Bốn
Nguyên Nhân Để Sinh Vào
Cõi
Tịnh Độ Của Phật A Di Đà
Theo
văn kinh có tên là “Rolling of Drums” (Đánh Trống Pháp), vô
lượng kiếp về trước có một vương quốc an vui mà vị
vua rất mực thờ kính vị Phật thời đó, Đức Phật Lokeshvaraja.
Vị vua đã rời bỏ ngai vàng, trở thành một vị sư, và nguyện
thành đạt giác ngộ. Ngài khởi tâm đại bi, phát lên 48 lời
nguyện, và nói rằng sẽ không thành Phật nếu bất kỳ lời
nguyện nào trong đó chưa thành tựu. Với những lời đó,
trái đất rung chuyển và mưa hoa bay xuống từ khắp trời.
Những lời ngợi ca vang lên, và cùng với đó là lời tiên
tri rằng vị sư này sẽ chắc chắn thành Phật. Và Ngài đã
thành Phật, danh hiệu Phật A Di Đà.
Trong
kiếp làm một vị bồ tát tu sĩ, Ngài đã thấy rằng có vô
lượng cõi tịnh độ cho các vị chứng ngộ, những người
đã chiến thắng được vọng tâm, nhưng không có những cõi
như thế cho những ai còn gian nan trên đường tu. Trong 48 lời
nguyện của Ngài có một ước nguyện tạo ra một cõi thanh
tịnh cho tất cả những ai nghe được tên Ngài, mong muốn
vào cõi đó, xây dựng cội rễ công đức, và hồi hướng
các công hạnh phước đức để được siêu sinh vào cõi tịnh
độ đó. Ý nguyện của Ngài mạnh tới nổi Ngài thề không
thành Phật, nếu Ngài không thành tựu được một cõi tịnh
độ như thế.
Trong
tâm thức giác ngộ, Phật A Di Đà vẫn luôn duy trì trong sự
chứng biết pháp thân, trong sự nhận biết không gián đoạn
về bản tánh tuyệt đối, trong cái rộng lớn bao trùm hết
thảy. Nhưng cái bản chất rỗng rang, cái không gian căn bản,
của pháp thân thì không đơn giản là cái không gì hết; mà
nó mang giữ tròn đầy năng lực để phát khởi không ngưng
nghỉ sự hóa hiện của báo thân và sắc thân. Các cảnh giới
thanh tịnh báo thân và các cung điện cõi trời sẽ hóa hiện
ra cho các vị Phật và các bồ tát thập địa, những người
đã xa lìa phiền não, nên có thể kinh nghiệm và hân hưởng
các hiện tượng thanh tịnh như thế. Các hóa hiện sắc thân
sẽ khởi lên tùy theo nghiệp chúng sinh sáu cõi.
Cõi
Cực Lạc (Dewachen), tức cảnh giới của Niềm Vui Lớn đã
hóa hiện ra nhờ nguyện lực Phật A Di Đà, có thể đón nhận
những chúng sinh chưa trở thành bồ tát thập địa, nhưng
chỉ nhờ lòng tin vào Phật A Di Đà và mong muốn được sinh
vào cõi thanh tịnh của Ngài. Nơi đó, họ có thể tiếp tục
đường tu để tới giác ngộ trong một cõi thuần an lạc,
vượt ra ngoài những khổ đau. Trong Phật Giáo Kim Cang Thừa,
hướng dẫn thần thức học nhân để tái sinh vào Cõi Cực
Lạc thì được thành tựu hiệu quả nhất qua pháp môn p’howa.
Ngay
cả người chưa thành đạt mức độ thanh tịnh cao cũng có
thể, xuyên qua lòng tin mãnh liệt và nguyện lực, được siêu
sinh vào Cõi Cực Lạc. Sau khi chết, thần thức người đó
được bao bọc bởi một hoa sen cho tới khi hầu hết các chướng
ngại biến mất và cõi tịnh độ hiển lộ. Khi hoa sen nở,
học nhân sẽ thấy một vùng đất của những phần tử hòa
hài, không còn các xung khắc, với không gò đống, nguy hiểm
hay có thể gây hại. Nhiệt độ tự điều chỉnh theo ý muốn
cá nhân. Hoa trải thảm trên mặt đất và gió thổi nhẹ nhẹ,
mang mùi hương dễ chịu. Nhiều loại chim kỳ diệu hát các
bài ca giàu âm điệu của Phật Pháp, chuông vang dịu dàng,
và cây rung chuyển cũng mang theo diệu nghĩa.
Cung
điện sáng ngời của Phật A Di Đà đứng nơi giữa Cõi Cực
Lạc, và Đức Phật ngồi trong đó, trên một ngai được mang
bởi tám con chim công. Nhìn vào khuôn mặt của Phật A Di Đà
sẽ làm thanh tịnh nhiều phiền não, thọ nhận giáo pháp
trực tiếp từ Ngài sẽ mở vô lượng cánh cửa vào thiền
định. Học nhân có thể thọ nhận giáo pháp và viếng thăm
các cõi tịnh độ khác tùy ý mình.
Sau
cung điện là một cây bồ đề vĩ đại với từng chiếc
lá mang một câu thần chú và trĩu nặng châu báu. Nhìn cây
này sẽ bảo vệ được mắt nhìn, chạm xúc vào cây sẽ có
sức khỏe, và nghĩ về cây sẽ mang tới sức định kiên cố.
Các
chúng sinh trong Cõi Cực Lạc có thân vàng, và khi họ sắp
giác ngộ thì ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp
của thân Phật sẽ xuất hiện. Các thành viên của tăng đoàn
là các vị sư, cũng như chính Đức Phật A Di Đà, nhưng nhiều
hình tướng khác của các thiện tri thức cũng cư trú nơi
đây.
Không
sự căng thẳng, buồn nản, tiêu cực, hay đau khổ nào làm
ngăn trở sự toàn hảo của Cõi Cực Lạc, nhưng học nhân
vẫn không bị cô lập khỏi các hoàn cảnh của chúng sinh
xoay vòng trong cảnh luân hồi. Học nhân có thể chứng kiến
hoàn cảnh của các chúng sinh, và cảm nhận cùng lúc nỗi
đau tương đối của họ và bản chất hư vọng tuyệt đối
của chúng. Bởi vì lòng từ bi của học nhân ở ngôi bồ
tát bất thối thì không bị ngăn trở, học nhân có thể lựa
chọn trở về đầu thai trong cõi luân hồi, không phải vì
nghiệp lực lôi kéo nhưng là vì lòng thương xót và muốn
cứu độ chúng sinh. Biết những phẩm chất kỳ diệu của
Cõi Cực Lạc và khởi tâm mong muốn sinh vào cõi này, đó
là nguyên do đầu tiên để được siêu sinh vào cõi tịnh
độ này.
Nguyên
do thứ nhì [để vãng sinh vào tịnh độ] là khởi tâm thanh
tịnh: từ lòng đại bi thương xót chúng sinh, chúng ta mong
cầu giác ngộ để đưa khắp chúng sinh tới bờ giác ngộ.
Sự thức tỉnh bồ đề tâm khởi ra khi các phẩm cách thanh
tịnh của Phật Tánh của chúng ta – các tâm từ, bi, hỉ
và xả – trào lên xuyên qua những lớp che của lòng ích kỷ
bình thường xoay quanh tự ngã. Về phương diện pháp môn p’howa,
thế nghĩa là chúng ta có ý định thành tựu pháp môn này
và sử dụng nó như phương tiện tự giải thoát khỏi cảnh
luân hồi với mục đích làm lợi ích người khác. Do đó,
chúng ta sẵn lòng muốn lắng nghe và suy nghĩ về giáo pháp,
và tu tập thiền định. Pháp môn p’howa tự thân trở thành
vận động trường để tích cực tham dự vào bồ đề tâm
xuyên qua sáu pháp toàn thiện ba la mật của bố thí, trì giới,
tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí huệ. Điều này
sẽ được bàn luận sâu thêm trong chương về tu tập p’howa.
Việc
huân tập công đức là nguyên do thứ ba để siêu sinh vào
Cõi Cực Lạc, và điều này thành tựu bằng cách thực hiện
Cúng Dường Bảy Phần, pháp này cũng cốt yếu với nhiều
pháp môn khác. Khi hướng về Phật A Di Đà, pháp này gồm
các phần sau:
1.
Kính Lễ. Hãy quán tưởng Đức Phật A Di Đà trên hư không
phía trước chúng ta, chúng ta kính lễ hình tướng (thân) giác
ngộ của Ngài bằng cách chắp hai tay lên đỉnh đầu chúng
ta, kính lễ lời nói (khẩu) giác ngộ của Ngài bằng cách
đưa hai tay về tới cổ, và kính lễ tâm (ý) giác ngộ của
Ngài bằng cách đưa hai tay về giữa ngực. Rồi chúng ta lạy
bằng toàn thân, quán tưởng có thân phụ bên phải của mình,
có thân mẫu bên trái của mình, có loài quỷ dữ sau lưng
của mình, có kẻ thù nơi phía trước của mình, và có tất
cả chúng sinh vây quanh chúng ta. Tất cả đều cùng quỳ lạy
với chúng ta, miệng đọc lên kinh nguyện và quán tưởng Phật
A Di Đà. Học nhân cũng có thể quán tưởng thấy mình hóa
hiện ra vô lượng sắc thân đang quỳ lạy kính lễ Phật
A Di Đà. Pháp quỳ lạy là thuốc trị độc dược của cao
ngạo.
2.
Cúng Dường. Chúng ta cúng dường Phật A Di Đà một đàn pháp
mạn đà la vô tận. Một vũ trụ ba ngàn nếp gấp, đại diện
cho hiện tượng bất động, dùng như một vật dung chứa,
và tất cả chúng sinh – tức hiện tượng sinh động – là
những gì được chứa trong đó. Món cúng dường này được
sắp xếp như một vũ trụ khổng lồ, với núi Tu Di nơi trung
tâm, vây quanh bởi bảy vòng núi vàng trồi lên từ biển nước
thanh tịnh. Nơi đỉnh núi Tu Di là các cõi trời. Trong các
phương hướng chính, là bốn lục địa, mỗi lục địa nằm
giữa hai tiểu lục địa, gồm cả lục địa hướng nam của
chúng ta với các cây như ý. Chúng ta quán tưởng các thiên
nữ đang cúng dường những hình tướng, âm thanh, mùi hương
dễ chịu, những vật để chạm xúc và những món ăn để
nếm, cũng như tám biểu tượng thịnh vượng, bảy thứ trang
phục hoàng gia, và tám bảo vật – nghĩa là mọi thứ có
thể làm vui bởi sự quý giá, bởi vẻ đẹp, hay bởi tính
linh thánh của chúng. Cúng dường là thuốc chữa trị sự
gắn bó ích kỷ.
3.
Sám Hối. Đối trước Phật A Di Đà, chúng ta bày tỏ sám
hối về tất cả những gì chúng ta đã làm sai trái qua thân,
khẩu và ý nghiệp. Chúng ta nguyện không phạm lỗi nữa, và
đón nhận sự thanh tịnh hóa của Phật A Di Đà trong hình
thức ánh sáng bao trùm khắp và hoàn toàn làm trong sạch chúng
ta. Sám hối là thuốc chữa trị sân hận.
4.
Hoan Hỷ. Bằng cách chân thực biết ơn và vui mừng với công
hạnh của những người cầu nguyện và quán tưởng về Phật
A Di Đà và, một cách tổng quát hơn, của những người đã
vào con đường giải thoát, chúng ta đối trị lòng ghen tị
và ganh đua mà đôi khi khởi lên đối với người tu khác.
Bất kỳ ai chân thành hoan hỷ vì công hạnh những người
khác cũng thu nhận cùng công đức như người thành tựu công
hạnh đó.
5.
Thỉnh Pháp. Việc thu nhận kiến thức siêu việt được thành
tựu xuyên qua nghe (văn), suy lường (tư) và thiền định (tu)
về giáo pháp. Điều này khởi đầu với một yêu cầu học
pháp. Đặc biệt, chúng ta có thể xin học pháp về p’howa
và các đề tài liên hệ, nhằm chữa trị sư si mê của chúng
ta.
6.
Cung Thỉnh Chư Thánh Tăng Ở Lại Trần Gian. Chúng ta cầu nguyện
rằng những vị giác ngộ sẽ vẫn ở lại với chúng ta và
đừng vào niết bàn. Bằng cách nhìn thấy các vị sư dạy
chúng ta pháp môn thiền định về Phật A Di Đà cũng hoàn
toàn không tách biệt với Phật A Di Đà, chúng ta dần dần
đạt cái nhìn thanh tịnh về những gì linh thánh. Điều này
chữa trị tà kiến.
7.
Hồi Hướng. Thiền định về bất kỳ phương diện nào của
Phật A Di Đà cũng có công đức lớn. Cúng dường công đức
này cho khắp các chúng sinh sẽ làm lớn rộng thêm công đức
này, và không làm cho công đức này mất hay suy giảm đi. Qua
sự hồi hướng, công đức khởi lên bởi một người sẽ
làm tăng công đức của tất cả chúng sinh, cũng chắc chắn
như dầu đổ thêm vào đèn bởi một người sẽ giúp duy trì
và tăng thêm ánh sáng chia xẻ bởi nhiều người trong
phòng. Sự hồi hướng chữa trị tâm nghi ngờ, mà tâm này
có thể khởi lên về khả năng của mình để thành tựu mục
tiêu tối hậu để giải thoát tất cả chúng sinh, không bỏ
sót ai, vào trong cõi thuần vui của Tịnh Độ. Sự hồi hướng
là nguyên do thứ tư để siêu sinh vào Cõi Cực Lạc.
