Pháp
Tu Trường Thọ
của
Phật Vô Lượng Thọ
Vào
lúc kết thúc pháp tu p’howa, Phật A Di Đà tan thành ánh sáng
và hòa tan vào chúng ta. Ngay tức khắc, chúng ta hóa thân thành
Phật Vô Lượng Thọ – vị Phật của trường thọ, tức
phương diện báo thân của Phật A Di Đà – vị mang sắc đỏ
và sở hữu những đức tướng lớn và nhỏ của một vị
giác ngộ. Trang phục bằng lụa của ngài và các ngọc châu
trên đó thì tương tự như của Đức Quan Aâm. Ngài ngồi
kiết già trên một hoa sen, đĩa mặt trời và đĩa mặt trăng.
Hai tay ngài đặt trong vị trí quân bình thiền định, và ngài
giữ một bình trường thọ chứa đầy dược chất trường
sinh.
Trong
tim ngài là một hộp gồm một đĩa mặt trăng nằm trên một
đĩa mặt trời, chính giữa đó là mẫu tự Hri màu đỏ. Các
mẫu tự màu đỏ của bài chú Phật Vô Lượng Thọ được
sắp xếp theo hướng ngược chiều kim đồng hồ trên đường
viền đĩa mặt trời, hướng ra ngoài, khoảng cách đều nhau.
Khi chúng ta tụng câu chú, năm ánh sáng chiếu rực cả mười
hướng, bao trùm hết các cõi tịnh độ của các vị phật
và bồ tát, mang phẩm vật cúng dường tới chư vị. Rồi
ánh sáng trở về thành ân sủng của chư vị và lại ngấm
vào chúng ta như Phật Vô Lượng Thọ. Rồi, theo thứ tự:
Ánh
sáng trắng chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường tới
cõi tịnh độ của Phật Đại Nhật (Vairochana), người tượng
trưng cho thân giác ngộ. Tất cả ân sủng của thân kim cang,
hình tướng không tách rời khỏi tánh không, và trong
sự nhận biết về không gian căn bản của các hiện tượng
(pháp giới, Skt. dharmadhatu) sinh khởi từ đức phật và được
tan biến vào người chúng ta, làm trong sạch tâm tham chấp
trong tấm thân bình thường của chúng ta, làm cho chúng ta chứng
ngộ về tánh không.
Ánh
sáng đỏ chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường tới cõi
tịnh độ của Phật A Di Đà, vị biểu tượng cho lời nói
giác ngộ. Tất cả ân sủng của lời nói kim cang, âm thanh
không tách rời khỏi tánh không, và của sự nhận biết phân
biệt xuất sinh từ đức phật và được tan biến vào chúng
ta, làm trong sạch sự nhận biết bình thường, làm vững mạnh
nội nhiệt của chúng ta.
Ánh
sáng xanh da trời chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường
tới cõi tịnh độ của Phật Bất Động (còn gọi là A Súc
Phật, Akshobhya), vị biểu tượng cho tâm giác ngộ. Tất cả
ân sủng của tâm kim cương và của sự nhận biết như gương
soi xuất sinh từ đức phật và được tan biến vào chúng
ta, làm trong sạch ý thức của chúng ta, làm vững mạnh máu,
huyết dịch và các chất nước trong cơ thể chúng ta.
Ánh
sáng vàng chiếu rực và dân phẩm vật cúng dường tới cõi
tịnh độ của Phật Bảo Sinh (Ratnasambhava), vị biểu tượng
cho các phẩm chất giác ngộ. Tất cả ân sủng của các phẩm
chất kim cang và của sự nhận biết về bình đặng xuất
sinh từ đức phật và được tan biến vào chúng ta, làm trong
sạch cảm xúc, làm vững mạng da, xương và các cơ phận của
chúng ta.
Ánh
sáng xanh lá cây chiếu rực và dâng phẩm vật cúng dường
tới cõi tịnh độ của Phật Bất Không Thành Tựu (Amoghasiddhi),
vị biểu tượng cho các hoạt động giác ngộ. Tất cả ân
sủng của các hoạt động kim cang (hòa bình, tăng trưởng,
lôi cuốn, và giận dữ) và của sự nhận biết hoàn toàn
thành tựu xuất sinh từ đức phật và được tan biến vào
chúng ta, làm trong sạch các xung lực của chúng ta, làm vững
mạnh các năng lượng sinh động của chúng ta.
Các
ánh sáng câu chú chiếu sáng về trước lần nữa, tràn ngập
khắp vũ trụ, gom hết bản tính của các vật bên ngoài, rồi
các bản tính này trở lại tan biến vào chúng ta và làm vững
mạnh các phần tử trong thân chúng ta. Aùnh sáng vàng hợp
với các chất quý giá của mặt đất – vàng, châu báu, chất
khoáng – và gom các bản tính này để tan biến vào và làm
tươi mới lại làn da, xương và các cơ phận của chúng ta.
Aùnh sáng xanh hợp vào với các đại dương, thác nước và
sông hồ, với các chất lỏng thanh tịnh của cây cối, gom
các bản tính lại để làm tươi mới lại máu, huyết tương
và các chất lỏng trong người chúng ta. Aùnh sáng đỏ hợp
với các núi lửa và dòng chảy nham thạch nóng, với
vô lượng mặt trời, và gom hơi ấm lại để làm tươi mới
nội nhiệt trong thân chúng ta. Aùnh sáng xanh lá cây hợp với
và gom lại bản tính của không khí, của các luồng gió vũ
trụ, để làm vững mạnh năng lực trong người chúng ta. Ánh
sáng trắng khởi lên từ chính tánh không của chúng ta đáp
ứng với không gian căn bản của tất cả các hiện tượng
và làm tăng trưởng sự chứng ngộ tánh không.
Để
hoàn tất pháp tu trường thọ của Phật Vô Lượng Thọ, chúng
ta cho tan biến đi các hình ảnh quán tưởng, và rồi an nghỉ
trong sự nhận biết bất nhị tự nhiên. Rồi chúng ta tụng
đọc bài kinh nguyện tái sinh vào Cõi Cực Lạc cũng như các
bài kinh hồi hướng.
Mặc
dù pháp môn trường thọ của Phật Vô Lượng Thọ được
dùng như một phần của nghi quỹ p’howa, học nhân cũng có
thể thực hiện nó độc lập, mở đầu bằng các bài kệ
tam quy y và phát bồ đề tâm, kết thúc với các bài kinh nguyện
và hồi hướng. Học nhân khởi lên sự quán tưởng bằng
cách tụng đọc, “Con trở thành Phật Vô Lượng Thọ, phát
ra ánh sáng và gom hết các bản tính của đời sống, rồi
tất cả lại tan biến vào trong con,” rồi tụng đọc thần
chú.
Sự
nhấn mạnh trong pháp p’howa chuyển sang pháp tu trường thọ
của Phật Vô Lượng Thọ sau khi chúng ta đã đạt được
các dấu hiệu tốt của sự chuyển di [thần thức]. Chúng
ta nên thực tập nó bất cứ khi nào cơ thể chúng ta yếu
đi, hay là mất quân bình, hay là khi sinh lực của chúng ta
đã suy mòn. Chúng ta cũng có thể thực tập nhu thế như một
phương tiện chữa bệnh cho người khác bằng cách quán tưởng
rằng ân sủng và các bản tính căn bản tan biến vào trong
người họ. Pháp tu dựa vào ý hướng từ bi này cũng làm
thanh tịnh người tu và làm sinh khởi vô lượng công đức,
cả hai điều này là nguyên nhân của sức khỏe tốt trong
tương lai.
