Tu
Tập Pháp P’howa Chuyển Di Thần Thức
QUY
Y VÀ BỒ ĐỀ TÂM
Bài
nguyện về quy y và phát bồ đề tâm, được đọc ba lần,
mở đầu khóa tu p’howa. Chúng ta quy y Tam Bảo, công nhận
[và quy y] vị Thầy hướng dẫn là Phật Thích Ca Mâu Ni, người
đã bày tỏ một cách hoàn hảo con đường giác ngộ của
bồ tát; quy y giáo pháp của Phật, phương tiện để chúng
ta theo gương Phật; và quy y những vị theo chân Ngài, tức
tăng đoàn, như những vị đồng hành trên đường tu. Chúng
ta quy y không chỉ cho kiếp này, nhưng cho tới khi chúng ta đạt
giác ngộ, và trưởng dưỡng ý nguyện bồ đề tâm cho tới
khi, không chỉ riêng chúng ta, mà tất cả chúng sinh, thành
Phật.
Để
theo con đường của Phật Thích Ca Mâu Ni, chúng ta nguyện tu
tập không ngưng nghỉ sáu pháp toàn thiện (lục độ, hay lục
ba la mật) của bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định và trí huệ. Những pháp này là con đường của một
vị bồ tát, người thệ nguyện thành đạt giác ngộ để
làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Bài
nguyện quy y và phát bồ đề tâm, một bài nguyện tổng quát
cũng dùng cho các pháp tu khác, thiết lập một nền tảng mạnh
mẽ và đầy ý nghĩa cho pháp p’howa. Nó nhắc nhở chúng ta
rằng pháp môn p’howa lưu xuất từ di sản Phật Pháp, và
rằng những vị tu tập với chúng ta là trong tăng đoàn cao
quý. Họ gồm những vị đã nhìn qua các quan tâm về mình,
những vị đã thấy các đau khổ của người khác và khởi
tâm nguyện từ bi để cứu độ. Sự kết hợp giữa tâm nguyện
từ bi này với ước vọng đạt nguyện bằng cách giác ngộ
chính là sự khai sinh của bồ đề tâm, và ghi dấu sự
chuyển hóa của những người bình thường này trở thành
con Phật.
Pháp
môn p’howa, được tu tập với sự tỉnh thức về sự chết,
cung cấp một diễn trường mạnh mẽ cho việc thực hiện
ý nguyện bồ đề tâm. Khi chúng ta nghĩ về nỗi đau khổ
khi hấp hối – sự bất định dày đặc và nỗi buồn của
sự cắt lìa, từng sự cắt lìa một, những dây liên kết
của chúng ta với bạn hữu và gia đình, vào tài sản, vào
đặc tính cá nhân, vào chính thân xác mình – chúng ta có
hay không đã đập vỡ các quan tâm bình thường? Chúng
ta mong muốn tu tập, vừa cả do nỗi sợ hãi sự chết và
cả do niềm hy vọng rằng xuyên qua p’howa, chúng ta sẽ có
thể nhảy qua vô lượng chu kỳ sinh tử luân hồi, và được
tái sinh trực tiếp trong cõi thanh tịnh của Phật A Di Đà.
Áp dụng sáu pháp toàn thiện của bồ tát đạo vào p’howa
sẽ cung cấp phương tiện thành tựu các quyền năng phi thường
trong kiếp này, kể cả khả năng chuyển di thần thức của
những người đang hấp hối. Tận cùng, thành tựu sáu pháp
tu tập này dẫn chúng ta không chỉ tới nơi cõi tịnh độ
cực lạc mà còn tới sự toàn giác.
Chúng
ta bày tỏ hạnh bố thí xuyên qua pháp p’howa bằng cách dâng
hiến thì giờ và nỗ lực để tu tập, qua việc học cách
thực thi pháp p’howa cho người khác, và qua tâm nguyện chúng
ta muốn làm lợi ích cho mọi chúng sinh.
Chúng
ta trưởng dưỡng hạnh trì giới bằng cách ngồi với tư
thế tốt và bằng cách làm từng bước tu tập tốt, và qua
ý nguyện muốn gạt bỏ qua một bên mọi sinh hoạt bên lề,
và tập trung vào pháp p’howa trong các thời thực tập, khi
những người khác đang hấp hối, và vào giây phút họ từ
trần.
Nhẫn
nhục thì cần thiết khi chúng ta gặp các trở ngại tu tập,
như thiếu thoải mái khi ngồi và trong tiến trình tìm đạt
các dấu hiệu thể lý (LDG: dấu hiệu cụ thể cho thấy người
chết siêu sinh tịnh độ). Nhẫn nhục cũng cần thiết khi
những người khác tìm cách ngăn cản chúng ta trong khi chúng
ta đang nỗ lực thực hiện pháp p’howa cho người đang hấp
hối hay cho chính mình.
Với
tinh tấn, chúng ta liên tập tu học cho tới khi chúng ta có
tự tin vào khả năng mình và không bao giờ bị lôi kéo ra
khỏi pháp tu dẫn tới cõi tịnh độ.
Với
thiền định, chúng ta cắt bỏ mọi vọng tưởng trong thiền
định và liên tục chú tâm và pháp quán tưởng và tụng niệm.
Vào giây phút hấp hối, chúng ta tập trung vào Phật A Di Đà,
mà vị Phật này là một thể với bổn sư của chúng ta.
Pháp
toàn thiện về trí huệ xảy ra xuyên qua sự chứng ngộ về
pháp tu này như là một hiển lộ thanh tịnh của sự hợp
nhất giữa pháp tướng và tánh không. Tiến trình thiền pháp
p’howa dẫn chúng ta tới chứng ngộ này, bởi vì trong chuỗi
thứ tự mau chóng, chúng ta thay đổi giữa pháp quán tưởng
(visualization) và pháp hội nhập (dissolution) vào trong bản tánh
bất nhị, phi khái niệm của Phật A Di Đà.
PHÁP
THỰC TẬP CHÍNH YẾU
Quán
Tưởng về Đức Quan Thế âm
Từ
lúc khởi đầu của phần tu tập chính, chúng ta bẻ gãy xích
xiềng của tâm chấp ngã bình thường, và đưa ra từ chính
mình cái linh ảnh hóa thân thanh tịnh của bản tánh mình như
là Đức Quan âm, vị Thánh của lòng Đại Bi. Việc tự quán
tưởng như vị bổn tôn có ba phương diện quan trọng: quán
tưởng linh ảnh trong chi tiết rõ ràng, hiểu ý nghĩa biểu
tượng của linh ảnh đó, và gìn giữ cái “tự hào” của
vị bổn tôn - nghĩa là, xuyên qua định tâm mà hiển
lộ thân, khẩu và ý của vị bổn tôn không bị gián đoạn.
(LDG: Ngắn gọn, tự tâm mình lưu xuất ra linh ảnh Đức Quan
âm, rồi học nhân tự quán tưởng mình hợp nhất với Ngài
trong cả 3 nghiệp thân, khẩu và ý.)
Để
tự quán tưởng mình như Đức Quan âm, hãy an nghỉ trong bản
tánh của tâm mình như sự rỗng rang, không giữ [niệm] gì
cả – không cả trần cảnh của thế giới bên ngoài, mà
cũng không cả thế giới bên trong của các suy nghĩ, khái niệm
và cảm xúc. Thân xác học nhân không còn trong hình tướng
thể lý, dầy đặc, nhưng bây giờ chiếu sáng, màu trắng
rực rỡ như một ngàn mặt trời chiếu sáng trên một đỉnh
núi tuyết. Ngồi trong tư thế kiết già trên một hoa sen trắng
và đĩa mặt trăng, học nhân có một khuôn mặt và bốn cánh
tay. Hai bàn tay dưới thấp ôm một viên ngọc như ý màu xanh
da trời áp vào tim; bàn tay phải phía trên cầm một xâu chuỗi
thủy tinh, và bán tay trái phía trên cầm cọng hoa sen trắng
nở gần bên tai.
Như
Đức Quan âm, học nhân mặc năm mảnh lụa của các vị bổn
tôn báo thân – các dây ngũ sắc thả treo từ trên vương
miện xuống, một mảnh lụa trắng phía trên thêu với chỉ
vàng, một khăn quàng dài màu xanh lá cây bay phất phơ và quấn
phía trên các cánh tay, một váy ngắn mà xanh da trời cùng
với các quần màu đỏ phía dưới, và một dây lưng. Học
nhân cũng mặc tám món bảo ngọc – một vương miện mang
các bảo ngọc ngũ sắc, các bông tai, ba độ dài của các
dây chuyền đeo cổ, dây chuyền đeo tay, dây chuyền đeo cánh
tay, và dây chuyền đeo cổ chân. Những vật trang trí này được
khảm vào bằng đá quý.
Mỗi
mặt của hình ảnh này khởi lên một cách tự nhiên và biểu
lộ các các phẩm chất, sự hiển lộ thanh tịnh, của tự
tánh tuyệt đối. Khi quán tưởng tự thân mình như Đức Quan
âm, chúng ta không chỉ tự trang phục mình trong hình tướng
bề ngoài đẹp đẽ. Trong cảnh chứng nhập bất nhị mà chúng
ta tìm đạt, tất cả các chi tiết hình tướng đó và ý nghĩa
phong phú của chúng hiển lộ một cách tự nhiên từ tánh
Phật, tánh của chúng ta và của Đức Quan âm không hai không
khác.
Màu
trắng rực rỡ của Đức Quan âm khởi lên như phẩm chất
không bị ô nhiễm bởi sinh tử luân hồi. Tòa sen của ngài
là hiển lộ của tánh không, đĩa mặt trăng là phương tiện
thiện xảo. Khuôn mặt của ngài là hiển lộ cho bản chất
bất biến của sự thật tuyệt đối.
Bốn
cánh tay của Đức Quan âm khởi lên như biểu hiện của bốn
phẩm tánh vô lượng của từ, bi, hỉ và xả. Hai bàn tay để
nơi ngực ngài là để kiết ấn đại bi, và cầm một viên
ngọc như ý màu xanh da trời tượng trưng cho tình yêu và lòng
thương xót; viên ngọc tự nó đã mang hạnh phúc tới cho chúng
sinh. Bàn tay phải phía trên cầm một xâu chuỗi các hạt thủy
tinh cùng cỡ bày tỏ tâm xả vô lượng. Bàn tay trái phía
trên cầm một hoa sen nở phía bên tai để hiển lộ tâm hỉ
vô lượng, đặc biệt là niềm vui được nghe giáo pháp. Cọng
hoa cũng nổ ra một trái và một búp. Cánh hoa nở trọn tượng
trưng cho chư Phật hiện tại; trái tượng trưng chư Phật
quá khứ; và búp tượng trưng chư Phật tương lai.
Thế
ngồi kim cang tọa là biểu hiện khác của tâm xả vô lượng
của Đức Quan Aâm, mà tâm này khởi lên từ chứng ngộ tuyệt
đối của bản tánh đơn nhất – cái tánh không, một vị
đơn nhất – của toàn thể cõi luân hồi và niết bàn. Các
trang phục lụa và bảo ngọc, được mang với sự không dính
mắc hoàn toàn, bày tỏ sự giàu có của báo thân. Ngài không
cần rời bỏ gì hết, bởi vì Ngài không hề nắm giữ gì
hết.
Quán
Tưởng Kênh Trung Tâm
Chính
xác, nơi chính giữa thân ánh sáng của Đức Quan âm là
kênh trung ương, chạy từ khoảng cách 4 ngón tay dưới rún,
nơi nó [kênh trung ương] được đóng lại, tới luân xa đỉnh
đầu, khoảng cách 8 ngón tay phía sau mí tóc nguyên thủy, nơi
nó [kênh trung ương] mở ra. Nó thì thẳng và mỏng y hệt thân
của một mũi tên, mềm và linh động như các cánh của một
hoa sen, và sáng như ánh sáng ngọn đèn bơ. Đường kính của
nó [kênh trung ương] thì bằng đường kính của ngón tay nhỏ
của mỗi người. Nó không phải là một kênh vật chất, thể
lý, nhưng thực ra là được cấu thành từ ba cột ánh sáng
có chung trọng tâm, cột trong cùng màu đỏ, cột giữa xanh
da trời, và cột ngoài cùng màu trắng.
Sự
tọa lạc chính xác ngay giữa của kênh bày tỏ pháp Trung Đạo
vĩ đại, một quan điểm hoàn toàn xa lìa các cực đoan của
thường kiến (tin vào sự hiện hữu tự thân) và đoạn kiến
(tin vào hư vô, không có hiện hữu).
Bản
chất trống rỗng của kênh trung ương và cột màu xanh da trời
của nó đáp ứng với pháp thân. Sự chói sáng của nó và
cột màu đỏ đáp ứng với sự hiển hiện rực rỡ của
báo thân. Chức năng của kênh như là con đường tới Cõi
Tịnh Độ Cực Lạc và cột màu trắng đáp ứng với sắc
thân.
Quán
Tưởng Luân Xa Quả Tim
Trong
luân xa quả tim, một lớp ánh sáng rực rỡ tiếp cận với
kênh trung ương, cho nên trong thiền định, chúng ta chỉ làm
việc với nửa phần trên. Trên lớp ánh sáng này, một hoa
sen trắng tám cánh chứa một bầu năng lực màu xanh lá cây
lấp lánh. Tám cánh hoa này biểu hiện cho tám phương diện
của ý thức (LDG: bát thức), trong đó có năm thức đi kèm
theo năm giác quan, một thức làm nền tảng sơ nguyên của
tất cả kinh nghiệm bình thường, một thức cho chúng ta khái
niệm hóa các dữ kiện cảm quan, và một thức chấp ngã khởi
lên các cảm xúc xung đột.
Năng
lực xanh lá cây lấp lánh, cũng được mô tả như “gió nghiệp,”
bày tỏ phẩm chất hằng hữu của tâm về tính thần túc
– tức là khả năng của nó đi tới bất cứ nơi đâu chớp
nhoáng. Sự nhận biết, một phẩm chất khác của tâm, được
biểu hiện trong một quả cầu trong sáng của ý thức nằm
trên nguồn năng lực xanh lá cây đang rung động. Tính thần
túc và tính nhận biết là các phẩm chất liên lập của tâm;
cho nên, bầu năng lực xanh lá cây và quả cầu trong sáng của
ý thức vẫn không tách rời nhau.
Quả
cầu ý thức có kích thước một viên ngọc nhỏ và chiếu
màu cầu vòng với năm màu của trí tuệ – xanh da trời, trắng,
đỏ, vàng, và xanh lá cây. Kinh điển sadhana nói về nó như
là “quả trứng của một con chim masal.” So sánh này khởi
lên từ một linh ảnh của nữ đại thành tựu giả Machig
Lapdron trong đó bà nhìn thấy hai con chim dị thường đang giao
cấu. Một cách đồng thời, mỗi con chim nhả ra từ miệng
một quả trứng trông như ngọc quý với các vòng ngũ sắc.
Tâm bình thường trong bản tánh thanh tịnh biểu hiện cho năm
thức không bị ràng buộc trong thời gian.
(LDG:
chữ “sadhana text” trong đoạn văn trên chỉ cho một loại
văn bản đặc biệt của Kim Cang Thừa. Cuốn The Encyclopedia
of Eastern Philosophy and Religion, NXB Shambhala, Boston 1994, giải
thích rằng đó là “một loại đặc biệt các văn bản nghi
lễ và các pháp thiền quán ghi trong đó. Kinh điển sadhana
mô tả chi tiết các vị bổn tôn được kinh nghiệm như là
hiện thực tâm linh, và toàn bộ tiến trình từ pháp quán
tưởng bổn tôn cho tới hòa nhập vào thiền định vô tướng...”
Nơi đây chúng ta thấy, mặc dù Tịnh Độ Tông được chư
Tổ Trung Hoa tách ra làm một tông phái riêng, nhưng tại Tây
Tạng lại được xếp vào làm một phần của Phật Giáo Kim
Cang Thừa.)
Quán
Tưởng về Phật A Di Đà
Khoảng
ba tấc phía trên luân xa đỉnh đầu đã mở của hành giả
là Phật A Di Đà không tách lìa khỏi hành giả, ngồi trên
một hoa sen đa sắc ngàn cánh với một đĩa mặt trời và
đĩa mặt trăng. Ngài màu đỏ hồng ngọc, và chiếu ra các
tia sáng đỏ theo hình quả cầu ra xa vô cùng – tên Ngài trong
Tạng Ngữ là Odpagmed, nghĩa là “Vô Lượng Quang.” Ngài có
32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của một vị Phật, gồm cả
vòng hào quang nơi đỉnh đầu Ngài, các chái tai dài, một
thân hình cân đối tuyệt hảo, và các luân xa tám cạnh nơi
gót chân và lòng bàn tay. Ngài cũng có 60 phẩm chất của diệu
âm, kể cả âm điệu dịu dàng, khả năng truyền âm thanh
mà không cần lớn tiếng, và khả năng truyền thông mà không
cần người thông ngôn.
Trong hình tướng sắc thân của Ngài, Ngài mặc ba y của một
vị sư đặc biệt, một áo xanh da trời như tấm y bên trong,
một tấm y phía trên màu vàng, và một tấm y bên ngoài màu
đỏ, tương ưng với ba môn học của giới (vinaya), định
và huệ. Tay của Ngài đặt thành ấn tam muội, giữ một bình
bát khất thực bằng ngọc màu xanh da trời sậm chứa đầy
nước cam lồ để làm thành tựu các nhu cầu và chữa trị
các bệnh cho chúng sinh. Ngài ngồi trong tư thế kim cang tọa
(vajra posture).
Cũng
như với Đức Quán Thế Aâm, mỗi phương diện của hình ảnh
đều có ý nghĩa thiêng liêng. Hoa sen biểu hiện cho tính thanh
tịnh tự thân của bản tánh tuyệt đối, mà bản tánh này
không bị nhiễm ô bởi các hiện tượng luân hồi. Đĩa mặt
trời tương ưng với sự tỉnh thức không ràng buộc bởi
thời gian, đĩa mặt trăng tương ưng với các phương tiện
thiện xảo. Hai chân xếp lại trong thế kim cang tọa nói lên
ý nghĩa bình lặng.
Màu
đỏ hồng ngọc của Phật A Di Đà khởi lên từ việc ngài
là chủ tể của gia đình hoa sen, với nối kết đặc biệt
với sự hóa hiện của lời nói giác ngộ. Xuyên qua tâm ý
giác ngộ của Ngài, Phật A Di Đà thực hiện các quyền lực
thu hút chúng sinh về giải thoát xuyên qua tình yêu và ý thức
phân biệt – sự nhận biết cùng lúc về Tánh Không và chi
tiết hiển hiện của mọi hiện tượng, cũng như tính tương
thuộc hoàn toàn vào nhau của các hiện tượng.
Quán
Tưởng về Thánh Chúng của Phật A Di Đà
và
Cõi Tịnh Độ Cực Lạc
Trong
khi tu pháp p’howa, chúng ta có thể tập trung vào riêng hình
ảnh Phật A Di Đà, nhưng chúng ta nên quán tưởng hình ảnh
Ngài trong Cõi Cực Lạc, vây quanh bởi vô lượng các vị Phật
và Bồ Tát, các vị sư bên phía trên đầu Ngài. Bồ Tát Quán
Thế Aâm đứng trong hình tướng hai tay, trên một hoa sen và
đĩa mặt trăng phía bên phải Phật A Di Đà, bàn tay phải
của Ngài kết pháp ấn của sự độ lượng bố thí, tay trái
Ngài cầm cọng hoa sen đặt nơi phía quả tim. Bồ Tát Kim Cang
Thủ (Vajrapani) đứng trên một hoa sen và đĩa mặt trăng phía
bên trái Phật A Di Đà, bàn tay phải của Ngài hướng mặt
xuống trong tư thế bảo vệ, tay trái cầm cọng hoa sen mà
đóa nở bên tai Ngài. Đức Kim Cang Thủ đã tiết lộ và bảo
vệ các kinh về mật chú.
Quán
Tưởng về Sự Chuyển Di Thần Thức;
Thần
Chú P’hat
Với
việc trì tụng câu chú “P’hat,” thần thức t’higle phóng
ra từ trái tim để vào tâm của Phật A Di Đà. Câu chú một
âm này gồm có hai âm thanh. Đầu tiên là “p’ha,” bày tỏ
phẩm chất nam tính của phương tiện thiện xảo; thứ nhì
là “ta,” bày tỏ phẩm chất nữ tính của trí huệ. Trong
nghi quỹ, nó được viết là “Ah P’hat.” Phần “Ah” là
một âm đơn nghe như nối tiếp với mẫu tự đứng trước.
Thế có nghĩa là phần đầu “Ah” được gắn vào âm cuối
của bài kinh nguyện hai dòng hướng về Phật A Di Đà, vang
như là “Lob-Ah.” Rồi thì “P’hay-Ah, P’hay-Ah, P’hat!”
Chuỗi
thứ tự của việc chuyển di khởi đầu với việc thiết
lập các phương diện của quán tưởng – nhìn thấy mình
như là Đức Quan âm, kênh trung ương, thần thức t’higle nằm
ngay trái tim, với Phật A Di Đà bên trên. Rồi chúng ta trì
tụng bài kinh nguyện 2 dòng (“Con cầu xin Phật A Di Đà tiếp
dẫn con tái sinh vào Cõi Cực Lạc”) ba lần, hoặc là bằng
Tạng ngữ hay Anh ngữ. (LDG: người Việt thì nên đọc bằng
Việt ngữ.)
Tập
trung mạnh mẽ vào thần thức t’higle, chúng ta phát âm “P’hay-Ah”
và phóng thần thức xuyên qua kênh trung ương, xuyên qua luân
xa đỉnh đầu đã mở, và vào tâm của Phật A Di Đà, và
rồi an nghỉ trong sự tỉnh thức bất nhị.
Kế
đó, chúng ta tập trung lần nữa vào thần thức t’higle nơi
quả tim của mình. Không cần gì phải mang phần thần thức
t’higle đã chuyển di xuống từ Phật A Di Đà; chúng ta chỉ
đơn giản tái tập trung, đọc câu chú, chuyển di và rồi
an nghỉ trong sự tỉnh thức bất nhị.
Chúng
ta lập lại sự chuyển di lần thức ba – bây giờ phát âm
sắc nhọn “P’hat!” – và an nghỉ. Sau lần chuyển di thứ
ba, toàn bộ chu kỳ này được lập lại, khởi đầu bằng
bài kinh nguyện 2 dòng.
Trong
khi tu tập p’howa, học nhân có thể gặp vài sự kém thoải
mái khi luân xa đỉnh đầu mở ra, có thể trong hình thức
nhức đầu, choáng váng, nóng nơi đỉnh đầu, hay một điểm
đau mà điểm này có thể rỉ ra một giọt máu hay giọt huyết
tương. Đó là các dấu hiệu của sự tiến bộ và sẽ biến
mất khi cường độ tu tập dày đặc được giảm xuống,
mặc dù luân xa đỉnh đầu không bao giờ khép lại nữa. Chúng
ta cần phải tu tập cho tới khi chúng ta tự tin rằng con đường
p’howa của chúng ta đã được thiết lập, và rằng chúng
ta sẽ làm phép chuyển di p’howa này gần như tự động vào
thời điểm lìa trần. Một khi chúng ta đã đạt niềm tin
như thế, chúng ta có thể giảm sự tu tập về một chu kỳ
của ba bài kinh nguyện và ba lần chuyển di thần thức, và
tập trung thay vào đó là phép tu trường thọ.
Đôi
khi, người ta đặt câu hỏi là có an toàn hay không với phép
tu tập p’howa, rủi có khi nào thần thức có thể bất ngờ
xuất ra luôn không. Không có sự nguy hiểm như thế. Ngay cả
khi người ta yếu và bên mép bờ sự chết, cần phải có
nỗ lực lớn lao để ảnh hưởng tới sự chuyển di. Những
nguồn sinh lực buộc tâm thức vào với thân thể, và tới
khi nào chúng suy giảm đủ thì mới cho tâm thức xuất ra;
thực sự, chuyển di thần thức cũng y hệt như bứt quả xanh
ra khỏi cây: nó sẽ không được thả ra cho tới khi nào quả
chín.
Bài
kinh nguyện dòng phái
Trong
pháp tu tập p’howa, chúng ta không cần tụng bài kinh nguyện
dòng phái, các bài kinh nguyện cho sự chuyển di lên pháp thân,
báo thân và sắc thân, hay là kinh nguyện lên vị thầy bổn
sư. Tuy nhiên, những bài kinh nguyện này gợi lên sự hưng
phấn và làm tươi mới sự tu tập của chúng ta với một
điểm tập trung hơi khác về pháp quán tưởng.
Có
hai cách căn bản để quán tưởng các vị thầy trong dòng
phái. Cách đơn giản nhất là quán tưởng họ trong một đường
dọc thẳng đơn độc bên trên đầu Phật A Di Đà trong phép
quán tưởng chính, với pháp thân của Phật A Di Đà ở nơi
cao nhất của thánh hội, và quán tưởng các thánh tăng trong
dòng phái người này bên trên người kia theo cùng thứ tự
trong bài kinh nguyện dòng phái. Vị thầy bổn sư của chúng
ta ngồi bên trên sự quán tưởng của chúng ta về Phật A
Di Đà.
Phương
pháp thứ nhì là quán tưởng pháp thân Phật A Di Đà ngồi
nơi điểm cao nhất, rồi dưới ngài một chút về bên phải
là báo thân Đức Quan Aâm. Sắc thân của Đức Liên Hoa Sanh,
vị đã mang pháp môn chuyển di thần thức p’howa này vào
cõi người, ngồi một chút phía dưới Phật A Di Đà bên trái.
Vây quanh ba vị này là tất cả các thánh tăng khác trong dòng
phái, gồm cả trợ thủ của Đức Liên Hoa Sanh là thiên nữ
Yeshe Tsogyal, và đệ tử của ngài là Langdro Konchog Jungnay,
vị mà có dòng tâm thức hóa thân ra làm người khám phá các
kinh điển quý giá ẩn tàng (Tạng ngữ. Terton) Rigdzin
Longsal Nyingpo. Một lần nữa, vị thầy bổn sư của chúng
ta ngồi giữa thánh hội, mối dây liên lạc chính yếu cho
sự giải thoát của chúng ta.
Dù
chúng ta hình dung thánh hội cách nào, chúng ta cũng cảm nghiệm
được lòng từ bi thâm sâu và sự chứng đạt mạnh mẽ chiếu
sáng từ mỗi vị lạt ma, tập trung về hướng chúng ta với
ý hướng tròn đầy rằng chúng ta tìm được giải thoát ra
khỏi chu kỳ vô tận của sinh và tử. Ý hướng của các vị
lạt ma nối kết với sự tận hiến của chúng ta như lưỡi
câu và dây câu, nâng chúng ta cao lên, đưa chúng ta vào cõi
tịnh độ. Được tắm gội trong ân sủng của chư vị, chúng
ta chuyển di thần thức tương tự như phần trước.
Các
Bài Kinh Pháp Thân, Báo Thân,
Sắc
Thân, và Bổn Sư
Đối
với bài kinh pháp thân, việc quán tưởng và chuyển di thì
chính xác như đã làm sau bài kinh nguyện hai dòng dâng lên
Phật A Di Đà. Trong phần chuyển di sau bài kinh nguyện đối
với phương diện báo thân, chúng ta quán tưởng hoặc là Phật
A Di Đà hay Đức Quan âm trên đầu chúng ta; nếu [chọn cách]
quán Đức Quan Aâm, thì chúng ta [tự quán mình] như là Đức
Quan Aâm và cùng lúc cũng có Đức Quan Aâm trên đầu mình.
Tương tự, theo sau bài kinh nguyện hướng về Đức Liên Hoa
Sanh như phương diện sắc thân, chúng ta có thể quán tưởng
hoặc là Phật A Di Đà hay Đức Liên Hoa Sanh trên đầu chúng
ta.
Chúng
ta có thể thực hiện tương tự pháp chuyển di sau bài kinh
nguyện hướng về bổn sư bằng cách quán tưởng hoặc là
Phật A Di Đà hay thầy bổn sư của chúng ta trên đầu chúng
ta. “Thầy bổn sư” (root lama) là vị thầy đầu tiên chỉ
cho chúng ta bản tánh của tâm. Hầu hết mọi người không
có một vị thầy bổn sư, hoặc là vì họ không gặp được
một vị thầy kiến tánh, hoặc là vì họ đã chưa chín mùi
để tiếp nhận sự trao truyền dĩ tâm ấn tâm trực tiếp
của vị thầy. Nếu chúng ta chưa có một vị thầy bổn sư,
chúng ta nên quán tưởng Phật A Di Đà với sự hiểu biết
rằng ngài biểu tượng cho tất cả các phẩm chất của vị
thầy trí tuệ đã giác ngộ.
Việc
đọc tụng những kinh nguyện này thì hệt như là nhìn vào
cùng một yếu tính xuyên qua nhiều mặt của một lăng kính.
Vị thầy bổn sư của chúng ta, Đạo Sư Liên Hoa Sanh, và Đức
Quan âm thì không tách rời ra khỏi Phật A Di Đà, khởi lên
trong những hóa thân khác nhau để đáp ứng với các nhu cầu
cụ thể của chúng sinh. Ước nguyện rằng chúng ta tìm cầu
giải thoát sẽ rung động mạnh mẽ xuyên qua tất cả các
vị đó. Chúng ta chỉ cần nối kết xuyên qua niềm tin và
ước nguyện của chính chúng ta.
