XIN
CHÀO TỬ THẦN,
CHÀO
TỪ BIỆT CÕI ÐỜI
Một
ngày nào đó khi tôi chết, vì tôi phải chết, tôi muốn chết
với một nụ cười trên môi. Tôi muốn ra đi bình thản, muốn
chào tử thần như một người bạn, có thể nói vui vẻ: "Xin
chào Tử Thần, Chào Từ Biệt Cõi Ðời".
Tôi
có thể tưởng tương chính tôi có một cuộc đối thoại
với tử thần. Có lẽ có thể như thế này: "Chào Thần Chết!
Mi có khỏe không? Ta đã chờ đơi ngươi từ lâu. Suốt đời
ta mong mỏi ngươi đấy. Phải chăng rốt cuộc ngươi đang
đến với ta? Ðã đến giờ ta phải ra đi rồi phải không?
"Ðúng,
đúng, Tử Thần! Ta đang đến đây. Hãy kiên nhẫn. Ta đã
sẵn sàng. Ngươi không biết ta là gì? Từ lâu ta đã dự tính
chào ngươi bằng một nụ cười. Phải, Tử Thần à, ta hiểu.
Ngươi không phải xin lỗi. Ta biết ngươi có việc phải làm.
Ta không có gì chống lại ngươi cả. Không có cảm nghĩ khó
chịu. Không có gì là riêng tư, ta hiểu.
"Như
ta đã nói, Tử Thần à, suốt đời ta mong đợi lúc này. Ðể
xem liệu ta có thể gặp ngươi với một nụ cười không.
Ít ra cũng để xem liệu ta có hứng trong cái chết không, nếu
không có hứng ở trong cõi đời. Bây giờ ngươi đang cho ta
cơ hội này và ta cảm ơn ngươi về điều đó.
"Phải,
ta đã nghe rất nhiều về ngươi. Ngươi không đợi ai. Ngươi
đến như một tên trộm ban đêm. Ngươi không mặc cả với
một ai. Ngươi không chấp nhận câu trả lời "không".
Tử
thần, được rồi. Ta sẽ đến với ngươi một cách vui vẻ.
Ta đã mệt rồi. Tấm thân này như một cái vỏ vỡ. Nó đã
rệu rã. Nó đã sống lâu hơn thời gian nó được sử dụng.
Như ngươi thấy, ta đã sẵn sàng kề cái chết. Và ta đã
chịu đựng tất cả sự đau đớn này, cố gắng mỉm cười
với tất cả khách đến mời gọi ta. Tử thần, nói thật
với ngươi, lẽ ra ngươi phải đến sớm hơn. Xét cho cùng
sự đau đớn này, ngươi là khoảng thời gian thoải mái như
của trời cho. Nhưng nói đủ rồi. Tử Thần, không lần lữa
nữa. Nào lên đường. Hãy cầm tay ta."
Và
ta phải đi như ta thường mơ ước với nụ cười trên môi.
Cách chết đẹp đẽ biết là nhường nào! Tất cả những
người xúm quanh tôi không cần phải khóc. Họ vui vẻ vì thấy
tôi đang mỉm cười. Họ sẽ biết tôi được lắm chứ. Cái
chết chẳng là cái gì mà phải sợ hãi. Hãy đối xử với
cái chết như một người bạn. Hãy sẵn sàng nói lời chào
tử thần và chào từ biệt cõi đời.
Ðương
nhiên không ai được miễn trừ trước cái chết. Tất cả
chúng ta phải chết. Như Ðức Phật đã nói: Ðời sống mong
manh và cái chết là điều chắc chắn. Trong khi chúng ta sống
chúng ta đau khổ khi chia lìa xẩy tới với cái chết của
một người thân. Cả hai ông bà tôi đều đã chết. Tôi không
nhớ ông nội tôi. Ông chết lúc tôi còn rất trẻ. Nhưng tôi
nhớ bà nội tôi. Bà rất ân cần với tôi. Bà cũng rất nghèo
khổ. Bà thích sống ở miền quê trong khi cha mẹ tôi lại
sống ở thành thị. Tôi nhớ một lần bà đến thăm chúng
tôi, tôi xin bà năm xu. Lập tức bà lấy ngay ví tìm ra năm
xu và đưa cho tôi. Vào thời đó có thể mua đồ với năm
xu:Bạn có thể mua được một cục nước đá hay một ly nước
đá với năm xu. Nếu bạn muốn uống nước dừa do người
da đỏ bán bạn có thể mua được hai ly nước dừa với năm
xu! Và với năm xu bạn có thể mua được năm cái kẹo.
Cha
tôi chết lúc tôi mười tuổi. Tôi nhớ có đến thăm cha tôi
lần cuối vào một đêm tại Bệnh Viện Ða Khoa, Cha tôi nằm
chết tại đấy vì bệnh lao và các biến chứng khác. Tôi
nhớ mẹ tôi nói với cha tôi: "Này Beh, đây là con Johnny đến
thăm" Cha tôi không nói được. Ông thở qua ống dưỡng khí
ở mũi. Ông dường như nhìn tôi một cách yếu ớt. Tôi còn
nhỏ. Tôi không biết gì về cái chết, nhưng bây giờ tôi
biết khá hơn. Bà mẹ tội nghiệp của tôi đau khổ. Bà đã
chứng kiến quá nhiều cái chết và đã có một đời sống
cực kỳ khó khăn từ hồi còn trẻ. Chắc chắn, đời sống
không phải là thảm hoa hồng với bà.
Một
trong những người anh em tôi chết khi còn nhỏ. Một người
anh em khác chết lúc 23 tuổi cùng với vị hôn thê. Ðó là
một thảm kịch. Hai người bị chết đuối. Tôi vẫn còn
nhớ nhìn thấy xác của họ tại nhà quàn. Mẹ tôi than khóc
lòng đau xót. Thật là đau đớn cho bà vì mất một đứa
con trai thân yêu một cách bi thảm như vậy. Tôi hoàn toàn
choáng váng và không biết làm gì để hiểu được điều
này. Lúc đó tôi đã 16 tuổi. Tôi cố gắng ra vẻ thờ ơ,
vô tình. Tôi gắng cầm nước mắt. Tôi nói và xử sự như
không có gì xẩy ra và như thể cái chết với tôi là chuyện
hàng ngày, không cần phải sầu thảm. Tôi coi điều đó là
không quan trọng và cố tỏ ra vẻ lạnh lùng.
Nhưng
lúc một mình, tôi khóc. Tôi khóc một cách đắng cay. Sau lễ
mai táng tôi quay trở lại nghĩa địa. Tôi đi vòng vòng trong
nghĩa địa đầu nặng trĩu. Tôi đào đất và trồng hoa chung
quanh mộ của anh tôi và mộ người yêu dấu của anh. Tôi
khắc vào cây thánh giá bằng gỗ những chữ sau: "Không tình
yêu vĩ đại nào bằng tình yêu của một người đã chịu
hy sinh thân mình vì bạn", vì anh tôi đã chết trong khi cố
gắng cứu người vợ chưa cưới. Và tôi nói với Thượng
Ðế .Tôi hỏi Ngài: "Hỡi Ðức Chúa Trời, Sao Ngài cư xử
với tôi thế này? Tại sao Ngài bắt anh tôi? Phải chăng đó
là ý muốn hay lòng khát khao của Ngài? Nếu thế, xin để
ý muốn của Ngài được thực hiện. Tôi chấp nhận việc
đó". Vì các bạn thấy lúc đó tôi là một người Cơ Ðốc
Giáo tốt. Và ý muốn của Thượng Ðế phải đi trước tất
cả mọi việc khác. Không được nghi hoặc. Nhưng bây giờ
tôi là một Phật tử, tôi tin là tôi hiểu hơn một chút.
Phải, không có Thượng Ðế nào bắt anh tôi. Nếu chúng ta
chấp nhận sự sống, chúng ta phải chấp nhận cái chết.
Chết là phần thiết yếu của sự sống. Như Ðức Phật đã
nói, chính vô minh đã làm cho vạn vật trong vòng khổ đau,
và chúng ta cứ trôi lăn hết kiếp này đến kiếp khác theo
những hành vi của chúng ta. Thiện mang điều lành và ác mang
điều xấu. Tôi phải thú thật rằng tôi có thể hiểu rõ
hơn với cách Ðức Phật nhìn vào mọi sự.
Sau
này trong cuộc sống tôi chứng kiến nhiều cái chết hơn.
Là một nhà báo, tôi đã nhìn thấy xác những người chết
vì tai nạn, băng đảng đánh nhau, tự tử, độc dược vân
vân... Tôi đã viết những chuyện bi kịch, cảm xúc hay bi
thảm về người ta chết ra sao. Có một người hôn đứa con
gái nhỏ từ biệt rồi tự bắn vào đầu mình. Có một cặp
trai gái thỏa thuận cùng nhau tự tử trên giường của một
khách sạn. Người con gái chết vì thuốc độc họ mang theo,
người con trai thoát chết. Và có tên cướp khét tiếng bị
bắn chết bởi Cảnh Sát vào Ngày Tết. Tên cướp này bị
theo dõi nên đã không thể sống để nhìn thấy hết ngày
đầu năm mới. Nhưng đối với tôi đó chỉ là một câu chuyện
nữa. Tôi chưa bao giờ nghĩ sâu xa về cái chết. Tôi hoàn
toàn bị tê liệt bởi nó. Tất cả tôi muốn là câu chuyện
hay được đặt trên trang nhất của tờ báo. Hầu như không
có cảm nghĩ hay tình thương trong tôi đối với những nạn
nhân tội nghiệp. Tôi quả là một người nhẫn tâm và ích
kỷ chỉ chú trọng đến phúc lợi của mình.
Mãi
sau này, là một nhà sư, tôi đã gặp những cái chết – vào
lúc này tôi thấy nhiều cảm nghĩ và từ bi hơn. Khi tôi thăm
người bệnh tôi thông cảm với họ. Tôi cố gắng hết mình
để an ủi họ. Với những người Phật Tử, tôi tụng kinh,
những bài kinh Phật. Tôi nói với họ câu Ðức Phật dạy:
Thân bệnh nhưng đừng để tâm bệnh. Chúng ta có thể không
làm được gì nhiều cho thân nhưng chúng ta có thể làm được
gì đó cho tâm. Chúng ta có thể giữ tâm bình tĩnh khi chúng
ta đau yếu. Chúng ta có thể chú tâm. Chúng ta có thể theo
dõi sự tăng giảm của đau đớn, nó đến và đi từng đợt
như thế nào. Chúng ta có thể hiểu biết bản chất của khổ
đau. Chúng ta có thể gặp nó và học hỏi từ nó. Chính đó
là một cuộc thử nghiệm – làm sao chúng ta hiểu rõ bản
chất của sự sống, làm sao chúng ta hiểu rõ rằng không có
cái ngã thường còn nơi đây mà chỉ có sự thay đổi liên
miên của sinh và diệt, giống như dòng sông trôi chảy bất
tận; làm sao chúng ta hiểu rõ chính cái vô minh, tham ái, luyến
chấp, giận hờn, sợ sệt vân vân của chúng ta là nguyên
nhân của khổ đau.
Bằng
sự hiểu biết đó chúng ta có thể đứng lên đón nhận cái
đau đớn. Chúng ta có thể coi điều đó là việc bình thường.
Chúng ta có thể giữ bình tĩnh và ôn hòa. Thậm chí không
một chút gì ngã lòng. Ðúng chúng ta có thể mỉm cười, ngay
cả lúc đau đớn. Chúng ta có thể nói: "Này đau đớn, mi
thật tình muốn ta chết phải không? Người khác có thể gục
ngã với mi nhưng với ta thì không. Ta đã được huấn luyện
và sắt đá với mi. Ðức Phật dạy ta nên đáp lại mà không
giận dữ hay ghét bỏ. Cho nên ta cố gắng đáp lại mi không
giận dữ hay ghét bỏ. Ta hiểu rằng bằng chánh niệm và an
lạc trong tâm ta, ta có thể vượt lên mi. Ta có thể cười
mi. Mi dạy ta đời là khổ đau. Nhưng mi cũng dạy rằng ta
có thể vượt lên mi." Và bạn có thể mỉm cười trước
cơn đau. Bạn sẽ cảm thấy khỏe hơn ngay lập tức.
Cuộc
sống hầu như là bèo bọt
Chỉ
có hai điều trân quý
Tử
tế với người phiền muộn,
Can
đảm tự trong lòng
Adam
Gordon
HAI
QUYẾT TÂM
Khi
tôi viết những dòng này, tôi nhớ lại mới hôm qua một nhà
sư bạn tôi chết. Ông bị ung thư giai đoạn cuối cùng đã
tám tháng. Khi tôi ở bên cạnh ông tại bệnh viện một vài
ngày trước khi ông chết, ông đang ở trong cơn đau đớn.
Tôi cố gắng đút cho ông ăn một chút canh nhưng ông không
ăn được. Ông trông rất hốc hác và khủng khiếp. Ông hầu
như không nói được. Bênh ung thư đã tàn phá thân thể ông
và không phải là một nhiệm vụ dễ dàng để chịu đựng
cho tinh thần của ông. Tôi cố nài ông lưu ý quan sát cái
đau đớn như ông thường làm trong lúc hành thiền, để càng
giữ được bình tĩnh và thanh thản càng tốt. Ông là một
người thiền định vững vàng và tôi chắc chắn ông đã
thiền về chính phút cuối cùng này.
Tôi
nhớ lại một dịp khác khi tôi đến thăm một ông già khả
ái bị bênh bạch cầu. Ông cũng ở trong cơn đau đớn. Ðau
đớn hiện trên nét mặt ông. Có những giọt mồ hôi trên
trán và mặt ông. Tôi lấy cái khăn và nhẹ nhàng lau mồ hôi
cho ông. Tôi ghé vào tai ông thì thầm cố gắng làm cho ông
giảm đau. Ông này cũng là người hành thiền và tôi lại
nhắc nhở ông giữ chánh niệm quan sát cái đau càng điềm
tĩnh càng tốt. Tôi cảm thấy vui khi nhìn thấy vẻ đau đớn
biến mất trên mặt ông. Một lúc sau đó thân nhân đến và
tôi ra về. Một vài giờ sau, ông chết. Tôi vui vì đã có
thể giúp ông một chút trước khi ông tắt thở.
Mặc
dù có hạnh phúc trong cuộc sống, nhưng vẫn có khổ đau.
Hạnh phúc hình như rất phù du – nó ra đi không đợi chờ
chỉ để rồi được thay thế bằng phiền muộn và bất mãn.
Bởi vì sự sống kết thúc bằng cái chết nên tự nó là
một thảm kịch. Có người nói đời sống giống như một
củ hành: bạn bóc nó làm chảy nước mắt. Ðức Phật nói
sinh là khổ đau vì sinh dẫn đến suy tàn và chết. Chúng ta
nên hiểu rõ điều này. Nếu chúng ta chấp nhận sự sống
chúng ta phải chấp nhận cái chết. Nếu chúng ta muốn khóc
khi người nào đó chết thì chúng ta cũng nên khóc vào lúc
người ấy ra đời. Vào lúc đứa trẻ sinh ra thì mầm mống
của cái chết đã ở trong nó. Nhưng chúng ta lại mừng rỡ
khi đứa trẻ được sinh ra. Chúng ta cười và chúc mừng cha
mẹ đứa trẻ. Nếu chúng ta hiểu sinh – nó phải dẫn đến
cái chết – thì khi cái chết đến chúng ta có thể đối
mặt với nó bằng một nụ cười.
Nhìn
con người chết trong đau đớn ra sao, thân thể của họ bị
suy sup vì bệnh, và thấy tất cả đời sống phải kết liễu
bằng cái chết (sự việc đó đã làm cho tôi hiểu mỗi lần
đi đến nhà quàn để tụng kinh), hai quyết tâm phát sinh trong
tâm tôi: Trước nhất, đến lúc tôi chết, tôi muôn chết
với một nụ cười trên môi. Tôi muốn tôi có thể giữù
chánh niệm và được thanh thản. Nói một cách khác tôi muốn
giữ bình tĩnh. Tôi muốn có thể vẫn mỉm cười dù cái đau
đớn nó hành hạ tôi đến thế nào đi nũa. Tôi muốn tôi
có thể mỉm cười với tất cả khách khứa đến thăm viếng
tôi. Tôi muốn tôi có thể mỉm cười với tất cả các bác
sĩ và y tá tốt bụng săn sóc tôi. Tôi muốn tôi có thể mỉm
cười với những bệnh nhân bạn tôi để giúp họ làm bất
cứ cách nào có thể ở bênh viện, hoặc để truyền cảm
hứng hoặc để an ủi.
Thay
vì những bác sĩ và y tá hỏi tôi có khỏe không, tôi muốn
hỏi họ: "Bác sĩ có khỏe không? Chị có khỏe không? Hôm
nay quí vị thế nào? Quí vị biết không quí vị đang làm
một công việc cao cả. Chúng tôi rất may mắn có quý vị.
Xin tiếp tục công việc tốt đẹp này. Xin cảm ơn quý vị
nhiều." Và với những khách là Phật tử, tôi sẽ nói Phật
Pháp. Tôi sẽ nói: Hãy nhìn tôi. Tôi sắp chết rồi. Kết
thúc rồi! Quý bạn biết đấy hành thiền lúc sắp chết không
phải là dễ. Vậy nên trong khi bạn còn khỏe hãy cố gắng
tận dụng điều đó. Hãy hành thiền! Hãy thực hành Pháp!
Không còn hối hận sau này. Ðừng đợi đến lúc bạn đau
nặng thì đã quá trễ. Nhưng nếu ngay bây giờ bạn thực
hành thiền, khi bạn bệnh, bạn sẽ không bị khó khăn nhiều
lúc phải đối phó với cơn đau. Bạn có thể quan sát nó
và thậm chí vượt qua nó.
Các
bạn biết đấy, Ðức Phật bảo chúng ta rằng mọi thứ đều
vô thường. Nếu chúng ta hành thiền chăm chỉ đầy đủ,
chúng ta có thể hiểu được sự thật về vô thường sâu
xa hơn, như vậy chúng ta sẽ không bị trói buộc vào tâm và
thân này. Chúng ta biết chắc chắn thân này không phải của
chúng ta, tâm này cũng chẳng phải của chúng ta. Hiểu biết,
chúng ta có thể buông bỏ. Chúng ta sẽ không bị trói buộc
vào vào những dục lạc thô thiển của sự sống. Chúng ta
có thể sống một cách khôn ngoan hơn. Chúng ta về già một
cách thanh nhã. Và chúng ta không cần sợ chết.
Ðức
Phật nói khổ đau gắn liền với đời sống. Và chúng ta
phải học hỏi cách sống với nó và vượt qua nó. Chỉ bằng
cách áp dụng chánh niệm vào cuộc sống hàng ngày và hành
thiền chúng ta có thể thâm nhập vaò chân lý của khổ đau.
Khi chúng ta hiểu được khổ đau một cách sâu xa, chúng ta
sẽ tranh đấu để loại bỏ nguyên nhân của nó, đó là tham
ái, bị trói buộc vào đời sống, vào sức cám dỗ của những
cảnh tượng vui thích, âm thanh dịu dàng, những mùi vị dễ
chịu, và những đụng chạm êm đềm. Chúng ta sẽ cố gắng
thanh tịnh tâm trước tất cả các ô nhiễm.
Theo
Ðức Phật, khi tâm chúng ta được tẩy sạch tham sân và si,
chúng ta sẽ vượt qua được tất cả khổ đau. Chúng ta sẽ
không bao giờ phản ứng lại bằng luyến chấp và ác cảm
với bất cứ gì. Thay vì điều đó sẽ có trí tuệ và từ
bi trong chúng ta. Chính điều này chính là chấm dứt khổ đau.
Không bám víu nữa chúng ta sẽ không bao giờ khổ đau. Cả
đến cái đau thể xác cũng không làm tinh thần đau vì tâm
không phản ứng bằng ác cảm và giận dữ. Tâm sẽ bính an.
Có chấp nhận và hiểu biết. Khi chúng ta chết trong lúc có
loại trí tuệ và an bình này, Ðức Phật nói điều đó là
sự chấm dứt khổ đau. Không còn tái sanh, không còn trở
lại vòng sinh tử. Nếu chúng ta không tái sanh, không còn suy
tàn và chết kèm theo khổ đau. Chấm dứt! Hạ màn! Cái khối
đau khổ bị dập tắt. Và chúng ta có thể nói giống như
các vị thánh thời cổ đã nói, Làm được cái đáng phải
làm. Ðược sống là cuộc đời thánh thiện.
Ðương
nhiên, ngay bây giờ chúng ta có thể vẫn còn xa mục tiêu.
Nhưng người ta nói, hành trình ngàn dậm bắt đầu bằng một
bước đi. Cho nên tôi là người lạc quan. Vâng, tôi là một
Phật tử và một người lạc quan. (Ai nói người Phật tử
là người bi quan?) Và tôi tin rằng mỗi bước đi trên con
đường chánh niệm sẽ mang chúng ta bước gần hơn tới mục
tiêu – mục tiêu Niết Bàn, sự kết thúc của mọi khổ đau.
Và là một người lạc quan, tôi thích nghĩ rằng sớm hay muộn
chúng ta sẽ đạt tới Niết Bàn.
NÓI
CHUYỆN ÐÓ BẰNG CẢ HOA LÁ
Và
khi tôi đang nằm trên giường bênh viện, tôi thích nói Phật
Pháp với tất cả những ai hỏi han tôi, hay bất cứ ai muốn
nghe.
Hơn
nữa, tôi có thể gửi hoa tặng đến tất cả những bạn
hữu ngoài kia. Tôi có thể đính kèm một cái thiệp với thông
điệp như sau: "Chào bạn! Bạn có mạnh khỏe không? Bạn có
thích những đóa hoa này không? Hoa này không đẹp phải không?
Bạn có thì giờ để tạm nghỉ và thưởng thức cái đẹp
của bông hoa và hít hương thơm ngát của nó không? Và khi
bạn nhìn vào bông hoa, bạn có nhìn thấy những cặp mắt
long lanh của người thân hay đứa con bạn không? Bạn có cảm
thấy hiểu hy vọng và sợ hãi của họ không? Hay là bạn
quá bận, quá lo lắng với những kế hoạch tham vọng trần
tục, sự theo đuổi danh vọng và của cải của bạn phải
không?
"Bạn
đã xem xét kỹ bản chất của vô thường chưa bạn – làm
sao tất cả phải úa tàn và chết? Và làm sao trong khi chúng
ta sống, chúng ta phải sống có ý nghĩa để sau này khỏi
phải ân hận. Cũng vậy, giống như bông hoa đang úa tàn, tôi
cũng đang chết. Nhưng tôi gửi những lời cầu chúc tới ban.
Chúc bạn khoẻ và hạnh phúc! Tôi hy vọng bạn sẽ tìm được
thì giờ cho những người thân yêu của bạn tập hành thiền.
Ban biết không, kiếm tiền, có nhiều đồ xa xỉ, vui hưởng
dục lạc không phải là mọi thứ. Những thứ đó có thể
làm cho bạn vui một lúc nào đó thôi, nhưng thực tế tử
tế và tình thương yêu quan trọng hơn nhiều: nó làmõ cho
bạn thỏa mãn và hạnh phúc nhiều hơn. Xin tha thứ cho tôi
vì đã thuyết giảng những lời làm nhàm như vậy nhưng xin
hãy lưu ý đến những lời của một người sắp chết. Hãy
cho phép người ấy được giãi bày. Ðúng, trong khi bạn sống
bạn nên cố gắng trải rộng vui vẻ và hạnh phúc càng nhiều
càng tốt. Hãy tha thứ cho mọi người. Không nên nuôi dưỡng
một thái độ hằn học nào hay coi bất cứ ai là kẻ thù
của bạn. Luôn luôn nhớ rằng đời sống ngắn ngủi và chẳng
bao lâu tất cả chúng ta đều phải chết. Và thương yêu chính
là cho chứ không phải là nhận. Cho tình thương không kèm
theo điều kiện. Tình thương không mong mỏi được đền bù.
Hãy cố gắng trau dồi loại tình thương đẹp đẽ như vậy.
Chúc bạn hạnh phúc!" Tôi kết thúc bằng lời tái bút: –
"Hãy bảo trọng. Không cần phải đến thăm tôi. Nhưng bạn
có thể vui sướng cho tôi. Vì tôi đang mỉm cười và tôi
sung sướng là tôi có thể chết với một nụ cười trên
môi. Tạm biệt và chúc may mắn"
Và
nếu tôi không nói được vì quá mệt thì tôi vẫn có thể
mỉm cười để cho thấy mọi việc đều tốt đẹp, và bệnh
chỉ hại cái thân tôi nhưng không hại cái tâm tôi. Bằng
cách đó ta vẫn có thể truyền cảm hứng cả đến khi chúng
ta bệnh. Lúc ấy người ta sẽ đánh giá Phật Pháp cao hơn,
và thực hành chăm chỉ hơn. Lẽ đương nhiên, nếu tôi đang
nói với những người bạn không phải là Phật tử, tôi phải
được áp đặt quan điểm tôn giáo của tôi lên họ. Tôi
có thể giãi bày quan điểm của tôi chứ không đời nào lại
áp đặt cho họ quan điểm ấy. Giống như tôi không muốn
họ áp đặt quan điễm của họ cho tôi, vậy cũng thế tôi
phải không áp đặt cho họ quan điểm của tôi. Chúng ta phải
tôn trọng quan điểm tôn giáo của nhau và phải có tình thương
yêu-khả ái với nhau. Bằng cách này, sẽ có chung sống hòa
bình.
ÐỐI
PHÓ VỚI BỆNH TẬT –
THÁI
ÐỘ THÍCH HỢP
Chúng
ta không nên coi bệnh tật và khổ đau là thứ hoàn toàn tàn
phá chúng ta, và vì thế chịu thất vọng và ngã lòng. Trái
lại (nghĩa là trường hợp người Phật tử), chúng ta phải
coi đó là cuộc trắc nghiệm xem chúng ta đã hiểu lời Phật
dạy tốt đến đâu, và chúng ta có thể áp dụng sự hiểu
biết mà chúng ta cho là đã học tốt đến mức nào. Nếu
chúng ta không đối phó được về mặt tinh thần, nếu chúng
ta bị suy sụp, nó cho thấy sự hiểu biết của chúng ta về
Phật Pháp, sự thực hành của chúng ta, vẫn còn yếu. Vì
vậy bằng cách này, đó là cuộc trắc nghiệm và cơ hội
cho chúng ta thấy mức độ chúng ta đã quán triệt sự thực
hành của chúng ta.
Rồi
bệnh cũng là cơ hội cho chúng ta nâng cao hơn nữa sự thực
hành kiên nhẫn và khoan dung của chúng ta. Làm sao chúng ta có
thể thực hành và phát triển đến viên mãn (toàn hảo) ví
như lòng kiên nhẫn nếu chúng ta không trắc nghiệm, nếu chúng
ta không bị đặt vào những hoàn cảnh khó khó khăn và khốc
liệt? Vậy nên bằng cách này, chúng ta có thể coi bệnh là
cơ hội cho chúng ta trau dồi thêm nhẫn nại.
Chúng
ta cũng có thể nhìn vào sức khỏe không phải chỉ là sự
vắng bóng của bệnh tật mà còn là khả năng trải qua bệnh,
và học hỏi và phát triển từ đó. Ðúng, một định nghĩa
mới lạ về sức khỏe như thế bắt nguồn từ một số chuyên
gia y tế như Bác Sĩ Paul Pearsall của Bệnh viện Sinai tại
Detroit, Hoa Kỳ. Thấy bệnh không bao giờ trừ tiệt được
và cuối cùng chúng ta phải gục ngã bằng cách này hay cách
khác ra sao, những bác sĩ này đã đi đến định nghĩa về
sức khỏe có thể giúp ta có thể thích nghi với bệnh khi
nó đến. Ðiều đó đúng phải không? Cho dù nhiều máy móc,
phương pháp và thuốc men tinh vi đến thế nào đi nữa, người
ta vẫn cứ gục ngã trước ung thư, bệnh AIDS, bệnh đau tim
và nhiều bệnh khác.
Cuối
cùng, không có lối thoát. Chúng ta phải hiểu và chấp nhận
sự thật, để khi nó đến và chúng ta phải gục ngã, chúng
ta có thể gục ngã một cách thanh tao. Chắc chắn, chúng ta
sẽ chữa trị bệnh bằng hết sức mình, nhưng khi bất chấp
những cố gắng cao nhất của chúng ta, chúng ta thất bại
và bệnh tiếp tục gia tăng, chúng ta phải chấp nhận và cam
chịu với cái không thể tránh được.
Phân
tích đến cùng, không phải vấn đề là chúng ta sống lâu
bao nhiêu mà là chúng ta sống tốt đẹp ra sao mới đáng kể,
và điều đó gồm cả cách chúng ta có thể chấp nhận bệnh
tật của chúng ta đến mức nào, và sau hết chúng ta có thể
chết ra sao. Về mặt này, Bác sĩ Bernie S. Siegel trong cuốn
sách của ông, "Hòa Bình, Tình Thương và Chữa Bệnh", viết:
Những
bệnh nhân khác thường không cố gắng để không chết. Họ
cố gắng để sống cho đến khi họ chết. Họ đã thành công,
mặc dù hậu quả bệnh tình như thế nào, vì họ đã chữa
lành đời sống của họ, chơ dù họ không chữa được bệnh
của họ.
Và
ông cũng nói:
Một
cuộc đời thành công không phải về cái chết. Ðó là về
sống tốt đẹp. Tôi đã thấy có người mới hai tuổi và
chín tuổi đã thay đổi được người ta và cả các cộng
đồng bởi khả năng của họ về tình thương, và đời sống
của họ thành công dù ngắn ngủi. Mặt khác, tôi biết nhiều
người sống lâu hơn rất nhiều và không để lại gì ngoài
sự trống rỗng.
Cho
nên thật tuyệt vời rốt cuộc là đời sống của chúng ta
có thể được chữa lành mặc dầu bệnh của chúng ta có
thể không được chữa khỏi. Sao vậy? vì khổ đau là vị
thầy giáo và nếu chúng ta học bài thuộc, chúng ta có thể
trở nên thành người tốt hơn một cách đáng ngạc nhiên.Chúng
ta đã không nghe những chuyện có những người trải qua đau
đớn nhiều, thoát khỏi, đã thay đổi thành người tốt hơn
ư? Nếu họ không kiên tâm, ích kỷ, cao ngạo và không thận
trọng trước đó, bây giờ họ có thể trở nên kiên nhẫn,
tử tế, lịch thiệp, và nhũn nhặn hơn. Ðôi khi họ nhận
thấy bệnh là một điều tốt cho họ – bệnh đã cho họ
cơ hội để xem xét lại lối sống và những giá trị quan
trọng hơn trong đời sống. Họ đi đến đánh giá cao gia đình
và bạn hữu hơn, và quý trọng thời gian họ đã sống với
những người thân yêu. Và nếu họ bình phục lại được,
họ sẽ dành nhiều thì giờ hơn cho những người thân, và
làm những việc thực sự quan trọng và có ý nghĩa nhiều
hơn.
Nhưng
cho dù chúng ta bị gục ngã vì bệnh chúng ta vẫn có thể
học hỏi và phát triển từ nó. Chúng ta có thể hiểu được
cái mong manh của sự sống và lời dạy của Ðức Phật đúng
ra sao – có một yếu điểm trong sự sống. Chúng ta có thể
trở nên tử tế hơn, cảm niệm nhiều hơn về lòng khả ái
mà chúng ta nhận được từ người khác. Chúng ta có thể
tha thứ những ai đã làm cho chúng ta đau đớn. Chúng ta có
thể thương yêu một cách hào phóng và sâu xa hơn. Và khi cái
chết đến, chúng ta có thể chết bằng sự chấp nhận và
an bình. Bằng cách đó, chúng ta có thể nói đời sống của
chúng ta được chữa lành vì chúng ta hòa hợp với thế giới
và chúng ta sống trong bình an.
CHÚNG
TA CÓ THỂ HÀNH THIỀN
Khi
chúng ta ốm và nằm liệt giường, chúng ta không cần phải
thất vọng. Chúng ta vẫn có thể hành thiền khi chúng ta nằm
trên giường. Chúng ta có thể quan sát tâm và thân chúng ta.
Chúng ta có thể giành được bình tĩnh và sức mạnh bằng
cách hành thiền hơi thở. Chúng ta có thể quan sát sự hít
vào và thở ra, biết chúng ta hít vào và thở ra. Việc này
có thể cho chúng ta ấn tượng bình tĩnh. Hay chúng ta có thể
quan sát cái bụng phồng lên và xẹp xuống khi hít vào và
thở ra. Tâm của chúng ta có thể đi theo sự lên xuống, và
hòa nhập với nó. Việc này cũng có thể cho ta sự bình tĩnh.
Và từ sự bình tĩnh này, sự hiểu biết có thể phát sinh.
Chúng ta có thể nhìn thấy tính chất nhất thời và hủy diệt
của tất cả các hiện tượng, và có thể hòa hợp với sự
thật về vô thường, bất toại nguyện và vô ngã.
Nếu
chúng ta đã học thiền chánh niệm hay thiền Minh Sát [*], thời
gian có thể trôi qua dễ dàng. Có nhiều đối tượng chúng
ta có thể quan sát trong bất cứ tư thế nào dù nằm, ngồi
đi hay đứng. Chúng ta có thể biết tư thế của chúng ta đang
ở tư thế nào, và cảm thấy những cảm giác phát sinh trong
thân chúng ta. Chúng ta có thể quan sát chúng bằng cái tâm
vững vàng và bình thản. Và lẽ đương nhiên, tâm cũng phải
là đối tượng quan sát. Cho nên chúng ta có thể quan sát các
trạng thái của tâm. Tất cả đều có thể được quan sát
– buồn bã, thất vọng, bồn chồn, lo lắng, suy tư – và
tất cả chúng phải qua đi nhường bước cho trầm tĩnh, an
lạc và trí tuệ. Trạng thái thiện và bất thiện đến rồi
đi. Chúng ta có thể quan sát tất cả chúng bằng sự hiểu
biết và trầm tĩnh.
[*]
Thiền Minh Sát tức Tuệ giác thiền hay Chánh niệm thiền.
Trong Thiền Minh Sát, hành già dùng chánh niệm để quan sát
bản chất hiện tượng tinh thần và thể chất, cuối cùng
nhận thấy cái đặc điểm của vô thường, bất toại nguyện
và vô ngã. Với sự giới thiệu vào thiền Minh Sát, và sự
tu tập một loại thiền khác gọi là từ bi thiền, hay thương
yêu-khả ái thiền, xin mời bạn xem "Thiền Minh Sát" và "Kiềm
Chế Nóng Giận Trải Rộng Tình Thương", cả hai đều cùng
một tác giả và phát hành bởi Trung Tâm Thiền Mã Lai, Penang
Ðôi
khi chúng ta có thể biểu lộ lòng thương yêu-khả ái. Lập
đi lập lại nhiều lần chúng ta có thể nguyện cho tất cả
chúng sinh:
Nguyện
cho chúng sinh tất cả đều được khỏe mạnh và hạnh phúc
Nguyện
cho chúng sinh đều thoát khỏi tổn hại và hiểm họa.
Nguyện
cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau tinh thần.
Nguyện
cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau thể xác.
Nguyện
cho chúng sinh có thể chăm lo cho chính mình một cách hạnh
phúc.
Cũng
bằng cách đó thì giờ có thể trôi qua một cách hoàn toàn
thích hợp cho dù chúng ta nằm liệt giường. Chúng ta có thể
truyền lòng từ bi-khả ái đến các bác sĩ, y tá và các bệnh
nhân đồng cảnh ngộ. Chúng ta cũng có thể truyền từ bi
khả ái đến những người thân, họ hàng và bè bạn chúng
ta. Hơn thế nữa chúng ta có thể thỉnh thoảng suy nghĩ về
Phật Pháp, nhớ lại những gì chúng ta đã đọc, nghe hay hiểu
biết. Suy nghĩ như vậy, chúng ta có thể đáp lại được
khổ đau của chúng ta bằng trí tuệ và trầm tĩnh.
Giáo
huấn của Ðức Phật là trau dồi tâm, hành thiền, và làm
như vậy cả khi chúng ta bị ốm đau. Thật ra, vào những thời
điểm như vậy chúng ta cần phải cố gắng nhiều hơn nữa
để tập trung chánh niệm của chúng ta. Ai biết, Niết Bàn
hay trí tuệ tối thượng, có thể đạt được vào lúc trút
hơi thở cuối cùng! Trong kinh, Ðức Phật có kể trường hợp
một người ốm – bị khổ sở vì cảm giác đau đớn thể
xác, buồn bã, đau dữ dội, hành hạ, làm quẫn trí, khó chịu
làm tàn lụi cuộc sống. Nhưng con người ấy không ngã lòng.
Người ấy cảm thấy samvega - một ý thức cấp bách phấn
đấu dù ở vào những giờ phút cuối cùng. "Người ấy đã
cố gắng phù hợp" Ðức Phật nói, "Tâm của người ấy kiên
quyết vào Niết Bàn, Người ấy đã tự mình nhận thức được
chân lý tối thượng, người ấy thấy Niết Bàn bằng cách
thâm nhập vào bằng trí tuệ".
Ðúng
là, đúng là người chủ hộ bị ốm, thân của ngươi yếu
và gây trở ngại. Vì ai mang cái thân này, hỡi này chủ hộ,
chỉ muốn sức khỏe chốc lát thì hoàn toàn ngu dại. Hỡi
này chủ hộ, vì vậy, ngươi phải tự rèn luyện:
"Dù
thân bệnh, tâm tôi không bệnh."
Hỡi
này chủ hộ, vì vậy, ngươi phải tự rèn luyện.
Ðức
Phật
NGỢI
KHEN KUAI CHAN
Tôi
muốn nói với bạn về một hành giả du già can đảm, đã
chết êm ả do bệnh ung thư với tiếng "Niết Bàn" trên môi.
Tên bà là Kuai Chan và bà ra đi vào ngày 18 Tháng Chạp Năm
1992 tại Kuala Lampur. Bà bốn mươi ba tuổi. Chồng bà, Billy,
kể cho tôi nghe bà đã đương đầu với bệnh tình ra sao.
Thấy câu chuyện đầy hứng thú, nhất là đối những hành
giả du già (tu thiền), tôi xin phép ông được kể lại trong
sách này, và tôi cảm ơn ông đã đồng ý cho phép tôi.
Bà
Kuai Chan được chẩn bệnh lần đầu tiên với bệnh ung thư
vú vào tháng 4 năm 1989. Vào thời gian này bà đã tu tập thiền
Minh Sát vào khoảng độ một năm. Bà bình tĩnh chấp nhận
bệnh tình. Billy nói, "Vợ tôi chấp nhận bệnh, đó là cái
nghiệp của bà" (nghiệp là một định luật tự nhiên của
nguyên nhân và hậu quả). Bà không đổ cho ai hay bất cứ
cái gì. Bà cũng không cay đắng hay rơi vào tình trạng ngã
lòng. Bà hết sức vững vàng và giữ bình thản cho đến lúc
chết". Kuai Chan đã trải qua phẫu thuật để loại bỏ vú
bị nhiễm. Ba tháng sau bà lại phải giải phẫu lẫn thứ
hai khi người ta thấy những tế bào ung thư vẫn còn ở trong
khu vực này. Sau đó bà được xạ trị và hóa trị có tác
động phụ tối thiểu. Trong suốt thời kỳ chữa bệnh ung
thu vú và trong sáu tháng cuối đời khi được chẩn đoán
là bệnh ung thư phổi giai đoạn cuối, bà đã từ chối không
uống một thứ thuốc giảm đau nào. Billy nói, "Bà không muốn
thứ thuốc giảm đau nào". Cả đến khi cơn đau lên đến
cực độ bà vẫn từ chối không uống thuốc giảm đau, ngay
cả đến một viên Panadol. Bà là một người kiên quyết,
rất mạnh mẽ và đáng khâm phục"
Quyết
định không chữa trị bằng thuốc giảm đau vì bà muốn giữ
tâm bà càng trong sáng và tỉnh táo càng tốt. Bà là hành giả
du già, và tất cả những hành giả du già trân quý chánh niệm.
Họ không muốn một thứ thuốc nào làm cho tâm họ trì độn
và làm hại sự thiền định của họ. Cho nên nếu họ lâm
bệnh họ sẽ làm như vậy. Kuai Chan đã sửa soạn đối đầu
với cái đau nên bà đã từ chối thuốc giảm đau. Bà chỉ
chấp nhận xạ trị - hóa trị cho ung thư vú của bà vì phương
pháp này có thể dẫn đến chữa lành bệnh. Nhưng về sau,
bà bị ung thư phổi và được cho biết đã ở giai đoạn
cuối bà đã từ chối chữa bằng xạ trị-hóa trị mà bệnh
viện đề nghị làm cho bà đỡû tức thở. Và khi bác sĩ
đề nghị thuốc giảm đau như morphine, bà cũng từ chối.
Billy
cho biết khi trong đợt ung thư vú đầu tiên Kuai Chan có một
chút khó khăn với cơn đau sau khi giải phẫu. Là hành giả
du già, bà đã có thể nhận thấy cơn đau rất rõ ràng và
cơn đau sẽ biến đi. Nhưng ung thư phổi là một sự thử
thách thực sự với bà. Cơn đau luôn lên đến cực điểm
nhưng bà vẫn từ chối không dùng thuốc. Có nhiều lúc bà
bị ngất xỉu và ngã sóng soài trên sàn nhà khi cơn đau đột
phát. Nhưng bà vẫn bình tĩnh. Bà cũng bị ho dữ dội dai dẳng
nhiều ngày đêm. Billy ở bên cạnh bà và khi thấy bà không
ngủ được ban đêm ông cố làm bà dịu cơn đau bằng cách
xoa dầu, chà sát và những cách chữa trị truyền thống. Billy
đưa ba đến các thầy thuốc Trung Hoa và mua nhiều loại thuốc
bắc và sắc lên cho bà uống.
Billy
nói chính niềm tin tưởng và thiền định đã khiến bà có
thể đối đầu với khổ đau với một mức độ thanh thản
và tự tại phi thường. Cả hai đều đã hành thiền với
Thượng Tọa Sujiva tại một đạo tràng tại Ðài Bắc năm
1988. Sau đó Kuai Chan tiếp tục tham gia thường xuyên các đạo
tràng khổ hạnh của Thượng Tọa Santisukharama tại Kota Tinggi,
Johor.
Khi
được chẩn đoán bị ung thư phổi sau đợt ho vào tháng bẩy
năm 1992, bác sĩ cho biết bà chỉ sống được một tháng nữa.
Chỉ cho Kuai Chan và Billy hình chụp tia X, ông chỉ rõ ung thư
đã lan tràn ra sao khắp cả phổi. Ông cũng rất ngạc nhiên
thấy Kuai Chai vẫn đi được và trông rất khỏe mạnh, mặc
dù tình trạng ung thư tàn phá phổi của bà. Nhưng bác sĩ
không biết là Kuai Chan có một tâm thép. Bà đã sống được
sáu tháng nữa. Ðối với bà không phải là một cuộc chiến
để sống mà là chết có nhân cách. Khi bà và Billy gặp tôi
tại Trung Tâm Trí Tuệ ở Petaling Jaya khi tôi đến thăm nơi
đây vào tháng 7, họ hỏi họ có thể làm gì. Tôi bảo họ:
Ðiều một hành giả du già có thể làm là thiền định! Nếu
tôi là bà tôi sẽ thiền định cho đến lúc cuối cùng. Họ
được khích lệ và Kuai Chan kiên quyết dành những ngày còn
lại hành thiền tại nhà. Billy nói ông hỗ trợ bà tận tình.
Nhưng
bà không cho là cơn đau có thể ghê gớm đến thế. Bà nói
bà chưa từng thấy cơn đau nào như vậy. Nhất là ở phần
dưới lưng, nóng như đốt và đau như cắt. Bà đã dồn tất
cả sức mạnh tinh thần để biết cái đau đớn nhưng bà
vẫn không thành công. Nó quá nhiều. Có những lúc bà nằm
đó bất lực không nhận biết được cái đau đớn nữa.
Bà hơan toàn cam chịu. Nhưng bà vẫn không uống thuốc giảm
đau. Bà tham khảo với thầy dạy thiền, Thượng Tọa Sujiva
khuyên bà trải lòng từ bi khả ái và tu thiền sổ tức hít
thở để giảm thiểu cơn đau khi bà chịu không nổi nữa.
Việc làm này khiến cho bà dễ chịu. Từ sự dễ chịu này
bà có thể tiếp tục thiền minh sát. Một hôm sau ba tuần
chiến đấu với cơn đau dai dẳng, bà có một kinh nghiệm
độc đáo. Bà nói với Billy trong khi nhận thấy cái đau như
cắt, bà quan sát thấy nó càng ngày càng nhỏ đi cho đến
khi nó biến hẳn. Bà nói bà cảm thấy như tất cả giác quan
đều bị cắt bỏ, như thể không có danh-sắc (tâm và thân)
vào lúc đó tâm và thân đã cùng nhau biến đi với cái đau.
Bà nói với Billy bà cảm thấy giống như bà trải nghiệm
Niết Bàn, và bà cảm thấy cực kỳ sung sướng. Sau kinh nghiệm
này, bà không bao giờ gặp phải loại đau đớn cực độ
nữa.
Mười
ngày trước khi lâm chung, Billy mang bà vào một bênh viện tư
vì bà khó thở. Bác sĩ đặt ống dưỡng khí cho bà. Hình
chụp tia X cho thấy những tế bào ung thư đã lan rộng hơn
nữa làm trầm trọng sự nghẹt thở. Chữa bằng xạ trị
– hóa trị được đề nghị không phải là có thể chữa
lành bệnh mà chỉ để giảm nhẹ bệnh tình. Nhưng Kuai Chan
không muốn tâm mất sáng suốt nên bà đã từ chối. Sau năm
ngày bà đòi Billy đem bà về nhà vì bà cảm thấy không có
lý do nào nữa để bà phải ở lại bênh viện. Billy lắp
bình dưỡng khí tại nhà, mang bà về nhà và để bà thở
qua ống dưỡng khí hầu làm giảm bớt khó khăn về hít thở
của bà. Năm ngày sau từ 13 Tháng Chạp đến lúc bà chết
ngày 18 Tháng Chạp bà dường như ở trong tình trạng thiêm
thiếp ngủ, thỉnh thoảng mới tỉnh dạy. Hai ngày trước
khi chết bà vẫn còn nhớ ngày sanh nhật thứ 17 của đứa
con gái vào ngày 17 Tháng Chạp. Bà nhắc Billy luộc hai quả
trúng cho đứa con gái và cho con gái một bao (lì sì) đỏ,
Billy đã làm theo lời bà.
Vào
ngày 18 Tháng Chạp, bà tỉnh dạy lúc 9 giờ sáng với một
nụ cười. Bà hỏi, "Có phải tôi ngủ không?" Billy trả lời:
"Phải đã năm ngày rồi, em biết không?" Bà ngạc nhiên. Bà
dường như rất sung sướng và mỉm cười. Bà nói bà không
cần uống thuốc bắc nữa. Bà lại nhớ lại ngày sinh nhật
của đứa con gái và mặc dầu Billy đã nói cho bà biết là
ông đã đưa bao lỳ sì đỏ cho đứa con gái như bà đã dặn,
Bà lại nói lần nữa với Billy, "Hãy cho cho đứa con gái một
phong bao nữa (bao lì sì khác) nhân danh tôi".
Billy
nói, vào khoảng 2 giờ chiều Kuai Chan muốn nói cái gì với
ông ta nhưng quá yếu không nói nổi. Billy nhắc bà hãy duy
trì tâm trạng vô tư, đừng lo lắng gì về chồng và các
con, và cảm thấy tự do để ra đi êm ả. Ông nói, họ đã
thảo luận nhiều lần về việc này trước đây, rằng nếu
bà có thể lành bệnh thì tốt, và nếu không thể chữa được,
thì cũng phải chịu: bà có thể đi một cách thanh tao, hiểu
biết nghiệp luật, rằng tất cả chúng ta một ngày đó bắt
buộc phải chia lìa.
Vào
lúc ba giờ, khi đứa con trai 15 tuổi, đi học về và báo với
me: "Mẹ ơi, con đã về", bà hiểu tuy không nói được. Bà
gật đầu để ra dấu bà biết.
Vào
khoảng ba giờ ba mươi phút, Billy nói, Kuai Chan tận dụng sức
lực nói rõ ràng bằng tiếng Quảng Ðông, Woh Yap Niphoon, có
nghĩa là "Tôi đã vào Niết Bàn", câu này có ý nói nói là
bà tin tưởng bà đã thực hiện hay chứng nghiệm Niết Bàn.
Và bà chỉ vào bụng. Ðó là lời cuối cùng của bà, bà ra
đi một cách rất êm ả vào khoảng 45 phút sau. Billy nói Kuai
Chan, trong lúc hành thiền, thường quan sát sự chuyển động
lên xuống của bụng xẩy ra mỗi lần hít vào hay thở ra.
Bà thấy sự lên xuống của cái bụng là một đối tượng
tốt để đặt tâm vào, và bà thường khuyến khích các hành
giả du già nên bám vào đối tượng ấy. Bất chấp hiện
tượng nào của thân hay tâm khi ta áp dụng chánh niệm và
tập trung vào, cuối cùng ta có thể thấy sự sinh diệt của
hiện tượng và đi đến hiểu biết tính chất vô thường,
cái bất toại nguyện và vô ngã của chúng. Sự hiểu biết
có thể tiến tới đỉnh cao trong việc đạt Niết Bàn, trạng
thái chấm dứt khổ đau. Những ô nhiễm của tham sân và si
sẽ bị hoàn toàn bị loại bỏ khi chứng nghiệm Niết Bàn
đạt được ở trình đô A La Hán [*].
[*]
Về kinh nghiệm chấm dứt những hiện tượng duyên hợp trong
khi thiền định, Niết Bàn có thể đạt được ở bốn bậc
thánh quả. Mặc dầu kinh nghiệm của Niết Bàn là chấm dứt
những hiện tượng duyên hợp ở tất cả bốn bậc. Niết
Bàn chỉ có một vị, đó là vị "an lạc" kết quả về phương
diện loại bỏ những ô nhiễm tinh thần tuy nhiên khác biệt
ở mỗi bậc của bốn bậc.
Ở
bậc thứ nhất Tu Ðà Hoàn (Nhập lưu) tham và sân bị yếu
đi nhưng chưa bị loại bỏ hoàn toàn. Hai ô nhiễm này bị
yếu đến độ người đắc quả Tu Ðà Hoàn không thể phá
năm giới, không giết (cả đến một côn trùng) không trộm
cắp hay lùa bịp, không ngoại tình, không nói dối và không
uống rượu và không dùng các chất ma túy. Ở bậc thứ hai
Tư Ðà Hàm (Nhất Lai), những ô nhiễm bị yếu hơn nữa. Ớ
bậc thứ ba A Na Hàm (Bất Lai), lạc thú nhục dục và sân
hoàn toàn bị loại bỏ. Nhưng vẫn còn dấu vết của vô minh
và ham thích một thiên nhiên không nhục dục, có nghĩa là
một ham thích dược tái sinh vào cảnh trời Phạm Thiên không
nhục dục. Ở bậc thứ tư A La Hán (Bất Sanh, quả thánh hoàn
toàn) tất cả ham muốn/ tham đều bị loại bỏ. A La Hán sống
kiếp cuối cùng và không còn bị tái sinh nữa.
Billy
nói khi giờ phút cuối cùng sắp tới, mặt của Kuai Chan rạng
rỡ, khi bà nói, mắt của bà long lanh và sáng. Vào khoảng
4 giờ 15 chiều, Billy nhận thấy bà đã tắt thở. "Bà trông
rất bình thản, thanh thoát. Billy nói, Bà đã ra đi một cách
rất an lạc.
Vào
khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, một người bạn đạo, Lily,
cư ngụ ở xa Petaling Jaya 25 cây số, đột nhiên có ý nghĩ
trải tâm từ bi-khả ái đến Kuai Chan. Lily ngồi xuống và
thiền định, gửi đi tất cả những tư tưởng về từ bi-khả
ái đến Kuai Chan. Bà ta nói bà thấy Kuai Chan rất thanh thản
trong một ảo ảnh trong suốt như pha lê. Khi bà ngừng thiền,
bà ta nhìn đồng hồ lúc đó là 4 giờ 15, cùng lúc Kuai Chan
ra đi.
Chết
theo cách Kuai Chan đã chết, rõ ràng là một cái chết đẹp
đẽ. Cách ra đi nào tốt hơn – với tâm bà tập trung về
Niết Bàn. Ai có thể nói cái kinh nghiệm duy nhất nào bà đã
trải qua? Chỉ có mình bà biết thôi. Nhưng có một điều
chắc chắn là, tâm bà vững vàng vào lúc cuối cùng, hướng
về Niết Bàn. Tôi cớ thể nghĩ rằng bà đã đạt Niết Bàn.
Nếu bà đã không làm được thế trong đời này, tôi nghĩ
rằng bằng tâm vững chắc và cương quyết của bà, bà sẽ
trải qua tái sanh lành làm người hay người trời, và sẽ
đạt được mục tiêu hằng ấp ủ trong kiếp sống đó.
Là
một Phật tử, Bà đã chỉ dẫn cho Billy tổ chức cho bà một
tang lễ đơn giản, không có những nghi lễ và nghi thức không
cần thiết. Theo ý muốn của bà, Billy đã thu xếp việc hỏa
táng vào ngày hôm sau. Một vài nhà sư Phật Giáo, một số
hành giả du già và bạn bè tụng kinh Phật. Tang lễ rất giản
dị theo lời bà yêu cầu. Billy thu thập tro cốt và đem rắc
tại cây bồ đề tại thiền đường sư phụ của họ tại
Jahor.
Hồi
tưởng lại đời sống cùng nhau, Billy nói Kuai Chan là một
người vợ tốt nhất mà ông đã có được: "Chúng tôi lấy
nhau đã 22 năm và bà đã sát cánh với tôi qua thăng trầm,
qua nhiều thử thách và cực khổ. Bà có một tâm tính vui
tươi và hoạt bát. Bà bao giờ cũng thương yêu và ân cần.
Ngay cả lúc bà ốm bà vẫn tuyệt vời. Bà không bao giờ phàn
nàn. Bà không ngã lòng. Không có giận hờn hay cay đắng nơi
bà. Bà vẫn bình tĩnh và vững vàng. Bà vẫn có thể mỉm
cười và cười lớn. Bà chấp nhận tất cả khổ đau với
thái độ trang nhã. Bà nói thân bà bệnh nhưng tâm bà không
bệnh. Tâm bà vẫn sung sức và khỏe mạnh. Sự quan ngại của
bà không phải cho chính bà mà cho người khác. Bà nói nếu
bà có thể sống thêm 10 năm nữa, bà sẽ thực hành Phật
Pháp nhiều hơn. Bà rất quan tâm đến tôi và những đứa
con.
"Thực
ra bà đã chịu đựng khổ đau tốt hơn tôi. Tôi không thểâ
chịu nổi khi thấy bà quá nhiều đau đớn. Tôi cố gắng
cho bà uống thứ thuốc bắc tốt nhất hy vọng có thể chữa
khỏi hay cho bà được nghỉ ngơi. Ðôi khi tôi hỏi tại sao
tất cả việc đó lại xẩy ra cho bà. Và tôi nghĩ: Hãy để
cho bà sống thêm mười năm và cuộc đời tôi ngắn đi mười
năm. Xin để cho tôi cho bà 10 năm của đời tôi. Nhưng lẽ
đương nhiên điều đó không phải là để cho chúng ta nói.
Chính nghiệp mới có quyền ăn nói cuối cùng.
"Bà
thường nói với tôi: "Ðó là nghiệp của em, Billy à. Cái
đó hoàn toàn đúng. Em không biết em đã làm gì trong quá khứ.
Em phải chấp nhận nghiệp của em." Ðôi khi bà nói: "Em rất
hối hận vì đã đem đến cho anh tất cả khó khăn này, Billy,
tất cả cái khổ đau này. Billy biết không em nợ anh rất
nhiều trong cuộc đời này." Tôi phải nói với bà xin đừng
nói thế. Tôi nói, bà không nợ gì tôi cả. Chúng ta là vợ
chồng phải không? – và bà là người vợ tuyệt vời của
tôi. Chúng ta cùng trải qua những lúc thăng trầm, và bây giờ
là giờ phút cần thiết của bà, tôi sẽ ở bên cạnh bà.
Chúng ta sẽ một mất một còn cùng nhau, tôi nói với bà,
tôi cam đoan với bà.
"Vào
những dịp khác, bà nói với tôi:, Này Billy đây là giáo lý
chân chính, con đường thực sự, tôi rất tin điều đó",
và bà nhắc tôi đừng lơ là thực tập hành thiền, không
nên tự mãn mà phải tu tập chăm chỉ. Chúng tôi đã mất
một thời gian tìm kiếm một giáo lý mà chúng tôi có thế
hiểu. Và khi chúng tôi tình cờ gặp Phật Giáo và thiền Minh
Sát vào năm 1988, chúng tôi đã say mê nó. Ông biết không,
chúng tôi thường cùng nhau bàn luận Phật Pháp mỗi đêm bên
tách trà. Mối liên hệ của chúng tôi rất tuyệt vời."
Người
anh em họ của Kuai Chan, Sati, hỏi liệu bà có sợ bệnh ung
thư không, bà trả lời không, bà không sợ bệnh này. Bà sẵn
sàng chịu đựng đau đớn mà không dùng thuốc. Bà quả là
một hành giả du già can đảm, mặc dù hết sức chênh lệch,
mà vẫn kiên trì thực hành Pháp. Bà làm tôi băn khoăn, nếu
tôi, một nhà sư mà ở hoàn cảnh như bà, bị ung thư, tôi
có thể chịu được nhiều như thế không, có can đảm và
chịu đựng như thế không? Bà quả là một tấm gương đầy
cảm hứng, một vị thầy làm gương cho tất cả chúng ta.
Tôi phải cảm ơn Billy đã đưa ra chuyện riêng tư của mình
để chia sẻ với chúng ta câu chuyện truyền cảm này để
chúng ta có thể can đảm trong việc tu tập cương quyết hơn
nữa và phấn đấu mạnh hơn nữa.
Billy
yêu cầu tôi ghi nhận lòng biết ơn của ông đối với Thượng
Tọa Sujiva và những nhà sư khác cùng với các hành giả du
già về tất cả sự giúp đỡ ân cần mà họ đã cho ông
và Kuai Chan. Những bạn hành giả Du già tại Trung Tâm Trí
Tuệ Phật Giáo, PJ, đã đặc biệt hỗ trợ tinh thần và khuyến
khích Kuai Chan trong suốt thời gian bà bệnh. "Tôi không biết
làm sao bầy tỏ lòng biết ơn của tôi đến tất cả mọi
người đã giúp đỡ tôi. Xin vui lòng nói với họ, tôi xin
cảm ơn tất cả, xin được nói, Cảm ơn quý vị. Cảm ơn
quý vị rất nhiều về mọi thứ mà quý vị đã dành cho Kuai
Chan."