia đình một ngạc nhiên. Khi Bà đặt món
ăn lên bàn Roberta đã không ngạc nhiên chút nào còn nói: "Con
đã ăn nhiều lần món này, mẹ không nhớ là mẹ trước của
con thường nấu món này sao". Em đã dùng một tên khác để
gọi món ăn này nhưng Bà Morgan không còn nhớ. Bà Morgan hỏi
Roberta cách nấu món ăn này của người mẹ trước, Roberta
đã kiên nhẫn tả lại. Roberta cũng cho rằng mẹ hiện tại
ngu xuẩn không biết chùi các cửa kiếng như người mẹ trước.
Ngoài ra Roberta thường xen vào câu chuyện của cha mẹ và phát
biểu nhiều ý kiến mà theo mẹ em em không thể nào biết như
vậy. Roberta cho vài manh mối về thời đại em sống ở kiếp
trước chẳng hạn như em không thích mặc quần áo kiểu cọ,
gia đình có xe hơi, đa số các chủ trại đều có xe hơi.
Roberta còn nhấn mạnh cha mẹ trước của em còn sống và cố
gắng tìm thế nào cũng thấy.
Roberta
có khuynh hướng mặc quần áo con trai. Em không muốn làm con
gái. Em thích các đồ chơi dành cho con trai. Khi Bà Morgan hỏi
thẳng rằng em chết như thế nào thì em trả lời "Con không
chết, con chỉ xa cha mẹ một thời gian, con đã nói với họ
là con sẽ trở về". Không bao giờ em nói là em yêu mến cha
mẹ trước của em hơn nên Bà Morgan nghĩ rằng Bà là người
được Roberta thương mến nhiều hơn. Vì em không nhớ tên
cha mẹ nên Bà Morgan không thể nào kiếm ra được gia đình
tiền kiếp của em.
Bà
Shirley Morgan cùng chồng là người Cơ Ðốc Giáo - Bà là thành
viên của Hội Cơ Ðốc nên không bao giờ được nghe về luân
hồi cả. Vì không hiểu luân hồi nên thời gian Roberta nói
về tiền kiếp Bà chẳng những đã không khuyến khích mà
còn bực mình nữa. Lại nữa Roberta đã so sánh Bà với người
mẹ ở tiền kiếp nên Bà không thích Roberta nói về tiền
kiếp. Vì vậy cho nên mỗi lần nói đến tiền kiếp là Bà
tức giận và đánh Roberta. Sợ bị trừng phạt nên Roberta
đã phải ngừng không dám nói về tiền kiếp nữa. Dù vậy,
đến năm 4 tuổi hỏi em, em cũng vẫn nói là em đã có nhiều
lần cưỡi ngựa.
Sau
này Bà Shirley Morgan cảm thấy hối hận và bị ám ảnh bởi
những lời ghi nhận của Roberta và Bà đã đổi ý muốn đi
tìm lại cha mẹ ở tiền kiếp cho Roberta. Bà đã rất ân hận
vì đã đánh đập Roberta, cấm đoán em nói về tiền kiếp
khiến em không dám nói về tiền kiếp nữa và cũng vì vậy
việc tìm kiếm không thể thực hiện được. Nếu trong thời
gian Roberta nói về tiền kiếp, Bà không đánh đập em, khuyến
khích em, rất có thể em nhớ lại tên cha mẹ em ở tiền kiếp.
Rất tiếc là khi Bà Shirley Morgan thay đổi thái độ thì Roberta
đã 9 tuổi ruỡi rồi nên không còn nhớ gì về tiền kiếp
cả.
Sau
khi thăm gia đình Roberta vào mùa hè năm 1972, tôi không còn
liên lạc với gia đình này nên không còn biết gì hơn về
trường hợp này nữa.
-ooOoo-
-18-
TIỀN
THÂN CỦA SUSAN EASLAND
Tác
Giả: Ian Stevenson
Lần
đầu tiên tôi biết trường hợp này vào năm 1968 khi tôi nhận
được thư của Bà Charlotte Eastland. Sau khi đọc các bài tham
cứu của tôi trên các tạp chí, Bà đã viết thư cho tôi những
gì mà con gái Bà là Susan nói về tiền kiếp. Susan có nhiều
ký ức về người chị gái tên là Winnie đã chết.
Tôi
đã thư từ liên lạc với Bà Eastland trong năm 1968 và đầu
năm 1969. Tới mùa thu năm 1969 tôi đến thăm Bà ở Idaho. Tại
nhà Bà, tôi đã gặp Susan, nhân vật chính của câu chuyện
và người con gái lớn của Bà là Sharon. Tôi rất tiếc không
được gặp Ông Robert Eastland, người chồng sau này của Bà
vì Ông Robert đã nhiều lần mục kích Susan nói về tiền kiếp.
Winnie
là con của Bà Charlotte Eastland lên 6 tuổi rất dễ thương
đã bị xe đụng chết vào năm 1961. Cái chết đột ngột của
Winnie làm gia đình Bà Eastland rất đau buồn. Bà cầu mong Winnie
được tái sanh trở lại với gia đình. Lúc này Bà chỉ có
ý niệm mơ hồ về luân hồi. Bà kể cho tôi nghe là ở Ấn
Ðộ người ta nói rằng con người có thể tái sanh làm con
vật (theo Bà cũng không thể) chứ không nghe nói một người
chết có thể tái sanh thành người khác được.
Sau
khi Winnie chết được 6 tháng, người con gái lớn nhất trong
gia đình là Sharon nằm mơ thấy Winnie trở về với gia đình.
Rồi hai năm sau Bà Eastland mang thai Susan thì Sharon cũng lại
nằm mơ thấy Winnie trở về. Năm 1964 Bà Eastland còn đang ở
trong nhà Bảo Sanh chờ sanh Susan thì người chồng trước của
Bà (cha của mấy đứa con Bà) có nghe thấy Winnie nói: "Thưa
Ba con đang trở về". Hai năm trước gia đình đã mất đứa
con gái là Winnie thì nay Susan ra đời, ai nấy đều thầm mong
Susan chính là Winnie tái sanh.
Khi
được hai tuổi, Susan bắt đầu nói ít nhiều đến đời
sống của Winnie. Nếu có ai hỏi Susan năm nay bao nhiêu tuổi
thì Susan trả lời là sáu tuổi (tuổi lúc Winnie bị chết).
Khi lên năm tuổi, Susan có vẻ già dặn hơn tuổi, Susan cả
quyết là lớn hơn người anh tên Richard đang 11 tuổi. Winnie
lớn hơn Richard 3 tuổi, cho nên nếu là Winnie thì điều này
rất đúng, còn là Susan thì sai hoàn toàn!
Ðược
xem hai tấm ảnh của Winnie, Susan nhất định "Ðó là hình
tôi mà". Không những thế Susan còn đòi gĩù những tấm ảnh
nữa. Một cái Susan treo chỗ giường ngủ, còn một cái thì
mang theo người trong một thời gian.
Susan
chưa bao giờ được gọi bằng tên Winnie, nhưng có một lần,
Susan cầm lấy cây bút chờ viết nguệch ngoạc vào cánh cửa
nhà bếp chữ "Winni". Em bỏ sót chữ e và viết chữ I nghiêng
thay vì thẳng. Trong thời gian này, Susan thường nói câu: "Khi
nào tôi đi học tôi sẽ chơi đu ở trong trường". Susan chưa
đi học, em vẫn ngồi đu ở sân nhà. Winnie khi xưa lúc bắt
đầu đi học trước khi bị chết thảm vẫn hay chơi đu ở
trong trường.
Khi
Winnie còn sống, Bà Eastland có một lọ bánh có hình con mèo.
Mỗi khi đứa nào muốn ăn, Bà thường hỏi con mèo có thể
cho con Bà mấy chiếc và Bà giả bộ nói giọng con mèo trả
lời: "Meo, con có thể lấy một chiếc" (Số bánh thay đổi
tùy theo đứa trẻ đòi nhiều hay ít). Khi Winnie chết Bà cất
cái lọ đi và quên hẳn đã mấy năm. Lúc Susan lên 4, Bà Eastland
lại mang cái lọ ra và bỏ vào đầy bánh. Susan đòi một chiếc,
Bà vô tình hỏi Susan "Con mèo nói sao?", không suy nghĩ Susan
trả lời: "Meo, con có thể lấy một chiếc". Bà Eastland không
thể ngờ Susan có thể trả lời đúng ngay câu hỏi mà xưa
kia Bà thường dùng khi kể tới chi tiết này. Bà có nhận
xét tinh tế là một đứa trẻ thông minh như Susan có thể
trả lời được câu hỏi và tôi muốn thêm là có thể trả
lời đúng bởi thần giao cách cảm, nhưng đúng từng chữ,
từng câu là việc khó. Chỉ có thể nói rằng Susan chính là
Winnie xưa kia mới lập lại được mà thôi.
Susan
sau đó kể thêm vài chuyện nữa khi Winnie còn sống. Susan đã
kể lại một cuộc đi chơi bờ biển cùng gia đình em có bắt
được một con cua và còn nói được tên những người tham
dự cuộc đi chơi hôm đó. Bà Eastland nhớ là một năm trước
khi Winnie chết gia đình Bà có đi chơi bờ bể của Tiểu Bang
Washington. Họ nhảy sóng, nghịch cát, nhặt vỏ sò và bắt
hến. Tuy nhiên Bà không nhớ họ có bắt được con cua hay
không. Susan kể chính xác tên 3 trong số 4 người tham dự,
em đã quên người cha kế sau này. Em còn đính chính lại là
có cả cha em (cha của Winnie) và cũng cho biết đã cùng với
Sharon đi chơi đồng cá, Susan không biết sợ ngựa và đã
có lần đi dạo dưới chân ngựa. Sự việc đúng như vậy,
Winnie trước đây đã từng chơi với Sharon trên bãi cá, không
sợ ngựa và cũng có lần đi dạo dưới chân ngựa.
Bà
Eastland hỏi Susan có nhớ Cậu Bé Gregory ở trước nhà không
thì Susan cho biết còn nhớ và còn cho biết là thường chơi
với Greg (tên tắt của Gregory). Bà Eastland chưa bao giờ nói
với Susan về Gregory cả, thế mà Susan vẫn biết được.
Hỏi
Susan còn nhớ Chú George ở phố trên không? Susan nói không
còn nhớ căn nhà của Chú thế nào nhưng có nhớ Chú và còn
thêm rằng: "Con có thói quen ngừng lại thăm Chú và chơi ở
nhà Chú một lát trước khi tới trường". Ngày Winnie bị xe
đụng chính là ngày em ngừng lại để chơi với Chú George.
Cậu Bé Gregory và Chú George cùng ở chung một thành phố với
Winnie trước khi em chết, còn Susan thì được sanh và sống
tại một thành phố khác nhỏ hơn ở Idaho.
Quý
Vị Ðộc Giả thấy ở đây mẹ của Susan thỉnh thoảng đã
gợi lại trí nhớ tiền kiếp của Susan bằng cách hỏi em
các sự việc trong đời Winnie tuy có thể biết được tiền
thân của em nhưng mặt khác lại có thể đưa đến sự lầm
lẫn, nhất là đối với một người thông minh và thận trọng
như Bà Eastland. Một lần khác Bà Eastland kể cho Susan rằng
Winnie dã làm mất đôi giầy mới ngoài cánh đồng. Lần ấy
Susan cười và nói rằng em không quan tâm đến việc mất đôi
giầy. Em còn thêm: "Mẹ phải lên phố mua cho con đôi giầy
mới nữa". Sự việc xảy ra đứng như vậy, Winnie chỉ mất
một đôi giầy trên cánh đồng.
Ðến
cuối năm 1969, tôi vẫn theo dõi trường hợp luân hồi này.
Cho đến năm 1977 khi tôi liên lạc với Bà Eastland để phối
kiểm lại một số chi tiết thì có một sự việc khác Susan
vừa nhớ được như sau:
Susan
cho biết có lần em theo Bà Eastland đến một bãi chơi ném
bóng, trong lúc mẹ em ném bóng, em (Winnie) đi mua kẹo ở một
khu vực gần đấy. Một em trai ở đấy đang chạy quanh đến
ôm và hôn em (Winnie). Bà Eastland nhớ rõ chuyện này khi Bà
kể chuyện cho chồng Bà nghe, Ông rất giận dữ.
Susan
nhắc lại những ký ức về Winnie với vẻ tha thiết như nhắc
lại những sự việc của chính mình đã xảy ra "từ lâu".
Trong
một lá thư gửi cho tôi, Bà Eastland viết: "Susan học rất
tấn tới, hình như nó biết và chỉ cần nhớ lại mà thôi.
Bà nhận thấy tính nết cũng như hành động của Susan giống
hệt như Winnie ngày trước. Cả hai đều tháo vát, lanh lợi
và ngăn nắp khác hẳn người chị Sharon tính nết rụt rè
nhút nhát. Tuy nhiên về hình dáng thì Susan không giống Winnie.
Winnie có tóc đỏ và mắt nâu sậm còn Susan thì tóc vàng,
mắt xanh. Nhưng cả hai cùng có lông mọc đằng sau lưng. Cha
các em cũng vậy, mà mấy đứa khác lại không. Susan cũng có
một vết thẹo nhỏ bên hông trái đúng chỗ Winnie bị xe đụng
gây ra vết thương trầm trọng khiến bị tử nạn. (Tôi có
bản sao hồ sơ y khoa của bệnh viện nơi Winnie được mang
tới sau tai nạn và chết ở đó).
Qua
những ký ức về tiền kiếp mà Susan nhớ lại, Winnie đứa
con gái của Bà Eastland đã chết năm 1961, và tái sanh năm 1963
cũng tại gia đình Bà và mang tên mới là Susan. Trường hợp
này xảy ra ở Hoa Kỳ, trong một gia đình theo đạo Cơ Ðốc
không chấp nhận thuyết luân hồi. Khi tôi đến thăm, Bà Eastland
cho biết người ta có thể trục xuất Bà ra khỏi cộng đồng
Cơ Ðốc nếu biết được Bà có niềm tin vào thuyết luân
hồi. Bà đã khám phá ra tính cách hấp dẫn và lôi cuốn của
thuyết này, dù rằng Bà vẫn luôn theo đúng tôn chỉ các Nhà
Thờ Cơ Ðốc Giáo đề xướng ra. Bà quả quyết với tôi
là cho tới khi tôi đến thăm Bà vào mùa hè năm 1969 Bà chưa
hề kể cho các con Bà niềm tin tưởng của Bà là Susan chính
là Winnie tái sanh. Tuy nhiên, sau lần ấy, Bà đã kể cho chúng
để giải tỏa các thắc mắc của chúng về lý do thăm viếng
của tôi.
-ooOoo-
-19-
TIỀN
THÂN CỦA MICHAEL WRIGHT
Tác
Giả: Ian Stevenson
Tôi
bắt đầu điều tra vụ luân hồi này từ khi người mẹ của
Michael là Bà Catherine Wright gọi điện thoại cho tôi. Người
đồng sự của tôi nói chuyện với Bà Wright trước nhận
thấy vẻ hốt hoảng khi Bà báo tin cho hay con trai Bà, Michael,
nói đến tiền kiếp và nhận là người yêu có của Bà trước
khi Bà lấy người chồng hiện tại. Người bạn này tên là
Walter Miller đã bị chết trong một tai nạn khi xe của Walter
đâm xuống ruộng.
Tuy
không tin có luân hồi, nhưng Bà Wright lại rất tin tưởng
vào những hiện tượng lạ kỳ. Vào tháng 9 năm 1978, Bà gọi
điện thoại đến Ðại Học Ðường Virginia. Một tháng sau
tôi mới đến Texas để phỏng vấn Bà. (Hầu hết các tin
tức thâu lượm được trong nội vụ đều do cuộc phỏng
vấn này và một cuộc phỏng vấn khác cách đó một năm do
Emily William Cook, cộng sự viên của tôi phụ trách). Qua cuộc
phỏng vấn, tôi nhận thấy Bà và Bà mẹ của Bà tin tưởng
có luân hồi, ngược lại người chồng thì không. Nghĩ cho
cùng thì chồng của Bà không đồng quan điểm cũng phải vì
vui vẻ sao được khi người bạn trai của vợ mình đã chết
lại tái sanh làm đứa con của gia đình. Sở dĩ Bà Wright lấy
người chồng hiện tại vì người bạn trai Walter Miller đã
chết; phải chăng Walter Miller chưa chết hẳn mà lại tái sanh
để xâm nhập vào gia đình của ông?
Trong
khoảng thời gian từ lúc gọi điện thoại cho tôi vào tháng
9 năm 1978 đến lần viếng thăm Bà vào cuối tháng 10, Bà Wright
đã không quan tâm đến sự hờn giận của người chồng và
kể hết những điều mà con Bà, Michael, đã nói về tiền
kiếp. Bà cho biết chồng Bà cũng phỏng đoán Michael là hiện
thân của Walter Miller, người bạn trai có của Bà.
Trở
lại người bạn trai của Bà, Walter Miller, chết vào mùa hè
năm 1967 lúc chưa đầy 18 tuổi. Là một học sinh trung học
phổ thông, có triển vọng về hội họa, Walter Miller dự tính
vào đại học năm thứ nhất vào mùa thu năm đó. Walter và
Catherine đã biết nhau 3 năm, đã hẹn hà nhiều lần và đã
cùng nhau đính ước.
Một
đêm Walter Miller cùng người bạn là Henry Sullivan đi dự khiêu
vũ về, vì quá chén nên lúc về Walter ngủ gục trên tay lái
khiến chiếc xe đâm xuống ruộng và Walter chết liền tại
chỗ, còn người bạn thì không sao cả.
Walter
chết, Catherine đau xót, nhưng nàng cố đè nén cơn xúc động,
Một năm sau, năm 1968, Catherine lấy Frederick Wright, người bạn
trai khác. Họ có con gái đầu lòng rồi Michael ra đời. Trước
khi chuyện này xảy ra, vào khoảng một năm sau cái chết của
Walter, Catherine đã mơ thấy Walter tái sanh. Walter nói rằng
anh không chết, anh sẽ trở lại và tiếp tục vẽ chân dung
cho Catherine. Catherine nghĩ rằng có thể Walter luân hồi, sẽ
tái sanh vào một gia đình nào đó, có thể vào gia đình người
chị của Walter là Carole Davis vì Carole có mang vào thời điểm
này và không bao giờ có ý nghĩ là Walter sẽ đầu thai vào
làm con mình.
Michael
sanh ra bình thường, thời thơ ấu có đôi khi khó thở. Năm
lên ba, Michael bắt đầu nói về tiền kiếp, kể những sự
việc xảy ra mà một đứa trẻ lên ba không thể nào có thể
biết được.
Có
một ngày Michael đã làm cho Bà Wright sợ hãi vì em buột miệng
gọi "Carole Miller". Sau khi Walter chết, Bà vẫn giữ liên lạc
với Carole Miller nhưng Carole đã lập gia đình 10 năm về trước
và Michael chỉ gặp có hai lần biết tên hiện tại là Carole
Davis chứ không hề biết tên thật là Carole Miller.
Michael
cũng kể với mẹ như sau: "Bạn tôi và tôi đi trên một chiếc
xe, xe đâm xuống ruộng, lén đi lén lại nhiều vàng, cửa
xe bị bật ra. Tôi bị văng ra ngoài và chết ngay tại chỗ".
Michael sau đó còn cho biết thêm chi tiết như là kính xe bị
vỡ, và sau tai nạn, anh được chở qua một cái cầu. Anh cũng
nói anh và người bạn đã ngừng bên xa lộ để đi tiểu
trước khi gặp tai nạn. Michael nói trúng cả tên thành phố
có cuộc khiêu vũ và tên người bạn cùng đi xe chung.
Bà
Catherine Wright xác nhận các chi tiết về tai nạn của Walter
Miller đã được đăng trên các báo chí (có cả ảnh chiếc
xe) rõ ràng và đúng như lời Michael thuật lại. Walter bị
văng ra khỏi xe, gẫy cổ và chết ngay tại chỗ; xác anh được
xe cứu thương chở qua một cái cầu gần chỗ xảy ra tai nạn.
Michael cũng cho biết một vài chi tiết khác nhưng những chi
tiết này chỉ mình Walter Miller biết được mà thôi, chẳng
hạn như chi tiết về căn nhà của Walter, tên họ của Henry
Sullivan (và chỉ nhầm chút xíu về biệt danh của Henry Sullivan).
Trong
cuộc phỏng vấn Bà Catherine Wright với mẹ của Bà là Margaret
Carpenter, cả hai đều xác nhận Michael đã nói về tai nạn
xe cộ trước mặt họ và Michael đã nhắc đi nhắc lại nhiều
lần.
Chúng
tôi nhận thấy những chuyện Michael thổ lộ với mẹ là Catherine
rất có thể làm cho Catherine lo lắng, bối rối nên chắc chắn
Bà không khuyến khích Michael, con Bà nói chuyện về tiền kiếp.
Việc
Bà Catherine Wright gọi điện thoại cho tôi và cho tôi biết
tự sự về việc này chứng tỏ Michael có thể là hiện thân
của Walter Miller đã chết trong một tai nạn xe cộ vào mùa
hè năm 1967.