Phần
C
chú
nghĩa Kinh A Di Đà
–
Danh hiệu Phật như hóa thân Phật bất tư nghì, vì luôn hiện
thân Phật ngay nơi thân và tâm của người xưng niệm danh
hiệu A Di Đà Phật.
Niệm
Phật Bát Nhã Tam Muội Kinh
chú
nghĩa Kinh A Di Đà
kinh
khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn
và
được tất cả các đức Phật hộ niệm
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Phật
nói Kinh A Di Đà, tức là kinh A Di Đà tiểu bổn, còn gọi
là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được
tất cả các đức Phật hộ niệm, ý lời rất sâu xa diệu
nghĩa, do đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng nói, khai thị về
pháp môn niệm Phật.
Đại
bổn kinh A Di Đà là Vô Lượng Thọ Kinh, với 48 lời nguyện
của đức Phật A Di Đà.
Tiểu
bổn nầy, đời Hậu Tần (383-416), ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu
Ma La Thập phụng chiếu của vua Dao Hưng, dịch từ Phạn ngữ
ra Hán văn, vào năm 402, tại chùa Thảo Đường ở xứ Trung
Quốc thời đó. Bản dịch Hán ngữ của ngài Cưu Ma La Thập
đã được dùng làm kinh nhật tụng cho các thời khóa công
phu và được xem là định bản để dùng cho các bộ A Di Đà
chú giải cũng như đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác.
Pháp
sư Cưu Ma La Thập, tức là ngài Đồng Thọ, người xứ Thiên
Trúc (Ấn Độ), là vị Pháp sư đã phiên dịch trên 380 quyển
kinh Phật từ tiếng Phạn ra tiếng Hán. Đồng Thọ, có nghĩa
là vị đồng tử có tuổi thọ rất lâu dài.
Phần
Tự
Phật
nói về thế giới Cực Lạc ở phương Tây
Lời
mở đầu của bản kinh A Di Đà, như sau:
Câu
hội tại vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc
KINH:
“Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Phật ở nước Xá Vệ,
nơi vườn của ông Cấp Cô Độc và cây của ông Kỳ Đà,
cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ Kheo tụ
hội, đều là bậc đại A La Hán mà mọi người biết đến:
Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp,
Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà
Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu
Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu
La, A Nậu Lầu Đà, các đại đệ tử như thế.”
Tôi
nghe như vầy (như thị ngã văn) là chính ngài A Nan đã nghe
và thuật lại đúng y như vậy những lời của Phật Thích
Ca nói.
Kỳ
Đà Cấp Cô Độc là tên của 2 ông Kỳ Đà và Cấp Cô Độc.
Trưởng giả Cấp Cô Độc (người giúp đỡ kẻ cô thân nghèo
khốn) là ông Tu Đạt Đa, rất giàu có và nhân hậu, đã dùng
vàng trải trên mặt đất để mua mảnh vườn của thái tử
Kỳ Đà, làm Tịnh Xá cho Phật và Tăng chúng. Thái tử Kỳ
Đà là con của vua Ba Tư Nặc. Những hàng cây trong vườn là
của thái tử Kỳ Đà cúng dường cho đức Phật. Vì thế,
khu vườn nầy được gọi là Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên
(cây của ông Kỳ Đà và vườn của ông Cấp Cô Độc), còn
gọi là Kỳ Viên Tịnh Xá Jetavana.
Xá
Vệ (tiếng Pali: Savatthi, tiếng Phạn: Sravasti) là kinh đô nước
Kosala của vua Ba Tư Nặc ở xứ Ấn Độ thời đó, nằm ở
khoảng giữa của 3 nơi giáp quanh là sông Hằng, vườn Lâm
Tỳ Ni (gần thành Ca Tỳ La Vệ, nơi Phật đản sanh) và dãy
núi Hy Mã Lạp Sơn (biên giới Nepal).
Tỳ
Kheo (có 3 nghĩa: Khất Sĩ, Phá Ác, Bố Ma) là các vị thầy
tu xuất gia, thọ 250 giới cụ túc của Phật (người nữ xuất
gia, gọi là Tỳ Kheo Ni). Khất Sĩ là người tìm cầu pháp
giải thoát của Phật và sống bằng lòng nhân hậu của thí
chủ cúng dường. Phá Ác là phá trừ phiền não và ngã chấp.
Bố Ma là khiến các loài ma phải khiếp sợ.
Các
vị đại Tỳ Kheo đến dự pháp hội đều là những bậc
đã chứng đắc quả vị A La Hán. A La Hán (có 3 nghĩa: Ứng
Cúng, Sát Tặc, Vô Sanh) là người đã đạt được sự giải
thoát và đoạn dứt tất cả mọi phiền não. A La Hán là quả
vị cao nhất trong bốn quả Thanh Văn, là bậc Thánh, đã chứng
đắc viên mãn tuệ, còn gọi là Bất Sinh. Ứng Cúng là xứng
đáng được mọi người cúng dường. Sát Tặc là diệt trừ
tất cả giặc phiền não. Vô Sanh là không còn trong vòng sanh
tử.
Những
vị đại Tỳ Kheo có đạo hạnh cao, xuất gia lâu năm, lớn
tuổi, có tài biện luận và lý giải, được mọi người
tôn quý và kính ngưỡng, gọi là Trưởng lão (người lớn
tuổi), hoặc Tôn giả (người xứng đáng được tôn kính).
Các
ngài Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha
Ca Chiên Diên… đều là những vị Trưởng lão mà mọi người
quen biết vì các ngài là những đại đệ tử rất thường
đi theo và gần gũi đức Phật.
Những
vị đại đệ tử như thế (như thị đẳng chư đại đệ
tử) đã đến tham dự pháp hội và nhiều vị đại đệ tử
khác cũng cùng đến câu hội, tất cả là 1.250 vị. Câu hội
là cùng đến tụ hội ở một nơi, để cùng nhau tham dự
pháp lễ.
Trong
số 1.250 vị đại Tỳ Kheo đến câu hội (1.000 vị là các
đệ tử của 3 anh em ngài Ca Diếp, 200 vị là các đệ tử
của 2 ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, 50 vị là các
đệ tử của ngài Da Xá Tử) có 16 vị đại Trưởng lão đã
được nêu tên, làm chứng tín cho lời thuật lại của ngài
A Nan trong bản kinh A Di Đà:
–
Xá Lợi Phất (còn gọi là Xá Lợi Tử) là con của bà Xá
Lợi (tiếng Hán là Thu Lộ). Ngài là người có trí tuệ cao
siêu đệ nhất trong hàng đại đệ tử của Phật, có tài
diễn thuyết và nghị luận.
–
Ma Ha Mục Kiền Liên (con của bà Thanh Đề) là bạn thân của
ngài Xá Lợi Phất, là người có thần thông đệ nhất trong
hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật.
–
Ma Ha Ca Diếp, có nghĩa là Ấm Quang (vì thân sắc của ngài
luôn tỏa ra ánh sáng chói ngời), là người tu khổ hạnh đệ
nhất (hạnh đầu đà) trong hàng đại đệ tử của Phật
và là người đã được Phật Thích Ca trao cho y bát.
–
Ma Ha Ca Chiên Diên là người có tài biện thuyết phi thường
nên được đại chúng tôn xưng là người luận nghị đệ
nhất.
–
Ma Ha Câu Hy La là cậu ruột của ngài Xá Lợi Phất, là người
có tài vấn đáp đệ nhất trong hàng đại Tỳ Kheo của Phật.
–
Ly Bà Đa là người hiểu biết thông suốt mọi lý lẽ các
pháp, không bao giờ nghi ngờ lời Phật dạy, có định lực
ngồi thiền rất cao, nên được đại chúng tôn xưng là bậc
đệ nhất không điên đảo trong hàng đại đệ tử của Phật.
–
Châu Lợi Bàn Đà Dà là người dốt chữ và rất chậm hiểu.
Sau khi chứng đạo, ngài thấu suốt hết mọi nghĩa lý trong
kinh điển, vì vậy được đại chúng tôn xưng là bậc liễu
nghĩa đệ nhất.
–
Nan Đà là em cùng cha khác mẹ với Phật, là người có tướng
hảo rất trang nghiêm, nên được đại chúng tôn xưng là người
có dung nghi đệ nhất trong hàng đại Tỳ Kheo của Phật.
–
A Nan Đà, gọi tắt là A Nan, có nghĩa là Khánh Hỷ, con người
chú (vua Hộc Phạn), là thị giả (người hầu cận) của đức
Phật lúc còn tại thế. Ngài là người đa văn đệ nhất
trong hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật, có biệt tài
về chữ nghĩa và trí nhớ siêu phàm. Tất cả kinh Phật đều
là do ngài A Nan ghi nhớ và thuật lại.
–
La Hầu La, có nghĩa là sự trói buộc (Phú Chướng), là con
của thái tử Sĩ Đạt Đa (còn gọi là Tất Đạt Đa, tức
là đức Phật Thích Ca trước khi xuất gia). Ngài La Hầu La
được đại chúng tôn xưng là người có mật hạnh đệ nhất
trong số các đại đệ tử Thanh Văn của Phật.
–
Kiều Phạm Ba Đề là người được chư Thiên cúng dường
đệ nhất trong hàng Tỳ Kheo đại đệ tử của Phật.
–
Tân Đầu Lô Phả La Đọa là người được tôn xưng có phước
điền đệ nhất trong hàng đại đệ tử của Phật, vì ngài
là ruộng phước ở cõi trần gian để mọi người gieo hạt
giống lành (cúng dường).
–
Ca Lưu Đà Di là người được đại chúng tôn xưng là bậc
giáo hóa đệ nhất trong số các đại đệ tử của Phật,
có tài thuyết phục mọi người.
–
Ma Ha Kiếp Tân Na là người có tài thiên văn đệ nhất trong
hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật.
–
Bạc Câu La là người có thọ mạng đệ nhất trong hàng đại
đệ tử của Phật, sống lâu 160 tuổi trong 91 kiếp.
–
A Nậu Lầu Đà (còn gọi là A Na Luật) là người khất sĩ
mù (vì tinh tấn tu tập suốt 7 ngày đêm không ngủ nghỉ).
Sau khi chứng đạo, ngài là người có thiên nhãn thông đệ
nhất trong số các hàng Tỳ Kheo đại đệ tử của Phật.
KINH:
“Lại có hàng đại Bồ Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương
Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh
Tấn Bồ Tát, cùng với các đại Bồ Tát như thế, và Thích
Đề Hoàn Nhân, vô số chư Thiên, tất cả đại chúng dự
hội.”
Trong
số chư vị Bồ Tát đến câu hội, có 4 vị đại Bồ Tát
đã được nêu tên, làm chứng tín cho lời thuật lại của
ngài A Nan trong bản kinh A Di Đà. Đó là các ngài Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường
Tinh Tấn Bồ Tát. Những vị đại Bồ Tát như thế (như thị
đẳng chư đại Bồ Tát) đã đến tham dự pháp hội và nhiều
vị đại Bồ Tát khác cũng cùng đến câu hội:
–
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát là người đứng đầu trong hàng Bồ
Tát của Phật, là vị đại Bồ Tát có trí tuệ bất khả
tư nghì, nên được đại chúng tôn xưng là bậc Diệu Đức.
Thời Phật còn tại thế, ngài đang tu hành hướng về Phật
quả viên mãn, sẽ thành Phật sau đức Thế Tôn, vì vậy ngài
được gọi là Pháp Vương Tử (con của vua pháp). Tiền thân,
ngài là người con thứ 3 của vua Vô Tránh Niệm (tức là đức
Phật A Di Đà trước khi xuất gia).
–
A Dật Đa Bồ Tát (có nghĩa là Vô Năng Thắng), tức là đức
Di Lặc Bồ Tát (tiếng Hán là Từ Thị), là vị đại Bồ
Tát thuộc hàng nhất sanh bổ xứ của Phật, phát tín tâm
nơi pháp môn Tịnh Độ. Ngài hiện đang thuyết pháp ở cung
Trời Đâu Suất, tương lai hạ sanh vào thế giới Ta Bà và
sẽ thành Phật tại hội Long Hoa. Tiền thân, đức Di Lặc
là đệ tử của ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử.
–
Càn Đà Ha Đề Bồ Tát (có nghĩa là Bất Hưu Tức), là vị
đại Bồ Tát tu tập rất tinh tấn, đã trải qua bao nhiêu
số kiếp mà vẫn không ngừng nghỉ tu tập.
–
Thường Tinh Tấn Bồ Tát là vị đại Bồ Tát thường luôn
kiên trì tu tập hạnh tự lợi và lợi tha, giáo hóa và cứu
độ chúng sanh không bao giờ chán mỏi.
4 vị
đại Bồ Tát nầy (Bồ Tát Ma Ha Tát) là những bậc mô phạm,
đầy đủ công đức trí tuệ và đạo hạnh, đại diện cho
chánh pháp Đại Thừa của Phật, biểu trưng cho 4 Thánh đức:
Trí Tín Nguyện Hạnh.
- Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi, biểu trưng cho Trí
-
Bồ Tát A Dật Đa, biểu trưng cho Tín
-
Bồ Tát Càn Đà Ha Đề, biểu trưng cho Nguyện
-
Bồ Tát Thường Tinh Tấn, biểu trưng cho Hạnh
Lại
có ngài Thích Đề Hoàn Nhân, là vị vua Đế Thích ở cung
Trời Đao Lợi trên đỉnh núi Tu Di, chủ tể của 33 cõi Thiên,
cùng với vô lượng vô số các vị Thần, chư Thiên, các loài
Rồng, các vị A Tu La, các vị Trưởng giả, các vị Cư sĩ
cùng gia đình quyến thuộc… tất cả đại chúng đều đến
tham dự pháp hội.
Tu
Di là ngọn núi lớn nhất thế giới (Tu Di sơn vương), cao
84.000 do tuần, bằng 4 chất báu sáng ngời là vàng bạc lưu
ly pha lê, ở trung tâm điểm của vũ trụ, là trú xứ của
chư Thiên. Trên đỉnh núi là cõi Đao Lợi của vua Đế Thích,
ở khoảng giữa lưng chừng núi là 4 cõi Trời của Tứ Đại
Thiên Vương (mỗi vị ở mỗi phương: Đông, Tây, Nam, Bắc),
các cõi nầy nương theo ánh sáng của mặt trời. Từ đỉnh
núi lên cao hơn nữa là 28 cõi Trời khác nương theo mây, có
ánh sáng riêng ở mỗi cõi. Tổng cộng tất cả là 33 cõi.
Do tuần (yojana), số dặm của Ấn Độ, có rất nhiều hạng:
30 dặm, 40 dặm, 60 dặm, tính theo dặm Tàu. 1 dặm Tàu là 500
mét (0.5 km).
Thế
nào là Tri-Tín-Nguyện-Hạnh?
Tri-Tín-Nguyện-Hạnh
được xem là 4 món lương thảo (gọi là tứ tư lương: hiểu
sâu, tin chắc, nguyện thiết, hành chuyên) rất cần thiết
cho người niệm Phật, để dựa theo đó làm phương hướng
tu hành. Mỗi món đều cần nhau, nương vào nhau, không thể
thiếu bất cứ một món nào. Nếu không hiểu sâu thì tin sẽ
không chắc. Nếu tin không chắc thì nguyện sẽ không thiết
tha. Nguyện không thiết tha, vì niềm tin không chắc, thì làm
sao có thể hành cho chuyên. Vì vậy mà nói, tất cả đều
là những lương thảo rất cần thiết, làm hành trang 6 thời
cho người tìm học và tu trì theo pháp môn Niệm Phật Tam Muội.
–
Tri là hiểu sâu. Tìm học để thấu suốt diệu nghĩa của
chánh pháp. Khi hiểu sâu thì TRI tức là TRÍ, tức là Văn Huệ
và Tư Huệ, trí tuệ đạt được do sự lắng nghe, tìm học,
suy luận về những nghĩa lý nhiệm mầu trong kinh điển. Nếu
không có nhiều thời gian để nghiên cứu về Phật pháp, thì
chỉ cần học hiểu cho rốt ráo mọi nghĩa lý sâu kín của
bản kinh A Di Đà, rồi theo đó mà thọ trì, thì cũng là đầy
đủ.
Nếu có thời giờ, nên thường đọc kinh A Di Đà, mỗi ngày
một lần, mỗi lần đọc sẽ hiểu thêm một chút sâu xa hơn,
cho niềm tin được vững vàng, để thọ trì đúng pháp, cảm
ứng sự diệu mầu trong lời Phật dạy.
–
Tín là tin chắc. Tin vào lời của Phật Thích Ca, tin vào lý
nhân quả, tin vào luật luân hồi và nghiệp báo, tin thật
có thế giới Cực Lạc ở phương Tây, tin có cõi Tịnh Độ
ở trong tâm mình, tin vào 48 lời nguyện của đức Phật A
Di Đà, tự tin chính mình cũng có khả năng thành Phật.
–
Nguyện là nguyện thiết. Tha thiết cầu vãng sanh về cõi Tây
phương Cực Lạc, tu tạo công đức và đạo hạnh để sớm
đạt thành Phật quả, giải thoát chính mình và cứu độ
chúng sanh.
–
Hạnh là hành chuyên, trên cả 2 mặt Thiện nghiệp và Tịnh
nghiệp. Nghĩa là phải nỗ lực gieo trồng những nghiệp lành,
nắm giữ các thiện pháp, tránh làm những điều ác, thực
hành hạnh bố thí và tha thứ, thường xuyên sám hối tu sửa
tâm tánh, không hại người và vật, không báo thù người,
nghiêm giữ giới luật, tinh tấn trì niệm A Di Đà để chuyên
nhất tâm tưởng, dùng câu Phật hiệu để diệt trừ mọi
tà ý sân niệm sanh khởi, tâm tưởng ngày đêm hướng về
các cõi lành và các điều lành, hồi hướng công đức về
Cực Lạc và chúng sanh muôn loài.
Bốn
món tư lương Tri-Tín-Nguyện-Hạnh là hành trang tu đạo mà
người niệm Phật phải nắm chặt lấy. Hãy giúp đỡ và
hỗ trợ lẫn nhau, cùng tiến tu đến quả vị cứu cánh Niết
Bàn ngay trong kiếp nầy. Chúng ta hãy cùng nhau cố gắng, ráng
làm cho xong trong một đời nầy. Hãy tinh tấn tu trì, với
niềm tin thật vững chắc, tin ở khả năng tự lực của chính
mình, tin ở sức mạnh hộ trì của chư Phật mười phương.
Người niệm Phật phải thiết tha một lòng hướng nguyện
sanh về cõi nước Phật A Di Đà. Đức Thế Tôn đã dạy,
niềm tin ở chánh pháp là cửa vào của pháp môn Niệm Phật
Tam Muội, người niệm Phật nhất định phải thành Phật.
Người
tu trì theo pháp niệm Phật phải phát tâm Bồ Đề vô thượng,
tu tập Giới Niệm Định Huệ, ngày đêm 6 thời thành kính
thọ trì danh hiệu A Di Đà Phật. Phát tâm Bồ Đề vô thượng
là tìm cầu giải thoát để thành Phật, tu tập theo hạnh
của Phật và chư đại Bồ Tát.
Thế
nào là Nhân Quả?
Nhân
Quả là nguyên nhân và kết quả. Hễ gieo nhân gì thì gặp
quả đó. Nếu không có nhân thì không có quả. Trồng nhân
tốt thì được quả tốt. Trồng nhân xấu thì bị quả xấu.
Làm việc thiện thì được quả thiện. Làm việc ác thì bị
quả ác. Sự chuyển tiếp từ Nhân để trở thành Quả do
bởi các trợ duyên. Nhân và Quả tiếp nối với nhau và tương
quan vào nhau, trong nhân có quả, trong quả có nhân, có nhân
thì sẽ có quả, có quả thì sẽ có nhân mới. Đó là chân
lý bất biến của vũ trụ vạn thể.
Thế
nào là Luân Hồi?
Luân
Hồi là bánh xe quay vòng và liên tục, tác động trên mọi
người và mọi loài, dựa trên lý Nhân Quả mà chuyển tiếp,
từ Nhân thành ra Quả, từ Quả thành ra Nhân mới, du hành
liên tục qua 6 cõi: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, A Tu La,
Người, Trời (gọi là Lục Đạo).
(Ngạ
quỷ là loài quỷ đói vì cổ họng chỉ nhỏ bằng ống kim
nên không thể ăn được nhiều. A Tu La là loại thần Phi Thiên,
tánh khí rất nóng nảy và hung bạo, sống ở cõi Người hoặc
cõi Thiên.)
Theo
định luật Luân Hồi, khi chết đi không có nghĩa là đã đoạn
diệt mất hẳn tất cả (đó là lối chấp đoạn), cũng không
có nghĩa là linh hồn vẫn thường còn để đầu thai trở
lại làm người (đó là lối chấp thường), mà là chúng nhận
chịu sự chi phối trên lý Nhân Quả và luật Nghiệp Báo để
chuyển tiếp đến 1 trong 6 cõi luân hồi.
Nếu
khi sống, mình gieo nhân tốt, nghiệp tốt, thì khi chết sẽ
được chuyển đến cảnh giới tốt, thân tốt. Nếu khi sống,
mình gieo nhân xấu, nghiệp xấu, thì khi chết sẽ bị chuyển
đến cảnh giới xấu, thân xấu. Đó là định luật chuyển
tiếp quay vòng của tất cả vạn vật nhân sinh nơi cõi Ta
Bà.
Muốn
thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi trong 6 cõi và đạt đến
cảnh giới an vui vĩnh hằng thì bản thân phải tu đạo giải
thoát, phải gieo nhân giải thoát, phải hành theo các pháp lành,
ngay trong kiếp hiện tại nầy.
Con
đường đưa đến sự giải thoát nhiệm mầu mà đức Phật
Thích Ca đã trao dạy suốt 25 thế kỷ qua, là pháp môn Niệm
Phật Tam Muội (tức là thọ trì danh hiệu Phật, tu tạo công
đức và đạo hạnh, phát nguyện sanh về cõi Cực Lạc của
đức Phật A Di Đà).
Thế
nào là Nghiệp Báo?
Nghiệp
là hành động có tác ý, nghĩa là có ý muốn làm như vậy.
Những hành động có sự chỉ đạo của tâm thức thì sẽ
tạo Nghiệp. Những hành động vô ý mà làm thì không tạo
Nghiệp. Nghiệp được tạo ra từ những biểu hiện qua hành
động (gọi là thân nghiệp), qua lời nói (gọi là khẩu nghiệp),
qua ý nghĩ (gọi là ý nghiệp).
Những
ác nghiệp tạo ra trong ý mà nếu được ngăn lại, sám hối,
tẩy trừ, đoạn diệt, thì tâm sẽ trở lại trong sạch và
không tạo ý nghiệp. Nhưng nếu tà ý đó được thể hiện
ra lời nói, qua hành động, thì sẽ tạo ra Nghiệp.
Một
hành động xấu thì tạo ra một thân nghiệp xấu. Một lời
nói ác thì tạo ra một khẩu nghiệp ác. Một ý tưởng tà
bậy thì tạo ra một ý nghiệp xấu. Nghiệp tốt thì sẽ thành
Quả tốt. Nghiệp xấu thì sẽ thành Quả xấu. Đó gọi là
Nghiệp Báo, dựa trên định luật Nhân Quả.
Sự
báo ứng của Nghiệp (gọi là Nghiệp báo) sẽ ngay trong kiếp
hiện tại nầy (gọi là Hiện nghiệp), hoặc có thể sẽ là
ở kiếp sau, hoặc những kiếp mai sau nào đó, tùy theo cái
sức của Nghiệp đó nặng hoặc nhẹ, tùy theo cái phước
đã được tích lũy từ nhiều kiếp trước của người đã
gây ra Nghiệp, mà việc trả Nghiệp sẽ đến nhanh, hoặc chậm
(gọi là Hậu nghiệp).
Có
2 thứ Nghiệp báo:
–
Biệt nghiệp: nghiệp do riêng mình tạo ra và chỉ riêng mình
sẽ nhận lấy nghiệp báo ấy.
–
Cộng nghiệp (còn gọi là Đồng nghiệp): nghiệp do mình tạo
ra và người khác cũng có ít nhiều nghiệp duyên trong đó,
hoặc do người khác tạo ra và mình cũng gây tạo những nghiệp
tương tự như vậy, thì mình và nhiều người sẽ cùng chịu
ảnh hưởng chung của nghiệp báo ấy.
Y
báo và Chánh báo
KINH:
“Bấy giờ, Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: Từ đây
tới phương Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế
giới tên là Cực Lạc. Trong cõi đó, có đức Phật hiệu
A Di Đà, hiện đang nói pháp.”
Từ
đây, tức là vườn Kỳ Đà Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ,
hướng về phía Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật (thập
vạn ức Phật độ), nghĩa là cách xa nơi nầy 10 tỷ thế
giới của các đức Phật, có thế giới tên là Cực Lạc
(y báo) của đức Phật hiệu A Di Đà (chánh báo), ngài hiện
đang thuyết pháp cho đại chúng trong cõi nước của ngài (kim
hiện tại thuyết pháp). Trong kinh Hoa Nghiêm nói: “ÔÛ Ta Baø
theá giôùi coõi cuûa Thích Ca Maâu Ni Phaät ñaây moät kieáp,
nôi Cöïc Laïc theá giôùi, coõi A Di Ñaø Phaät laø moät ngaøy
moät ñeâm”. Một tiểu kiếp của con người ở thế giới
Ta Bà tương đương 16 triệu năm sinh tử. Vì thế, đức Thế
Tôn nói Phật A Di Đà hiện bây giờ đang nói pháp.
Theo
Hán Việt tự điển, 1 vạn là 10 ngàn. 1 ức là 10 vạn, tức
là 100.000 (10 x 10.000 tính theo số mục của thời xưa). Thập
vạn ức là 10 tỷ (10 x 10.000 x 100.000).
Thế
nào là Chánh báo? Chánh báo là quả báo chánh, là thân tâm
của con người, do những nghiệp duyên từ nhiều kiếp trước
mà cảm ứng và sanh ra như vậy. Ở đây, Chánh báo là nói
về Phật A Di Đà và các hàng đệ tử Thanh Văn, Duyên Giác,
Bồ Tát trong cõi nước của ngài.
Thế
nào là Y báo? Y báo là quả báo phụ, theo liền với Chánh
báo, là tất cả những gì nương theo thân mạng và đời sống
của con người, như nhà cửa, đất đai, tiền bạc... Ở đây,
Y báo là nói về cõi nước Cực Lạc ở phương Tây.
–
Trước mặt, hướng về phía mặt trời mọc là phương Đông.
Sau lưng, hướng về phía mặt trời lặn là phương Tây. Bên
tay trái là phương Bắc, bên tay phải là phương Nam. Thế giới
mà chúng ta đang sinh sống đây là 1 tiểu thế giới, tương
đương với 1 thái dương hệ (nơi có ánh sáng mặt trời).
Cõi Cực Lạc ở về phương Tây của nước Xá Vệ (Savatthi),
cách xa thế giới Ta Bà 10 tỷ cõi Phật, tương đương với
10 tỷ thái dương hệ. Ta Bà (tiếng Phạn), có nghĩa là Kham
Nhẫn, tức là thế giới trần gian ngập đầy những khổ
đau trầm luân và ác chướng mà con người khó lòng chịu
đựng nổi.