VỀ
PHÁP MÔN P’HOWA
Sách
này nói về P’howa, có khi còn viết là Phowa, một pháp môn
trong Kim Cang Thừa của Phật Giáo Tây Tạng. Pháp này dạy
cách chuyển di thần thức về Cõi Cực Lạc của Phật A Di
Đà, nương theo đại nguyện của Ngài -- dù khá dị biệt
với Tịnh Độ Tông của Trung Quốc và Việt Nam, nhưng cũng
có thể dùng làm tham khảo cho người đọc khi đối chiếu
các pháp tu của nhà Phật. Vì có một số điểm trong pháp
P’howa khá xa lạ với truyền thống Tịnh Độ Tông Việt
Nam, cho nên bản Việt dịch này sẽ được dịch thật sát
với nguyên bản Anh văn, dù phải chấp nhận một số trúc
trắc về cú pháp, nhưng bù lại thì cách dùng lời sẽ cố
gắng trình bày sao cho thật dễ hiểu.
Theo
truyền thuyết, pháp môn P’howa từng được Tổ Sư Milarepa
sử dụng để chuyển di thần thức của một con chó đã chết.
Dù có đúng với sự thực lịch sử hay không, tích này đã
cho thấy, Phật Giáo Tây Tạng tin rằng pháp môn P’howa rất
mực mãnh liệt, có thể đưa người về cõi Phật A Di Đà
ngay khi lìa trần, hay ít nhất cũng khả dĩ tạo được
nhân duyên để không phải đọa vào các đường dữ.
Nhà
Phật có vô lượng pháp môn. Tùy nhân duyên nhiều đời, mỗi
người sẽ tìm được pháp thích hợp. Riêng với Phật Tử
Việt Nam hiện nay, pháp môn Tịnh Độ phổ biến nhất, rồi
sau đó mới tới Thiền Tông. Sách này được dịch chỉ vì
chỉ muốn giới thiệu người đang tu Tịnh Độ biết rằng
bên Tây Tạng cũng có một pháp gọi là P’howa, tuy nhiều
dị biệt, nhưng cũng tìm về Cõi Cực Lạc của Phật A Di
Đà.
Có
lẽ có một chỗ tương đồng nổi bật nơi đây chính là
pháp P’howa Pháp Thân, khi học nhân trực nhận bản tánh thanh
tịnh tự tại, và vào đây an trú. Như thế thì không khác
gì pháp Niệm Phật Thật Tướng. Và như thế hai pháp đó
cũng không khác gì Thiền Tông.
Trước
khi tham học Tổ Sư Thiền với Thiền Sư Tịch Chiếu (Chùa
Tây Tạng, Bình Dương), tôi từng có cơ duyên theo học trì
chú và niệm Phật với hai vị Hòa Thượng Thiền Tâm (ở
Đại Ninh, Lâm Đồng; đã viên tịch) và Tài Quang (ở Phú
Nhuận, Sài Gòn; đã viên tịch) – qua các nghi quỹ trì tụng
Đại Bi Chú, Ngũ Bộ Chú, Phật Đảnh Tôn Thắng Thần Chú.
Một
cách tự động, lời nguyện đã ngấm vào người, kể cả
nhiều thập niên sau, cả khi không còn trì chú nữa (có lúc
vì dồn hết tâm lực để tu Thiền, và rồi có lúc thì quá
bận rộn, với cả Phật sự và cả chuyện đời thường)
nhưng thường xuyên vẫn nghe vang vang bên tai các câu:
Nguyện
sinh Tây Phương Tịnh Độ trung
Cửu
phẩm liên hoa vi phụ mẫu
Hoa
khai kiến Phật ngộ vô sanh
Bất
thối Bồ tát vi bạn lữ.
(Xin
nguyện sinh vào cõi Tịnh Độ Tây Phương
Chín
phẩm hoa sen là cha mẹ
Khi
hoa nở, thấy Phật liền ngộ tánh vô sanh
Với
các vị Bồ Tát không lui sụt làm bạn hữu.)
Mặc
dù Thầy Tịch Chiếu dạy pháp Tổ Sư Thiền trong một ngôn
ngữ mạnh bạo có lúc phi bác hết mọi pháp khác, nhưng có
một lần, Thầy kể cho tôi nghe về một trường hợp vãng
sanh Tịnh Độ, với hào quang sáng rực cả nhà tang chủ. Lúc
đó, tôi không hỏi thêm chi tiết, vì nghĩ các chuyện như
thế rất là thường ở Việt Nam, vì cũng từng nghe nhiều
chuyện thần kỳ của Tịnh Độ ở nhiều nơi, nhất là bên
Thầy Thiền Tâm.
Hay
như với Thầy Tài Quang, bây giờ đây, tôi vẫn còn nhớ tới
con chim két nuôi trong sân chùa, cứ hễ có ai bước vào sân
chùa Quang Minh thì két lại nói “Mô Phật, Mô Phật” hệt
như hình ảnh được ghi trong các kinh Tịnh Độ Tông, khi chim
chóc cây lá cũng nói pháp...
Một
cách tự nhiên, lòng tôi lúc nào cũng nhìn các pháp bình đẳng,
không phân biệt, chỉ là tùy cơ mà ứng phó. Bởi vì Phật
đã dạy, chiếc bè pháp chỉ là để qua sông, xong rồi thì
phải bỏ bè. Thế nên, mỗi người tùy cơ duyên nhiều đời,
tùy hạnh nguyện và căn tính riêng, rồi sẽ tìm được bè
pháp thích hợp cho mình.
Vì
mang ơn thọ pháp từ các vị Thầy Tịnh Độ, nên tác phẩm
“P’howa Commentary” được chọn dịch nơi đây ra Việt Ngữ,
một phần là để ghi ơn quý Thầy và một phần là để người
tu có thêm tài liệu tham khảo, mặc dù dịch giả vẫn còn
là một kẻ sơ học và ngôn ngữ lại quê mùa.
Thêm
nữa, Tịnh Độ đã trở thành pháp tu phổ biến tại Việt
Nam, và là một phương tiện gắn bó mang tính xã hội. Có
rất nhiều gia đình tại Việt Nam gần như không bao giờ tới
chùa, chỉ khi có người thân lìa đời, bấy giờ mới tới
chùa cung thỉnh chư tăng ni hộ niệm. Từ các dịp tang chế
như vậy, Tịnh Độ đã tiếp cận tới đồng bào trước
tiên như một pháp môn cầu nguyện cho người thân về nơi
bình an, và sau đó dùng làm một pháp tu cho người còn lại.
Có
quan hệ nào giữa các pháp P’howa và Tịnh Độ Tông hay không?
Có rất nhiều điểm đồng, và một số điểm dị biệt.
Nhưng một cách căn bản, hai pháp môn này nhằm đưa thần
thức người chết về cõi Phật A Di Đà, nương theo hạnh
nguyện của Ngài. Đứng về mặt khác, hai pháp này, cũng y
hệt như tất cả các pháp môn khác của nhà Phật, còn là
nhằm xa lìa dòng sinh tử – mà hầu hết các pháp nói chung
chỉ là làm việc thiện, xa việc ác, ngộ lý vô thường,
chứng nhập vô ngã, tỏ rõ tâm thể, thấy được tánh Phật.
Chúng
ta đã trải qua vô lượng kiếp, luân hồi giữa biển sinh
tử. Hết kiếp này rồi tới kiếp khác. Kinh Na Tiên Tỳ Kheo
(Milanda Sở Vấn) ví bằng hình ảnh, rằng cuộc đời chúng
ta như ngọn lửa, khi chaý hết cây đuốc này thì chuyền sang
cây đuốc khác. Vấn đề là cái gì đã dẫn dắt chúng ta
đi vô lượng kiếp như thế? Và làm sao để thoát khỏi dòng
luân chuyển vô minh đó?
Kinh
Na Tiên trả lời rằng, chính dòng tâm thức đã lưu chuyển
liên tục, biến hiện vô chừng.
Kinh
Pháp Cú lại mở đầu bằng các câu:
Tâm
dẫn đầu các pháp.
Tâm
là chủ, tạo tác.
Nếu
nói hay hành động,
Với
tâm niệm bất tịnh,
Khổ
não liền theo sau,
Như
xe theo bò vậy.
(Bản
Việt dịch của Thầy Tịnh Minh)
Vì
tâm là dẫn đầu, vì tâm là ông chủ, nên để vượt qua
dòng sông sinh tử, chúng ta không thể nương tựa vào bất
kỳ một pháp nào ngoài tâm. Ngay cả các pháp môn Niệm Phật
(Tịnh Độ), P’howa, Trì Chú, Thiền Minh Sát, Thiền Chỉ Quán,
Thiền Tổ Sư, và vân vân... đều chỉ là để hàng phục
tâm.
Ngắn
gọn, tất cả các pháp môn nhà Phật chỉ là phương tiện
để làm thanh tịnh tâm. Và nếu thực sự cõi tâm đã thanh
tịnh, thì hiển nhiên không còn pháp nào cần nữa.
Chúng
ta nơi đây có thể trích dẫn lời Phật dạy:
“Này
Bhaggava, Ta nói như sau: ‘Khi một ai đạt đến thanh tịnh,
giải thoát, khi ấy vị ấy biết thế giới là thanh tịnh’...”
(Trường Bộ Kinh, Digha Nikaya -- Kinh Ba-lê, Pàtika Sutta; Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt)
Chỗ
này đơn giản lắm: một khi đã chứng nhập Niết Bàn, thì
làm gì còn có pháp nào nữa, chính hiện tiền tịch tĩnh làm
vui. Nơi đây cũng có thể nói ngược lại, chính từ cảnh
giới này mà muôn pháp mới thật là muôn pháp, nên mới có
sen nở, chim reo, suối hát... thảy thảy đều là chánh pháp.
Do
vậy, vấn đề chung cho tất cả các tông phái nhà Phật chính
là: muốn giải thoát sinh tử luân hồi, thì phải chứng nhập
Niết Bàn.
Câu
hỏi có thể nêu nơi đây: đối với người đã giải thoát,
thì thế giới này là thanh tịnh, vậy thì tại sao chúng ta
lại thấy thế giới này là bất tịnh, là đau khổ?
Hòa
Thượng Chơn Thiện, trong cuốn Phật Học Cơ Bản, tập 4,
in tại Sài Gòn năm 2001, phần Giáo Lý Duyên Khởi có viết:
“Một
lần, theo kinh Pàtigamya (Tiểu Bộ), Đức Phật Thích Ca nói
đến thế giới vô vi (Asankhàra) là thế giới hiện hữu ngoài
các phạm trù "Đi, đến", "Sanh, diệt" v.v... và tuyên bố đây
là thế giới của đoạn tận Khổ đau, đoạn tận Chấp thủ.
Điều này nói lên rằng thế giới mà con người đang thấy
và biết là thế giới của chấp thủ.”
Nghĩa
là, phải rời Chấp Thủ thì thấy Thanh Tịnh?
Để
làm sáng tỏ hơn, nơi đây, có thể trích dẫn một đoạn
lời Phật dạy về cảnh giới Niết Bàn như sau. Các đoạn
sau đây trích từ Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya, Kinh Phật Tự
Thuyết – Udàna, do Hòa thượng Minh Châu dịch ra Việt ngữ.
“Này
các Tỷ-kheo, có xứ này, tại đây không có đất, không có
nước, không có lửa, không có gió; không có Hư không vô biên,
không có Thức vô biên xứ, không có Vô sở hữu xứ, không
có Phi tưởng phi phi tưởng xứ; không có đời này, không
có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời. Do vậy,
này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố không có đến, không có đi,
không có trú, không có diệt, không có sanh; không có an trú,
không có chuyển vận, không có sở duyên, đây là sự đoạn
tận khổ đau.” (II) (Ud 80)
Đoạn
văn trên cho thấy Niết Bàn không hề có trú xứ, và cũng
không có thời gian -- không có đời này, không có đời sau
– nghĩa là không hề có cái gì gọi là ở đây, ở kia, quá
khứ, hiện tại và tương lai. Chính vì vậy, pháp hàng phục
tâm của nhà Phật không thể nào cho trụ vào bất kỳ một
nơi chỗ, dù là cái ở đây, hay vào bất kỳ một thời khoảng
nào, dù là cái bây giờ. Ngắn gọn, nói như kinh Kim Cang thì
phải là “vô sở trụ.”
Cho
nên, dù có mượn phương tiện nào để tạm thời trụ tâm
thì cũng chỉ nên xem như là chỗ tạm. Tuy nhiên, còn có chỗ
khác nên nhận rõ, trong câu niệm Phật và các bài thần chú
đều có uy lực của chư Phật.
Tôi
từng có một thời tu tập chú thuật ngoại đạo, trước
khi vào tu các pháp Đại Bi Chú, Ngũ Bộ Chú, Niệm Phật...
Dù chỉ là mới sơ cơ, nhưng tôi đã thấy mật chú nhà Phật
và mật chú ngoại đạo đều có uy lực. Nhưng thần chú nhà
Phật càng đọc, thì lòng càng dịu đi tham sân si. Tôi thực
sự tu hành chưa tới đâu, nhưng vẫn cảm nghiệm được nhiều
linh ứng, cho nên tin rằng, những người siêng năng tinh tấn
hơn sẽ nhất định có nhiều lợi lạc hơn.
Nhưng
cốt tủy của các pháp môn đều phải là giác ngộ, nghĩa
là thấy được thực tướng các pháp. Đó là lý do vì sao,
trong các kinh nhật tụng và hầu hết trong mọi thời khóa,
mở đầu gần như luôn luôn là bài Đại Bi Chú, và kết thúc
luôn luôn là bài Bát Nhã Tâm Kinh. Hay nói cách khác, mở đầu
thời khóa phải là mở lòng Từ Bi thương xót tất cả chúng
sinh, và kết thúc phải là Trí Tuệ Bát Nhã. Nói một cách
khác nữa, phải vào bằng cửa Có, và ra bằng cửa Không.
Sau đó, thì Có với Không đều không làm bận tâm người
tu được nữa. Đây chính là cảnh giới Niết Bàn vậy.
Xin
ghi thêm các lời Phật dạy về Niết Bàn như sau.
“Này
các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị
làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không
sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở
đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu,
bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh,
không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình
bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.”
(III) (Ud 80)
“Cái
gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương
tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh
an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì
không có đến và đi; không có đến và đi thì không có diệt
và sanh; không có diệt và sanh thì không có đời này, không
có đời sau, không có đời ở giữa. Đây là sự đoạn tận
khổ đau.” (IV) (Ud 81)
Vậy
thì, phải quán sát tâm ra sao để giải thoát? Cũng trong bản
Kinh Udana do Hòa Thượng Minh Châu dịch, Phật dạy pháp quán
tâm như sau.
"Vậy
này Bàhiya, ngươi cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy
sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe.
Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái
thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri... Như vậy, này Bàhiya,
nhà ngươi cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, như với
ngươi, trong thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là
cái nghe, trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng,
trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiya,
ngươi không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya ngươi không
là chỗ ấy. Do vậy, này Bàhiya, ngươi không là đời này,
không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là
đoạn tận khổ đau." (Kinh I, 10)
Vấn
đề trở nên đơn giản: trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy,
trong cái nghe sẽ chỉ là cái nghe... rồi sẽ tới một lúc
chứng ngộ vô ngã – nghĩa là, không hề có cái gì gọi là
tôi thấy hay tôi nghe, anh thấy hay anh nghe, chúng ta thấy hay
chúng ta nghe – nơi đó, “ngươi không là chỗ ấy... ngươi
không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng
giữa...” và không còn tìm được đâu cái ngươi đó nữa,
và cũng không còn tìm đâu cái gọi là thời gian tam thế nữa.
Có
lẽ, các đoạn kinh ngắn này đã được diễn giải theo các
phương tiện khác nhau, và rồi dẫn tới các pháp thiền khác
nhau. Nhưng tất cả đều có những điểm chung nhau, rằng trong
cảnh giới giác ngộ này thì không có thời gian, không có
trú xứ, và là vô ngã (ngươi không là chỗ ấy). Ngắn gọn,
đây là cảnh giới vô sinh diệt.
Cũng
nên trích thêm vài đoạn từ bài Giới Thiệu Kinh Phật Thuyết
Như Vậy (Itivuttaka) của Hòa thượng Minh Châu:
“Tập
Itivuttaka - "Kinh Thuyết Như Vậy", thuộc Bộ Khuddaka Nikàya
(Tiểu Bộ Kinh) ....
“Một
kinh nữa, kinh số 43 xác nhận sự hiện diện của trạng thái
giải thoát này, ngay trong đời hiện tại, có mặt trên quả
đất này:
"Này
các tỷ kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không tác
thành, không làm ra. Này các tỷ kheo, nếu không có cái không
sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm ra, thời ở
đây không có thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, khỏi hiện
hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra. Do vì này các tỷ kheo,
có cái không sanh, không hiện hữu, không tác thành, không làm
ra, nên có thể trình bày được sự xuất ly khỏi sanh, khỏi
hiện hữu, khỏi tác thành, khỏi làm ra".
Nói
ngắn gọn phần này, nghĩa là, vì có một cái không sanh không
diệt, cho nên mới có thể giải thoát ra khỏi cõi sanh diệt.
Tới
đây, câu hỏi sẽ là: pháp môn Tịnh Độ có thể đưa người
tu vào cảnh giới vô sanh diệt hay không? Và làm sao một pháp
môn niệm niệm không rời lại có thể dẫn tới chỗ chứng
ngộ vô ngã?
Có
thể có. Thử lấy hình ảnh thường dùng tương tự. Người
tu phải quán sát tâm mình, tương tự như chăn trâu. Trâu là
hình ảnh ví cho tâm, và người chăn trâu là học nhân lo điều
tâm.
Sẽ
có một số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên trực nhận
ra ba pháp ấn – Khổ, Vô Thường, Vô Ngã – trong các niệm.
Sẽ
có một số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên trực nhận
ra cả trâu với người đều biến mất, vốn thật là Không,
thì chuyện vô ngã hay không vô ngã đều không còn chỗ
để nói năng nữa.
Sẽ
có một số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên thấy tâm
mình không lìa tâm Phật A Di Đà, bởi vì cả hai đều vào
biển chân tâm một vị giải thoát – nơi đó, tánh bản tịch
thì là Niết Bàn, và tánh bản chiếu thì là Trí Tuệ.
Sẽ
có một số người, trong khi niệm Phật, hốt nhiên nghe được
âm thanh của niệm và vô niệm không lìa nhau, đều từ một
thể như sóng không lìa nước.
Tuy
nhiên, không phải người tu nào cũng có chỗ thù thắng như
thế. Và chính từ đây, Tịnh Độ và P’howa mới tìm phương
tiện để chuyển di thần thức.
Hãy
hình dung thế này, cõi Cực Lạc khởi lên do đại nguyện
của Phật A Di Đà cũng giống như Ngài lập ra một trường
đại học, nơi đó chúng ta nộp đơn xin vào học bằng cách
khởi nguyện tu Tịnh Độ.
Cõi
này có thật có hay không? Hay chỉ là phương tiện để khuyến
tu thôi? Ngày xưa, tôi cũng nhiều phen khởi nghi như thế.
Kể cả ngay khi đọc thần chú và thấy các cảm ứng lạ,
kể cả có khi sức quán tưởng về Phật A Di Đà mạnh tới
nỗi như thấy Ngài hiện trước mặt mình... lòng nghi vẫn
không biết đó có phải là ảo giác hay không. Chỉ tới sau
nhiều năm tu pháp Tổ Sư Thiền, thì bấy giờ mới hết lòng
nghi nói trên. Tất cả đều là chiếc bè pháp để đưa người
qua sông.
Chỗ
này chúng ta thử lý luận như sau.
Trong
49 năm thuyết pháp, Phật đi nhiều nơi, thuyết nhiều pháp
hội, cho mọi thành phần khác nhau, và được tứ chúng hiểu
theo các căn cơ khác nhau. Có khi Phật nói, giải thoát là người
đã chấm dứt Tham, Sân, Si. Có khi Phật nói, giải thoát là
người đã chấm dứt Tham (kinh Một Pháp, trong Tiểu Bộ Kinh,
bản dịch của Hòa Thượng Minh Châu). Có khi Phật nói, giải
thoát là người đã chấm dứt Sân (một kinh Một Pháp khác).
Có khi Phật nói, giải thoát là người đã chấm dứt Si (lại
kinh Một Pháp khác nữa). Có khi Phật nói, giải thoát là người
đã thấy bản tánh của Tham Sân Si là Niết Bàn (kinh Duy Ma
Cật)... và vân vân.
Thử
trích dẫn một đoạn kinh như sau.
“Điều
này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán
nói đến, và tôi đã được nghe:
“Này
các Tỷ-kheo hãy từ bỏ một pháp. Ta bảo đảm cho các Thầy
không có tái sanh. Thế nào là một pháp? Sân, này các Tỷ-kheo,
là một pháp các Thầy hãy từ bỏ. Ta bảo đảm cho các Thầy
không có tái sanh.” (Tiểu Bộ - Khuddhaka Nikaya. Hòa thượng
Thích Minh Châu dịch Việt)
Tại
sao lúc nói bỏ một là đủ, lúc thì nói phải bỏ cả ba,
lúc thì nói có gì đâu mà bỏ... Không vào được chỗ tri
kiến của Phật thì sẽ không bao giờ hiểu nổi. Còn chấp
vào từng chữ thì Phật thế nào cũng oan.
Do
vậy, các bài pháp khi được kết tập có lẽ đã được
gạn lọc theo các vị trưởng lão chủ trì. Sẽ có một số
kinh không xuất hiện ở vùng này, hay thời này, mà lại xuất
hiện ở vùng khác, hay thời khác. Và rồi được diễn giải
để ứng dụng khác nhau. Hình như đó là lý do mà pháp môn
P’howa xuất hiện ở Phật Giáo Tây Tạng, và pháp môn Tịnh
Độ xuất hiện ở Phật Giáo Trung Hoa – và cả hai pháp này
đều nhằm đưa người tu vãng sanh cõi Cực Lạc của Phật
A Di Đà.
Nói
theo ngôn ngữ nhà Phật, không thể nói cõi Cực Lạc là có
hay không, bởi vì tất cả các pháp thực sự đều bất khả.
Nếu
chúng ta nói cõi Ta Bà có thật, còn cõi Tịnh Độ không có
thật, thì đã phạm lỗi chấp thật, điều mà Phật đã phi
bác.
Nếu
chúng ta nói cõi Ta Bà hư ảo, còn cõi Tịnh Độ là thật
có, thì đã phạm lỗi chấp giả, điều mà Phật đã phi bác.
(Điều này gần với khái niệm Thiên Đường của nhiều tôn
giáo khác.)
Cho
nên, ngay khi chúng ta khởi niệm rằng cõi Ta Bà là thật có,
thì lập tức cõi Cực Lạc cũng thật có.
Tương
tự, ngay khi chúng ta khởi niệm rằng cõi Ta Bà là không thật
có, thì lập tức cõi Cực Lạc cũng không thật có.
Tất
cả cái nhìn đó đều sai, vì Phật đã phi bác bằng mệnh
đề tứ cú, rằng cõi Ta Bà không phải có, không phải không,
không phải vừa có vừa không, và không phải vừa không có
vừa không không.
Với
cái nhìn này, thì cõi Cực Lạc trong thực tướng cũng ly tứ
cú, tuyệt bách phi vậy.
Tuy
nhiên, khi chưa thực sự giác ngộ thì đừng bao giờ nói là
không có sinh tử luân hồi. Nơi đây, chúng ta trích một lời
Phật như sau.
Trong
kinh Pháp Cú, Đức Phật có nói: "Trải qua vô lượng kiếp
Luân Hồi, Như Lai đã phải đi lạc đường, trong khi muốn
tìm cho ra người thợ cất nhà này; khốn khổ thay, Như Lai
đã phải sanh đi, sanh lại triền miên".
Đó
là điều để cảnh sách: Phật còn phải luân hồi triền
miên như thế, huống gì là chúng ta.
Mặt
khác, có một số vị đa nghi, lại nêu ra các giải thích về
không gian, về vũ trụ, nói rằng hiện thời nhân loại có
những ống kính nhìn xa mười mấy tỉ năm ánh sáng, mà có
thấy cõi nào đâu. Ý họ muốn nói chỉ cõi trần gian này
là thật có, còn các cõi Phật, cõi chư Thiên, vân vân chỉ
là ẩn dụ thôi, không thật có. Than ôi, lấy nhục nhãn mà
đo lường kinh Phật thì kể như hết nước nói.
Chúng
ta nơi đây sẽ ghi lại kinh nghiệm thiền định của một
nữ thiền sư người Aán cuối thế kỷ 20, bà cụ Dipa Ma (1921-1989),
chuyên tu và giảng dạy về Thiền Minh Sát, một pháp môn bà
cụ học được từ các vị sư Miến Điện. Cuộc đời bà
cụ ghi lại trong sách “Knee Deep In Grace: The Extraordinary Life
and Teaching of Dipa Ma” (sưu khảo của Amy Schmidt, bản Việt
ngữ là “Ngập Sâu Trong Ân Sủng: Cuộc đời ly kỳ và Giáo
pháp của Nữ Thiền sư Dipa Ma,” do Thiện Nhựt phỏng
dịch).
Trong
những người học pháp từ bà cụ có cả Jack Kornfield, Jack
Engler, Michael McDonald Smith – những vị thầy nổi tiếng đã
khai sáng ra các trung tâm chuyên dạy Thiền Minh Sát tại Hoa
Kỳ.
Bà
cụ Dipa Ma sau khi học Thiền Minh Sát, được thầy dạy thêm
các pháp về thần thông – phân thân, tàng hình, đằng không,
nhìn lại quá khứ, đoán chuyện tương lai, vân vân... tất
cả đều do sức định mà thành – các khả năng mà về sau
bà cụ rời bỏ vì cho là không cần thiết cho trí tuệ giải
thoát. Điều chúng ta muốn nói nơi đây rằng có những chỗ
mà nhục nhãn không thể nhìn thấy được, và cái gọi là
kiến thức khoa học vẫn còn rất là xa với cảnh giới mà
các đại thành tựu giả nhìn thấy, thí dụ như về cõi chư
Thiên.
[Bắt
đầu trích đoạn]:
“Đôi
khi Dipa Ma và em bà là Hema đi đến trình pháp với thiền sư
Munindra bằng cách bất thần hiện hình lên trong phòng ông,
và Dipa Ma cũng có lúc bước ra khỏi phòng xuyên qua cánh cửa
khép chặt. Cũng tựa như trò đùa, bà đứng lên khỏi ghế,
bước tới vách gần đó và đi ngang qua tường...
“Nếu
bà đi bộ một mình trong đêm tối, bà phân thân ra, thành
có thêm một bạn đồng hành đi bên cạnh, để khỏi bị
ai khuấy phá.
“Khả
năng của Dipa Ma về địa hạt nầy đã được trắc nghiệm
lại và được một nhóm khoa học gia khác xác nhận. Thiền
sư Munindra có quen biết với một giáo sư về Cổ sử Ấn
độ tại truờng Đại học Magadh, ông ấy đã tỏ ra rất
nghi ngờ về các năng lực thần thông. Munindra mới đưa đề
nghị chứng minh sự có thật của các năng lực thần thông
và cả hai ông cùng thiết lập một cuộc thử nghiệm. Vị
giáo sư liền nhờ một người sinh viên tín cẩn ngồi canh
chừng trong căn phòng Dipa Ma đang ngồi thiền, để chắc chắn
rằng bà chẳng hề rời khỏi chỗ ngồi của bà trong phòng.
Đến ngày đã hẹn trước, người sinh viên kiểm nhận là
Dipa Ma chẳng hề rời khỏi tư thế ngồi thiền, và cùng lúc
ấy, bà lại hiện lên trong văn phòng của vị giáo sư cách
đó mười dặm và trò chuyện cùng ông...
“Dipa
Ma còn có khả năng nhìn thấy hay nghe đến các biến cố xảy
ra ở nơi khác và vào một thời kỳ khác. Khi nhà ngoại giao
Miến điện, U Thant, sắp lên lãnh chức vị Tổng Thơ Ký Liên
Hiệp Quốc, thì thiền sư Munindra biết U Thant sẽ đọc một
bài diễn văn nhậm chức, ông bảo Dipa Ma hãy đi vào tương
lai và ghi nhớ lại nội dung bài diễn văn đó. Bà liền đọc
lại bài diễn văn đó và thiền sư Munindra ghi âm vào máy.
Một tháng sau, U Thant đọc diễn văn tại Liên Hiệp Quốc,
đúng từng chữ một với bài văn Dipa Ma đã tiên đoán.
“Vượt
thời gian và không gian. - Dipa Ma bảo, bà có thể đi ngược
lại thời gian để đến nghe lúc Đức Phật đang thuyết pháp.
Khi tôi hỏi, bà làm cách nào được như vậy, thì bà mỉm
cười và bảo: "Tôi đi ngược lại từng tâm thời qua tâm
thời". Chắc là tôi đang nhìn bà với cả sự kinh ngạc, bởi
vì bà lại mỉm cười và nói, "Ồ, bạn chẳng thể nào làm
như thế để Niết bàn (sự giác ngộ) được hiện ra." Rồi
bà cười to lên và nói thêm, "Điều ấy rất buồn cười.
Chỉ cần tập trung định lực cho thật nhiều thôi." Trông
ánh mắt bà, khi bà đang nói, bà thật là hết sức giải thoát
và hết sức thanh tịnh." -- Michael McDonald Smith...
“Munindra
bảo Dipa Ma hãy nhìn vào những gì đang xảy ra trong phòng bên
cạnh, rồi tả lại cho ông nghe. Rồi ông kiểm điểm lại.
Sau đó, ông lại bảo bà nới rộng khả năng thiên nhãn thêm,
để nhìn càng lúc càng xa hơn nữa, đến những điạ điểm
mà ông có thể soát lại sự chính xác của lời bà mô tả.
Thí dụ như, bà chưa hề đặt chơn đến Bồ đề đạo tràng
(Bodh Gaya), và thiền sư bảo bà hãy mô tả lại nơi ấy --
cội Bồ đề ở về phía nào, những thánh vật nào còn lưu
lại từ thời cổ đại. Ông đã từng làm vị giám thủ bảo
tàng viện ở đấy trong nhiều năm và biết rõ cả những
chi tiết ẩn mật của điạ điểm nầy. -- Jack Engler
“Chẳng
những Dipa Ma có thể đến thăm viếng bất cứ nơi nào trên
quả đất nầy, bà còn có khả năng vượt đến các cảnh
giới khác đã được mô tả trong vũ trụ học của Phật
giáo -- như cõi Trời và cảnh điạ ngục chẳng hạn. Bà mô
tả các loại chúng sanh đang sống nơi đó và những gì xảy
ra chung quanh họ. Đôi khi, bà buột miệng kể lại các chuyến
bà du hành sang các cảnh giới khác lạ đó. Cõi Trời. - Trong
ba tháng an cư ở Hội Thiền Minh Sát (Insight Meditation Society),
ở tiểu bang New England, vào những ngày mùa thu trời trong xanh
như pha lê, với vài vừng mây bạc trôi trên ngọn cây rực
rỡ ánh sáng và màu sắc, chúng tôi thường đi bách bộ bên
ngoài. Chúng tôi đến ngồi trên các phiến đá, bên bờ hồ,
và mặt nước lặng tờ phản chiếu các màu sắc đó.
“Có
nhiều người đến bờ hồ, và trong số đó có một người
nói với Dipa Ma, "Cảnh nầy chắc phải giống cảnh tiên trên
cõi Trời" -- chúng tôi đều biết bà đã từng du hành đến
các cảnh giới khác. Và bà nhìn anh bạn rồi nói: "Không,
chẳng có chi giống cả. Cảnh đây khá đẹp, nhưng nó thật
còn chưa đụng tới cảnh Trời." -- Jack Kornfield.
“Thiên
nhãn của Dipa Ma đã giúp bà nhìn thấy cả tương lai của
các học viên của bà. "Bà tiên đoán về sự nghiệp giảng
dạy của tôi rất tỉ mỉ, vào lúc mà tôi chưa từng giảng
dạy chút ít nào cả", Joseph Goldstein nói, "Tôi tin rằng bà
đã thấy rõ trước tất cả những thăng trầm của trọn
đời tôi." [hết trích đoạn – trích từ http://www.budsas.org
]
Cho
nên, chính ngay cõi của chư Thiên, mà các vị thành tựu giả
đã nhìn thấy trong khi chúng ta chưa thấy nổi, vậy mà nhiều
người trong chúng ta lại dám lý luận càn rỡ về cõi của
chư Phật, cho rằng đó chỉ là phương tiện bày ra cho người
hạ căn thôi, thì là hết sức cuồng ngôn. Chỗ này nên cảnh
giác, nếu có trú xứ nào cho cõi Phật thì đó hiển nhiên
không phải cõi Phật, mà chỉ là hóa thành thôi (nếu có).
Ngay như một số người học chú thuật ngoại đạo, còn tiếp
cận được cảnh giới vô hình, vậy mà nhiều người con
Phật lại hiểu nhầm Phật Pháp, lấy ngay cái không gian vũ
trụ trong sách khoa học ra mà cố ý giảng pháp làm sao cho
“hợp khoa học.” Lại nữa, một số vị tự nhận có căn
cơ cao, chuyên về tu tập Tổ Sư Thiền, rồi lại giữ thành
kiến rằng Tịnh Độ là pháp của các bà già nhà quê.
Tất
cả các thành kiến đó đều không nên. Thật sự là có những
cảnh giới vô hình, mà chúng ta chưa biết hết. Và thật sự
là, nếu thấu đạt Tổ Sư Thiền, thì có ngồi hít thở sổ
tức tự nhiên cũng là đạo, có ngồi tụng kinh niệm Phật
tự nhiên cũng là đạo, hay có chạy nhảy la hét ngoài sân
banh cũng không thấy mình lìa đạo – thì làm sao mà dám chê
Tịnh Độ được.
Tới
đây, dịch giả xin mời gọi cùng đọc về pháp P’howa của
Phật Giáo Tây Tạng, để tham khảo thêm cho những người
tu pháp Tịnh Độ. Trường hợp độc giả muốn tìm hiểu
thêm về pháp môn Tịnh Độ, xin mời đọc các bộ sách của
cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có bán ở hầu hết các
tiệm sách Phật Giáo trong và ngoài nước, hoặc lên các trang
web Phật Giáo Việt Ngữ.
Dịch
giả không giữ tác quyền bản Việt dịch này, và bất kỳ
ai cũng có quyền sao chép, in ấn trong mọi phương tiện khả
dụng.
Nguyên
Giác Phan Tấn Hải
