LỜI
NÓI ĐẦU
Tập
sách P’howa này được viết như một cẩm nang cho những ai
đã thọ nhận giáo pháp và sự huấn luyện từ một vị thầy
về pháp môn p’howa. Nó không được viết để đọc cho biết,
và không ghi lại nhiều chuyện thật và kinh nghiệm cá nhân
vốn đã làm phong phú cho pháp môn truyền khẩu của Ngài Chagdud
Tulku Rinpoche trong nhiều năm. Sách này cũng không phải để
trình bày một cách uyên bác, vì tôi không có một mảy may
ý định cho thấy mình là học giả, dù là theo tiêu chuẩn
Tây Tạng hay theo tiêu chuẩn Tây Phương. Sách này chỉ đơn
giản là một nơi để tham khảo, một nhắc nhở về các điểm
chủ yếu được trình bày trong giáo pháp khẩu truyền.
Tuy
nhiên, mặc dù sách rất là ngắn, nó lại mất một thời
gian dài để viết ra, vì pháp môn p’howa kết hợp tất cả
các căn bản của việc tu tập và thành tựu Kim Cang Thừa,
và dẫn tới cái nhìn thâm sâu vào sự vận hành của thân,
khẩu và ý. Là một người tu kém nhanh nhạy, tôi phải mất
một thời gian mới đủ chiều sâu kinh nghiệm để có một
công lực hữu dụng. Tôi trọn lòng mang ơn Ngài Chagdud Rinpoche
đã dạy tôi pháp môn p’howa hai mươi năm trước ở Nepal,
đã khuyến khích tôi kết tập các lời giảng của Ngài, và
cho phép tôi giảng dạy. Rinpoche đã có nhiều hóa hiện, cả
bình an và phẫn nộ, nhưng tận thâm sâu là lòng kiên nhẫn
gần như vô bờ, với tôi, với các chúng sinh. Không có sự
sẵn lòng giảng dạy cho tôi, liên tục điều chỉnh và
mở rộng sự tu tập của tôi, chắc chắn là tôi sẽ không
thể giảng dạy và hướng dẫn người khác thành tựu p’howa.
Đây
cũng là một đặc quyền lớn – và trách nhiệm lớn – khi
làm việc với một bản văn trân quý ẩn tàng của Rigdzin
Longsal Nyingpo, từ lâu đã là một pháp sư tôi kính ngưỡng.
Sinh năm 1685, được tiên tri sẽ là một đại lạt ma, vào
lúc 7 tuổi, Ngài đã thông thạo đọc và viết, và đã xin
xuất gia làm sư. Ngài bị cha ngăn cản không cho đi tu, cho
tới năm hai mươi tuổi, Ngài trốn nhà tới Katog Gonpa. Nơi
đó, Ngài theo học Dempa Konchog Gyaltsen và thọ nhận pháp môn
Đại Toàn Thiện (Dzogchen), trực nhận bản tánh tuyệt đối
của mình. Là một học nhân cực kỳ tinh tấn, không hề cho
phép những gian khó gây trở ngại các kỳ thiền thất, Ngài
được kính ngưỡng bởi các vị hộ pháp, những vị đã
tới phục vụ Ngài, và Ngài còn bị thử nghiệm bởi các
vị thần địa phương, và rồi chư thần đã lại thán
phục Ngài.
Năm
28 tuổi, Ngài rời tu viện và tới tu tập trong các nơi cô
đơn, nguy hiểm. Chẳng bao lâu, Ngài gặp Dudul Dorje, vị thầy
chính của Ngài, người đã đón nhận Ngài y hệt như một
người cha gặp lại đứa con trai. Dudul Dorje nói với Ngài,
“Con có các bản văn trân quý ẩn tàng đang chờ con khám
phá,” và cho Ngài lời khuyên. Một lần nữa, Longsal Nyingpo
vào khóa ẩn tu. Vài năm sau, khi Ngài 32 tuổi, Đạo Sư Liên
Hoa Sanh (Guru Padmasambhava), trang phục như một hành giả, bước
tới và trao cho Ngài một danh mục các bản văn trân quý để
đi tìm. Ngài tiếp tục ẩn tu cho tới khi sự chứng ngộ đã
trọn đủ.
Đó
sẽ là khuôn mẫu suốt đời Ngài, làm hoàn hảo sự thành
đạt trong ẩn tu. Sau khi khám phá ra mỗi bản văn trong
kho kinh văn trân quý ẩn tàng, Ngài lại vào kỳ thất để
bảo đảm là từng phương diện của pháp môn đó được
đưa ra hoàn toàn, và để lập một nền tảng mạnh mẽ cho
những người sẽ tu học theo Ngài. Những gì mà Ngài có thể
thành tựu được bằng nỗ lực thì Ngài không buông lơi.
Đặc tính này, cũng như với tư cách người khám phá các
bản văn trân quý ẩn tàng và là thành tựu giả, đã biến
Ngài thành một đại hành giả.
Rồi
tới lúc thích hợp cho Longsal Nyingpo khám phá bản văn trân
quý ẩn tàng của một pháp tu liên hệ tới hình tướng phẫn
nộ của Guru Rinpoche. Bản văn này được giấu gần một tu
viện của một tông phái khác, và có lẽ không thuận thảo
với tông phái này, một bản văn trân tàng Phái Cổ Mật (Nyingmapa)
được khám phá gần đó. Khi Longsal Nyingpo gửi một thông
điệp thỉnh cầu sự hợp tác của tu viện trong việc khám
phá kinh văn đó, thì các vị sư mới âm mưu ngăn trở. Thế
nên, khi Longsal Nyingpo cỡi ngựa tới tu viện đó, Ngài gặp
các lá cờ ghi các kinh cầu trên đó bị nhuộm đen, thay vì
phải đủ thứ màu như bình thường. Thay vì nhang trầm hương
thơm, thì mùi gay gắt của gugul, loại dùng để xua đuổi
ma quỷ, tràn ngập trong không khí. Thay vì các bài kinh cầu
được ưa chuộng, các vị sư đã tụng niệm các bài thần
chú đầy giận dữ. Ngài xuống ngựa, họ dẫn Ngài tới một
chiếc ngai phủ vải đen, và Longsal Nyingpo mới nghĩ ra đó
là các dấu hiệu toàn hảo. Không biết rằng bản văn trân
tàng ẩn kín sắp được khám phá là về Wrathful Guru Rinpoche
(Ngài Đạo Sư Phẫn Nộ), các vị sư đã vô tình tạo ra sự
liên lập tốt nhất cho sự hoàn thành một sinh hoạt
đầy phẫn nộ.
Một
hôm, trong khi Longsal Nyingpo đang đi trong xứ Tromtar, nơi sinh
của Chagdud Rinpoche, một người đàn ông hiến tặng Ngài một
nồi đồng xinh đẹp. Vợ của người này thì rất thích chiếc
nồi đồng, nên trong lòng cứ tiếc của. Longsal Nyingpo, nhìn
được tâm niệm của bà này, mới lấy một sợi lông ngựa
và cắt chiếc nồi ra làm hai nửa bằng nhau, và chỉ nhận
một nửa làm món cúng dường.
Sự
hiện diện của vị thánh tăng này đã gây ra sự kính ngưỡng
từ những người quanh Ngài. Con ngựa của Ngài đã để lại
một dấu chân trên đá, và khi ngựa này chết và được hỏa
thiêu, người ta thấy để lại xá lợi trong tro. Tương tự,
khi con bò yak của Ngài chết, người ta thấy các hình ảnh
hiển lộ nơi xương của nó.
Di
sản giáo pháp của Rigdzin Longsal Nyingpo thì siêu đẳng. Cùng
với thầy của Ngài, Dudul Dorje, Ngài đã tạo môi trường
giác ngộ tại Katog Gonpa. Đặc biệt vào cuối đời, Ngài
tập trung khả năng để củng cố Katog. Người học trò ưu
tú nhất của Ngài là con trai Ngài, Sonam Detsen, kiếp sau của
Dudul Dorje. Dòng phái Longsal vẫn còn là một trong những dòng
phái chính được tu tập ở Chagdud Gonpa tại Kham, phía Đông
Tây Tạng.
Longsal
Nyingpo viên tịch năm 68 tuổi, lúc đó thị hiện nhiều dấu
hiệu phép lạ, và các xá lợi dị thường được tìm thấy
trong tro hỏa thiêu.
Bản
kinh văn về pháp môn p’howa của Ngài Rigdzin Longsal Nyingpo
đã đưa tới những uy lực giải thoát, và có chứng cớ hiển
hiện trên cuộc đời – và sự chết – của người tu tập
hôm nay. Những người được liệt kê dưới đây đã cho thấy
dấu hiệu rõ ràng sự thành tựu pháp môn p’howa. Tất cả
họ đều sống cuộc đời cư sĩ bình thường, và đối với
nhiều người trong đó thì pháp môn p’howa là liên hệ duy
nhất của họ đối với Phật Giáo Tây Tạng, nhưng trong vô
lượng kiếp luân hồi trong dòng sinh tử, họ đã tìm được
giải thoát vào trong cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Nơi đó, họ
hóa thân thành các vị bồ tát, và không còn gì ngăn trở
sự thành tựu giác ngộ tuyệt đối của họ.
Alice
Miranda, một phụ nữ Canada, đã chết vì ung thư ngực. Việc
bà tu tập pháp môn p’howa được hộ niệm bởi Helen Orr.
Terri
Laska chết vì ung thư phổi. Bà được hộ niệm bởi các thành
viên trong tăng thân Chagdud Gonpa trong khoảnh khắc sau khi chết.
Reece
Smith chết vì ung thư ruột. Sau khi được Chagdud Rinpoche dạy
pháp môn p’howa năm 1981, ông tu tập thường xuyên. Vào khoảnh
khắc trước khi chết năm 1996, ông chỉ đơn giản nói, “P’hat,
p’hat, p’hat,” tự chuyển di thần thức của mình với các
dấu hiệu thù thắng. Thành viên tăng thân Jeannie Chapman là
một trong những người hộ niệm lúc đó cho Smith.
Premal
Gold đã đến với Chagdud Rinpoche sau khi bị chẩn đoán có
bệnh ung thư ngực. Mặc dù bà tu theo một tôn giáo không phải
Phật Giáo, bà có lòng tin vào pháp môn p’howa và đã tinh
tấn tu tập trong khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại của
đời mình. Được hộ niệm bởi các thành viên tăng thân
Chagdud Gonpa vào giây phút lìa đời, bà đã chết với các
dấu hiệu thù thắng.
Neilly
Joe Gracia, một cậu bé 8 tuổi trong tăng thân, đã chết năm
1994 vì ung thư não tại Rigdzin Ling, trụ sở ở Bắc Mỹ của
Chagdud Rinpoche. Cậu bé được vây quanh bởi các thành viên
tăng thân, và được hộ niệm ngay tức khắc sau khi chết
bởi chính Chagdud Rinpoche, người đang ở Moscow vào lúc đó.
Sau nhiều cú điện thoại và sự bất định về các dấu
hiệu, Ngài Rinpoche cuối cùng nói, “Tôi biết là thần thức
của cậu bé đã được chuyển di,” và cho các lời dạy
cụ thể để dò tìm các dấu hiệu [siêu sinh]. Các dấu hiệu
đã đúng như lời Ngài mô tả [qua điện thoại].
Carmen
Gomez chết tại Rio de Janeiro năm 1995 vì bệnh tim, được hộ
niệm bởi con gái là Clarita Maia, và bởi Ngài Chagdud Rinpoche.
Mặc dù bà không phải là người tu tập, bà vẫn hiển lộ
các dấu hiệu chuyển di [thần thức vào tịnh độ].
Sự
hộ niệm của các thành viên tăng thân được huấn luyện
trong pháp môn p’howa thì rất giá trị trong giây phút lìa
đời. Một trong những cảm hứng của tôi khi viết sách này
và trong việc hướng dẫn người tu về phép chuyển di thần
thức chính là sự thành lập thêm các nhóm hộ niệm p’howa
bởi những người cùng tu với nhau và cùng lập nguyện giúp
hộ niệm lẫn nhau khi có ai trong nhóm từ trần. Các nhóm như
thế đã được thành lập ở Hoa Kỳ, Ba Tây, Uruguay và Uùc
Đại Lợi, nhưng vẫn còn cần nhiều hơn nữa. Cuốn sách
này để hoàn tất một lời hứa tôi đã nói với nhiều người
trong các nhóm này. Tôi hy vọng làm nhiều hơn nữa. Và, sâu
thẳm, tôi hy vọng rằng họ và tất cả những ai có liên
hệ tới pháp môn thù thắng p’howa sẽ tìm được giải thoát
trong cõi tịnh độ của Phật A Di Đà và sự giải thoát tối
hậu.
