P’howa:
Để
Chủ Động Trong Sự Sống, Chết, và Tái Sinh
Tu
tập pháp môn P’howa, tức là pháp môn chuyển di thần thức
vào giây phút từ trần, sẽ làm người tu tự tin vào đời
sống của mình, vào sự tu tập tâm linh của mình, và vào
lúc hấp hối của mình. Trong đời sống thường ngày, ngay
cả những sinh hoạt bình thường nhất cũng mang ý nghĩa mới,
khi được nhìn xuyên qua lăng kính của vô thường và sự
chết. Pháp tu p’howa đi thẳng vào sự kiện rằng chết là
điều tất yếu, và rằng với mỗi giây phút thì chúng ta
tới gần cái chết hơn. Bám víu vào những sự ổn định
hư giả sẽ không ngăn cản hay làm chậm hướng đi về
cõi chết. Sự tự tin có được là nhờ dùng lấy bất kỳ
những gì sinh khởi trong vở kịch của vô thường như là
cơ hội để làm thanh tịnh tâm mình, và sinh khởi phước
đức. Tự tin cũng đến từ sự trực nhận về cái [tự tánh]
bất động, chơn thực, và tuyệt đối, và có thể kinh nghiệm
điều này liên tục. Giáo pháp và tu tập pháp môn p’howa
dẫn tới lòng tin xác thật vào hướng đi trong cõi thực tại
tương đối, và lòng tin xác thật khởi lên từ sự chứng
ngộ cái bản tánh tuyệt đối của thực tại. Cắt xuyên
vào sự vượt qua cái chết sẽ cho phép chúng ta thấy rõ ràng
tầm mức quan trọng của thân người.
Khả
năng thực hiện pháp môn p’howa bảo đảm rằng ngay cả nếu
cái chết can thiệp và cắt ngắn cơ hội tu tập trong kiếp
này, người ta vẫn có thể tiếp tục đường tu trong các
điều kiện thù thắng. Ngay cả khi với nghiệp lực chưa thanh
tịnh, học nhân cũng không bị kéo lùi vào cõi luân hồi quanh
co và bất trắc. Thêm nữa, pháp môn p’howa giúp tu tập tốt
đẹp trong các giai đoạn phát triển và hoàn tất Phật Giáo
Kim Cang Thừa, kết hợp các phương diện của ba pháp môn cao
nhất – tức là các pháp du già maha, anu và ati. Tu tập vững
vàng trong p’howa cũng thiết lập căn bản vững chắc cho việc
học các pháp môn Kim Cang Thừa khác và để đạt các dấu
hiệu đặc biệt của sự thành tựu Kim Cang Thừa.
Tu
tập pháp p’howa làm cho học nhân tự tin trong lúc hấp hối
và lúc lìa trần bằng cách cung cấp cho học nhân phương tiện
để giải thoát thần thức mình vào cõi tịnh độ Cực Lạc
của Phật A Di Đà, hay ít nhất cũng được tái sinh tốt đẹp
hơn để có cơ hội tu tập. Trong pháp tu có tên là “pháp
p’howa của ba sự chứng nhập,” kênh giữa được nhận
thức như là con đường, quả cầu thần thức (LDG: hay giác
linh của người từ trần) thì như người du hành trên
con đường, và tâm của Phật A Di Đà thì như là nơi đến.
Trong khi tu tập, các dấu hiệu vật lý thực sự có khởi
lên, cho thấy rằng một kẽ hở nhỏ đã xuất hiện tại
luân xa đỉnh đầu [của học nhân] và con đường này sẽ
dùng chuyển di thần thức vào giây phút lìa trần. Những dấu
hiệu này thường xảy ra trong vòng một ngày hay hai ngày, khi
học nhân tu tập trực tiếp với một vị thầy p’howa, xảy
ra trong vòng một tuần hay hai tuần nếu học nhân tu tập đơn
độc. Sau đó thì việc tu tập làm cho pháp p’howa gần như
một phản xạ tự động, làm cho học nhân tự tin rằng, ngay
cả trong các hoàn cảnh trở ngại, họ vẫn có thể nhớ tới
và thành tựu việc chuyển di thần thức.
Pháp
môn p’howa của ba sự chứng nhập là phần thứ tư trong năm
phạm trù của p’howa, và trao truyền từ nhiều dòng phái.
Ba phạm trù đáp ứng trực tiếp tới tam thân (LDG: ba thân
của Phật).
P’howa
Pháp Thân là sự chuyển di thần thức vào trạng thái tỉnh
thức tự tại, xa lìa thời gian (Tạng Ngữ: yeshe) – vào không
gian căn bản, Tánh Không.
P’howa
Báo Thân là sự chuyển di thần thức vào trạng thái tâm thức
bất nhị, trong sáng của sự hiện hữu thanh tịnh khởi lên
liên tục từ Tánh Không.
P’howa
Ứng Thân là sự chuyển di thần thức vào trạng thái của
tâm từ bi vô lượng.
Pháp
môn p’howa của ba sự chứng nhập thì liên hệ tới sự chuyển
di ứng thân, trong đó học nhân chuyển di thần thức vào sự
hóa hiện ứng thân của từ tâm của Phật A Di Đà, tức là
cõi tịnh độ Cực Lạc.
Pháp
môn p’howa pháp thân, báo thân, và ứng thân có thể thành
tựu phù hợp với các giai đoạn thân trung ấm của người
chết (Tạng ngữ: bardo), hay là xuyên qua các phương pháp thiền
định trong đời người. Điều này sẽ được giải thích
kỹ càng hơn trong chương nói về thành tựu p’howa vào lúc
lìa đời. Phạm trù thứ năm, gọi là “pháp p’howa của
cứu độ từ bi,” nói về việc chuyển di thần thức của
người khác. Điều này sẽ được giải thích trong cùng chương.
Pháp
p’howa của ba sự chứng nhập liên hệ tới các phương diện
của các pháp du già maha, anu, và ati, và đòi hỏi sức quán
tưởng mạnh. Học nhân cũng phải tập cho có khả năng để
thư giãn tạm thời sức tập trung của mình trên các hình
ảnh của sự quán tưởng, an nghỉ tâm mình trên kinh nghiệm
bất nhị về sự không cách biệt giữa tâm mình và tâm Phật
A Di Đà, rồi lại quán tưởng tiếp tục. Như thế, p’howa
cũng là pháp tu thù thắng cho các giai đoạn phát triển và
thành tựu Kim Cang Thừa.
Là
một người bình thường, chúng ta bị ràng buộc bởi các
cảm nhận hạn chế của thân xác mình như là một cá thể
có thực, cụ thể. Nhưng ngay cả một phản chiếu của khoảnh
khắc lại nhắc nhở chúng ta rằng thân xác mình liên tục
biến đổi, từ khi sanh cho tới lúc chết. Chúng ta không thể
tìm ra một khoảnh khắc của sự ổn định, không một mảy
may gì về cái hiện hữu nội tại, về bất cứ thứ gì hơn
là sự liên lập tương thuộc của các phần tử và chức
năng mà chúng ta gọi là “thân” của mình cho cái thời khoảng
của kiếp này. Sau khi chết, khi thân thể không còn điều
khiển bởi thần thức nữa, thì cái hình tướng đó tan rã.
Ngoài
cái sắc tướng ra, chúng ta còn buộc vào với thọ, tưởng,
hành, và thức, tất cả chung nhau là ngũ ấm ngăn trở
sự tỉnh thức vô ngại. Khi, xuyên qua pháp niệm tưởng về
tính vô thường và trí huệ quán chiếu, chúng ta bắt đầu
chứng ngộ Tánh Không của các ấm, chúng ta cũng bắt đầu
giải thoát khỏi cái hư vọng do chúng tạo nên. Xuyên qua phương
pháp chuyển hóa của Kim Cang Thừa về tu tập giai đoạn phát
triển, đặc biệt là pháp quán tưởng bổn tôn (LDG: quán
tưởng về vị Phật hay Bồ Tát bảo hộ), chúng ta bắt đầu
kinh nghiệm trực tiếp về hiển lộ thanh tịnh thân khẩu
ý của bổn tôn.
Một
cách tận cùng, pháp tu Kim Cang Thừa đòi hỏi chúng ta chứng
ngộ rằng tất cả những gì khởi lên như hình tướng, không
cách biệt khỏi Tánh Không của nó, chính là hiển lộ của
hình tướng vị bổn tôn.
Tương
tự, tất cả những gì khởi lên như âm thanh, không cách biệt
với Tánh Không, chính là âm thanh câu thần chú của bổn tôn.
Tất
cả những gì hiển lộ như tâm ý, trong Tự Tánh vẫn là Không,
chính là hiển lộ của tâm đấng bổn tôn.
Việc
gìn giữ ba nghiệp thanh tịnh như thế vào lúc hấp hối –
khi thân xác đang hư rã, khi âm thanh tan dần vào hỗn loạn,
khi ý thức và cảm xúc có hướng mất kiểm soát – thì quả
là cực kỳ khó khăn.
Chúng
ta thực sự không thể mong đợi thành công, trừ phi chúng
ta đã tu tập kỹ càng trong kiếp này, cắt đứt khỏi những
ràng buộc và trở ngại vốn kéo trì chúng ta vào hư vọng
và gây cản trở cho tự tánh thanh tịnh của tất cả
các hiện tướng.
Bằng
cách nhận biết rõ ràng về cái chết đang đến và bằng
cách vận dụng phương pháp thiền định Kim Cang Thừa phi thường,
người tu pháp môn p’howa sẽ tăng thêm cơ hội có những
giây phút cuối giữ tâm bình an và từ bi mà lìa trần, chuyển
thần thức trực tiếp từ cõi này vào cõi tịnh độ của
Phật A Di Đà. Khi vững vàng thấu đạt pháp môn p’howa, học
nhân không còn cần hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi để chết
an ổn. Thay vào đó, [với] sự nhận biết vạn pháp chỉ như
trò bày vẽ, mà tự tánh vạn pháp vốn thanh tịnh, sẽ dẫn
tới tâm bình an và hợp nhất với cái vọng cảnh như huyễn
như mơ của cái đang-chết và, khi thời điểm chín mùi,
sẽ đưa chúng ta vào cảnh giới giải thoát xa lìa vọng cảnh
luân hồi.
