Phần
Lưu Thông
Chư
Phật 6 phương cùng khuyến tín và hộ niệm,
tất
cả đại chúng hoan hỷ tin nhận lời Phật
Lời
khuyến tín của chư Phật 6 phương
KINH:
“Xá Lợi Phất, như ta hôm nay khen ngợi công đức lợi ích
chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, thì ở phương Đông
cũng có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di,
Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm, nhiều vô số các đức Phật
như thế, ở tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng
dài, trùm khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời
chân thật: Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi
công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức
Phật hộ niệm.”
Các
đức Phật ở phương Đông nhiều vô số, hằng hà sa số,
đã cùng nhau khen ngợi công đức của kinh nầy, của người
thọ trì kinh nầy. Đây là lời chân thật của Phật Thích
Ca đã nói, của ngài A Nan Đà đã thuật lại, của các đức
Phật ở phương Đông đã đồng thanh tán thán. Chúng ta phải
nên TIN là đúng đắn.
5 vị
Phật ở phương Đông và công đức đạo hạnh:
- Phật
A Súc Bệ (chẳng động, chẳng đến, chẳng đi)
-
Phật Tu Di Tướng (tướng tốt như núi Tu Di)
-
Phật Đại Tu Di (đức tướng trùm khắp như núi Tu Di)
-
Phật Tu Di Quang (đức tướng chói sáng như núi Tu Di)
-
Phật Diệu Âm (tiếng nói êm dịu)
Hằng
hà sa số là số cát của sông Hằng ở Ấn Độ, ý nói là
số lượng rất nhiều, nhiều vô lượng vô biên như số cát
của sông Hằng chẳng thể nào đo lường tính đếm được.
Sông Hằng, tức là sông Ganges, tên địa phương là Mother Ganges,
dài 2.500 cây số, bắt nguồn từ dãy Hymalaya (biên giới Nepal)
chảy đến cửa vịnh Bengal (biên giới Bangladesh) và đổ vào
biển Ấn Độ Dương.
Tướng
lưỡi rộng dài (quảng trường thiệt tướng) là biểu trưng
cho sự thành thật, ý nói là thuyết pháp, là nói lời ngợi
khen chân thật (tán thán), trải dài pháp âm đến khắp thế
giới, đến tất cả mọi loài, để cùng nhau biết sự thật
là như vậy. A Súc Bệ, có nghĩa là kiên cố, vững chắc,
không có gì có thể chi phối hoặc lay chuyển được.
Thế
nào là Ba nghìn cõi đại thiên thế giới?
Ba
nghìn cõi đại thiên thế giới (tam thiên đại thiên thế
giới) là nhiều vô số thế giới, là 1 tỷ tiểu thế giới
của tất cả chư Phật. Thế giới chúng ta đang sống đây
là một thái dương hệ (chỗ có ánh sáng mặt trời). Một
thái dương hệ tương đương với một tiểu thế giới. Một
nghìn tiểu thế giới là một tiểu thiên thế giới. Một
nghìn tiểu thiên thế giới là một trung thiên thế giới.
Một nghìn trung thiên thế giới là một đại thiên thế giới.
Như vậy, ba nghìn cõi đại thiên thế giới là cõi số thế
giới 3 lần của số nghìn (1.0003), tức là lũy thừa 3 của
1.000, là 1 tỷ tiểu thế giới (1.000 x 1.000 x 1.000), tương
đương với 1 tỷ thái dương hệ, gọi là tam thiên đại thiên
thế giới.
KINH:
“Xá Lợi Phất, thế giới phương Nam có Phật Nhật Nguyệt
Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di
Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn, nhiều vô số các đức Phật
như thế, ở tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng
dài, trùm khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời
chân thật: Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi
công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức
Phật hộ niệm.”
Các
đức Phật ở phương Nam cũng đã đồng thanh khen ngợi về
công đức của kinh nầy và nguyện hứa sẽ hộ trì những
ai thành kính thọ trì kinh nầy.
5 vị
Phật ở phương Nam và công đức đạo hạnh:
- Phật
Nhật Nguyệt Đăng (đức tướng sáng chói như mặt
trời
mặt trăng)
- Phật
Danh Văn Quang (đức tướng vang dội chói sáng)
- Phật
Đại Diệm Kiên (phước trí lớn vô biên)
- Phật
Tu Di Đăng (ánh sáng như núi Tu Di)
- Phật
Vô Lượng Tinh Tấn (tinh tấn viên mãn)
Phật
Đại Diệm Kiên ở phương Nam và phương Trên, là các vị
Phật phân thân của đức Phật Đại Diệm Kiên.
KINH:
“Xá Lợi Phất, thế giới phương Tây có Phật Vô Lượng
Thọ, Phật Vô Lượng Tướng, Phật Vô Lượng Tràng, Phật
Đại Quang, Phật Đại Minh, Phật Bảo Tướng, Phật Tịnh
Quang, nhiều vô số các đức Phật như thế, ở tại nước
của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba nghìn
cõi đại thiên thế giới mà nói lời chân thật: Các chúng
sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể
nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm.”
Các
đức Phật ở phương Tây cũng đã đồng thanh khen ngợi về
công đức của kinh nầy và nguyện hứa sẽ hộ trì những
ai thành kính thọ trì kinh nầy.
7 vị
Phật ở phương Tây và công đức đạo hạnh:
- Phật
Vô Lượng Thọ (sống lâu vô lượng)ï
-
Phật Vô Lượng Tướng (tướng tốt vô lượng)
-
Phật Vô Lượng Tràng (công đức vô lượng)
-
Phật Đại Quang (hào quang diệu dụng)
-
Phật Đại Minh (sáng suốt tột cùng)
-
Phật Bảo Tướng (tướng tốt như châu báu)
-
Phật Tịnh Quang (hào quang thanh tịnh)
Phật
Vô Lượng Thọ ở phương Tây là vị Phật phân thân của
đức Phật A Di Đà.
KINH:
“Xá Lợi Phất, thế giới phương Bắc có Phật Diệm Kiên,
Phật Tối Thắng Âm, Phật Nan Trở, Phật Nhật Sanh, Phật
Võng Minh, nhiều vô số các đức Phật như thế, ở tại nước
của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba nghìn
cõi đại thiên thế giới mà nói lời chân thật: Các chúng
sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể
nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm.”
Các
đức Phật ở phương Bắc cũng đã đồng thanh khen ngợi về
công đức của kinh nầy và nguyện hứa sẽ hộ trì những
ai thành kính thọ trì kinh nầy.
5 vị
Phật ở phương Bắc và công đức đạo hạnh:
- Phật
Diệm Kiên (phước trí vô lượng)
- Phật
Tối Thắng Âm (âm thanh vi diệu)
- Phật
Nan Trở (không bao giờ bị hư hoại)
- Phật
Nhật Sanh (trí tuệ như mặt trời mới mọc)
- Phật
Võng Minh (trí tuệ sáng ngời như minh châu)
KINH:
“Xá Lợi Phất, thế giới phương Dưới có Phật Sư Tử,
Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng,
Phật Trì Pháp, nhiều vô số các đức Phật như thế, ở
tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài, trùm
khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời chân thật:
Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi công đức
chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ
niệm.”
Các
đức Phật ở phương Dưới cũng đã đồng thanh khen ngợi
về công đức của kinh nầy và nguyện hứa sẽ hộ trì những
ai thành kính thọ trì kinh nầy.
6 vị
Phật ở phương Dưới và công đức đạo hạnh:
- Phật
Sư Tử (lời nói như sư tử rống)
- Phật
Danh Văn (đức tướng vang dội khắp nơi)
- Phật
Danh Quang (hào quang chiếu ngời xa)
- Phật
Đạt Ma (pháp khí trùm khắp)
- Phật
Pháp Tràng (pháp đức vượt hơn tất cả)
- Phật
Trì Pháp (giữ gìn quy luật)
(sư
tử rống, ý nói là thuyết pháp tự tại, không chướng ngại,
không sợ sệt, như loài sư tử mỗi khi rống lên làm muôn
thú đều phải khiếp sợ)
KINH:
“Xá Lợi Phất, thế giới phương Trên có Phật Phạm Âm,
Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật
Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật
Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết
Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn, nhiều vô số các đức Phật như
thế, ở tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng
dài, trùm khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời
chân thật: Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi
công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức
Phật hộ niệm.”
Các
đức Phật ở phương Trên cũng đã đồng thanh khen ngợi về
công đức của kinh nầy và nguyện hứa sẽ hộ trì những
ai thành kính thọ trì kinh nầy.
10
vị Phật ở phương Trên và công đức đạo hạnh:
- Phật
Phạm Âm (lời nói thanh tịnh)
- Phật
Tú Vương (chiếu soi như vua tinh tú)
- Phật
Hương Thượng (trí tuệ vượt hơn tất cả)
- Phật
Hương Quang (trí đức ngời sáng)
- Phật
Đại Diệm Kiên (phước trí lớn vô biên)
- Phật
Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân (đức tướng trang
nghiêm
như hoa báu muôn màu)
- Phật
Ta La Thọ Vương (kiên cố như vua cây Ta La)
- Phật
Bảo Hoa Đức (phước tướng như hoa báu)
- Phật
Kiến Nhất Thiết Nghĩa (thông suốt vạn pháp)
- Phật
Như Tu Di Sơn (hạnh đức như núi Tu Di)
Cây
Ta La, tiếng Hán là Song Thọ, loại cây mọc theo từng hàng
đôi, mỗi nhóm 2 cây. Rừng Ta La, ở làng Kusinara, là nơi đức
Phật đã nhập diệt Niết Bàn.
Tất
cả các đức Phật ở 6 phương (Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên,
Dưới) đã đồng thanh khen ngợi về công đức bất khả tư
nghì của kinh nầy và nguyện hứa sẽ hộ niệm những ai thành
kính thọ trì kinh nầy, tức là kinh A Di Đà tiểu bổn, bản
dịch âm tiếng Hán: Phật thuyết A Di Đà Kinh, của ngài Tam
Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập, hoặc bản dịch của ngài Tam
Tạng Pháp sư Huyền Trang, hoặc những bản dịch nghĩa tiếng
Việt: Phật nói Kinh A Di Đà. Trong bản dịch của ngài Huyền
Trang có đề cập đến 10 phương chư Phật. Bản dịch của
ngài Cưu Ma La Thập tóm lược, chỉ nói đến 6 phương chính.
Trong
kinh Niệm Phật Bát Nhã Tam Muội, Phật Thích Ca nói: “Chư
Phật mười phương đã cùng nhau khuyến tán: ai nhất tâm xưng
niệm danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ được chư Phật hộ trì
và nhiếp thọ, quyết định thành Phật”.
Chư
Phật mười phương là tất cả 10 tỷ các đức Phật (thập
vạn ức Phật) ở khắp mười phương: Đông, Tây, Nam, Bắc,
Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, Trên, Dưới.
Ý
nghĩa hộ niệm ở tựa đề kinh
KINH:
“Xá Lợi Phất, ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là kinh tất cả
các đức Phật hộ niệm?”
Trong
pháp hội giảng nói kinh A Di Đà, đây là câu hỏi thứ 3 trong
3 câu hỏi, mà đức Phật đã hỏi ngài Xá Lợi Phất. Phật
hỏi ngài Xá Lợi Phất vì ngài là người có trí tuệ bậc
nhất trong hàng Thanh Văn đại đệ tử của Phật, có đầy
đủ trí huệ để có thể hiểu và có thể tin về những
sự mầu nhiệm ở thế giới Cực Lạc.
Tên
đầy đủ của kinh nầy là “kinh khen ngợi công đức chẳng
thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm”,
dịch tắt là Phật nói Kinh A Di Đà, Kinh Niệm Phật A Di Đà,
Kinh A Di Đà, Tiểu Bổn Kinh A Di Đà, hoặc là Kinh Niệm Phật
Vãng Sanh.
KINH:
“Xá Lợi Phất, nếu có người con trai lành, người con gái
lành nào nghe được kinh nầy mà thọ trì, và nghe được danh
hiệu của các đức Phật, thì những người con trai lành,
những người con gái lành đó đều được tất cả các đức
Phật hộ niệm, đều được chẳng thối chuyển nơi đạo
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.”
Nhiều
vô lượng vô số các đức Phật ở 6 phương, nguyện hứa
sẽ hộ niệm những ai đã nghe và thọ trì kinh nầy, cùng
đã nghe và nhớ tưởng đến danh hiệu của 38 vị Phật ở
6 phương. Những người đó đều được bất thối chuyển,
sẽ chẳng bao giờ lùi bước nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. Bởi vì lý do đó, tên của kinh nầy được gọi
là “tất cả các đức Phật hộ niệm” (nhất thiết chư
Phật sở hộ niệm kinh).
Trong
kinh Niệm Phật Bát Nhã Tam Muội, Phật Thích Ca nói: “Tất
cả chư Phật phân thân của ta, luôn luôn phóng đại quang
minh, nhiếp thọ và thủ hộ những chúng sanh niệm Phật, không
rời bỏ”.
Hộ
niệm, tức là nhớ nghĩ và hộ trì, có nghĩa là chư Phật
ở khắp mười phương luôn nhớ tưởng đến người niệm
Phật và tìm mọi cách để giúp đỡ, hỗ trợ người ấy.
Thọ
trì, tức là năng lực của Tín và Hạnh, đó là sức mạnh
tin tưởng vào giáo pháp và tinh chuyên thực hành đúng theo
tinh thần lý nghĩa của kinh.
Thọ
là ghi nhận vào lòng, Trì là nhớ mãi không quên. Đó là tin
vào 48 lời nguyện của đức Phật A Di Đà, luôn nắm giữ
trong tâm danh hiệu A Di Đà Phật suốt ngày đêm 6 thời, không
chán mỏi, không buông lơi. Thọ trì như vậy mới là chân
chánh thọ trì danh hiệu Phật.
Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, còn gọi là Vô Thượng Bồ
Đề (tiếng Phạn: a nậu đa la tam miệu tam bồ đề), có nghĩa
là chỗ giác ngộ về chánh pháp không còn ai hơn được nữa,
trí tuệ hiểu biết bình đẳng không tà vọng hư dối, giác
ngộ được chân lý giải thoát rốt ráo. Đó là quả vị
cứu cánh vô thượng của chư Phật, cảnh giới của sự thanh
tịnh giải thoát tối cao, công đức trí huệ bất khả tư
nghì.
A nậu
đa la tam miệu tam bồ đề, còn có nghĩa là Vô Thượng Chánh
Biến Tri, tức là trí tuệ rộng lớn cùng khắp, hiểu rõ
thật tướng của tất cả vạn pháp thế gian.
Phải
nên tin lời của Phật
KINH:
“Cho nên, Xá Lợi Phất, các người đều phải tin nhận lời
của ta và các đức Phật nói.”
Đức
Phật không bao giờ nói dối. Ngài đã vì thương xót chúng
sanh mà nói pháp cứu độ nầy. Chúng ta phải nên TIN vào lời
dạy của ngài và lời tán thán của các đức Phật khác ở
khắp mười phương. Hãy tin với niềm tin thật vững chắc
(tín), khắc giữ vào trong tâm (thọ), đó là chân chánh tin
nhận vậy (tín thọ).
Người
tu theo pháp niệm Phật phải phát khởi niềm tin vững chắc
(khải tín) trên cả 2 mặt lý và sự: tin có cõi Tịnh độ
nhiệm mầu trong tâm của người niệm Phật, tin có Niết Bàn
Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây.
Phải
nên phát nguyện sanh về (3)
KINH:
“Xá Lợi Phất, nếu có người đã phát nguyện, hiện nay
phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sanh về cõi nước Phật
A Di Đà, thì các người đó đều được chẳng thối chuyển
nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ở cõi nước
đó, hoặc đã sanh về, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh
về.”
Người
niệm Phật, khi đã thành tâm phát nguyện thì sẽ được sanh
về. Sẽ phát nguyện thì sẽ được sanh về. Không phát nguyện
thì sẽ không bao giờ được sanh về. Khi đã được sanh về,
thì sẽ chẳng bao giờ bị thối chuyển nơi đạo Vô Thượng
Bồ Đề ở cõi đó. Hãy tin tưởng vững chắc như vậy mà
chấp trì danh hiệu Phật, phát nguyện sanh về cõi Tịnh Độ
của đức Phật A Di Đà.
KINH:
“Cho nên, Xá Lợi Phất, những người con trai lành, những
người con gái lành, nếu có lòng tin thì phải nên phát nguyện
sanh về cõi nước đó.”
Trong
bản kinh A Di Đà tiểu bổn, đức Phật Thích Ca đã 3 lần
ân cần khuyến tấn rằng, người tu theo pháp niệm Phật thì
phải nên chí thành phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc
của Phật A Di Đà. Nguyện là những điều ước muốn thiêng
liêng được ghi tạc sâu xa ở trong lòng, và tâm tưởng của
người phát nguyện ngày đêm thiết tha mong cầu để thực
hiện các điều nguyện ước đó.
Nay,
đã được nghe những lời Phật nói, đã hiểu rõ những lời
Phật nói, thì hãy tin chắc vào pháp môn nầy, tin thật có
thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây, tin
thật có cõi Tịnh Độ ở trong tâm mình, tin vào khả năng
chính mình cũng có thể thành Phật nương nhờ ở sự hộ
trì của chư Phật mười phương, tin vào lý nhân quả và luật
nghiệp báo, tin vào 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, tinh
tấn trì niệm câu Phật hiệu A Di Đà cho đến Nhất Tâm Bất
Loạn. Từng mỗi niệm vững chắc, từng mỗi niệm chân thành,
trải rộng lòng từ bi của mình theo với tiếng niệm, hồi
hướng công đức về Cực Lạc, thiết tha nguyện sanh về
Tây phương Tịnh Độ. Trong thời Mạt pháp 10.000 năm, những
chướng ngại lớn của người niệm Phật là tín tâm không
được vững chắc và sự chấp trì câu niệm A Di Đà thường
bị gián đoạn, vì bởi quá nhiều ngoại duyên chi phối, hoặc
vì tâm tưởng tán loạn làm mình quên niệm. Người niệm
Phật phải nhận biết rõ điều nầy, hãy cố gắng nỗ lực
hơn nữa, hãy khẳng tâm một lòng niệm Phật và chỉ biết
niệm Phật.
Chư
Phật 6 phương cùng tán thán
KINH:
“Xá Lợi Phất, như ta hôm nay khen ngợi công đức chẳng
thể nghĩ bàn của các đức Phật, thì các đức Phật đó
cũng khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta mà nói
lời nầy: Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm những việc rất khó,
ít có, ở cõi Ta Bà ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến
trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược,
đã chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì các
chúng sanh nói pháp mà tất cả thế gian khó tin.”
Nơi
cõi Ta Bà, Phật đã nói pháp như thế, đã vì chúng sanh mà
nói pháp để cứu chúng sanh, nhưng hỏi có mấy ai tin những
lời nầy, có mấy ai tin có sự mầu nhiệm công đức ở thế
giới Cực Lạc cách xa nơi nầy mười vạn ức cõi nước
Phật? Bởi vậy, pháp môn niệm Phật là pháp môn rất kỳ
diệu, thù thắng, chẳng thể nghĩ bàn, và cũng bởi vì cảnh
giới vô cùng kỳ diệu chẳng thể nghĩ bàn nên pháp môn nầy
rất khó tin (nan tín chi pháp).
Thế
nào là Ngũ trược ác thế? Ngũ trược ác thế là 5 thứ nhơ
đục ở cõi thế gian Ta Bà khổ lụy và hiểm ác:
- thời
đại biến đổi không ngừng (kiếp trược)
- sự
thấy biết sai lầm, tà bậy (kiến trược)
- những
si mê, tham đắm, thù hận (phiền não trược)
- sự
luân hồi sanh tử không ngừng dứt (chúng sanh trược)
- đời
thọ mạng ngắn ngủi, vô thường (mạng trược)
Trong
kinh Niệm Phật Bát Nhã Tam Muội nói, ở vào thời Mạt pháp
cuối cùng, thời của ngũ trược ác thế, tâm trí con người
mỗi ngày càng thêm sa đọa bởi dục vọng, ganh tỵ, ích kỷ,
hiểm ác, hận thù. Từ đó, chiêu cảm đất trời những tật
dịch, chiến tranh, gió bão, động đất, mất mùa, lũ lụt,
thời tiết viêm nhiệt bức não. Chúng sanh nơi cõi Ta Bà, trong
thời đại căn cơ yếu kém, tâm tưởng thô trệ, chỉ có
thể tự cứu chính mình bằng pháp niệm Phật A Di Đà, vì
đó là pháp môn Nhị Lực siêu việt đệ nhất trong tất cả
84.000 pháp môn của đức Thế Tôn.
–
Nhị Lực là năng lực ở chính tự thân mình, tinh tấn nghiêm
mật trì giữ câu Phật hiệu A Di Đà không buông lơi, cùng
với tha lực hộ trì của tất cả chư Phật ở khắp mười
phương.
Chúng
ta phải nên TIN vào lời của Phật Thích Ca đã nói, TIN vào
lời của chư Phật đã khuyến tán, TIN thật có những sự
mầu nhiệm vô biên của thế giới Tịnh Độ ở phương Tây
và ở trong tâm của chính người niệm Phật.
Trong
kinh Niệm Phật Ba La Mật, Bồ Tát Quán Thế Âm đã xác quyết:
“Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn trọn đời giáo hóa điều
phục chúng sanh, đã ban bố tám vạn bốn ngàn pháp môn tu
tập, nhưng trong đó, niệm Phật là thù thắng đệ nhất.
Hiện tại, nơi trăm nghìn muôn ức na do tha quốc độ khắp
mười phương, các đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác cũng
đang dùng hằng hà sa phương tiện, ngôn thuyết, thí dụ, để
diễn bày vô số pháp môn tu tập, đưa hết thảy chúng sanh
dung hóa vào Không Tánh, Niết Bàn Diệu Tâm Như Lai Tạng, nhưng
duy chỉ có pháp môn NIỆM PHẬT là hữu hiệu siêu việt đệ
nhất.”
(Theo
Phật Học tự điển, na do tha, tiếng Phạn: nayuta, số nhiều
của hàng ngàn, có thể là mười ngàn, trăm ngàn, vạn ngàn,
ức ngàn)
Vì
chúng sanh mà nói pháp khó tin
KINH:
“Xá Lợi Phất, phải biết rằng, ta ở cõi đời ngũ trược
ác thế, làm những việc khó nầy, chứng được Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, vì tất cả thế gian mà nói pháp khó
tin nầy, đó là rất khó.”
Ở
vào thời đức Thế Tôn lúc còn tại thế, ngài đã nói với
các vị Thánh chúng đệ tử của ngài, là pháp môn Niệm Phật
Vãng Sanh rất khó tin.
Nay,
đã 2549 Phật lịch, đã 549 năm của thời Mạt pháp 10.000
năm, thì pháp môn nầy lại càng khó tin hơn nữa. Làm sao có
thể tin những cây vàng, lá bạc, lưới ngọc, suối báu, nhạc
trời, chim thiêng lại có thể hòa âm diễn xướng lên những
tiếng pháp Ba La Mật nhiệm mầu như thế? Cho nên, Phật nói,
ở cõi Ta Bà ngũ trược nầy, khuyến dẫn để cho mọi người
tin vào pháp môn niệm Phật là việc rất vô cùng khó khăn
(thị vi thậm nan).
Phật
lịch, khởi tính từ ngày Phật nhập diệt, 15 tháng 2 âm lịch,
đến nay là 2549 năm (tức là 2005 dương lịch).
Sau
khi đức Phật Thích Ca nhập diệt, Phật pháp được chia ra
làm 3 thời kỳ:
- Chánh
pháp: 1.000 năm, thời kỳ Phật pháp thịnh hành
-
Tượng pháp: 1.000 năm, mường tượng như chánh pháp
-
Mạt pháp: 10.000 năm, thời kỳ Phật pháp bị suy đồi
Nếu
có ai đã nghe, đã hiểu, đã có lòng tin nơi pháp môn Tịnh
Độ và tin vào 48 lời nguyện của Phật A Di Đà, thì đó
là cái phước của người ấy từ nhiều kiếp trước, thì
ngay bây giờ, hãy nhất tâm trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà,
hoặc 1 ngày cho đến 7 ngày, hoặc nhiều lần của 7 ngày,
tuần tự tiến tu theo các pháp: kim cang trì (niệm thầm), mặc
niệm (niệm trong tâm), truy đảnh (niệm truy đuổi niệm),
mà tinh tấn tu trì. Rồi một ngày mai, sẽ biết được năng
lực vô cùng mầu nhiệm chẳng thể nghĩ bàn của 4 chữ A
Di Đà Phật. Lúc ấy, khi đã đạt được Nhất Tâm Tam Muội,
chúng ta sẽ thấy được bộ mặt thật của chính mình trước
khi được cha mẹ sinh ra (bản lai diện mục) và biết được
sau khi chết chúng ta sẽ về đâu. Sẽ cảm nhận một cách
rất sâu xa SỰ BIẾT ƠN vô ngần của chính mình, đối với
đức Thế Tôn đại từ đại bi, ngài đã vì tất cả chúng
sanh mà nói pháp rất khó tin nầy.
Vui
mừng tin nhận lời Phật dạy
KINH:
“Phật nói kinh nầy xong, ngài Xá Lợi Phất và các vị Tỳ
Kheo, tất cả thế gian: Trời, Người, A Tu La, nghe lời Phật
nói, vui mừng tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra.”
Khi
Phật nói kinh nầy xong, ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất cùng
với các vị đại Tỳ Kheo, các vị đại Bồ Tát, các vị
Thượng thủ, chư Thiên, chư Thần, các loài Rồng, các vị
A Tu La, các vị Trưởng giả, các vị Cư sĩ cùng gia đình
quyến thuộc, và những vị ở các cõi khác nữa… tất cả
đại chúng đã cùng nhau tán thán, hoan hỷ tin nhận lời của
Phật dạy, thành tâm đảnh lễ đức Phật rồi lui ra.
Thượng
thủ là bậc chủ tể lãnh đạo của một cõi, hoặc đại
diện đứng đầu cho nhiều cõi. Bậc Thượng thủ của các
vị đại Tỳ Kheo là ngài Xá Lợi Phất. Bậc Thượng thủ
của các vị đại Bồ Tát là ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương
Tử. Bậc Thượng thủ của 33 cõi Trời ở núi Tu Di là vua
Đế Thích. Bậc Thượng thủ của các vị A Tu La là A Tu La
Vương.
A Tu
La Vương (còn gọi là vua thần Phi Thiên) là vị thần chiến
đấu rất hung dữ trong 8 nhóm Trời, Thần, Quỷ, Rồng (được
gọi là Thiên Long Bát Bộ). Các vị Thiên Long Bát Bộ làm
hộ pháp cho người tu là chư Thiên Tướng của 33 cõi Trời
ở núi Tu Di, các loài Rồng, các loài quỷ Dạ Xoa, thần âm
nhạc Càn Thát Bà, thần chiến đấu A Tu La, chim đại bàng
Ca Lâu La, thần múa hát Khẩn Na La, thần mãng xà Ma Hầu La
Dà.
Văn
Phật sở thuyết, là nghe và hiểu những gì Phật đã nói.
Hoan hỷ tín thọ, là vui mừng tin nhận những gì Phật đã
dạy. Tác lễ, là đảnh lễ với lòng biết ơn và tôn kính,
vì Phật đã thương xót trao dạy cho pháp nhiệm mầu. Nhi khứ,
là đi lui ra, để hành trì pháp môn mà Phật đã ân cần khuyến
dẫn, phát nguyện sanh về Tây phương Tịnh Độ.
Văn
Phật sở thuyết, là nhân của TRI. Hoan hỷ tín thọ, là nhân
của TÍN. Hoan hỷ tín thọ và Tác lễ nhi khứ, là nhân của
NGUYỆN. Tác lễ nhi khứ, là nhân của HẠNH. TRÍ là quả của
TRI TÍN NGUYỆN HẠNH. Tất cả là 4 món tư lương “hiểu sâu,
tin chắc, nguyện thiết, hành chuyên” rất cần thiết cho
người niệm Phật, để dựa theo đó làm phương hướng tu
trì, cảm thán ân đức của Phật đã vì chúng sanh mà nói
pháp cứu độ nầy.
Phật
đã nói pháp như thế, con đường đã được vạch sẵn như
vậy, nếu có ai tin nhận thì hãy theo đó mà tu trì. Hãy tin
với niềm tin thật vững chắc, khắc giữ vào trong tâm, tin
như vậy mới là chân chánh tín thọ.
Hãy
xem việc niệm Phật là vấn đề KHẨN THIẾT NHẤT trong cuộc
sống, bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Hãy xem việc niệm
Phật là NIỀM VUI trên tất cả. Hãy đặt việc niệm Phật
lên hàng đầu của tất cả mọi sự việc, trọn kiếp đời
nầy và muôn nghìn kiếp về sau. Hãy buông bỏ vạn duyên bên
ngoài và chỉ một lòng chuyên nhất trì niệm danh hiệu A Di
Đà Phật. Hãy thành tâm niệm Phật và chỉ biết niệm Phật.
Niềm
tin Cực Lạc, câu Phật hiệu A Di Đà, Tứ Vô Lượng Tâm,
Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, Bồ Đề Tâm, Tứ Tư Lương
– đấy là những hành trang công đức trí huệ diệu hạnh
vô thượng mà đức Thế Tôn đã ân cần trao dạy, người
niệm Phật phải nghiêm kính tin giữ và hành trì.
hành
trang công đức trí huệ diệu hạnh vô thượng
người
niệm Phật phải nên nghiêm kính tin nhận và chấp trì
Hãy
cố gắng tinh tấn tu tập theo hạnh của Phật. Hãy kiên trì
dũng mãnh học theo nguyện của Phật. Hãy nỗ lực chuyên cần
thêm nữa, hãy ráng làm cho xong trong một đời nầy, giải
thoát và thành Phật, vì mình, vì người, vì tất cả mọi
loài…
Với
sức mạnh Nhị Lực, đó là sự tinh tấn chấp trì danh hiệu
Phật trong niềm tin vững chắc, cùng với tha lực hộ trì
của tất cả chư Phật mười phương, người niệm Phật nhất
định sẽ thành Phật.
Hãy
luôn ghi nhớ lời cuối cùng của đức Thế Tôn đã nói, ở
rừng cây Ta La, nơi ngôi làng hẻo lánh Kusinara, trước khi
ngài nhập diệt:
“Mọi
vật ở đời không có gì quý giá, thân thể rồi sẽ tan rã,
chỉ có Đạo ta là quý báu, chỉ có Chân Lý của Đạo ta
là bất di bất dịch, hãy tinh tấn lên để giải thoát.”
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Tóm
lược YẾU CHỈ thọ trì Kinh A Di Đà
- Khi
đã quyết tâm thọ trì kinh A Di Đà, người tu tập phải phát
khởi tín tâm vững và chắc, mở rộng niềm tin để nhận
hiểu lời Phật dạy trên cả 2 mặt Lý và Sự, nghĩa là phải
tin chắc rằng có cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương
Tây, tin có cõi Tịnh Độ nhiệm mầu trong tâm của người
niệm Phật. Tin vào lý nhân quả, tin vào luật luân hồi và
nghiệp báo. Giữ vững niềm tin thiết tha và kiên cố, tinh
tấn chấp trì danh hiệu Phật, trong tất cả mọi oai nghi đi
đứng nằm ngồi, bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, không
chán mỏi, không hoài nghi, không mong cầu, không buông lơi.
- Khi
đã quyết tâm thọ trì kinh A Di Đà, người tu tập phải phát
khởi dũng mãnh 10 thứ tâm vô thượng thù thắng, đó là Tín
tâm, Thâm trọng tâm, Hồi hướng phát nguyện tâm, Xả ly tâm,
An ổn tâm, Hộ giới tâm, Đà ra ni tâm, Ba la mật tâm, Bình
đẳng tâm, Phổ hiền tâm. Tức là phải tu tạo công đức
trí huệ và phẩm hạnh trên cả 2 mặt Thiện nghiệp và Tịnh
nghiệp.
Thiện
nghiệp là năng làm các điều lành, ngăn ngừa và trừ diệt
những điều ác, luôn nắm giữ 10 thiện nghiệp trên cả 3
bình diện Thân Khẩu Ý, thực hành bố thí, buông xả, tha
thứ, nhẫn nhục, phát khởi tâm Bồ Đề vô thượng, tu tập
Bát Chánh Đạo, học hiểu Tứ Diệu Đế, thường xuyên sám
hối để tu sửa tâm tánh, dũng mãnh tu tập theo hạnh của
Phật và chư đại Bồ Tát, thực hành các pháp Lục Độ Ba
La Mật, không ngừng nghỉ tự độ và độ tha, nhận hiểu
và tu tập theo 48 lời nguyện của Phật A Di Đà.
Tịnh
nghiệp là giữ tâm ý cho thanh tịnh, bằng cách trì niệm câu
Phật hiệu A Di Đà suốt đêm ngày 6 thời, để chuyên nhất
tâm tưởng, dứt trừ mọi vọng niệm điên đảo, cắt đứt
vòng dây trói buộc của Vô Minh và Tham Ái.
- Khi
đã quyết tâm thọ trì kinh A Di Đà, người tu tập phải phát
nguyện vãng sanh về cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà. Phát
nguyện phải chân thành, với tất cả nghiêm kính và thiết
tha, ghi nhận sâu xa điều nguyện ước ấy ở trong lòng, ngày
đêm tưởng nhớ đến các cõi lành và các điều lành, có
như vậy thì mới có thể cảm ứng được sự gia trì hộ
niệm của chư Phật, của các vị Thiên Long hộ thể, và tương
ứng với bản hoài của đức Phật A Di Đà.
- Khi
đã quyết tâm thọ trì kinh A Di Đà, người tu tập phải trải
rộng 4 thứ tâm vô lượng, một cách chân thật từ chính
tự tâm, từ cõi lòng lân mẫn của chính mình, vào từng câu
Phật hiệu A Di Đà. Trên từng mỗi tiếng niệm Phật, người
niệm Phật phải trải rộng tâm Từ của mình đến tất cả
chúng sanh bình đẳng, trải tâm Bi đến những chúng sanh đang
đau khổ, trải tâm Hỷ đến các loài đang vui sướng, trải
tâm Xả đến những người mình yêu thích hoặc ghét bỏ.
Và câu Phật hiệu phải được niệm từ trong chính tự tâm,
vững vàng và nghiêm cẩn, để chuyên nhất tâm tưởng, làm
phương tiện trừ diệt mọi tà ý, dục niệm sinh khởi trong
từng mỗi phút giây của cuộc sống. Đó là thể hiện 4 đức
tánh liên hoa: vi, diệu, hương, khiết trong câu Phật hiệu
A Di Đà.
Điều
quan trọng của pháp niệm Phật là phải phát khởi tâm chân
thành trong khi xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật, với tất
cả sự nghiêm kính và từ ái, nhẹ nhàng lan tỏa một cách
Ba La Mật đến tất cả mọi chúng sanh, vì mỗi chúng sanh
trên thế giới nầy đều có tánh Phật và tất cả là những
vị Phật sẽ thành trong tương lai. Người niệm Phật phải
chân thành hồi hướng tất cả công đức về Cực Lạc và
chúng sanh muôn loài. Một điều rất quan trọng là trong khi
xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật, người niệm Phật phải
lắng tâm để nghe tiếng niệm trong tâm cho rõ ràng, nghe cho
phân minh từng chữ một. Niệm từng chữ và phải chắc từng
chữ. Nghiêm cẩn hành trì như thế thì mới có thể điều
phục được tâm ý và diệt trừ mọi vọng tưởng đảo điên.
Đó là yếu chỉ thọ trì theo tinh thần lý nghĩa của bản
kinh A Di Đà.
Nam
Mô A Di Đà Phật