Đất
lành, chim đậu.
Đất
vườn sau nhà tôi chẳng biết có lành không nhưng rất nhiều
chim thăm viếng. Từ giống hummingbird nhỏ xíu, giống sẻ hiền
lành, tới oanh, yến và cả những con cu đất lông đen mượt,
lớn hơn những loài kia nhưng lại nhát như cáy ! Không biết
ở những nơi khác chúng có đánh nhau hay không nhưng khi đến
vườn sau nhà tôi thì tuy khác giống, chúng đều có vẻ rất
“biết điều”. Con nào hót cứ hót, con nào đậu bên cạnh
rỉa lông cứ rỉa lông. Con đang hót không bất mãn “Tôi
hót hay như thế, anh không biết thưởng thức mà đứng rỉa
lông ! Đàn gẩy tai trâu hả ?”. Ngược lại, con đang rỉa
lông cũng không phiền “Tôi đang bận rộn chải đầu rũ
áo, anh đi chỗ khác hát hò được không ?”
Khi
tôi rải cơm nguội trên bờ tường thì đám sẻ bao giờ cũng
xà xuống trước nhất. Chúng rất lịch sự, con tới trước
ăn trước, con tới sau ăn sau, kiên nhẫn xếp hàng như người
Mỹ vậy. Oanh và yến thì chê cơm, chờ tôi rắc hột ở vườn
rau, bên hông hồ sen. Chỉ có đám cu đất là ăn tạp, bánh
trái gì còn dư tôi thảy ra bãi cỏ hay trên mái nhà là chúng
gọi nhau thanh toán ngay.
Đất
nơi đây không chỉ lành với chim mà có lẽ lành cả với
tôi vì từ khi lưu lạc xứ người, căn nhà này là nơi tôi
“đậu” lâu nhất, gần hai mươi năm rồi. Cứ cho như thế
là lành đi ! Vì “đậu” lâu nên có những hàng cây trồng
từ hột, vừa nhú mầm lên khỏi mặt đất, chúng đã nhìn
thấy tôi. Chúng tôi thấy nhau, tưởng như tình cờ (nhưng
vạn hữu mầu nhiệm này làm gì có tình cờ, phải từ những
duyên ngầm mới thấy được bằng mắt ưa phân biệt, bằng
tâm ưa lý luận).
Không
chỉ những hàng cây mà những bờ cỏ, những viên sỏi, những
ụ đất ...... Tôi biết chúng và chúng biết tôi rất rõ,
có khi biết hơn cả những người tưởng là thân yêu, ruột
thịt ! Nghe có vẻ hơi cay đắng nhưng bình tâm một chút thì
thấy sự thật này rất khách quan. Vì sao ư? Vì giữa tôi
và chim muông, cây cỏ có đòi hỏi gì nhau đâu! Nghĩ đến
nhau thì tử tế với nhau, không thì cũng chẳng ai trách ai!
Vì không đòi hỏi nhau, ta mới có nhau một cách nhẹ nhàng
hơn, dễ chịu hơn, thân thiện hơn.
Thế
giới của chúng tôi ở nơi “đất lành” này, vì thế mà
tương đối êm đềm.
Nơi
đây, tôi thích mùa hè hơn mùa đông vì nắng ấm tôi có thể
thơ thẩn ngoài vườn nhiều hơn trong nhà. Thường thì buổi
sáng, rải thức ăn cho chim và rắc bỏng cho cá xong, tôi đãi
mình một ly cà phê hoặc trà xanh; rồi ôm một, trong những
cuốn sách đang đọc dở (vì tật tham lam, lúc nào tôi cũng
có những cuốn sách đang đọc dở) ra ghế xích đu dưới
gốc bưởi ngồi đọc. Thế là đủ thấy Thiên Thai, cần
gì phải “lạc lối” mới tới được Thiên Thai như hai
ông Lưu Nguyễn vớ vẩn nào đó !
Cũng
từ những sinh hoạt thầm lặng với vạn hữu nơi đất lành
này mà thỉnh thoảng tôi may mắn bắt gặp những “tia chớp
cảm xúc”. Tôi gọi là những tia chớp, vì cảm xúc khi có,
đều tới rất mạnh và qua rất nhanh. Sau đó, tôi thường
ngồi thừ ra, chảy nước mắt vì cảm động. Chẳng hạn
như, trong Kinh A Di Đà, tôi đã tụng ngàn lần câu:
“
Phục thứ Xá Lợi Phất! Bỉ quốc thường hữu chủng chủng
kỳ diệu, tạp sắc chi điểu: Bạch-hạc, Khổng-tước, Anh-võ,
Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cộng-mạng chi điểu, thị chư chúng
điểu, trú dạ lục thời, xuất hòa nhã âm, kỳ âm diễn
xướng: ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh
đạo phần, như thị đẳng pháp, kỳ độ chúng sanh, văn thị
âm dĩ giai tất niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”
Vì
tụng nhiều lần, tôi đã thuộc lòng. Chính sự thuộc lòng
này là con dao hai lưỡi; nghĩa là thuộc, nên miệng nhanh nhẹn
đọc lên mà tâm chưa đọc kịp ! Nếu tôi sớm đọc được
bằng tâm thì ngay đoạn kinh này cũng đã quá đủ để kẻ
vô minh như tôi nhận ra là tôi đang được sống trong cõi
Cực Lạc của Phật A Di Đà. Ngay nơi đây, ngay nơi “đất
lành chim đậu” này chứ có phải phương Đông, Tây, Nam,
Bắc nào đâu !
Sau
khi làm lễ cầu siệu tuần thứ tư cho Mẹ, từ chùa về,
tôi ra vườn ngồi.
Không
đọc sách,
Không
uống trà.
Chỉ
ngồi im như pho tượng.
Trong
im lắng cả thân và tâm ấy, tôi nghe thấy tiếng chim. Tiếng
chim ư? Chắc chắn là thế. Tôi đã từng nghe tiếng chúng
gần hai mươi năm nay rồi mà. Chúng đang trên cành bưởi,
cành trúc kia ! Những chiếc mỏ nhỏ xíu đang ríu rít làm
lay động lá trúc, làm ngạt ngào hương bưởi. Hôm nay chúng
hót rất dịu dàng, trầm bổng như một ban hợp xướng đang
chăm chú theo một giòng nhạc nào. Rồi tiếng chúng bỗng nhỏ
dần .... và ngưng. Không gian bỗng vút lên âm thanh trong trẻo
và réo rắt của giòng nhạc khác ! A ! đó là cặp chim yến
vừa ghé cánh trên khóm quỳnh lan. Chúng chờ đám sẻ im tiếng
mới cất giọng hót, hay là tất cả đã cùng nhau tập dượt
bản hợp xướng này? Bản hợp xướng này là gì mà có thể
khiến người-thính-giả-tình- cờ cảm thấy như có giòng
suối mật chảy lan trên từng tế bào? Ôi, thật là ngọt
ngào! Thật là trong! Thật là mát! Thật là kỳ diệu! Thật
là từ bi! Thật là ... bất khả tư nghì! Thính giả mơ màng
nghe thấy đâu đây:
“Này
Xá Lợi Phất, ở nước Cực Lạc của Phật A Di Đà thường
có những loài chim mầu sắc xinh đẹp như Hạc-trắng, Khổng-tước,
Anh-võ, Ca-lăng-tần-già, Cộng-mạng. Những giống chim
đó ngày đêm sáu thời, thường hót lên tiếng hót thanh tao,
diễn xướng các pháp môn như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ
đề phần, bát thánh đạo phần v...v... khiến người nghe
được những âm thanh ấy đều khởi lòng niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng”.
Đó
là đoạn văn kinh chữ Hán mà tôi đã thuộc lòng, đã tụng
bằng miệng mà chưa từng bằng tâm. Giờ phút này, tâm tôi
đang khởi lên rọ ràng từng nét chữ Việt.
Từ
đâu vậy ?
Ôi,
cám ơn MẸ.
Có
phải Mẹ vừa sàng sẩy những ưu phiền, buồn bã trong con,
để con nghe được tiếng CHIM THUYẾT PHÁP?
Vẫn
bầy chim nơi vườn sau.
Vẫn
những tiếng hót ấy
Vẫn
lá trúc lay.
Vẫn
bông hoa nở.
Nhưng
Mẹ ơi, bằng tâm không ô nhiễm, con đang ở đất Phật.
Chim
đang thuyết Pháp.
Gió
đang hòa nhạc.
Con
chắc chắn đang được nghe chim thuyết Pháp vì chỉ những
lời pháp diệu âm mới chan hòa ánh sáng Vô Lượng Quang và
cho con những lạc thọ vô biên này. Mẹ đã từng dạy con
“Nếu biết nhìn sâu sắc thì vạn hữu, muôn loài đều có
ứng thân và pháp thân. Ứng thân là thân hiện hữu nơi cõi
ta-bà, nhin thấy được bằng nhãn căn. Pháp thân là biểu
hiện nhiệm mầu mà khi tâm đạt tới thể trong sáng nguyên
thủy thì ta sẽ cảm nhận được. Sự cảm nhận này là kinh
nghiệm của từng cá nhân, không ai diễn tả lại cho ai mà
cảm được”
Ôi,
Mẹ nói khó hiểu thế, con nghe rồi, và cũng tưởng đã quên
rồi. Có ngờ đâu, lời Mẹ là những hạt bồ-đề gieo xuống
ruộng-tâm-con đầy cỏ dại. Một lúc nào tỉnh ngộ, gắng
công khai quang thì hạt lành ấy có cơ duyên nẩy mầm, phải
không Mẹ?
Tôi
thầm hứa với Mẹ là tôi sẽ gắng, để sau bốn mươi chín
ngày, Mẹ tôi có thể tạm yên tâm về đứa con vô minh này,
mà siêu thoát.
Hỡi
bầy chim thân yêu ngoài vườn sau, các bạn không cần phải
mang những tên gọi đẹp đẽ như Bạch-hạc, Khổng-tước,
Anh-vũ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già ..... nhưng tôi cũng đã nghe
được các bạn thuyết pháp rồi. Còn các bạn, có cảm nhận
được sự biết ơn của tôi không? Ồ, tôi lại hỏi một
câu vô minh nữa! Vạn hữu mênh mông, các bạn có cánh, tôi
có chân và chúng ta cùng có tự do. Nếu không thuận hòa, giao
cảm được với nhau thì ai trói buộc chúng ta vẫn ở cùng
nhau chứ! Sự giao cảm này còn gì khác hơn là điều chúng
ta đã từng cùng nghe lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên
thuyết trong Pháp-hội Liên-Trì:
“Xá
Lợi Phất! Ngã kiến thị lợi, cố thuyết thử ngôn, nhược
hữu chúng sanh văn thị thuyết giả, ưng đương phát nguyện,
sanh bỉ quốc độ”.
Câu
kinh đó, ngôn ngữ nước tôi dịch là thế này: “Xá Lợi
Phất! Vì thấy được sự ích lơi lớn lao khi sanh về cõi
nước Cực Lạc nên nay ta bảo quý vị rằng, những ai đang
nghe ta nói đây, hãy nên phát nguyện sanh về cõi nước ấy”.
Còn
tiếng của giống chim các bạn thì dịch ra sao? Các bạn cất
tiếng đi, thế nào tôi cũng nghe và hiểu được mà.
Diệu
Trân
(Chớm
thu 2006)