Dưới
đây là một bài Pháp thoại của thiền sư Nhất Hạnh tại
trường trung học Kenmore, Arlington, Virginia, Hoa Kỳ, ngày 25
tháng 10 năm 1997.
Xin
mời quý vị thở theo tiếng chuông. Trong khi các thầy và các
sư cô niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng ta
không cần niệm theo. Chúng ta chỉ cần thở những hơi thở
cho dài, cho sâu, để cho năng lượng của đức Bồ Tát Quán
Thế Âm đi vào trong người của chúng ta, và chúng ta sẽ được
bảo hộ bởi năng lượng đó. Mỗi khi nghe tiếng chuông, chúng
ta thực tập thở vào và thở ra có ý thức. Thở vào, tôi
biết là tôi đang còn sống. Thở ra, tôi mỉm cười với sự
sống trong tôi và chung quanh tôi. Breathing in, I know that I
am alive. Breathing out, I smile to live within me and around me. Thở
vào, tôi biết là tôi đang có mặt. Thở ra, tôi mỉm cười
với sự sống. Mỗi khi nghe tiếng chuông, chúng ta hãy thở
như vậy và cảm thấy mình đang thật sự có năng lượng
của sự sống trong mình. Những bài kệ chuông mà chúng ta
sẽ thực tập đều bằng tiếng Việt. Sư chú Pháp Hiền sẽ
đọc bằng tiếng Anh. Thầy Pháp Niệm sẽ xướng lên bằng
nhạc điệu cổ truyền tiếng Việt. Mỗi khi nghe tiếng chuông,
chúng ta thở vào, thở ra có ý thức. Chúng ta biết rằng chúng
ta đang có mặt, và chúng ta mỉm cười mỗi khi thở ra. Sau
khi đã thực tập những bài kệ nghe chuông, chúng ta sẽ lắng
nghe danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Chúng ta không
cần phải niệm theo. Chúng ta chỉ cần thở và lắng nghe để
cho năng lượng của đức Bồ Tát đi vào cơ thể và tâm hồn
của chúng ta. Khi quý vị nghe tới danh hiệu Nam Mô Bồ Tát
Quán Thế Âm, quý vị có thể chắp hai tay lại.
Những
bài kệ chuông tiếng Việt và Anh ngữ:
Body,
speech, and mind in perfect oneness.
I
send my heart along with a sound of the bell.
May
the hearers awaken from forgetfulness and transcend the path of anxiety
and sorrow.
Ba
nghiệp lắng thanh tịnh. Gửi lòng theo tiếng chuông.
Nguyện
người nghe tỉnh thức. Vượt thoát nẻo đau buồn.
Listen,
listen. This wonderful sound of the bell brings me back to my true home.
Lắng
lòng nghe, lắng lòng nghe.
Tiếng
chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.
May
the sound of this bell penetrate deeply into the cosmos.
Even
in the darkest places, may living beings hear it clearly
So
that understanding comes to their heart
And
without hardship, they transcend the path of sorrow and anxiety.
Nguyện
tiếng chuông này vang pháp giới.
Khắp
nơi u tối mọi loài nghe.
Siêu
nhân vượt thoát vòng sanh tử.
Giác
ngộ tâm tư một hướng về.
Listening
to the bell, I feel the affliction in me begin to dissolve.
My
mind becomes calm, my body relaxed
And
the smile is born on my lips.
Following
the sound of the bell, my breath guides me back to the safe island of mindfulness.
In
the garden of my heart, the flower of peace blooms beautifully.
Nghe
chuông phiền não tan mây khói.
Ý
lặng, thân an, miệng mỉm cười.
Hơi
thở nương chuông về chánh niệm.
Vườn
tâm hoa tuệ nở xinh tươi.
The
universal dharma door is opened.
The
sound of the rising tide is clear, and the miracle happens.
A
beautiful child appears in the heart of the lotus flower.
A
single drop of the compassionate water is enough to bring back the refreshing
springs to the mountains and rivers.
Namo
Avalokitesvara. (3 times)
Phổ
môn vọng tiếng triều dâng.
Bé
thơ xuất hiện giữa lòng đóa sen.
Cam
Lộ một giọt tưới lên.
Xuân
về trên khắp mọi miền núi sông.
Nam
Mô Bồ Tát Quan Thế Âm (3 lần)
Kính
thưa quý vị, có những ngày chúng ta cảm thấy là chúng ta
không được may mắn. Có thể là vì chúng ta vụng về hay
là chúng ta thiếu sự chú ý, cho nên vô tình mà chúng ta gây
ra những lầm lỡ. Chúng ta nói những câu làm cho người kia
đau buồn mà thực sự ta không muốn nói những câu như vậy.
Chúng ta làm những cử chỉ làm cho người kia đau buồn, nhưng
thực sự chúng ta không muốn làm những cử chỉ như vậy.
Chúng ta có đủ thông minh. Chúng ta có dư thông minh để biết
rằng nếu chúng ta đã nói những điều như vậy, nếu chúng
ta đã làm những điều như vậy, thì chúng ta sẽ gây đổ
vỡ trong chúng ta, và giữa chúng ta với người chúng ta thương.
Nhưng mà sự thực là chúng ta đã làm cái điều đó, và chúng
ta đã nói những điều đó, và chúng ta đã gây nên những
đổ vỡ.
Sau
khi sự đổ vỡ đã gây ra rồi, chúng ta rất hối hận. Không
biết ma xui quỷ khiến gì mà hôm đó mình nói câu đó, và
mình làm điều đó. Mình rất giận mình, và mình rất thành
thật hối cải. Mình nói rằng kỳ sau nhất định mình sẽ
không nói những câu như vậy nữa, kỳ sau mình nhất định
không làm những hành động như vậy nữa. Chúng ta rất thành
thật là có tổ tiên, có Bụt, có các vị Bồ Tát chứng giám.
Chúng ta rất thành khẩn. Chúng ta rất thành thật với mình.
Chúng ta quyết tâm rằng lần sau nhất định sẽ không nói
như vậy nữa, sẽ nhất định không làm như vậy nữa.
Nhưng
mà cái ngày xui nó đến. Chúng ta lại nói lại những câu
như vậy, và chúng ta sẽ làm lại những điều mà chúng ta
đã làm, và chúng ta đau khổ nữa. Ðiều này xảy tới rất
nhiều lần. Có khi chúng ta thất vọng. Chúng ta nghĩ rằng
cái lực lượng ma quái đó ở trong ta nó xúi chúng ta nói
những câu như vậy, nó xúi chúng ta làm những hành động
như vậy, để chúng ta gây đổ vỡ ở trong gia đình của
chúng ta. Chúng ta gây đổ vỡ giữa ta và người chúng ta thương.
Tiếng Anh nói là "It's stronger than me". Cái ma quái đó
ở trong đạo Bụt gọi là tập khí. Tập khí là một năng
lượng của thói quen. Năng lượng đó có thể đã được
trao truyền từ những thế hệ tổ tiên, qua cha mẹ, và đến
chúng ta. Cái năng lượng đó ghê gớm lắm.
Cố
nhiên tổ tiên và cha mẹ đã trao truyền cho chúng ta những
năng lượng tốt, những tài năng, những hạnh phúc, những
đức hạnh. Nhưng tổ tiên và cha mẹ cũng đã trao truyền
cho chúng ta những năng lượng tiêu cực, những tập khí xấu,
những thói quen xấu. Và nếu chúng ta không có khả năng nhận
diện được năng lượng tiêu cực đó, thì những năng lượng
đó tiếp tục xúi ta, thúc đẩy ta làm những điều mà ta
không thực sự muốn làm, nói những điều mà ta không thực
sự muốn nói. Chúng ta đã biết rằng hễ nói điều đó hoặc
làm điều đó là chúng ta gây đổ vỡ. Vậy mà chúng ta vẫn
cứ đã nói, vẫn cứ đã làm. Vì vậy chúng ta nên biết rằng
cái lực lượng ma quái đó mạnh hơn chúng ta.
Ðức
Thế Tôn có dạy rằng chúng ta phải tu tập để có được
một năng lượng thứ hai, một năng lượng mới có khả năng
nhận diện được năng lượng của tập khí. Mỗi khi ta nhận
diện được năng lượng ma quái kia, thì năng lượng kia không
tác yêu tác quái được. Nếu chúng ta không thực tập thì
thôi. Nếu chúng ta thực tập, thế nào chúng ta cũng đạt
được cái kết quả là chúng ta sẽ làm chủ được tình
trạng, và chúng ta sẽ không để cho cái năng lượng ma quái
kia xúi đẩy chúng ta nói và làm những điều chúng ta không
muốn nói và không muốn làm.
Có
một anh thiền sinh Hoa kỳ qua Làng Mai tu tập cách đây mười
năm. Anh ta qua khóa tu mùa đông, rồi anh ta qua khóa tu mùa hè.
Trong khóa tu mùa hè anh ta ở trên Xóm Thượng và đã thực
tập ba tuần lễ rất hạnh phúc. Trên Xóm Thượng có rất
nhiều thầy, rất nhiều sư chú, và có một số các cư sĩ,
trong đó có các vị đã thọ giới Tiếp Hiện, các vị giáo
thọ. Trong ba tuần lễ, anh thực tập rất hạnh phúc vì ngày
nào cũng được đi thiền hành, cũng ăn cơm trong chánh niệm,
cũng tập thở, cũng làm việc trong bếp trong chánh niệm, cũng
nấu cơm, cũng rửa bát, cũng quét nhà giống hệt như các
thầy và các sư chú, và các thiền sinh khác. Chung quanh anh
ta có các vị xuất gia và các vị tại gia thực tập rất
vững chãi, đi đứng trong chánh niệm, làm việc trong chánh
niệm, ăn uống trong chánh niệm, cho nên anh ta được thừa
hưởng cái năng lượng tập thể đó. Vì vậy cho nên anh ta
rất có hạnh phúc. Tới tuần thứ tư, anh được các thiền
sinh bạn người Mỹ phái anh đi chợ để mua thức ăn về
nấu một món để cúng tổ tiên.
Tại
Làng Mai mỗi mùa hè chúng tôi có tổ chức một lễ gọi là
lễ Tạ Ơn, "Thanks Giving day" theo kiểu Phật giáo. Trong
ngày lễ Tạ Ơn đó chúng ta tạ ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ,
thầy, bạn bè, và tất cả mọi loài chúng sanh, cây cỏ, và
đất đá. Tứ ân là ơn cha mẹ tổ tiên, ơn thầy, ơn bạn,
và ơn chúng sanh. Bàn thờ là bàn thờ chung. Thiền sinh mỗi
nước tụ tập nhau lại để bàn cách nấu một món có vẻ
quốc hồn quốc túy và đặt lên trên bàn thờ để cúng.
Thiền sinh Hòa Lan nấu món Hòa Lan. Thiền sinh Pháp nấu món
Pháp. Cố nhiên thiền sinh Mỹ nấu món Mỹ. Anh thiền sinh
Hoa Kỳ đó được lệnh đại diện những thiền sinh Mỹ đi
ra chợ của thành phố Saint Foy-La-Grande để mua đồ.
Trong
khi anh đang đi mua đồ ăn ở ngoài chợ, tự nhiên có một
năng lượng tiêu cực phát hiện. Năng lượng đó là cái năng
lượng vội vã, hấp tấp, bất an, vụt chạc. Lạ quá. Trong
ba tuần lễ mình ở trong Làng, mình thực tập, chưa bao giờ
cái năng lượng nầy trào lên hết. Bây giờ mới đi ra ngoài
chợ có nửa giờ đồng hồ, cái năng lượng vụt chạc, hấp
tấp, bất an đã phát hiện. Nhưng lần này, anh đối xử khác
tại vì trong ba tuần lễ anh ta đã thực tập chánh niệm,
theo dõi hơi thở, bước những bước đi thiền hành có ý
thức. Vì vậy anh ta có được một ít năng lượng gọi là
năng lượng chánh niệm, the energy of mindfulness, và nhờ
đó cho nên anh ta nhận diện được cái năng lượng tiêu cực
kia, cái năng lượng vội vã, vụt chạc, hấp tấp, bất an
ở trong anh. Và anh ta phát giác ra rằng anh ta có một tuệ
giác: đây là năng lượng của má anh trao truyền cho anh vì
má anh luôn luôn là như vậy. Má anh luôn luôn vội vã, vụt
chạc, hấp tấp, bất an. Anh đã thừa hưởng cái năng lượng
tiêu cực đó của mẹ. Khi anh thấy được điều đó, anh
ta bắt đầu thở vào, thở
ra có ý thức, và anh ta gọi tên
má anh. Anh ta gọi "Hello mommy, I know you are there" thì tự
nhiên cái năng lượng hấp tấp, bất an đó biến mất. Và
từ đó trở về sau anh ta cẩn thận. Anh ta bước những bước
rất là vững chãi. Anh ta theo dõi hơi thở. Từ lúc đó cho
đến khi mua thức ăn xong và lên xe trở về, năng lượng tiêu
cực đó không phát hiện lại một lần nào nữa cả.
Qua
câu chuyện đó chúng ta học được cái gì? Trong người của
chúng ta cái năng lượng tiêu cực có thể đã được các
thế hệ cha mẹ trao truyền lại. Năng lượng đó là một
năng lượng lâu đời, và vì vậy nó âm thầm chi phối cách
hành xử của chúng ta. Nếu chúng ta không nhận diện được
nó thì nó tiếp tục tác yêu tác quái và xúi xử chúng ta
làm những điều chúng ta không muốn làm, nói những điều
mà thật sự chúng ta không muốn nói. Và chúng ta gây đổ
vỡ.
Phương
pháp là phải tu tập để có một năng lượng mới để có
khả năng nhận diện được cái năng lượng cũ. Và mỗi khi
nhận diện được như vậy rồi, năng lượng cũ không làm
được gì mình nữa hết. Muốn có cái năng lượng mới đó,
năng lượng chánh niệm, chúng ta phải biết tập đi thiền
hành, đi mà ý thức được từng bước chân. Chúng ta phải
tập thở chánh niệm, thở vào biết rằng chúng ta đang thở
vào, thở ra biết là chúng ta đang thở ra. Mỗi động tác
của chúng ta hằng ngày, chúng ta biết và chúng ta thấy rõ
các động tác đó. Khi ăn thì mình biết là mình đang ăn.
Khi ngồi mình biết là mình đang ngồi. Chánh niệm là cái
năng lượng giúp cho mình biết được cái gì đang xảy ra
trong phút giây hiện tại. Tiếng Anh gọi là mindfulness.
Mindfulness is the kind of energy that helps us to know, to be aware of
what is going on in the present moment.
Ví
dụ tôi đang uống nước. Nếu trong khi uống nước mà tôi
biết rằng tôi đang uống nước thì lúc đó là tôi có chánh
niệm. Nếu trong khi uống nước mà không biết mình đang uống
nước, tâm mình để ở chỗ khác, tâm mình bị quá khứ kéo
đi, hay bị tương lai kéo đi, hay bị những lo lắng, sầu muộn
kéo đi, thì mình uống nước mà không biết là mình đang uống
nước. Ðó gọi là thất niệm. Thất niệm là mất chánh niệm.
Thất niệm tiếng Anh gọi là forgetfulness. Trái lại nếu
trong khi uống nước mà mình biết là mình đang uống nước,
lúc đó chánh niệm có mặt. Ðó gọi là uống nước có chánh
niệm. Tiếng Anh gọi là mindful drinking. Trong khi mình
đi có chánh niệm thì gọi là mindful walking. Trong khi
mình thở, nếu có chánh niệm, thì gọi là mindful breathing.
Và người tu là phải thực tập mindfulness, nghĩa là
phải có chánh niệm trong khi đi, trong khi đứng, trong khi ngồi,
trong khi làm việc.
Có
một lần có một nhà triết học đến thăm đức Thế Tôn
và ông ta hỏi Bụt như thế nầy: "Thưa ngài, giáo lý của
ngài đặc biệt ở chỗ nào?" Và sau khi hỏi câu đó thì ông
muốn hỏi một câu chắc ăn hơn "nghĩa là mỗi ngày thì quý
vị làm gì ở trong tu viện Kỳ Viên nầy? What do you do exactly
during the daily life in the bamboo ground?". Ðức Thế Tôn mỉm
cười. Ngài nói rằng: "Thì chúng tôi cũng đi, cũng đứng,
cũng nằm, cũng ngồi, cũng giặt áo, cũng rửa bát". Nhà triết
học đó nói: "Như vậy thì có khác gì chúng tôi đâu. Ngoài
đời thì chúng tôi cũng đi, đứng, nằm, ngồi, nấu cơm,
rửa bát". Ðức Thế Tôn nói "Khác, khác nhau nhiều lắm, tại
vì trong khi chúng tôi đi, chúng tôi biết rằng chúng tôi đang
đi; khi chúng tôi ngồi, chúng tôi biết chúng tôi đang ngồi;
khi chúng tôi đứng, chúng tôi biết chúng tôi đang đứng;
khi giặt áo, chúng tôi biết chúng tôi đang giặt áo. Tâm của
chúng tôi hoàn toàn để ở nơi giây phút hiện tại, trong
khi ở ngoài đời thì người ta sống không phải như vậy".
Nghĩa
là theo lời đức Thế Tôn người tu sống trong chánh niệm,
người không tu thường thường sống trong thất niệm. Khi
mình biết sống trong chánh niệm, mình sẽ sống từng giây
phút của đời sống hiện tại sâu sắc. Ví dụ mình đang
được ngồi ăn cơm với những thành phần khác của gia đình
mình. Trong khi ăn cơm mình chỉ ăn cơm thôi. Mình không để
trí óc mình suy nghĩ vẩn vơ, lo buồn, giận ghét, và những
chuyện khác. Trong khi ăn cơm, mình chỉ chú ý tới thức ăn
và tới những người thân đang ngồi quanh bàn ăn mà thôi.
Tâm của mình không rong ruổi về quá khứ, không phiêu lưu
trong tương lai, không bị cái giận, cái hờn, cái vọng động,
hay những dự án xa vời kéo mình đi. Mình thật sự an trú
trong hiện tại. Establish yourself in the present moment. An
trú trong giây phút hiện tại, dwelling peacefully in the present
moment, là sự thực tập của chúng ta.
Nếu
trong bữa cơm gia đình mà quý vị có thể an trú trong hiện
tại, quý vị chú ý tới thức ăn và những người thân chung
quanh, thì cái hạnh phúc của bữa cơm sẽ tăng tiến gấp
10 lần hoặc là 20 lần. Nếu khi chúng ta ngồi ăn cơm với
nhau mà tâm của chúng ta rong ruổi, chúng ta không có mặt tại
đó, thì bữa cơm đó không có giá trị, và chất lượng của
hạnh phúc rất là thấp. Cũng như khi chúng ta uống trà với
người bạn từ phương xa mới tới. Chúng ta pha một bình
trà rất ngon, rất quý, và hai người bạn ngồi đối diện
nhau. Ðiều kiện căn bản để hai người có hạnh phúc là
sự có mặt của nhau. Tôi hoàn toàn có mặt, và anh cũng hoàn
toàn có mặt. Thân và tâm của tôi hợp nhất. Thân và tâm
của anh cũng hợp nhất. Và chúng ta thiết lập sự có mặt
của chúng ta vững chãi trong giây phút hiện tại. Lúc đó
chén trà mà tôi pha mới có cái giá trị của nó. Còn nếu
tôi suy nghĩ, lo lắng, giận hờn, buồn bã, trách móc, anh cũng
đang suy nghĩ, lo lắng, giận hờn, buồn bã, trách móc, thì
sự có mặt của tôi đối với anh không có nghĩa gì cả,
và chén trà mà tôi dâng lên cho anh nó cũng không có nghĩa
gì cả. Do đó thiết lập sự có mặt của mình một cách
vững chãi trong giây phút hiện tại là điều kiện căn bản
nhất của hạnh phúc.
Chánh
niệm là năng lượng giúp ta có mặt một cách đích thực
trong giây phút hiện tại. Và khi chúng ta đã có mặt đích
thực trong giây phút hiện tại rồi thì chúng ta có thể nhận
diện được bất cứ cái gì đang xảy ra trong giây phút hiện
tại. Ví dụ như khi chúng ta đang đứng ngắm trăng tròn vừa
mới lên cùng với một số các bạn ta. Mặt trăng rất tròn,
rất tươi mát, rất đẹp. Nhưng nếu chúng ta không có mặt
thật sự, nghĩa là tâm của chúng ta không có đó, chúng ta
đang lo lắng về tương lai hoặc sầu muộn về quá khứ, thì
mặt trăng mầu nhiệm đó không phải là cho ta. Những người
khác, vì họ không lo lắng, vì họ có mặt thật sự, cho nên
họ có thể tiếp xúc với mặt trăng một cách sâu sắc, và
mặt trăng là mặt trăng của họ. Còn về ta, ta đang lo lắng,
đang sầu khổ, cho nên ta không tiếp xúc được với mặt
trăng.
Món
quà quý giá nhất mà mình có thể tặng cho người thương
của mình là món quà gì? Theo tôi món quà đó là sự đích
thực có mặt của mình. Nếu mình thương mà mình không có
mặt cho người đó thì mình đâu có thương được. How can
you love if you are not there? Mình có thể đi làm đem về rất
nhiều tiền cho người kia, nhưng mà không bao giờ có mặt
cho người đó. Cái đó không phải là thương. Thương nghĩa
là hiến tặng cho người mình thương sự có mặt của mình.
Tôi nhớ có một cậu bé mười hai tuổi. Có một hôm bố
nó nói: "Mai là ngày sinh nhật của con, con muốn cái gì bố
sẽ mua cho". Cậu bé không biết là mình muốn cái gì nữa.
Bố của nó là một người thương gia rất giàu có. Hễ nó
muốn cái gì là bố nó có thể mua được liền lập tức.
Nhưng mà nó không có thiết một cái gì hết. Nó chỉ cần
có một cái thôi, mà cái đó hình như là xa vời vô cùng.
Ðó là sự có mặt của bố nó. Bố nó rất giàu. Và khi người
ta giàu, người ta không có thể có nhiều thì giờ để dành
cho người mình thương. Phải bận bịu tối ngày. Phải dùng
thì giờ và năng lượng của mình để tiếp tục làm giàu.
Và vì vậy cho nên cái quý nhất mà người thương mình đòi
hỏi là sự có mặt của mình bên họ thì mình không thể
hiến tặng được. Ðứa bé suy nghĩ một hồi rồi nói: "Daddy,
I want you." (con chỉ muốn bố thôi). Con không muốn món
quà nào hết.
Thực
sự là như vậy. Khi mà mình thương ai, món quà quý giá nhất
mình tặng cho người đó là sự có mặt đích thực của mình.
Và vì vậy cho nên nếu mình tập đi thiền hành, tập thở
cho có ý thức, và có mặt thực sự, rồi mình tới ngồi
bên người mình thương và nói rằng: "Con ơi, bố đang có
mặt thực sự cho con đây, con có bằng lòng không?" thì em
bé sẽ rất hạnh phúc. "Em ơi, anh đang có mặt cho em đây"
thì người thương của mình sẽ có hạnh phúc. "Anh ơi, em
đang có mặt cho anh đây" thì người thương của mình sẽ
có hạnh phúc. "Darling, I'm here for you". "Tôi có mặt đây"
không phải là một lời tuyên bố suông tại vì mình phải
thực sự có mặt mới được. Thân và tâm của mình phải
hợp nhất. Mình phải thật sự có mặt với người thương
của mình thì mình mới có thể mở miệng nói: " I'm here
for you". Nếu mình tuyên bố mình thương mà mình không có
mặt ở đó cho người mình thương, thì mình thật sự không
có thương gì hết. Vì vậy nếu mình là một người thương
đích thực, mình phải thực tập chánh niệm. Mình làm thế
nào để cho mình thực sự có mặt, và mình đem sự có mặt
đó để hiến tặng cho người mình thương.
Khi
mình có mặt rồi, mình có thể làm được công việc khác
mà người không có mặt không thể làm được: công nhận
sự có mặt của người mình thương. Ðây là một hành động
thương yêu đích thực. Khi người thương của mình không chú
ý đến mình, người đó không thực sự là người yêu của
mình. Khi mình bị người kia lơ là, người kia không chú ý,
mình đâu có cảm tưởng mình đang được thương. Vì vậy
khi mình quả thực đang thương, mình phải làm thế nào để
công nhận sự có mặt của người mình thương. Mình phải
tới với người mình thương bằng sự có mặt đích thực
của mình, và mình nói với người đó: "Anh ơi, em biết anh
đang có mặt đó. Em đang có hạnh phúc". Mình phải nói như
vậy. "Darling, I know you are there, and I'm very happy". Trong
khi mình nói như vậy, mình phải thực tập. Mình phải thực
sự có mặt, và mình sẽ đem năng lượng của chánh niệm
ôm lấy người mình thương. Người mình thương lúc bấy giờ
nở ra như một bông hoa, vì người đó biết rằng mình đang
có mặt cho người đó, mình đang công nhận sự có mặt của
người đó.
Phương
pháp thực tập hơi thở có ý thức, phương pháp đi thiền
hành bước những bước chân có ý thức, có liên hệ trực
tiếp tới đời sống hằng ngày của mình. Quý vị chỉ cần
đi thiền hành trong vòng năm phút, mỗi bước chân vững chãi,
thảnh thơi và có chánh niệm; quý vị chỉ cần thực tập
thở vào và thở ra có ý thức trong năm phút, mỗ hơi thở
vào, mỗi hơi thở ra vững chãi và sâu sắc, thì quý vị đã
có thể đem lại sự có mặt đích thực của mình. Và sự
có mặt đích thực đó là một món quà rất quý giá mà quý
vị có thể đem hiến tặng cho người mình thương. Khi mình
có mặt rồi, mình cũng công nhận sự có mặt của người
kia. Khi mình nói: "Em ơi, anh biết rằng em đang có mặt, và
anh rất lấy làm hạnh phúc", người mình thương sẽ nở ra
như một bông hoa. Người con công nhận sự có mặt của người
cha. Người cha công nhận sự có mặt của người con. Người
chồng công nhận sự có mặt của người vợ, và người vợ
công nhận sự có mặt của người chồng. Ðó là điều mình
có thể làm trong đời sống hằng ngày. "I'm here for you.
I know you are there, and I am very happy". Ðó là những câu nói
của tình thương đích thực.
Trong
khóa tu ở trường đại học tại Santa Barbara, có một người
cha trẻ tới khóc với tôi và nói rằng: "Thưa Thầy, con vừa
mới mất một đứa con. Con đau khổ quá chừng". Ðó không
phải là thiền sinh duy nhất than thở là mình vừa mất một
người thương. Có rất nhiều người Hoa Kỳ trong khóa tu đã
tới khóc, đã tới than thở rằng vừa mất một người thương.
Nếu nhìn sâu vào trong bản chất của niềm đau của người
vừa mất một người thương, mình sẽ tìm thấy nhiều lý
do, nhiều nguyên tố ở trong đó. Trong khi người mình thương
còn sống, mình rất là lơ là. Mình không làm những cái mình
có thể làm để cho người đó có hạnh phúc. Vì vậy khi
người đó chết đi, mình đau khổ vô cùng. Ðau khổ không
phải chỉ vì mình mất người đó, mà đau khổ là do mình
hối hận là trong thời gian người đó còn sống, mình đã
sống rất lơ là với người đó, mình đã không làm những
điều mình có thể làm để cho người đó có hạnh phúc.
Tôi
thấy có một gia đình trong đó tất cả những đứa con đều
giàu có. Những đứa con gái đều đã đi lấy chồng, và chồng
họ là những người rất giàu có. Khi họ nghe tin là người
cha của họ chết, họ trở về rất là đầy đủ. Trong tang
lễ họ khóc và đau khổ vô cùng. Tôi hỏi thăm và biết được
nguồn gốc của sự đau khổ đó. Tuy họ giàu có như vậy,
tuy họ có thương cha của họ, nhưng họ sống cuộc đời
rất bận rộn. Họ không có thì giờ để chăm sóc cha của
mình. Vì vậy khi cha chết rồi, họ đau khổ vì sự hối hận
rất nhiều. Họ đấm ngực. Họ bứt tóc. Họ nằm lăn ra
giữa đất. Họ khóc. Họ gào. Họ than. Tôi nhìn vào đó thì
tôi biết rằng phần lớn chất liệu của đau khổ nầy là
sự hối hận. Nếu trong thời gian cha mình còn sanh tiền mà
mình cố gắng tìm ra được thì giờ tới chơi với ba mình,
và có thể làm được bất cứ cái gì mà mình có thể làm
để cho ba mình có hạnh phúc, thì đến khi ba mình qua đời,
mình không đau khổ đến mức đó.
Do
đó ta nên biết rằng ta phải nhìn cho ra bản chất của sự
đau khổ. Tôi nói với người kia: "Anh đau khổ vì anh vừa
mất một người thân. Ðiều đó tôi hiểu. Anh nói rằng vì
cái đau khổ đó cho nên anh không ngủ được, không ăn được,
không làm ăn được gì hết. Ðiều đó tôi cũng hiểu. Và
tôi khuyên anh: "Anh nên nhớ rằng anh vừa mất một người
thương, nhưng mà anh vẫn còn những người thương khác đang
sống. Nếu anh tiếp tục không ăn không ngủ khổ đau như
vậy, anh đang làm khổ những người thương đang còn sống
của anh. Tôi khuyên anh nên trở về chăm sóc cho những người
thân của anh hiện đang còn sống bên anh và làm những gì
anh có thể làm hôm nay để cho họ có hạnh phúc. Nếu anh
làm được điều đó, người khuất mặt sẽ mỉm cười được.
Và đến khi một người thân khác của anh qua đời, anh sẽ
không đau khổ như anh đang đau khổ kỳ này". Người đó đã
hiểu và người đó đã bớt đau khổ rất nhiều. Người
đó đã trở về làm theo những điều tôi khuyên nhủ.
Giáo
huấn trên được căn cứ vào
tuệ giác về vô thường.
Nếu chúng ta không tập sống sâu sắc trong giây phút hiện
tại, sau nầy chúng ta sẽ hối tiếc. Muốn sống sâu sắc
được những giây phút hiện tại, chúng ta phải tập như
thế nào để cho thân và tâm của chúng ta trở về trong giây
phút hiện tại: thân tâm nhất như. Những phương pháp
đức Thế Tôn đã đem ra để dạy chúng ta rất là cụ thể.
Có nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng tu là phải tụng
kinh thật nhiều, hoặc là đốt nhang thật nhiều, hoặc là
cúng chuối, cúng xôi cho thật nhiều, hoặc là lạy cho thật
nhiều. Tôi đã học Phật. Tôi đã nghiên cứu. Và tôi rất
lấy làm ngạc nhiên thấy rằng đức Thế Tôn có dạy rất
nhiều phương pháp rất cụ thể, có thể làm cho tăng tiến
hạnh phúc trong đời sống hằng ngày rất là mau chóng mà
rất ít người thực tập. Họ chỉ biết lạy, biết cúng,
biết đốt nhang, biết tụng kinh mà thôi.
Bụt
dạy rằng chúng ta có thể sống an lạc và hạnh phúc ngay
trong giây phút hiện tại. Cái giáo pháp đó chữ Nho gọi là
"hiện pháp, lạc trú", hiện pháp là giây phút hiện
tại, lạc trú là sống hạnh phúc. Ngài nói rằng anh và chị
có thể sống an lạc, hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.
Chúng ta có hiểu được cái giáo lý đó hay không? Tại sao
trong khi tu chúng ta cứ mơ tưởng tới cái an lạc và hạnh
phúc trong tương lai mà thôi. Chúng ta muốn cầu về cõi này
hoặc cõi kia, mà ta không biết cách làm thế nào để có thể
sống hạnh phúc, an lạc trong giờ phút hiện tại. Giáo lý
hiện pháp lạc trú chúng ta không có nghe và không có thực
tập.
Ðức
Thế Tôn dạy rất rõ. Ngài nói rằng ví dụ chúng ta cầm
một cục đá và buông xuống giòng sông thì cục đá sẽ chìm.
Chúng ta lấy cục đá nhỏ hơn, chỉ nặng vài chục gram thôi,
và bỏ xuống nước. Nó cũng vẫn chìm như thường. Nhưng
nếu chúng ta có một chiếc thuyền, chúng ta có thể chở 200
ký lô đá mà không chìm xuống nước. Ðức Thế Tôn nói rằng
dầu anh, dầu chị có những nỗi khổ niềm đau ở trong lòng,
nhưng nếu anh chị biết thực tập, thì anh chị sẽ không
bị đắm chìm vào biển khổ. Ðức Thế Tôn dạy những điều
như vậy. Dù trong tâm mình có niềm đau nỗi khổ rất nhiều,
nếu mình biết nương tựa vào Phật, vào Pháp, vào Tăng, mình
biết thực tập hiện pháp lạc trú, mình vẫn có thể có
hạnh phúc trong giây phút hiện tại như thường. Những giáo
lý đó tại sao chúng ta không nghe và không đem vào để thực
tập?!
Hiện
pháp là gì? Hiện pháp tức là the present moment, là giây
phút hiện tại. Thường thường chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc
là khi chúng ta đạt được, khi chúng ta thỏa mãn với những
tìm kiếm của chúng ta. Ðó là đối tượng của những thèm
khát của chúng ta. Trước hết là chúng ta thèm khát sự giàu
có, tiền tài. Rồi đến chúng ta thèm khát cái danh. Nếu không
có cái danh đó, nếu không có cái bằng cấp đó, nếu không
có uy tín đó, mình sẽ không có hạnh phúc. Và thứ ba là
sắc dục. Nếu chúng ta không thỏa mãn được sắc dục đó
thì ta không có hạnh phúc. Và thứ tư là thức ăn ngon. Tài,
sắc, danh, thực, thụy. Tài tức là money; sắc là sex;
danh là fame; thực là good food. Ta nghĩ rằng hạnh
phúc làm bằng những đối tượng của sự thèm khát và là
ngũ dục.
Ðức
Thế Tôn nói rằng người đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy
theo đối tượng của sự thèm khát cũng giống như người
cầm đuốc mà đi ngược gió. Ngọn lửa của cái đuốc đó
sẽ làm cháy tay mình. Có biết bao nhiêu người chạy theo đối
tượng của sự thèm khát và những người đó đều là những
người đang đau khổ. Trái lại nếu chúng ta biết bỏ, biết
dừng lại và đừng chạy theo đối tượng của những sự
thèm khát, chúng ta biết trở về với giây phút hiện tại,
chúng ta sẽ khám phá ra rằng trong cái giây phút hiện tại
này ta có rất nhiều những yếu tố của hạnh phúc. Và chúng
ta sẽ ngạc nhiên mà khám phá ra rằng những điều kiện của
hạnh phúc mà ta có, ta đang có trong giờ phút hiện tại nó
nhiều hơn là chúng ta cần tới, và chúng ta có thể sống
hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây với những điều kiện
hiện tại. Ðó gọi là hiện pháp lạc trú.
Bây
giờ tôi xin chứng minh cho quý vị bằng một vài sự thực
tập. Ví dụ quý vị thực tập như thế này: tôi đang thở
vào và ý thức được rằng tôi có hai mắt; tôi thở ra và
mỉm cười với hai mắt của tôi. Ðó là một bài thực tập
đức Thế Tôn đã đề nghị với chúng ta: "breathing in,
I am aware of my eyes; breathing out, I smile to my eyes". Mình thở
như vậy để có năng lượng chánh niệm. Với năng lượng
chánh niệm đó, mình tiếp xúc được với hai con mắt của
mình. Khi có chánh niệm, mình sẽ tìm ra rằng hai con mắt của
mình đang tốt, mở ra là có thể thấy được trời xanh, mây
trắng, và khuôn mặt của người mình thương. Ðó là một
trong những điều kiện của hạnh phúc. Khi mình cười với
hai mắt mình, mình đang cười với một điều kiện của hạnh
phúc mình đang có. Những ai trong chúng ta đã bị mù rồi thì
đâu còn cái hạnh phúc đó nữa, không còn thấy gì hết.
Còn chúng ta, những người đang còn có hai mắt tốt, chỉ
cần mở ra là sẽ thấy được trời xanh, mây trắng, hoa cỏ,
sông núi, và khuôn mặt của những người mình thương.
Chúng
ta có một thiên đường, một thiên đường của mầu sắc,
một thiên đường của hình bóng nhờ chúng ta có hai mắt.
Chúng ta chỉ cần đi vào trong rừng vào mùa thu, mở hai mắt
ra, và nhìn những ngọn lá vàng, lá đỏ rơi rất là ngoạn
mục. Chúng ta có thể có hạnh phúc rất nhiều, với điều
kiện là trong khi đi từng bước vững chãi trong rừng thu,
thân và tâm của ta an trú trong giây phút hiện tại. Quý vị
thử đi, mùa thu đang còn đó. Hãy để mười lăm phút đi
vào trong rừng thu, đừng suy nghĩ về quá khứ, đừng suy nghĩ
về tương lai, biết rằng mình có đôi mắt đang còn tốt,
hai chân đang còn khỏe, thở cho sâu sắc và tiếp xúc với
rừng thu, quý vị sẽ thấy rằng quý vị có rất nhiều hạnh
phúc. Còn những người đã mù rồi, họ biết rằng cái thiên
đường của màu sắc đã mất. Bây giờ nếu có một bác
sĩ đem lại cái thấy của ngày xưa, họ sẽ thấy như được
trở về thiên đường lần thứ hai. Chúng ta là những người
đang ở thiên đường. Chúng ta đang chối từ thiên đường
của chúng ta vì chúng ta không biết trở về với giây phút
hiện tại. Chúng ta để cho chúng ta bị kéo theo bởi sự cám
dỗ của những đối tượng thèm khát của chúng ta.
Tôi
đang thở vào và có ý thức về trái tim của tôi. Tôi đang
thở ra và mỉm cười với trái tim của tôi. Ðó là bài thực
tập thứ hai. Khi mình thở như vậy, tất cả sự chú tâm
của mình, tất cả năng lượng chánh niệm của mình dồn
vào trái tim. Chúng ta ôm trái tim của chúng ta với năng lượng
chánh niệm của chúng ta. Breathing in, I am aware of my heart.
Breathing out, I smile to my heart. Nếu quý vị thở như vậy
chừng ba bốn lần, quý vị sẽ bắt đầu thấy được trái
tim của quý vị. Trái tim của quý vị đang hoạt động bình
thường. Ðó là một tin rất vui tại vì có những người
trong chúng ta có trái tim không hoạt động bình thường. Họ
có thể bị đứng tim bất cứ lúc nào. Sự mong ước sâu
sắc nhất của những người đó là có một trái tim bình
thường như trái tim của chúng ta. Chúng ta là những người
đang có trái tim bình thường. Chúng ta đang có một điều
kiện rất lớn của hạnh phúc. Chúng ta ban đêm có mấy giờ
đồng hồ để ngủ, còn trái tim của chúng ta phải làm việc
suốt cả ngày đêm để bơm máu tới các tế bào trong cơ
thể. Có thể đây là lần đầu chúng ta tỏ lòng ưu ái của
chúng ta đối với trái tim. Thở vào tôi có ý thức về trái
tim của tôi, thở ra tôi mỉm cười với trái tim của tôi.
Trái tim có thể nói: " Dữ không, bây giờ mới chú ý tới
tôi. Mấy chục năm nay tại sao không chú ý một chút cho tôi
nhờ". Mà kỳ thực chúng ta sống trong thất niệm, cho nên
chúng ta đối xử rất tàn tệ với những điều kiện hạnh
phúc của chúng ta. Chúng ta đã ăn, chúng ta đã uống những
chất rất là độc hại cho trái tim. Mỗi lần chúng ta đốt
lên một điếu thuốc để phì phà, chúng ta đang là kẻ thù
của trái tim và lá phổi của chúng ta. Hút thuốc là một
hành động rất là thù nghịch đối với phổi và tim của
mình. Mỗi khi chúng ta giận hờn, chúng ta hận thù, chúng ta
thức khuya, là chúng ta đang có những thái độ thù nghịch
đối với trái tim của chúng ta. Chúng ta đang làm hại trái
tim của chúng ta mỗi ngày mà chúng ta không biết. Bây giờ,
nhờ trở về ôm lấy trái tim của mình bằng chánh niệm,
chúng ta bắt đầu khám phá ra rằng chúng ta đã không dễ
thương với trái tim của chúng ta, và tự nhiên chúng ta trở
thành giác ngộ. Chúng ta biết rằng từ nay về sau mình nên
và không nên làm cái gì để cho trái tim của mình dễ thở,
tại vì đó là một trong những điều kiện căn bản của
hạnh phúc và an lạc của mình.
Thở
vào tôi có ý thức về lá gan của tôi, thở ra tôi mỉm cười
với lá gan của tôi. Lá gan của mình có thể là bốn năm
năm nay đang gửi cho mình một thông điệp cầu cứu: "Ông
ơi, ông đừng uống rượu nữa, tôi khổ lắm rồi". Mình
không có nghe. "Ông ơi, ông đừng ăn nhiều chất mỡ quá,
tôi khổ lắm rồi, ông có nghe không?" Vì mình sống trong thất
niệm, mình không bao giờ nghe được thông điệp của lá gan
của mình. Bây giờ mình thực tập: thở vào tôi ý thức về
lá gan của tôi; thở ra tôi mỉm cười với lá gan của tôi.
Chánh niệm đưa mình tới sự tỉnh thức và mình nhận ra
được lá gan của mình trong tình trạng hiện tại. Mình bắt
đầu nghe được tiếng lá gan của mình, và mình bắt đầu
biết rằng lá gan của mình nó muốn mình ngưng rượu và ngưng
ăn những chất béo quá nhiều.
Thực
tập chánh niệm là thực tập thương yêu và hiểu biết.
Khi mình hiểu được tình trạng của người mình thương,
tự nhiên mình có thể thương được. Ðã thương rồi, mình
có thể làm được những điều mà trước kia mình không làm
được. Lá gan của tôi ơi, tôi biết là em đang có mặt đó,
tôi biết là em đang đau khổ, và tôi sẽ cố gắng để cho
em đừng đau khổ nữa. Lá gan như vậy đâu có khác gì một
người mà mình thương! Người thương của mình có thể đang
chết dần chết mòn vì mình đang làm khổ người đó. Mình
nghĩ là mình thương, nhưng mình chưa biết cách thương, càng
thương càng làm cho người đó đau khổ. Cũng như con của
mình, mình tin chắc một trăm phần trăm mình đang làm những
điều để cho nó có hạnh phúc. Nhưng có thể mình đang làm
cho con của mình cực kỳ đau khổ mà mình không biết. Mình
làm nhân danh tình thương, nhưng người con của mình đang chết
vì tình thương đó. Vì vậy mình phải nhìn cho kỹ. Mình phải
thấy được, phải hiểu được tình trạng của người mình
thương.
Trong
đạo Bụt, chúng ta học được rằng cái thương đích thực,
true love, được làm bằng cái hiểu. Nếu không hiểu
thì không thể thương được. Càng thương mình càng làm cho
người mình thương đau khổ. Cái hiểu, danh từ là trí; cái
thương, danh từ là bi. Trí và bi viên mãn. Trí và bi đi đôi
với nhau. Understanding and love are two aspects of the same thing.
Nếu mình thương người đó mà mình không hiểu được những
khó khăn, những đau khổ, những cái kẹt của người đó,
mình không thấy được những ước mơ sâu sắc của người
đó, thử hỏi làm sao mình có thể thương được người đó
và làm cho người đó có hạnh phúc. Càng thương người kia
thật nhiều, người kia càng khô héo, càng chết dần chết
mòn. Cho nên mình phải có thì giờ, mình phải có mặt thật
sự, rồi mình chiếu ánh sáng của chánh niệm vào người
mình thương. Có thể mình có ý chí muốn thương và muốn
làm cho người đó có hạnh phúc, nhưng vì mình chưa hiểu
được, chưa thấy được, cho nên mình đã không thương mà
mình còn làm cho người đó khổ. Mình đã làm khổ trái tim
của mình. Mình đã làm khổ lá gan của mình. Và biết đâu
mình đã làm khổ rất nhiều bộ phận khác trong cơ thể của
mình, mà mình vẫn tiếp tục và nghĩ rằng mình đang thương
mình.
Ðức
Thế Tôn có nói rằng phần lớn người ta nghĩ rằng mình
là người thương số một của mình. Nhưng nếu nhìn cho kỹ,
mình có thể đang là kẻ thù số một của mình. Ðó là câu
nói của đức Thế Tôn nói với vua Ba Tư Nặc. Và xin quý
vị suy nghĩ. Mình có thể nghĩ rằng mình là người thương
số một của mình. Nhưng nếu nhìn kỹ, mình có thể khám
phá ra rằng mình có thể đang là kẻ thù số một của chính
mình. Mình đang là người làm cho mình khổ nhất trên đời.
Nếu mình cho mình là một người thương đích thực, mình
là người cha, người chồng, người mẹ, hay người con, nếu
mình nghĩ rằng mình có tình thương đích thực, thì mình đừng
có chắc lắm. Mình phải trở về để nhìn cho kỹ cách mình
thương, cách mình hiểu, rồi mình sẽ thấy rằng khi chúng
ta không hiểu được người ta thương, chúng ta không thể
nào thực sự thương và làm cho người kia có hạnh phúc.
Tôi
là một người rất sợ trái sầu riêng. Nếu quý vị thương
tôi mà ép tôi ăn sầu riêng thì quý vị làm cho tôi rất khổ.
Con của quý vị cũng vậy. Nếu quý vị không hiểu con, thì
càng thương con quý vị càng làm khổ con. Nếu quý vị không
hiểu chồng, càng thương chồng quý vị càng làm khổ chồng.
Vì vậy cái hiểu là chất liệu để làm ra cái thương. Tôi
đề nghị là chiều hôm nay quý vị về nhà thực tập ngồi
độ chừng ba bốn phút, quý vị thực tập hơi thở chánh
niệm, thở vào tôi biết là tôi đang thở vào, thở ra tôi
biết là tôi đang thở ra. Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra
miệng mỉm cười chừng ba bốn phút. Hoặc là quý vị thực
tập đi thiền hành, đi từng bước vững chãi, thảnh thơi.
Rồi quý vị tới với người thương của quý vị và hỏi
một câu. Người thương của quý vị có thể là con trai hoặc
con gái của quý vị, có thể là người hôn phối của quý
vị. Quý vị hỏi: "Em ơi, em có nghĩ rằng anh hiểu em không?
Trong khi anh thương em, anh có làm em đau khổ không?" Hỏi thử
đi. Có thể quý vị chưa bao giờ dùng ngôn từ như vậy, chưa
bao giờ hỏi những câu hỏi như vậy. Nhưng đó là những
câu hỏi rất quan trọng vì có thể trong năm năm hoặc mười
lăm năm vừa qua, mình đang làm cho người thương mình đau
khổ mà mình không biết. "Darling don't you think that I understand
you enough? Do you think that by loving you I'm making you suffer?"
Hỏi như vậy đi rồi quý vị sẽ thấy. Có thể sau khi nghe
câu hỏi đó, người mình thương bắt đầu khóc nức nở
vì đã chịu đựng bao nhiêu năm. Người mình thương đã không
hiểu gì mình hết, đã ép mình làm những cái mà mình rất
đau khổ.
Tôi
còn nhớ hồi đó tôi còn trẻ lắm, tôi đang tụng kinh Pháp
Hoa. Tôi tụng không nổi vì trên bàn thờ có một trái sầu
riêng. Tôi không tập trung tâm ý được để tụng cho xong
phẩm Pháp Hoa. Cuối cùng tôi đứng dậy và lấy cái chuông
úp trái sầu riêng lại. Sau khi tụng hết phẩm Pháp Hoa, tôi
giải phóng trái sầu riêng. Bữa đó tôi tụng bằng mõ chứ
không tụng bằng chuông. Nếu quý vị nói rằng tội nghiệp
thầy Nhất Hạnh quá, đi dạy nhiều quá chắc là cực lắm,
bây giờ phải bắt thầy ăn trái sầu riêng, tôi sẽ đau khổ
vô cùng. Tôi nhớ có một bữa trai tăng, tôi đang ôm bình
bát với các thầy khác thì có một vị thí chủ tới. Họ
có xôi sầu riêng và rất lấy làm hạnh phúc được cúng
dường thầy xôi sầu riêng. Từ khi người đó chưa tới gần,
tôi đã biết cái đó là cái gì rồi. Tôi rất sợ nhưng không
có lý mình nói tôi không nhận. Người đó đang có niềm vui
rất lớn là được cúng dường một thứ xôi rất ngon và
rất quí. Khi vị đó bỏ vào bình bát của tôi miếng sầu
riêng, tôi rất đau khổ, nhưng không dám nói ra vì sợ mất
niềm vui của người đó. Từ đó về sau tôi không ăn được
miếng nào nữa hết.
Cũng
vậy, nếu chúng ta không hiểu được người ta thương, chúng
ta không thể nào đem lại hạnh phúc cho người ta thương được.
Người thương phải giúp nhau. Người thương phải biết hỏi
nhau: "Tôi thương em như vậy có được chưa? Tôi thương em
như vậy có làm cho em đau khổ không? Em nói đi, em giúp tôi
đi". Nếu mình nói với một tâm trạng rất là thành khẩn,
với ngôn từ rất hòa ái, người kia sẽ nói cho mình biết.
Tôi nghĩ là quý vị thương con. Chắc chắn là quý vị thương
rồi. Cha mẹ nào mà không thương con. Loài thú vật còn biết
thương con nó huống hồ là loài người. Chắc chắn là chúng
ta thương con chúng ta rồi.
Nhưng
cách mà chúng ta thương con có làm cho con chúng ta có hạnh
phúc không? Ðó là câu hỏi. Chúng ta phải nhìn lại cách chúng
ta thương con. Là người cha hay người mẹ, chúng ta có thể
vẫn hỏi con chúng ta: "Nầy con, cha rất muốn thương con và
muốn cho con có hạnh phúc, muốn cho con nên người, nhưng con
hãy nói cho cha biết là cha có hiểu được con không? Cha có
hiểu được những khó khăn, những khổ đau, những chỗ kẹt
của con không? Cha có thấy được những ước muốn sâu sắc
nhất của con không? Con hãy nói lên để cho cha hiểu vì cha
biết rằng nếu cha không hiểu thì cha không thể nào thương
con được và làm cho con có hạnh phúc". Nếu chúng ta biết
nói với con ta bằng ngôn từ như vậy, chúng ta sẽ là người
thương đích thực. Chúng ta sẽ lắng nghe. Ðiều nầy cũng
đúng với vợ, với chồng, với anh, với em, với bạn của
mình, vì chúng ta học được bài học là nếu không hiểu
thì không thể nào thương được. Cái thương được làm bằng
cái hiểu.
Chúng
ta biết rằng hạnh phúc đích thực là khi chúng ta đã được
hiểu và đã được thương. Chúng ta ai cũng đói hai cái đó.
Người nào cũng đói được hiểu và đói được thương.
Nhưng chúng ta phải hỏi câu hỏi rằng chúng ta có thể chế
tác được hai chất liệu đó không? Chúng ta có khả năng
hiểu và khả năng thương hay không? Trên thế giới người
nào cũng cần được hiểu và cần được thương. Sự thực
tập giáo pháp của đức Thế Tôn là sự thực tập để chế
tác ra hai chất liệu đó. Chất liệu hiểu tức là prajna
(bát nhã) và chất liệu thương tức là karuna (từ bi).
Vì vậy chúng ta phải học những phương pháp để có thể
chế tác được những chất liệu đó.
Muốn
thực tập chúng ta phải có thầy có bạn để chỉ dẫn cho
chúng ta đường đi nước bước, để làm thế nào để chúng
ta có thể về với giây phút hiện tại để chúng ta nhận
diện được những điều kiện hạnh phúc đang có trong giây
phút hiện tại. Khi đã được nuôi dưỡng bằng những chất
liệu của hạnh phúc rồi, chúng ta mới có thể phân phát,
chia sẻ cái hạnh phúc đó cho những người khác. Nếu chúng
ta không trở về được giây phút hiện tại, nếu chúng ta
tiếp tục chạy theo ảo ảnh của hạnh phúc, nếu chúng ta
tiếp tục chạy theo đối tượng của sự thèm khát lợi danh
và sắc dục, chúng ta sẽ làm tiêu mòn thân thể, sức khỏe,
và tâm hồn của chúng ta. Do đó chúng ta không có gì hiến
tặng cho người ta thương cả.
Hiện
pháp lạc trú nghĩa là trở về với giây phút hiện tại để
khám phá và nhận diện được những điều kiện của hạnh
phúc đang thật sự có mặt. Khi nhận diện được rồi, chúng
ta sẽ tự khắc có hạnh phúc liền lập tức. Có một hôm
tôi đi lên đồi. Ở trên Xóm Thượng, tôi có một cái am
nhỏ tên là Thất Ngồi Yên, có một con đường đưa lên đồi.
Tôi bước từng bước vững chãi, thảnh thơi, chân dẫm lên
trên những lá vàng của mùa thu. Chỉ cần đi 30 bước tôi
đã lên được chỗ đồi đó. Mặt trăng tròn hiện ra rất
là mầu nhiệm. Mỗi bước như vậy tôi tiếp xúc được với
mầu nhiệm của sự sống có trong tôi và chung quanh tôi. Mỗi
bước như vậy đều có thể đem lại hạnh phúc. Khi tôi thấy
mặt trăng xuất hiện, tôi nhìn lên và tôi thở theo phương
pháp chánh niệm. Thở vào tôi biết mặt trăng có đó; thở
ra tôi mỉm cười với mặt trăng. Tôi thực tập câu mà tôi
vừa mới chia sẻ với quý vị. Breathing in, I know you are
there, the bright moon; breathing out, I feel very happy.
Mặt
trăng tròn là một trong những mầu nhiệm của sự sống. Nếu
mình có mặt, mặt trăng sẽ có mặt, và hàng triệu điều
kiện khác của hạnh phúc cũng sẽ có mặt. Mình dư sức để
có hạnh phúc. Tại sao mình phải đuổi theo những đối tượng
của sự thèm khát? Khi đã có khả năng sống hạnh phúc trong
giây phút hiện tại rồi, chúng ta biết rằng năng lượng
chánh niệm của chúng ta đã đủ để chúng ta có thể ôm
ấp những nỗi khổ và niềm đau của chúng ta, và chuyển
hóa những nỗi khổ và niềm đau đó. Khi lá gan của chúng
ta đang khổ, nếu chúng ta biết dùng năng lượng chánh niệm
để ôm lá gan, lá gan sẽ bớt đau khổ nhiều. Chánh niệm
là năng lượng có khả năng giúp mình hiểu và giúp mình thương.
Khi quý vị có một vùng đau nhức trong cơ thể, thường thường
chúng ta đi kiếm một vị bác sĩ để người bác sĩ đó cho
chúng ta một thứ thuốc uống vào để trừ sự đau nhức,
và hy vọng sự đau nhức đó sẽ đi. Nhưng chúng ta cũng có
thể giúp bác sĩ bằng cách sử dụng phương pháp chánh niệm.
Thở vào, chúng ta để ý tới vùng đau nhức đó; thở ra,
chúng ta gửi nụ cười và niềm ưu ái của chúng ta tới vùng
đau nhức đó. Nếu chúng ta tiếp tục làm như vậy, chúng
ta sẽ làm cho sự đau nhức thuyên giảm, sự trị liệu đi
tới rất là mau chóng. Chúng ta biết ôm ấp lấy nỗi khổ,
niềm đau ở trong cơ thể chúng ta bằng sự ưu ái của chúng
ta mà chất liệu của nó là chánh niệm thì chúng ta có thể
chữa trị được những khổ đau ở trong cơ thể bằng năng
lượng của chánh niệm. Và khi chúng ta có những vùng đau
nhức ở trong tâm hồn, chúng ta cũng có thể làm như vậy
vì những vùng đau nhức đó cần tới sự chú ý của chúng
ta. Khi chúng ta có năng lượng chánh niệm rồi, chúng ta có
thể đưa năng lượng chánh niệm đó ôm lấy niềm đau nỗi
khổ. Khi chúng ta ôm lấy niềm đau nỗi khổ đó bằng chánh
niệm, niềm đau nỗi khổ đó sẽ từ từ thuyên giảm.
Khi
chúng ta giận, thường thường chúng ta muốn bớt khổ. Khi
chúng ta giận ai, nhất là người mà chúng ta thương, chúng
ta đau khổ vô cùng. Nếu người khác nói điều đó và làm
điều đó, chúng ta sẽ ít giận hơn. Nhưng tại vì người
mà mình thương nhất ở trên đời đã nói điều đó và làm
điều đó, chúng ta đau khổ gấp mười lần. Thường khi đau
khổ như vậy, ta muốn làm cái gì đó để cho ta bớt khổ.
Chúng ta muốn có một sự thuyên giảm (relief). Và cách
chúng ta hành xử là chúng ta nói một câu rất nặng, làm một
hành động rất nặng để trừng phạt người kia. Chúng ta
nghĩ rằng trừng phạt người kia thì tự nhiên ta bớt khổ.
Nhưng
thường thường mỗi khi ta trừng phạt người kia, người
kia sẽ khổ hơn. Khi khổ hơn rồi, người kia cũng tìm cách
để bớt khổ. Người kia sẽ nói lại một câu nặng hơn
nữa làm ta khổ thêm, và chúng ta leo thang trong sự làm khổ
nhau. Chúng ta có nhiều người đã lớn rồi, có người đã
trên 50 tuổi, 60 tuổi rồi, và chúng ta vẫn theo cái phương
pháp con nít đó, nghĩa là khi khổ đau, khi giận hờn, chúng
ta cứ nghĩ rằng cứ nói một câu cho thật nặng làm cho người
kia khổ cho nhiều thì mình sẽ bớt khổ. Chúng ta vẫn tin
một cách ngây thơ như vậy, dù chúng ta đã biết rất rõ
và đã có kinh nghiệm rằng làm như vậy chỉ gây thêm sự
đổ nát và làm cho cả hai bên khổ.
Ðức
Thế Tôn dạy chúng ta đừng nên làm như vậy. Khi giận người
kia, mình biết rằng mình không nên nói hoặc làm gì hết.
Quý vị hãy phát nguyện với đức Thế Tôn đi: "Lạy đức
Thế Tôn, con xin nguyện với ngài là từ nay trở về sau, mỗi
khi giận thì con sẽ không nói gì hết và con không làm gì
hết. Con trở về và dùng chánh niệm của con ôm lấy cái
giận của con". Ðó gọi là thực tập chánh niệm về cái
giận, mindfulness of anger. Vì cơn giận là một vùng năng
lượng có thể gây đổ vỡ, nếu mình là một người tu,
mình phải làm thế nào để chế tác một nguồn năng lượng
khác, nguồn năng lượng của chánh niệm, và dùng nguồn năng
lượng chánh niệm đó ôm lấy nguồn năng lượng của sự
giận hờn. Trong khi thực tập như vậy, mình phải tiếp tục
đi thiền hành, phải tiếp tục hơi thở có ý thức, để
có thể duy trì được nguồn năng lượng thứ hai để ôm
ấp lấy nguồn năng lượng thứ nhất. Cũng giống như khi
luộc khoai hay luộc bắp, quý vị phải để lửa ít nhất
là hai mươi phút hay là hai mươi lăm phút thì khoai bắp mới
chín được, mà ở trên phải đậy nắp.
Thực
tập chánh niệm cũng vậy. Nếu mình có một cơn giận mà
chỉ đi thiền hành chừng năm hoặc mười bước rồi mình
nghỉ, thì đâu có đủ sức mà ôm ấp cái giận. Cho nên chừng
nào còn giận, chừng đó mình phải đi thiền hành và phải
thực tập hơi thở có ý thức. Ðó là lời căn dặn của
đức Thế Tôn. Nếu quý vị tự nhận mình là đệ tử của
đức Thế Tôn, quý vị phải làm như vậy, nghĩa là khi mình
giận lên, mình phải lập tức trở về thực tập hơi thở
chánh niệm và bước chân chánh niệm. Hơi thở và bước chân
chánh niệm liên tục sẽ chế tác ra chất liệu chánh niệm
và chúng ta sẽ dùng chất liệu chánh niệm đó ôm lấy chất
liệu của hờn giận. Embracing your anger with the energy of mindfulness.
Cũng như căn phòng của mình, khi đi xa về mình sẽ thấy lạnh
buốt. Mình tới mở máy phóng nhiệt (radiator) ra. Sau
khi lò sưởi được mở ra, những luồng không khí nóng được
chế tác và đi ra. Những luồng không khí nóng đó không đánh
lộn với không khí lạnh. Chúng tới ôm lấy những luồng
không khí lạnh và sau đó nửa giờ thì căn phòng mình ấm
lên. Cũng vậy, khi mình có năng lượng của cái giận, cái
buồn, mình phải chế tác ra một năng lượng khác, năng lượng
của chánh niệm, và dùng năng lượng của chánh niệm ôm lấy
năng lượng của cái giận, cái buồn. Nửa giờ đồng hồ
sau mình sẽ bớt giận, mình sẽ hết giận. Ðó là sự thực
tập.
Nếu
đích thực mình là con của đức Thế Tôn, mình phải hành
sử như vậy: mỗi khi mình giận không được nói gì hết,
không được làm gì hết, tại vì nói và làm trong khi giận
sẽ gây đổ vỡ. Mình phải trở về chăm sóc cái giận của
mình. Taking care of your anger. You have to go back to yourself and
take care of your anger. Ở Làng Mai có phương pháp như thế
này: khi mình giận, mình phải thực tập. Muốn cho cái giận
của mình xuống mau, trong vòng 24 giờ đồng hồ mình phải
cho người kia biết là mình đang giận, đang khổ. Ðôi khi
sự thực tập của mình chưa vững vàng, để quá 24 giờ đồng
hồ, cơn giận sẽ làm độc trong tâm của mình. Vì vậy trước
thời hạn 24 giờ, mình phải nói cho người kia biết là mình
đang giận, đang khổ, và phải nói bằng ngôn từ rất bình
tĩnh. Nếu tới 24 giờ đồng hồ rồi mà chưa khôi phục lại
sự bình tĩnh, sợ trong giọng nói của mình có sự oán trách,
mình sẽ lấy một miếng giấy và viết: "Darling, I am angry
at you. I suffer. Anh ơi, em đang giận anh và em đang khổ".
Mình sẽ đưa miếng giấy cho người đó trước thời hạn
24 giờ đồng hồ để cho người đó biết. Sau khi đưa tờ
giấy rồi mình sẽ bớt khổ, vì nếu mình đau khổ mà người
thương của mình không biết, mình còn tiếp tục đau khổ
lâu dài. "Em ơi, anh đang giận em, anh đang khổ, và anh muốn
em biết điều đó".
Nếu
quý vị là một người thực tập giỏi hơn, quý vị thêm
một câu thứ hai: "anh đang cố gắng thực tập theo lời thầy
dạy, anh đang đi thiền hành đây, anh đang thực tập hơi thở
đây, anh đang cố gắng ôm ấp cái giận của anh bằng chánh
niệm đây". Nếu quý vị viết được câu thứ hai, người
kia sẽ nể quý vị lắm. Và nếu giỏi hơn nữa, quý vị viết
thêm câu thứ ba: "em hãy giúp anh" hay "anh hãy giúp em". Phương
pháp này rất hay và có thể dùng cho cha con nữa. Nếu con giận
cha, con cũng có thể làm như vậy; cha giận con, cha cũng có
thể làm như vậy. Vì tất cả chúng ta là đệ tử của đức
Thế Tôn, chúng ta phải làm theo lời đức Thế Tôn. "Con ơi,
ba đang giận con, ba đang khổ, ba muốn con biết điều đó".
Tại sao mình không thể làm như vậy được. Con của mình
là người thương của mình mà. "Con ơi, ba đang giận con, ba
đang khổ, ba muốn con biết điều đó". Nếu mình giỏi hơn,
mình thêm câu thứ hai: "ba đang cố gắng thực tập theo lời
thầy dạy". Nếu mình giỏi hơn nữa, mình thêm vào câu thứ
ba: "con hãy giúp ba", tức là chúng ta hai người đều thực
tập. Còn nếu quý bà mà giận quý ông, trong vòng 24 giờ đồng
hồ, quý bà phải đưa cho quý ông thông điệp: "Anh ơi, em
đang giận anh, em đang khổ, em muốn anh biết điều đó". Và
quý bà có thể thêm câu thứ hai: "em đang thực tập, em đang
cố gắng". Nếu giỏi hơn nữa, quý bà thêm câu thứ ba: "anh
giúp em đi". Và nếu có nhiều ký lô, quý bà có thể thêm
một câu: "Anh liệu hồn". Nhưng câu này chỉ nên xài khi mình
có nhiều ký lô lắm. Nếu không có nhiều ký lô, ông sẽ
nói: "Em đi đâu thì em đi đi".
Ở
trong nhà của chúng ta, chúng ta nên thiết lập một thiền
phòng nho nhỏ, một phòng thở (breathing room). Trong nhà của
chúng ta có đủ phòng cho tất cả mọi thứ, có phòng khách,
có phòng ăn, có phòng ngủ, có nhà bếp, nhưng chúng ta không
có một chỗ nào để chúng ta khôi phục được sự an lạc,
tĩnh tâm của chúng ta. Vì vậy trong thế kỷ thứ 21, mỗi
gia đình gọi là văn minh phải có một căn phòng như là một
chánh điện nho nhỏ. Khi mình có khổ đau và mất đi sự thăng
bằng, hoặc khi mình bất an, mình vô đó và thực tập. Trong
căn phòng đó mình có thể có một tượng Phật nho nhỏ và
một cái chuông nho nhỏ. Mỗi khi đau buồn, giận hờn và bất
an, mình phải tìm vào căn phòng đó, xá tượng Bụt, rồi
mình ngồi xuống.
Trong
căn phòng đó không cần phải trang trí nhiều. Chỉ cần có
một cái bàn nho nhỏ để một bình bông và một cái chuông.
Nếu có tượng Phật đẹp thì mình nên thỉnh, không thì mình
nên chờ đợi chớ đừng thỉnh bất cứ một tượng Phật
nào về. Phải đợi khi thấy được một tượng Phật rất
đẹp và hoan hỷ, mình mới thỉnh về mà thôi. Mỗi khi mình
đau buồn, thất vọng, chán nản, mình phải đi vào trong đó,
thỉnh chuông, và thở. Thỉnh một tiếng chuông rồi phải
thở ba hơi: thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười,
hoặc là lắng lòng nghe, lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền
diệu đưa về nhất tâm. Thỉnh ba tiếng chuông chúng ta sẽ
có cơ hội thở chín hơi thở, và tâm của chúng ta sẽ có
cơ hội lắng đọng lại.
Ví
dụ, ông vừa nói một câu gì có vẻ không dễ thương, làm
cho bà bị tổn thương nặng. Thay vì nói lại một câu khác
hoặc tỏ lộ sự giận giữ, bà đứng dậy đi thiền hành
(tức là đi từng bước vững chãi, theo dõi hơi thở của
mình) vào phòng thở. Bà mở cửa phòng thở đó ra, ngồi xuống,
thỉnh chuông và thở. Như vậy, ông sẽ biết là bà đang khổ
và đang giận mình. Ông sẽ biết rằng ông đã nói, đã làm
gì cho bà khổ. Nếu bà làm gì hoặc nói gì làm cho ông khổ,
thay vì la mắng hay nói nặng bà, ông cũng đứng dậy và thong
thả, nhẹ nhàng bước từng bước về phòng thở. Ông mở
cửa ra và đi vào trong đó. Phòng thở đó là lãnh thổ của
đức Thế Tôn. Khi bước vào, mình bước từng bước trang
nghiêm, trân trọng, như bước vào trong Tịnh Ðộ, và mình
đóng cửa rất nhẹ nhàng.
Mọi
người trong gia đình phải đồng ý với nhau là khi có một
người đang thực tập trong phòng thở, đang thỉnh chuông,
dưới bếp cũng như trong phòng khách mọi người phải im lặng,
tôn trọng sự thực tập đó. Nếu đang coi TV mà nghe tiếng
chuông của người đang thực tập trong phòng thở, mình phải
tắt TV đi. Nếu đang làm việc ở dưới bếp mà nghe có người
thỉnh chuông và đang thở, mình phải nhẹ tay lại đừng làm
ồn. Hai vợ chồng và những đứa con phải cùng ký với nhau
một hiệp ước là tất cả phải tôn trọng phòng thở. Ðó
là tòa đại sứ của đức Thế Tôn ở trong nhà của mình.
Mỗi khi có một người trong gia đình sử dụng phòng thở,
thỉnh chuông để thở, tất cả những người khác phải giữ
im lặng, và nếu có thể được thì cũng theo dõi hơi thở
và thực tập với người kia.
Mỗi
buổi sáng trước khi ông đi làm, mặc áo và chuẩn bị xong
rồi, ông vào phòng thở và lạy đức Thế Tôn ba lạy, rồi
ngồi xuống, thỉnh tiếng chuông, thở ba hơi thở, rồi ông
đi làm. Và ông dạy cho cháu trước khi cháu đi học, cặp
táp đầy đủ, mặc áo đầy đủ rồi, cháu đi vào trong phòng
thở, cháu lạy đức Thế Tôn ba lạy, ngồi xuống, thỉnh
một tiếng chuông, và thở trước khi đi học. Ðó là một
sự thực tập rất là đẹp. Thường thường chúng ta hay chúc
nhau là have a good day, have a wonderful day, have a great day.
Nhưng đó là sự chúc tụng thôi. Nếu mỗi buổi sáng chúng
ta bắt đầu ngày của chúng ta bằng sự thực tập hơi thở
và những bước chân chánh niệm, chúng ta thực sự bắt đầu
ngày của chúng ta rất là khôn ngoan, khéo léo, và đẹp đẽ.
Rồi
buổi tối trước khi đi ngủ, tại sao chúng ta không kéo nhau
vào phòng thở để lạy và để nghe chuông. Khi một gia đình
cùng ngồi trong phòng thở để thực tập tiếng chuông và
hơi thở, tôi thấy đó là một cảnh tượng rất là đẹp.
Quý vị có thể có nhiều tiền. Quý vị có thể mua một bức
tranh Van Gogh mấy trăm ngàn đô về treo trong nhà. Nhưng bức
tranh đó vẫn không đẹp bằng cảnh tượng cả nhà ngồi
im lặng, lắng nghe tiếng chuông, và thở với nhau. Ðó là
một khung cảnh rất đẹp, và chúng ta tạo ra một môi trường
rất lành mạnh cho con cháu chúng ta được nuôi dưỡng và
lớn lên trong truyền thống tâm linh của đất nước chúng
ta.
Thưa
quý vị, kỳ này sang Bắc Mỹ, chúng tôi may mắn được có
gần bốn mươi các vị xuất gia tháp tùng trong những khóa
tu và những ngày chánh niệm. Kỳ này chúng tôi đã tổ chức
nhiều khóa tu cho đồng bào và cho người Hoa Kỳ. Chúng tôi
đã bắt đầu bằng một khóa tu tại miền nam California tại
Camp Sealy. Vì số trẻ em quá đông, chúng tôi phải giảng bằng
tiếng Anh trong phần đầu để cho các em hiểu và thực tập
được. Phần thứ hai của pháp thoại chúng tôi mới nói tiếng
Việt, và khóa tu rất là hạnh phúc.
Chúng
tôi cũng đã tổ chức một khóa tu khác cho đồng bào miền
bắc Cali tại Camp Swig, Saratoga. Vì khóa tu này trễ hơn khóa
tu kia nên không có trẻ em, và khóa tu rất sâu sắc, rất hạnh
phúc. Rồi chúng tôi tổ chức một khóa tu cho người Mỹ tại
University of California tại Santa Barbara, có 1300 người tham dự
trong khóa tu. Vì cư xá đại học có nhiều chỗ ở, chúng
tôi có thể mở một khóa tu lớn như vậy. Chúng tôi đã đi
thiền hành ở một bãi biển rất là đẹp và có sự chuyển
hóa rất lớn. Phần lớn những thiền sinh tới tham dự khóa
tu đó là những đọc giả sách của chúng tôi xuất bản bằng
tiếng Anh.
Vào
ngày chót của khóa tu, nếu quý vị trông thấy sẽ rất cảm
động, trên 600 người đã quỳ lên để tiếp nhận Tam Quy
và Ngũ Giới. Tại miền bắc, chúng tôi có tổ chức một
khóa tu cho 1200 người Mỹ tại Omega Institute ở Rhinebeck, miền
bắc tiểu bang Nữu Ước. Khóa tu đó mới chấm dứt cách
đây có mấy hôm thôi, và số người quy y và thọ năm giới
là năm trăm mấy chục người. Nói như vậy không có nghĩa
là những người kia không thọ giới. Những người kia, rất
nhiều người đã thọ Tam Quy và Ngũ Giới trong những khóa
tu trước.
Tại
New York city, chúng tôi có tổ chức một buổi thuyết giảng
cho người Mỹ tại Lincoln Center có 2500 người đến tham dự.
Tại Santa Monica, miền nam Cali, có một buổi thuyết giảng
cho 3000 người Mỹ.
Tại
thành phố Berkeley chúng tôi đã có một buổi thuyết giảng
cho 4000 người Mỹ ngồi đầy chật ních thính đường. Có
một ông nhà báo tờ San Francisco Chronicle tới nghe buổi thuyết
giảng ấy. Sau đó ông ta tới tu viện Kim Sơn để phỏng vấn
tôi. Ông ta nói rằng tại sao có 4000 người mà im lặng tới
cái mức đó, chắc quý vị phải đè nén dữ lắm mới có
thể im lặng như vậy. Tôi nói rằng đâu có đè nén gì đâu,
sự im lặng đó rất là dễ chịu. Lâu lâu mới được im
lặng như vậy. Ông ta đã đăng bài phỏng vấn đầy hết
một trang tờ San Francisco Chronicle.
Có
một ngày tu ở Spirit Rock ở miền bắc California cho 2800 người
từ 7 giờ sáng tới 6 giờ chiều, rất hạnh phúc. Kỳ này
tính ra những người tơi tu học trực tiếp với chúng tôi
trong những khóa tu là 25000 người. Khóa tu chót chúng tôi sẽ
cống hiến cho người Hoa Kỳ là khóa tu cho các nhà tâm lý
trị liệu (psycho-therapists) ở tại Key West ở Florida.
Sau
khi đã có ngày quán niệm và buổi thuyết giảng cho người
Hoa Kỳ tại Washington DC, chúng tôi sẽ đi Florida để hướng
dẫn khóa tu về tâm lý trị liệu của đạo Bụt, vì nền
tâm lý học của đạo Bụt rất sâu sắc và mầu nhiệm. Có
khoảng 600 người hoặc là hơn 600 người thuộc mọi giới,
bác sĩ, y tá, tâm lý trị liệu, và những người trong giới
gọi là helping profession, sẽ tới học về phương pháp
tâm lý học áp dụng của đạo Bụt để có thể thành công
hơn trong việc chữa trị và săn sóc bịnh nhân của họ. Xong
khóa tu đó chúng tôi sẽ bay về Pháp.
Thích
Nhất Hạnh, 1997
Source:
Lang Mai (Plum Village) Home Page, http://www.langmai.org/