PHẦN
II
NGƯỜI
PHẬT TỬ PHẢI LÀM GÌ
ĐỂ
CỦNG CỐ PHẬT PHÁP?
DẪN
NHẬP
Những
truờng hợp vui như sanh con, hôn nhân và những trường hợp
buồn như đau yếu, qua đời của kiếp nguời rất cần thiết
đến việc áp dụng một số nghi thức được triển khai ở
mọi xã hội từ thời thuợng cổ. Những nghi thức này, đã
có từ trước khi những tôn giáo lớn được thành lập trên
thế giới, được truyền thừa từ cha ông chúng ta, và qua
dòng thời gian, lần hồi trở thành hình thức thực hành truyền
thống và tập quán cho đến ngày nay. Chúng ta vẫn tiếp tục
áp dụng nhiều nghi thức này vì ngu si và sợ hãi không dám
thay đổi hay loại bỏ dù chúng ta đã đưọc tiếp nhận một
nền giáo dục hiện đại, tiên tiến về đời sống.
Đặc
biệt nghi thức trong truờng hợp buồn như có người chết
hay tang lễ vẫn thực hành trong huyền bí và dị đoan. Việc
phải chi tiêu một số tiền lớn cho việc này quả là một
gánh nặng cho tang quyến. Đó là lý do chính khiến một số
đông Phật tử đã đổi đạo vì lẽ nguyên nhân này là lợi
khí cho những nguời tôn giáo khác nhắm mũi dùi đả kích
vào người đạo Phật. Tối ư khẩn thiết cho tất cả các
cộng đồng Phật Giáo tại tất cả các quốc gia trên thế
giới phải tỉnh thức về tình trạng này và can đảm cố
gắng cải cách nghi thức và nghi lễ thực hành cho phù hợp
đúng nguyên tắc tôn giáo của Đạo Phật.
Cuốn
sách này trình bày một cách đơn giản và dễ hiểu một số
nghi thức để thực hành trong những dịp buồn vui trong đời
người Phật tử. Hy vọng người Đạo Phật sẽ cố gắng
hiểu biết các nghi thúc này và áp dụng khi truờng hợp cần
đến. Làm được như vậy, nguời Phật Tử không những đạt
được mãn nguyện và niềm an lạc trong kiến thức, thực
hành đúng nghi thức Phật Giáo mà còn đề cao được tôn
giáo của mình trước mắt những người thuộc tôn giáo khác.
Tan
Teik Beng, Hội Trưởng
Hội
truyền Bá Phật Giáo Mã Lai Á
-ooOoo-
BỔN
PHẬN CHA MẸ TRONG VIỆC NUÔI NẤNG CON CÁI
Sanh
con là một dịp vui mừng. Có con và nuôi dưỡng con cái là
một cuộc hành trinh thể hiện trên niềm vui và tin tưởng.
Đồng thời nó cũng có nghĩa là cuộc khởi đầu của một
thời gian dài hy sinh và trách nhiệm của cha mẹ. Dù rằng
con người đã tiến rất xa trên bực thang tiến hóa, những
trẻ nhỏ vẫn cần một thời gian dài mới trưởng thành và
tự lập được. Cha mẹ với bổn phận nặng nề chịu trách
nhiệm săn sóc và nuôi duỡng chúng cho đến khi chúng thành
người hữu dụng. Tuy nhiên qua nhiều thế kỷ, xã hội đã
triển khai một phương pháp được thử nghiệm kết quả rất
tốt để hướng dẫn các bậc cha mẹ trong việc nuôi nấng
con cái. Trong mối quan hệ này, tôn giáo là vai trò chính cung
cấp cho cha mẹ một phương thức tổ chức để huấn luyện
đứa trẻ về đạo đức, cách cư xử và luân lý. Trong Phật
Giáo, Đức Phật đã cho cho các bậc cha mẹ lời khuyên dạy
rất hữu ích về nhiệm vụ đối với đứa trẻ và ngược
lại. Kinh Thi-Ca-La-Việt có lẽ là lời khuyên tốt nhất trong
những lời dạy của Đức Phật. Đ?c Phật nêu một trường
hợp khi Ngài thấy một thanh niên trẻ đang thực thi một nghi
thức đơn giản là cúi lạy sáu huớng (bắc, nam, đông, tây
trên, dưới). Hỏi thanh niên này về ý nghĩa và mục đích
của hành động lễ lạy này, nguời thanh niên trả lời không
biết và anh chỉ làm theo lời khuyên bảo của người cha đã
qua đời. Đức Phật đặc biệt không trách cứ thanh niên
thi triển nghi thức trên nhưng Ngài đã giảng dạy ý nghĩa
hữu ích của việc thực hành lễ lạy này. Ngài nói hành
động biểu lộ lòng tôn kính sáu hướng có nghĩa là tôn
kính việc chu toàn nhiệm vụ và bổn phận với cha mẹ, thầy
dạy, hàng giáo phẩm, vợ, con cái và nguời làm. Trên đây,
chúng ta thấy Đức Phật nhấn mạnh sự tương quan giữa mọi
người nhưng đặc biệt giữa cha mẹ và con cái. Cha mẹ phải
săn sóc con cái và cho con quyền độc lập khi thời điểm
đến và cho con thừa hưởng gia tài đúng lúc. Mặt khác, về
phần con cái cũng phải có bổn phận phải săn sóc và thể
hiện hết lòng hiếu kính cha mẹ. Điều này phải được
thực thi từ sự tương kính và biết ơn cha mẹ chứ không
phải vì mong muốn được lợi lạc mà làm vậy. Nơi đây
cho thấy có một mối liên quan mật thiết giữa tôn giáo và
sự liên hệ cha mẹ, con cái. Bậc cha mẹ đừng quên ý nghĩa
của tôn giáo khi đứa trẻ ra đời. Gia đình phải phát triển
mối tương quan tế nhị về tôn giáo đã được thiết lập
hầu tránh lầm lẫn.
Cha
mẹ có bổn phận phát triển mối tương quan căn cứ trên
gia tài văn hóa và tôn giáo. Trong khi các người của tôn giáo
bắt buộc thi hành các lễ rửa tội, đặt tên thánh chính
thức cho đứa trẻ, cha mẹ người Phật Tử chỉ cần mang
đứa trẻ đến chùa để xác nhận lại niềm tin vào Ba Ngôi
Tam Bảo, nương tựa vào Đức Phật, Pháp và Tăng Già. Có
nơi nương tựa vào Ba Ngôi Tam Bảo, chính các bậc cha mẹ
cảm thấy tin tưởng trong việc nuôi dưỡng đứa trẻ và
an lòng vì đứa trẻ được che chở không còn sợ hãi ma quỷ.
Chúng ta không thể chối bỏ sự hiện hữu các lực lượng
ma quỷ chung quanh chúng ta hiểm ác với con người và có thể
gây tai hại. Mang đứa trẻ đến chùa và một khóa cầu nguyện
thiêng liêng theo truyền thống cầu phước cho em nhất định
tạo phúc lợi cho em. Việc trên đây cũng được coi như là
bước đầu trong việc liên hệ với chùa từ khi em còn trứng
nước, sư kiện này trở thành một phần hay một mảnh trong
đời sống của đứa trẻ. Thói quen trên nếu được tiếp
tục gìn giữ cho đến lúc trưởng thành sẽ đem lại lợi
ích lúc gặp khó khăn.
KHÓA
LỄ CẦU PHƯỚC CHO CÁC EM NHỎ
Tụng
kinh đem hiệu quả tốt cho em nhỏ. Được biết trong lúc Đức
Phật còn tại thế, khi một em nhỏ trong trường hợp nguy
kịch vì ảnh hưởng của ma quỷ bên ngoài, đem đến trưóc
mặt Phật, Đức Ph?t ra lệnh cho tất cả các thầy tụng kinh
cầu nguyện cho em. Kết quả là đứa bé đã thoát chết và
sống tới già. Do vậy em đưọc gọi là AYUWADDHANA có nghĩa
là "sống lâu" vì không còn sợ bị chết non.
TẠI
SAO CHÚNG TA TÌM NƯƠNG TỰA NƠI ĐỨC PHẬT?
Khi
những người tin tưởng vào thượng đế, lúc sợ hãi, buồn
thảm hay gập khó khăn, họ thường cầu nguyện để được
giúp đỡ và che chở. Nhiều Phật Tử hỏi là có thể quay
về với ai khi gặp phải trường hợp bất an. Trong truờng
hợp này người Phật tử nhớ tới Phật trong tâm trí đề
tìm sự bằng an. Chắc chắn là quan niệm về thượng đế
của người Phật Tử khác hẳn với các tôn giáo khác nhưng
khi suy gẫm về các đức hạnh cao cả của Đức Phật, những
chiến thắng vĩ đại của Ngài, những đặc tính bình tĩnh
và cao thượng của Ngài, đầu óc người Phật Tử sẽ bình
tĩnh lại và sẽ đạt được lòng tự tin. Cả đến những
người thuộc tôn giáo khác nói rằng thượng đế không phải
là một người, nhưng là một sức mạnh đưọc nhân cách
hóa trong đầu óc. Khi đầu óc bình tĩnh, sung mãn, tập trung
vào sức mạnh ấy, họ ở trong tư thế có thể đối đầu
với các xáo trộn, lượng định được những khó khăn và
tìm cách vượt qua được. Người Phật tử giải quyết các
khó khăn bằng đường lối tương tự là gợi trong tâm trí
hình ảnh của Đức Phật. Đương nhiên những khó khăn của
chúng ta là do nguyên nhân nơi tâm trí của chúng ta nên tâm
trí của ta duy nhất có thể giải quyết vấn đề qua hiểu
biết và tự tin. Vậy nên sự hiểu biết về Pháp rất là
quan trọng. Khi tâm trí sung mãn qua cảm hứng và thành tâm
đối với Đức Phật, cảm nghĩ bị bơ vơ,sợ hãi ma quỷ,
cô đơn sẽ không còn và ta sẽ lấy lại lòng tự tin. Điều
này có nghĩa là tìm nương tựa nơi Đức Phật.
Trong
khi tìm nơi nương tựa cho con em tại chùa, có thể dâng cúng
hoa, hương, nến hay trái cây tại chánh điện và cung thỉnh
thầy trụ trì tụng kinh cầu phước cho đứa trẻ. Nếu muốn
hơn nữa, có thể xin thầy trụ trì đặt cho em một pháp danh.
Lúc
đứa trẻ đang lớn, trách nhiệm của cha mẹ là thường xuyên
đem em đến chùa để có thể gần gũi các thiện-trí-thức,
nghe những bài giảng đơn giản và những bài thuyết pháp;
lợi lạc bắt ngưồn từ đó. Trong thời gian này đứa trẻ
sẽ quen thuộc với việc hành trì và sẽ cảm thấy thoải
mái giữa bầu không khí thanh tịnh của ngôi chùa. Lẽ dĩ
nhiên đứa trẻ phải được mang đến chùa vào những khóa
cầu phước đặc biệt trong những dịp như ngày tựu truờng,
ngày thi, sanh nhật và những dịp vui khác. Khi đứa trẻ nghe
những lời tụng kinh thường xuyên, chúng sẽ tự cảm thấy
lòng tin tưởng vô biên vì chúng hiểu tụng kinh đem lợi lạc
và cảm thấy được che chở. Cho nên chúng sẽ có khuynh hướng
ngày một làm tốt hơn bất cứ công việc gì phải làm, và
kết quả, chúng không còn bồn chồn lo lắng mà cảm thấy
vũng tâm không còn khiếp sợ bị bỏ rơi không được giúp
đỡ.
GIÁO
DỤC VÀ VĂN HÓA NGƯỜI PHẬT TỬ - HÀNH TRÌ.
Phương
thức hữu hiệu để trình bày các bài giáo lý cho các em về
luân lý và đạo đức là dùng các hình ảnh, các bức minh
họa, các ký hiệu tôn giáo và các bài nói về huyền thoại
và các mẩu chuyện về Phật Giáo. Phương pháp này giúp cho
nhiều người nhớ lại, đặc bIệt các em nhỏ, khiến việc
nhận thức giá trị Phật Giáo càng tốt đẹp hơn. Những
màn trình diễn trên sân khấu hay các bức hoạt họa mô tả
lịch sử, các huyền thoại về Đức Phật cũng tạo một
ắn tượng tốt và trường cửu trong đầu óc các em.
Dìu
dắt các em trên con đuờng chính đáng, các bậc cha mẹ phải
tự mình làm gương và phải sống một cuộc đời lý tuởng.
Không thể nào có được các con em xứng đáng từ nơi những
bậc cha mẹ không xứng đáng. Ngoài phần khuynh hướng
do Nghiệp quả, các em cũng bị ảnh hưỏng bởi những tật
xấu và phẩm hạnh của cha mẹ. Các bậc cha mẹ hữu trách
nên cẩn thận không nên truyền thừa cho con cái những nét
tiêu cực của mình.
Lời
khuyên của Đức Phật về truyền thống và tập tục là không
nên chấp nhận hay bác bỏ ngay bất cứ điều gì mà không
thực hiện xem điều đó có ý nghĩa và hữu dụng không. Điều
này không cần nhấn mạnh về những phương pháp này khi một
người đã hiểu rõ Pháp và có một cuộc sống có ý nghĩa.
Đức Phật dạy, dù phương pháp nào mà chúng ta áp dụng để
rèn luyện tâm trí, thái độ của chúng ta phải được coi
như một người đã dùng cái bè để qua sông. Sau khi vượt
qua sông, người đó không cần phải bám vào cái bè nữa mà
bỏ lại bên bờ rồi tiếp tục cuộc hành trình. Tương tự
như vậy, việc thực hành văn hóa chỉ được coi như là phụ
giúp cho việc đạt cảm hứng chứ không phải là cứu cánh.
Việc
thực hành văn hóa của người Phật tử thay đổi từ nước
này qua nước khác. Khi thực hiện những truyền thống văn
hóa này, chúng ta phải cẩn thận không nên phân loại Phật
Giáo như thuộc riêng rẽ của bất cứ một ai cả. Thí dụ
như chúng ta không nên phân biệt Phật Giáo Trung Hoa, Phật
Giáo Tích Lan, Phật Giáo Nhật Bản, Phật Giáo Thái Lan, Phật
Giáo Miến Điện, hay Phật Giáo Tây Tạng. Phân biệt tạo
bất hòa, kỳ thị và hiểu nhầm. Chúng ta cũng nên nhận thức
một số gọi là các nhà lãnh đạo Phật giáo đang hết sức
phát huy uy lực của mình với nhãn hiệu Phật Giáo bằng cách
áp dụng mọi dạng thức thực hành và quan niệm như bùa ngải,
thần thông, thần bí và siêu nhiên để bịp bợm quần chúng.
Những hành động vô lương tâm này được thực thi hoàn toàn
không có những điều mà Đức Phật đã nói về việc hành
đạo.
Một
việc thực hành thông thường nữa giữa những người Phật
Tử là tổ chức khóa lễ cầu phước khi dọn về nhà mới.
Bất cứ lúc nào khi dọn vào một khu gia cư mới, hay rời
chỗ ở, theo tập tục thông thường người Phật tử cung
thỉnh các thầy đến làm lễ cầu phước để bảo đảm
nơi mới đến được che chở khỏi ma quỷ, mọi người đều
được an vui ;hạnh phúc, an lạc và hài hòa tỏa khắp nơi.
Tương tự như vậy, các buổi lễ cầu phước cững được
thi hành khi bắt đầu khai truơng việc buôn bán hay bất cứ
lúc nào việc buôn bán đuợc khởi sự.
HÔN
NHÂN
Theo
Đức Phật, khi đứa trẻ đến tuổi trưởng thành, bổn phận
của cha mẹ là phải tìm kiếm một người vợ xứng đáng
cho con cái. Lẽ dĩ nhiên việc này không còn là một tập quán
trong xã hội hiện đại, tuy nhiên cha mẹ vẫn là người giúp
đỡ, hỗ trợ khi đứa con bắt đầu tìm kiếm một ý-trung-nhân
xứng đôi vừa lứa. Đây là dịp tốt nhất cho cha mẹ không
những giúp về vật chất mà còn cho con cái những lòi khuyên
kín đáo, hướng dẫn chúng trong việc chọn lựa người bạn
đường thích hợp hầu tránh được các các chông gai cạm
bẫy trên đời. Nếu đứa trẻ thường xuyên đến chùa, chúng
có nhiều cơ hội để kết giao với các bạn Phật tử đồng
lứa tuổi, cùng nhau chia sẻ giá trị và lợi ích của tôn
giáo và trở thành những người bạn đường tốt.
Nhận
thấy nhiều Phật tử có khuynh hướng quên bổn phận thiêng
liêng vào những dịp quan trọng và thuận lợi nhất trong đời
sống - hôn nhân. Theo phong tục tại các nước Phật Giáo,
các thầy thường được mời đến nhà trong dịp lễ hỏi
để làm lễ cầu phước. Lễ này có thể tổ chức trước
hay sau ngày cưới. Lễ cưới thường đưọc tổ chức tại
nơi thị thực hôn thú hay tại các nhà đương sự. Mong mỏi
tất cả các cặp vợ chồng đều chu toàn bổn phận trên
khi làm lễ cưới. Lễ vật dâng cúng đơn giản như hoa, hương
và nến đưọc dùng trong lễ cầu phước ngắn với sự có
mặt của cả cha mẹ đôi bên trai, gái, thân quyến và bạn
hữu. Lễ cầu phước trên tổ chức vào một ngày thuận tiện,
chắc chắn là một đóng góp tinh thần đáng kể cho việc
thành công, an lạc, hài hòa, và hạnh phúc cho tân lang và tân
giai nhân.
Mê
đắm không thôi không phải là một căn bản đầy đủ cho
một hôn nhân thành công; cho nên giới trẻ phải đuợc khuyên
bảo thực thi phần tâm linh trước khi phát nguyện. Khi một
cặp tiến hành việc hôn nhân bằng cách theo đúng giáo lý,
cặp đó được kính trọng hơn về thể chế tổ chức, và
đương nhiên cặp này quay về với tôn giáo lúc tinh thần
căng thẳng giao động để tìm thấy nguồn an lạc.
Sau
lễ cưới vui vẻ, cặp vợ chồng mới này phải tự chính
mình cố gắng trở nên bậc cha mẹ thuần thành có trách nhiệm
về những đứa con tương lai của mình.
NGHI
THỨC TÔN GIÁO
Mặc
dù các nghi thức, lễ nghi và các cuộc lễ không được càc
bậc trí thức tán đồng. nhưng việc hành đạo này lại quan
trọng trong việc phát triển và duy trì phương diện thành
tâm trong tôn giáo và tạo một ý niệm cảm hứng giữa quần
chúng. Đối với đa số, phát triển lòng thành tâm là bước
quan trọng nhất đối với việc kinh nghiệm học hỏi của
một tôn giáo. Không có phương diện thành tâm và văn hóa
gắn liền với Phật Giáo, ta có thể bị sa ngã vào một niềm
tin và hành đạo khác, dù chúng ta nhận thức là việc hành
đạo như vậy có thể tiến đến dị đoan và niềm tin mù
quáng.
Rất
quan trọng cho tôn giáo có một số nghi lễ không phương hại
và một số thực hành hữu lý cho con người để nói lên
lòng thành và những cảm nghĩ tâm linh. Nhiều cuộc lễ Phật
Giáo giúp việc trau dồi các thói quen tốt và cảm nghĩ tích
cực giữa những tín đồ khiến họ trở nên những người
khoan dung, thận trọng và học thức hơn. Khi thi triển với
sự hiểu biết và nghiêm chỉnh, việc thực hành nghi lễ truyền
thống như vậy làm vững mạnh thêm niềm tin không phải chỉ
như ý kiến của người trí thức. Phật Giáo không có thành
tâm sẽ lạnh lẽo, rời rạc và trừu tượng.
NHỮNG
ĐIỀU CẤM KỴ
Đa
số mỗi sắc dân đều có những điều cấm kỵ riêng của
họ. Mỗi sắc dân đều có niềm tin duy linh riêng của mình
và bị ảnh hưởng lẫn nhau. Vì ngu si, sợ hãi và dị đoan
mỗi sắc dân có khuynh hướng chấp nhận niềm tin của người
khác thay vì nghiên cứu một cách hợp lý và loại bỏ nếu
không thích đáng với xã hội hiện đại. Chẳng hạn, nhiều
cộng đồng Á Châu tin là không nên cắt móng tay lúc trời
tối hay gội đầu vào một số ngày nào đó trong tuần. Một
số người nghĩ rằng sui sẻo khi gập một nhà tu trọc đầu
sáng sớm trong khi một số lại không quét nhà khi trời đã
tối. Họ còn tin là không nên mang thịt đi lúc ban đêm vì
sợ hãi là có thể thu hút ma quỷ. Một vài bậc cha mẹ khuyên
con cái nên mang theo một thanh sắt để tránh ma. Lại có những
người tin là chó tru lên hay cú kêu ban đêm là những điềm
sui sẻo và nháy mặt bên trái là điềm gở. Một số người
coi những việc trên là những vấn đề nghiêm trọng. Nhưng
những ai không lưu ý gì đến những việc đó thì chẳng sợ
hãi và chảng lo âu.
Thái
độ của người Phật tử về những niềm tin trên như thế
nào? Suy nghĩ chính đáng chấm dứt nơi đâu và dị đoan phát
khởi ở đâu? Tất cả đều bắt nguồn từ sự sợ hãi cái
không biết của chúng ta. Đôi khi phải có lý do thực hành
để quan sát một số các niềm tin này. Chẳng hạn lý đương
nhiên là không nên khuyên cắt móng tay vào ban đêm chỉ vì,
đơn giản ta có thể cắt vào tay lúc tối. Về việc lo sợ
ma quỷ, Đức Phật nói: Chừng nào mà chúng ta còn đem tình
thuơng yêu đến tất cả chúng sanh có mặt hay khuất mặt,
chừng nào mà chúng ta không làm hại ai cả bằng cách sống
hòa hợp và tin tưởng vào sức mạnh của Pháp hay Chân Lý
dẫn giải bởi Đức Phật, và chừng nào mà chúng ta còn phát
triển sự hiểu biết chánh đáng bằng cách nghiên cứu Giáo
Lý, thì không có gì có thể hại ta đuợc.
Trên
đây cũng có nghĩa là chúng ta phải phát triển lòng thành
và tin tưởng đạo lý bằng cách thuờng xuyên thăm viếng
chùa, và bằng cách có những cuộc bàn thảo hữu ích với
các thầy để tăng phần hiểu biết về Pháp. Chùa là nơi
mà ta đạt được nhiều kiến thức và hiểu biết để loại
bỏ dị đoan và nhổ tận gốc rễ niềm sợ hãi quá đáng
trong đầu óc các người vô tội.
BÙA
CHÚ VÀ MA THUẬT
Giữa
những cộng đồng Á Châu, rất là thông thường người dân
cho rằng họ là nạn nhân của ma thuật và bùa chú khi họ
gặp bất hạnh trong đời sống. Khi thấy có điều gì không
vui xẩy ra, họ thường đi tìm các nhà bói toán, chiêm tinh
gia, đồng cốt và 'bùa ngải'. Đương nhiên đời sống của
những người buôn bán về ma thuật, bùa chú trông vào việc
nói với khách hàng là có điều gì sai hay một vài ma lực
xử dụng bởi người nào đó đã mang rủi ro cho gia đình.
Rồi họ bảo là họ có thể chống lại các ma lực đó và
đòi một số tiền lớn để chữa trị. Kết quả duy nhất
là túi tiền của các nạn nhân nhẹ dạ này càng ngày càng
vơi đi và cuối cùng không có một kết quả nào đạt được
nơi người bói tướng kinh nghiệm này. Phật Giáo đại chúng
cũng không tránh khỏi những quỷ kế của bọn lang băm và
bịp bợm, bọn này đã dám đội lột các nhà sư để kiếm
tiền của các nạn nhân nhẹ dạ. Cho nên Đức Phật đã
khẳng định là nhiều những bất hạnh của chúng ta được
tạo ra chính bởi tâm trí không thanh tịnh, không được huấn
luyện và đường lối duy nhất để vượt qua là do sự cố
gắng mở mang trí tuệ và tầm hiểu biết của chúng ta.
Người
Phật tử sửa chữa các bất hạnh bất cứ loại nào một
cách khoa học như các phương pháp của khoa thần kinh trị
liệu hiện đại. Cách này đã được tóm tắt trong Phần
Hai Tứ Diệu Đế - Nguyên nhân của Khổ đau (Tập). Trước
khi chúng ta nhìn vào việc chữa trị các bất hạnh (Không
may, đau yếu, mất người mất của và khó khăn gia đình)
chúng ta phải biết gốc rễ sanh ra các điều này. Chúng ta
phải quan sát chính xác cái gì hiện tại đang xẩy ra và hiểu
biết chỉ có chúng ta mới vượt qua khỏi. Tập trung thiện
chí, tâm trí sung mãn để hiểu nguyên nhân của vấn đề
hầu tìm đuợc giải pháp. Trường hợp đau yếu, một đầu
óc bình tĩnh giúp việc trị liệu đuợc mau chóng. Chỉ trông
vào siêu nhiên để vượt khỏi các bất hạnh không phải
là một giải pháp thích ứng để chấm dứt khổ đau. Chúng
ta phải bình tĩnh phản ảnh biết rằng cái bất hạnh này
đến với tất cả mọi người trên thế gian này, chúng ta
phải nhìn cái xẩy ra cho chúng ta một cách chính xác để
tìm ra cách giải quyết thích ứng. Không phải là do định
mệnh - nhưng mỗi cá nhân, hãy sử dụng Nổ Lực Đúng Cách
(Chánh Tinh Tấn) có thể tự mình tránh khỏi bất hạnh.
HÌNH
ẢNH, NƯỚC THÁNH, XÂU CHUỖI, BÙA PHÉP VÀ THƯ PHÙ
Xã
hội ngày nay được giáo dục tốt hơn xã hội trước đây
trong quá khứ, tuy nhiên mặc dù những tiến triển rộng lớn
trên bình diện kiến thức khoa học, nhiều người vẫn đau
khổ vì sợ hãi, nghi ngờ và bất an. Nguyên nhân gốc rễ
là do trạng thái của tâm thần xuất phát từ ngu si, giao động
và tham dục. Vì ngu si về vô thường và cái ta thường còn,
chúng ta tin vào cái ngã của chúng ta và niềm tin này đưa
đến tham dục. Chúng ta ham muốn vô độ, sợ mất đi cái
mà chúng ta đang có. Chúng ta sợ hãi chúng ta sẽ bị hại
hoặc chúng ta sẽ phải đối đầu với những "rủi ro". Nghĩ
như vậy chúng ta phải làm gì? Theo bản năng tự nhiên chúng
ta quay về với niềm duy linh quá khứ và trông mong vào bùa
phép, thư phù để che chở chúng ta. Đức Phật đã tuyên bố
minh bạch là các vật bên ngoài không đủ sức để che chở
những ai tâm trí yếu đuối và bối rối. Nguồn an ninh duy
nhất của chúng ta là tìm nương tựa vào kiến thức về chân
lý của chúng ta và vào việc thực hiện bản chất thực tiễn
của cái ta và các hiện tượng khác. Một khi chúng ta hiểu
được không có gì là của ta thì không có gì có thể hại
ta, chúng ta trở nên vững vàng và tự tin. Không có gì có
thể hại người, nếu người đó không sợ hãi, không vị
kỷ hoặc không lừa dối.
Tuy
nhiên điều trên đây không có nghĩa là Phật Giáo kết tội
việc sử dụng một số vật liệu có tính cách tôn giáo như
dây chuyền có hình ảnh Đức Phật cho chúng ta cảm nghĩ an
toàn. Nhiều bậc vĩ nhân tìm thấy niềm an ủi và khuây khỏa
khi ngắm vẻ thanh thoát và bình thản hình ảnh Đức Phật.
Thủ Tướng Ấn Độ, ông Nehru cho biết khi ông bị cầm tù
bởi người Anh, nguồn an ủi duy nhất của ông là bức ảnh
nhỏ bé của Đức Phật mà ông mang theo. Đương nhiên, hình
ảnh này tự nó không có phép thần thông nhưng nó tượng
trưng phẩm hạnh vĩ đại của Đức Phật, chính Ngài luôn
luôn bình tĩnh và không sao suyến bởi những cuộc tấn công
của kẻ địch. Biểu tượng này đã nhắc nhở ông Nehru dùng
lòng dũng cảm của chính ông bình tĩnh đối đầu trước
nghịch cảnh. Cũng vậy, chúng ta có theo mang ảnh của Đức
Phật hay những lời ghi trong kinh khiến cho chúng ta lòng tin
tưởng. Nhiều kinh ghi phần kết thúc với lời cầu nguyện:
"Bởi sức mạnh của chân lý này, phần thắng sẽ về tôi"
hay "Hạnh Phúc đến với tôi". Điều này cho thấy là
Phật tử chúng ta không tin tưởng vào sức mạnh của hình
ảnh duy linh hay bùa chú, nhưng (dây chuyền có tượng Phật
và những đọan kinh) chỉ là để giúp cho chúng ta đạt tin
tưởng chính nơi chúng ta.
Cũng
giống như vậy, một số Phật tử tới chùa để xin nước
thải và vài đọan dây được để trên kinh được tập trung
chí thành tụng niệm. Việc trên về tâm lý đem cho người
sử dụng sức mạnh và lòng tin tuởng vì nhắc nhở cho họ
chân lý trình bày trong kinh, những lời Phật dạy.
ỐM
ĐAU
Mới
đây có nhiều chỉ trích nhắm vào càc vị lãnh đạo Phật
Giáo cho rằng những người đau yếu không được quan tâm
đến. Những lời chỉ trích nhấn mạnh là những tín đồ
tôn giáo khác đi từ bệnh viện này đến bệnh viện khác
để ủy lạo các bệnh nhân. Việc lo lắng về những người
đau ốm là một điều thực ra rất đáng được ca ngợi.
Trong những nước Phật Giáo, những người thành tâm mời
các nhà sư đến viếng thăm các người đau yếu, các nhà
sư thực ra có thiện chí hơn thế nữa, sæn sàng giúp đỡ
về phương diện này. Thật ra các nhà sư thường thông suốt
về việc dùng các thuốc truyền thống, thường được tham
khảo cố vấn và các nhà sư bao giờ cũng tình nguyện giúp
đỡ trong các việc này.
Vì
một số Phật tử không am tường đạo của mình để phản
công lại chiến thuật của những người đ?o khác, sự hờ
hững của một số Phật tử này khiến một số tín đồ
của đạo khác lợi dụng tình trạng và quy nạp những người
đạo Phật. Những người khác đạo còn đi xa hơn nữa là
hứa khả cứu rỗi và đem địa ngục ra dọa nạt các nạn
nhân theo đường lối như vậy để quy nạp họ! Các nhà sư
Phật Giáo không dính líu gì đến việc này cả. Tuy nhiên
các nhà sư lúc nào cũng đầy thiện chí, khi được các thân
quyến bạn bè người đau yếu cung thỉnh, đến bệnh viện
hay tư gia để thăm viếng ủy lạo các bệnh nhân.
Ốm
đau là một phần và một mảnh đời sống thường nhật của
chúng ta trên thế gian này, và chúng ta phải chấp nhận trên
con đường tiến bộ. Dù sao, trong trường hợp một người
bị đau, ngoài việc tìm cách chữa trị theo đường lối tiên
tiến hiện đại, việc nên làm là mời các nhà sư đến để
làm lễ cầu an cho mau hết bệnh. Việc cầu an này khi được
tiếp nhận với một đầu óc thích nghi sẽ mang ảnh hưởng
tinh thần và tâm lý đáng kể cho bệnh nhân và việc hồi
phục được mau chóng. Đặc biệt, khi bệnh não có liên quan
đến thái độ tâm trí người bệnh, lễ cầu an do một vị
sư giúp ích rất nhiều. Chẳng hạn khi tin tưởng nguyên nhân
của bệnh là do ảnh hưởng xấu bên ngoài hay do ma quỷ, lễ
cầu an tạo một thái độ tâm lý rất tốt đem đến các
làn sóng (tâm linh) cho cơ thể giúp cho mau khỏi bệnh. Tuy nhiên,
là người Phật tử, chúng ta không nên tự chúng ta đầu hàng
niềm tin sai lầm ma quỷ là nguyên nhân chính của bệnh hoạn.
Lời
khuyên của Đức Phật: - "
Bất cứ bao giờ thân bạn bệnh
nhưng đừng dể tâm trí bạn bệnh". Lời khuyên này quả
thật rất đúng. Theo lời khuyên này, chúng ta phải được
hướng dẫn bằng trí thông minh và cảm nghĩ thông thường
để tìm phương thuốc thích hợp cho bệnh tật của chúng
ta hơn là tự đầu hàng những dị đoan vô căn cứ.
CHẾT
Con
người là phải chết và cái chết là điều phải đến. Tuy
nhiên, rất ít người có thể chấp nhận sự chia lìa hay sợ
hãi xẩy ra sau cái chết.
Quá
nhiều ngu si giữa hàng Phật tử đối với cái chết và một
số đã đổi đạo để được một cuộc mai táng "thích đáng"
để chắc chắn được mau về thiên đường. Gia đình chia
rẽ vì những đứa con theo đạo khác đã đổi đạo của
cha mẹ khi cha mẹ sắp chết trên giường bệnh. Một số con
cái của Phật tử không uy quyền vì không được học hỏi
để biết người Phật tử chân chính phải làm gì. Cho
nên rất quan trọng cho các bậc cha mẹ phải di chúc rõ ràng
ước nguyện của mình để dạy con cái phải làm gì lúc lâm
chung. Nhiều người ngu si đã kiêng cữ không dự tang lễ
trong một thời gian nào đó nghĩ rằng nếu không làm như vậy
thì sẽ bị rủi ro.
Trẻ
em phải được biết ngay từ khi còn nhỏ chết là điều tự
nhiên trong đời sống. Các em phải được dạy không được
sợ hãi khi nhìn thấy quan tài hay các tử thi. Các em phải
biết có ý thức trong tang lễ. Những điều trên đây nếu
như không được dạy bảo cho em khi các em lớn lên các em
sẽ bị lạc lõng và sẽ bị các người tôn giáo khác vô
lương tâm lung lạc điều khiển em để em đổi đạo hay tiêu
một số tiền lớn vào các việc mê tín dị đoan vô nghĩa.
Trước
tiên chúng ta phải hiểu quan điểm của người Phật tử đối
với cái chết. Nói theo khoa học "Đời Sống" là một loạt
lên xuống không ngừng. Tế bào trong cơ thể ta chết liên
miên và thay thế bởi các tế bào mới. Cũng như vậy, sanh
và chết phát hiện bất cứ lúc nào. Hiện tượng chết chỉ
là một cuộc kết thúc gây xúc động của cuộc tiến hành
liên tiếp ấy. Nhưng kết thúc không thường còn. Thật ra
cái "Trội" lên liền sau khi chết tái sanh phát xuất. Cho nên
trong Phật Giáo cái chết không được gọi là an giấc ngàn
thu trong tâm tư của một đấng thần linh sáng tạo nào đó
mà là cuộc tiếp diễn không ngừng trong một dạng thức khác.
Do vậy không cần thiết phải sợ hãi cái chết. Trong quan
diểm này, Đức Phật không mô tả nghi thức đặc biệt nào
về việc sắp đặt tử thi. Tử thi của người chết phải
được đem đi trang nghiêm vá phải được đối xử thích
đáng với niềm kính trọng để tưởng nhớ người chết
đã có công trong lúc còn sống. Hành động quá khứ của người
chết (Nghiệp) sẽ quyết định đời sống tương lai sẽ ra
sao.
Chúng
ta đội ơn những gì người chết đã phục vụ cho chúng trong
lúc tại thế. Phiền muộn nổi lên trong tâm trí chúng ta vì
lẽ người thân mà chúng ta thương yêu ra đi giữa chúng ta.
Khi chúng ta tập họp chung quanh xác thân người thương yêu
của chúng ta, là bạn bè hay thân quyến chúng ta tìm nguồn
an ủi nơi những người cũng đến chia sẻ nỗi buồn đau
và ủng hộ tinh thần chúng ta trong giờ phút đau buồn. Những
việc thực hành văn hóa khác nhau (trong tang lễ) rất hữu
ích để giảm thiểu niềm đau thương của chúng ta.
TRƯỚC
TANG LỄ
Ngày
nay chết trong truờng hợp đặc biệt phải cần đến sự
điều tra thì việc thực hành thông thường tại các bệnh
viện giảo nghiệm tử thi để kiểm soát nguyên nhân. Đôi
khi thân quyến phản đối việc này và cho rằng cắt mổ tử
thi là phạm thánh. Với người Phật tử không có lý do tôn
giáo nào mà phải phản đối việc này. Đúng ra, việc làm
trước tang lễ này giúp cho người sống, cho các nhân viên
chuyên môn y khoa có được nhiều hiểu biết hơn để chữa
trị các bệnh tật. Việc làm này phải được coi như một
công đức về phần người Phật tử. Như đã nói trước
đây, xác thân vật lý chẳng là gì cả mà chỉ là hỗn hợp
của các chất (đất, nước, gió, lửa) sẽ phân hủy khi chết.
Cho nên không có lý do nào mà phải tin rằng linh hồn của
người chết sẽ tức giận khi xác thân được sử dụng vào
mục tiêu khoa học. Chúng ta có thể an tâm chắc chắn là các
bác sĩ và các người chuyên môn đều có tinh thần trách nhiệm,
đạo đức nghề nghiệp, rất thận trọng trong việc giảo
nghiệm tử thi nên các thân nhân không cần lo lắng về vấn
đề này. Có nhiều người tình nguyện khi chết cho bệnh viện
và các sinh viên y khoa tử thi để nghiên cứu việc giải phẫu.
Trong
việc liên quan trên đây, phải được coi là một công đức
cao cả của người Phật Tử khi cho những bộ phận cơ thể
mình sau khi chết để có thể giúp ích cho người khác. Chính
Đức Phật nhiều lần trong tiền kiếp Ngài đã cho xác thân
của Ngài để người khác được lợi lạc. Ngài đã cho mắt,
máu, thịt và một lần Ngài đã cho cả xác thân để cứu
nguời khác. Phật Giáo rất minh bạch về vấn đề này - việc
tặng các bộ phận của cơ thể đem lợi ích cho người khác
là một công đức vĩ đại, được nhiệt liệt khuyến khích.
TANG
LỄ
Trong
hầu hết các xã hội văn minh có văn hóa, tang lễ được
coi là dịp buồn phiền, trang nghiêm. Tang lễ của người Phật
tử phải được cử hành trang nghiêm theo tinh thần ấy.
Dị
đoan lan tràn giữa một số người cho là "rủi ro" khi mang
về nhà tử thi chết ở một nơi nào đó. Chúng ta chắc chắn
phải tỏ lòng kính trọng tưởng nhớ đến người chết và
phải quý trọng tử thi, và tang lễ phải được cử hành
tươm tất. Tử thi mang về nhà hay không mang về nhà tùy theo
gia đình tang quyến. Trong việc này, chúng ta cũng phải nêu
lên là không sợ hãi hay kiêng cữ gì về việc điều động
tử thi. Một số người sợ hãi chạm vào tử thi e ngại bị
"rủi ro". Nếu quả là như thế thì các bác sĩ và các y tá
điều dưỡng phải là những người đau khổ nhất trên trái
đất! Nếu thực tình chúng ta muốn tôn kính tưởng nhớ người
ra đi chúng ta phải tắm rửa và mặc quần áo cho người chết
và không để một người lạ hay nhà hòm làm việc này cho
chúng ta. Phải nhớ rằng, dị đoan, ngu si, và sợ hãi vô
lý mang nhiều "rủi ro" đến hơn là biết ơn, thương yêu và
khiếu thẩm mỹ.
Trái
với niềm tin thông thường đại chúng, tang lễ ồn ào, trau
chuốt, và đôi khi phô trương, hay những tang lễ tưng bừng
tốn kém cả ngàn đồng về những thứ không cần thiết mà
xưa này đưọc coi như việc làm bình thường của người
Phật tử mà thực ra việc thi triễn này không phải
là Phật giáo chút nào cả. Đó là một quan niệm hoàn toàn
sai lầm đem thực thi các việc trên đây vào Phật Giáo. Việc
thực hành này chỉ là sự tiếp diễn không ngừng của tập
quán cổ xưa truyền thừa từ thế hệ trong quá khứ được
sát nhập một cách mù quáng. Khi nhìn một đám tang với các
nghi lễ trên các người đạo khác thường tưởng rằng cái
mà họ đang đưọc mục kích là một cuộc vui diễu hành nào
đó hơn là một tang lễ trang nghiêm.
Thường
thường một loại nhạc rộn ràng đưọc áp dụng thay loại
trang nghiêm trong lúc tiễn đưa linh cữu. Cho nên người ta
có cảm tuởng đây là một cuộc lễ có tính cách trình diễn
phô trương giàu có hơn là để bầy tỏ sự buồn đau chân
thật kính trọng người quá cố. Phật Giáo không phản đối
việc việc duy trì các việc thực thi văn hóa nếu những việc
thực hành này không mâu thuẫn với giáo lý của Đức Phật
nhưng khi thấy các điều đó thực hành phí phạm, hoang phí
và không cần thiết không đem lợi ích gì cho cả người sống
lẫn người chết thì không tán đồng và nên loại bỏ. Chẳng
hạn tập tục về việc đốt vàng mã, giấy tiền, nhà táng,
với mục đích để cho người chết sử dụng bên kia thế
giới hoàn toàn không Phật giáo chút nào. Tuy nhiên trên phuơng
diện tâm lý có thể giảm thiểu nỗi buồn đau, đương nhân
có thể làm điều gì có thể đem lợi lạc cho người ra đi
nếu điều đó vô hại và không nên có hành động cực đoan
tin tưởng rằng điều đó dù sao cũng giúp ích người ra đi.
Phật
Giáo không phản đối các cộng đồng thi triển tang lễ khác
nhau thích hợp cho từng địa phương và thời điểm. Nhưng
điều quan trọng nhất là các tang lễ phải được khả thi
và chấp nhận là có văn hóa.
Nghi
lễ áp dụng trong một tang lễ Phật Giáo phải đơn giản,
trang nghiêm, có phẩm cách và ý nghĩa. Tại nhiều quốc gia
các nhà sư Phật Giáo được mời đến nhà tang quyến để
thực thi một số nghi thức trước khi tang lễ. Cúng hoa và
đốt một vài ngọn nến hay vài nén nhang được chấp thuận
trong trường này.
Thep
tục lệ, để tỏ lòng tôn kính người ra đi, bạn bè và
thân quyến gửi những vòng hoa chia buồn tang quyến. Những
vòng hoa này không nên gửi đến vào trước ngày tang lễ được
cử hành vì hoa gửi sớm sẽ bị héo. Khi tang quyến thông
báo "không nhận hoa" thì điều này phải đuợc triệt dể
tuân theo.
Vì
lẽ thân quyến thưòng có những ý kiến khác nhau cho nên có
nhiều tranh luận trong việc thực hành tang lễ. Những câu
hỏi sau đây thường được nêu lên:
1.
Nên chôn hay hỏa táng?
2.
Nếu hỏa táng, phần tro cốt còn lại phải làm gì?
3.
Nên dùng loại quan tài nào?
4.
Phải mặc đồ đen hay đồ trắng?
5.
Nến phải dùng màu gì, đỏ hay trắng?
6.
Xác có thể để ở nhà bao nhiêu ngày trước khi chôn hay hỏa
táng?
7.
Chi phí tối đa cho một tang lễ là bao nhiêu?
Những
câu hỏi trên đây được trả lời một cách đơn giản nhu
sau:
Tang
lễ phải cử hành đơn giản, ồn ào giảm thiểu đến mức
tối đa, nhưng phải có phẩm cách. Có lẽ điều hợp lý nhất
là thân quyến gần nhất với người qúa cố và một số
bè bạn thân cận nên cùng nhau thảo luận trong một cuộc
họp bất thường để tìm ra phương cách tốt nhất trong việc
sắp xếp cử hành tang lễ cho thích hợp, thịnh hành, trịnh
trọng và không gây các món chi tiêu không cần thiết. Nếu
như không thể cùng nhau hội họp như trên thì điều tốt
hơn là nên để cho một nhà thầu nhận việc chung sự được
tín nhiệm đảm nhiệm cho vì những người này họ biết phải
làm những gì và như vậy thân quyến đỡ gặp khó khăn trở
ngại. Điều khuyên tốt là có thể tìm đến một nhà sư
khả kính và nhờ vị này hướng dẫn gia đình cách thúc tốt
nhất để sắp xếp việc tang lễ đứng theo đuờng lối của
Phật Giáo. Nên nhớ là cho đến nay, nghi lễ trong Phật giáo
không có luật lệ gì khó khăn và cấp tốc mà phải triệt
để thi hành. Trong tất cả mọi vấn đề chúng ta luôn luôn
theo lời dạy của Đức Phật để duy trì điều độ và tôn
kính trong bất cứ điều gì chúng ta làm không gây thiệt hại
cho nguời khác. Nếu chúng ta suy gẫm biết ơn đến điều
thiện do nguời quá cố đã làm trong lúc còn tại thế, và
không quên chính chúng ta một ngày nào đó phải ra đi nên
chúng ta phải cố gắng làm điều tốt trong lúc còn sống
thì việc đóng góp của chúng ta sẽ có nghĩa lý và được
quý trọng
Cách
ăn mặc đúng cách trong tang lễ như thế nào? Trong Phật
Giáo, chúng ta bao giờ cũng được khuyến bảo phải ăn mặc
tề chỉnh và vừa phải. Không có luật lệ cứng rắn hay
chặt chẽ nào bắt chúng ta phải ăn mặc như thế nào trong
tang lễ, tuy nhiên phương diện thẩm mỹ dạy chúng ta nên
ăn mặc mầu tối và tránh các trang sức trong ý niệm tôn
kính cảm nghĩ của tang gia và tưởng nhớ đến người quá
cố. Phụ nữ trong tang chế vẫn có thể đeo nhẫn cưới hay
nhẫn hứa hôn. Tốt nhất là mặc đồ đen, trắng, sám hay
các mầu tương tự, vấn đề hoàn toàn do cá nhân quyết định
trong ý niệm sở hữu dù đồ đen thường được công
nhận tượng trưng trong lúc tang chế.
Xác
chết nên giữ bao lâu trước khi chôn hay hỏa thiêu? Với
người sống trong khí hậu nóng và ẩm thấp, chúng ta hiểu
rằng phân hủy mục rữa rất nhanh nên việc giữ xác lâu
mất vệ sinh. Ngoài ra, việc giữ lâu khiến cho tinh thần thân
nhân bị căng thẳng vì phải kề cận xác chết trong một
thời gian dài quá lâu thực ra không cần thiết. Cũng có một
số thân nhân vì quá đỗi đau thương đã hôn hay sờ mó xác
chết quá đáng. Đành rằng cảm nghĩ tình cảm cao độ với
người quá cố mà thân nhân phải chịu đựng, nhưng tình
cảm này không nên quá mức và không nên khuyến khích. Khi
không được chỉ bảo ta phải giữ xác bao lâu cho đúng, ta
cũng nên khôn ngoan không nên kéo dài các lễ nghi. Theo luật
lệ thông thường, thời gian việc giữ xác chết chỉ vào
khoảng một hay hai ngày đủ để sửa soạn việc tang lễ
cũng như để thông báo cho bạn bè thân quyến.
Vào
ngày chôn cất, các nhà sư Phật Giáo được mời đến để
triển khai các nghi thức tôn giáo cần thiết tại nhà và tại
nghĩa địa. Có một số người đem heo hay gà quay tượng trưng
những phẩm vật cúng cho người quá cố. Việc làm này không
nên tán thành trong Phật Giáo vì đưa đến sự giết hại
các loài vật vô tội. Đem hy sinh các con vật để dâng cúng
cho người ra đi phản lại giáo lý từ bi của Đức Phật
nên phải được loại bỏ. Đơn giản với một vài tràng
hoa cùng với vài nén nhang và đèn nến đủ để tượng trung
cho các phẩm vật dâng cúng.
CHÔN
VÀ HỎA TÁNG
Nhiều
Phật Tử hỏi là nên đem chôn hay hỏa táng người chết.
Phật Giáo là một tôn giáo tự do nên linh động trong vấn
đề này. Không có luật lệ cứng rắn hay bắt buộc trong
vấn đề này. Tuy nhiên tại một vài xứ Phật Giáo, việc
hỏa thiêu thuờng được thi hành. Việc lựa chọn cách này
hay cách khác tùy thuộc nguyện vọng cuối cùng của người
quá cố hoặc ý muốn của người thân nhân.
Theo
quan niệm hiện đại, hỏa táng là một hình thức rất vệ
sinh, nên cần được khuyến khích. Vì y tế được cải tiến,
vì nạn nhân mãn, đất đai ngày càng hiếm có, cho nên việc
hỏa táng thích hợp hơn. Nên để đất cho người sống hơn
là xây đầy những mộ chí.
Dù
chôn cất hay hỏa táng, một số người nặng tình cảm, ưa
bỏ những vật dụng quí giá vào quan tài ngưòi chết với
hy vọng rằng người chết sẽ dùng đến. Việc chôn hay hỏa
thiêu những vật quý giá như vậy không có nghĩa lý gì hết.
Thay vì bỏ những vật dụng đó vào quan tài hay lò thiêu,
tốt hơn là đem quần áo, giầy dép, và những thứ khác cho
những người nghèo khổ, khốn cùng, hoạc tặng các hội tù
thiện. Bất cứ sự giúp đỡ nào cho người nghèo và người
túng quẫn là một hành động đáng khen vì có lợi cho cho
cả người sống lẫn người chết. Việc sợ hãi không dám
cho kẻ khác dùng đồ vật của người chất thật vô nghĩa
và sai lầm.
LƯU
GIỮ TRO CỐT
Câu
hỏi thường được đặt ra là có nên chôn tro cốt, gìn giữ
để thờ cúng hay hay đem rắc xuống biển. Đức Phật không
để lại một chỉ thị rõ ràng về vấn đề này. vì Ngài
muốn chúng ta hiểu xác thân chỉ là sự hỗn hợp của vật
chất và sau khi chết, những thứ này lại trỏ thành những
nguyên tố. Đức Phật dạy xác thân là do các nguyên tố Đất,
Nước, Gió Lửa lập thành. Sau khi chết, hai chất còn lại
là Đất và Nước trở thành tro sau khi thiêu, không còn một
ý nghĩa về tâm linh gì cả. Vì di thể của nguời chết là
những người ta thuơng yêu, nên chúng ta phải kính trọng.
Nhưng chúng ta phải hiểu là không nên quá xoắn-xít quanh những
di thể này, hoặc nghĩ rằng dầu sao chúng ta chẳng còn liên
hệ gì với người đã chết. Kinh Phật dạy rằng sau khi ta
chết, linh hồn hay (thần thức) thoát khỏi thân xác, và gá
vào một thân xác khác ở một nơi nào đó.
Việc
lưu giữ xác chết có từ hồi xa xưa của chúng ta. Vào thời
đó, người ta tin rằng linh hồn bất tử. Trường hợp những
nguời Ai Cập ướp xác vì họ hy vọng người chết vẫn còn
có thể liên lạc được với người sống. Những lăng mộ
vĩ đại và những lâu đài đuợc xây dựng để gìn giữ
xác chết. Nhưng những việc thực hành này chỉ dành cho các
nhân vật quan trọng như vua chúa và các vị lãnh đạo tôn
giáo. Phần còn lại, xác chết của dân chúng chỉ được
chôn cất sao cho thuận tiện,
Trái
lại một tập tục khác gọi là thờ cúng Tổ-Tiên. Theo đó,
người sống liên lạc với người chết qua nhũng tập tục
lễ nghi chung quanh bàn thờ người chết. Điều này đưa đến
việc lưu giữ tro cốt trong bình hoặc đồ thờ. Việc làm
này vẫn còn được thi hành cho đến ngày nay.
Một
số người thích thờ cúng tro cốt trong nhà, một số người
khác lại đem chôn, hoặc đem tro cốt rắc xuống bIển hay
xuống sông. Đây là tập tục căn bản của Ấn Độ Giáo
vì họ tin rằng tro cốt cuối cùng sẽ hợp nhất với lực
đã khai sáng ra nó.
Áp
dụng một trong nhũng phương pháp trên không có gì hại cả.
Nhưng chúng ta đừng quên là Phật tử, chúng ta phải áp dụng
phương pháp nào. Chúng ta cũng đừng hiểu lầm rằng để
tro cốt ở những nơi thiêng liêng như chùa chiền, người
quá vãng sẽ được "an toàn" vì không bị nghiệp lực lôi
kéo. Việc để tro cốt trong chùa chẳng có gì hơn ngoài việc
biểu lộ sự kính trọng với người đã khuất. Trong Phật
đạo. việc giữ tro cốt người quá cố hoàn toàn do tang quyến
định đoạt tùy theo sỡ thích và lễ nghi.
THỜI
GIAN ĐỂ TANG
Khi
một người chết, thân nhân thường dành một thời gian để
tang. Thời gian này tùy theo sự liên hệ của người quá cố
với những thân quyến trong gia đình có tang . Trong thời gian
này, thân nhân phục sức theo một lối nào đó, tránh các
hội hè, đình đám và du hý. Một số người mặc đồ trắng,
một số khác mặc đồ đen, một số không tham dự các lễ
cưới hay những tiệc tùng thời gian một năm vân vân.. Việc
trên không phải là đặc lệ của người Phật Tử phải áp
dụng vì kinh Phật không hề nói đến. Tuy nhiên các cộng
đồng đã đặt ra một số nghi thức riêng biệt căn cứ theo
tập tục văn hóa của mình, và được chấp nhận là của
"Phật Tử". Hậu ý của họ là để tưởng niệm người quá
vãng, nhắc nhở việc tử vong của chính mình, và phát triển
nguồn tỉnh giác tâm linh. Nếu áp dụng một cách sáng suốt,
và nếu các việc thực thi không làm trở ngại gì đến cuộc
sống, là Phật Tử, chúng ta không có lý do gì để phản đối.
Con Đường của Người Phật Tử Là Con Đường Trung Đạo,
Con Đường Điều Độ Trong Tất Cả Mọi Việc.
NGHI
THỨC SAU TANG LỄ VÀ CÁC BUỔI LỄ TƯỞNG NIỆM.
Rồi
có những câu hỏi về nghi thức sau tang lễ. Một số người
cầu nguyện cho người chết vào ngày thứ bẩy, ngày thứ
49, vào ngày thứ 100, trong khi một số người khác, ngoài việc
làm lễ cầu nguyện vào ngày thứ bẩy, còn làm lễ sau ba
tháng và một năm. Một số người tin tưởng là thần thức
người chết có thể trở về vào những thời gian đặc biệt
đó. Tin hay không tin, việc đó không quan trọng với chúng
ta. Một buổi lễ để tuởng niệm người quá cố, đưọc
bạn bè và tang quyến tham dự cùng nhau chia sẻ về tâm linh,
hỗ trợ tinh thần và làm vơi nỗi đau buồn của thân nhân
rất là cao quí. Các buổi lễ như vậy không cần thiết phải
được tổ chức vào một ngày đặc biệt nào đó. Bất cứ
ngày nào thuận tiện cho tất cả mọi người là đủ để
chấp nhận được cho việc tổ chức buổi lễ này.
NGÀY
CÔ-HỒN không phải là danh từ hay việc tập tục của Phật
Giáo. Tuy nhiên đó là một việc làm tốt khi cả cộng đồng
dành một ngày riêng biệt để tuởng niệm những người quá
cố, cùng nhau làm sạch sẽ các nghĩa địa và dâng hoa để
tể tỏ lòng tôn kính. Việc này cho thấy con cháu người quá
cố tỏ lòng hiếu thảo và làm tròn nhiệm vụ đối với
Tổ tiên. Phật Giáo không hề phản đối việc bày tỏ lòng
biết ơn và tưởng nhớ cao đẹp này khi những hành động
đó giúp các giới trẻ tỏ bày lòng tôn kính những người
già cả, và tích cực thực thi truyền thống vinh danh hương
hồn Tổ tiên. Tuy nhiên, việc một số người gây ấn tượng
sợ hãi là nếu không thi hành những tập tục nói trên, người
chết sẽ hiện về hành hạ và nhiễu loạn thân quyến là
hoàn toàn vô căn cứ.
BỐ
THÍ CÚNG DƯỜNG
Trong
hầu hết các cộng đồng, các buổi lễ tôn giáo thường
đuọc thi hành trong một thời gian theo sau tang lễ. Việc làm
này của người Phật Tử là góp phần trong phần cúng dường
và hồi huớng công đức cho người quá cố. Thân nhân tang
quyến và một số bạn bè thường mời các nhà sư và dâng
cúng vật dụng cần thiết như thực phẩm và thuốc men. Việc
dâng cúng này góp phần vào đời sống vật chất của các
vị thánh thiện được coi như là một hành động công đức.
Những người Phật Tử hiểu biết còn tặng phẩm vật cho
các tổ chức từ thiện, các người túng bấn, và các kế
hoạch xây dựng cơ sở tôn giáo cũng như tặng không kinh sách
tôn giáo cho dân chúng để tưởng nhớ mãi mãi đến người
đã khuất. Những người thành tâm dâng cúng với một tấm
lòng khẩn thiết, tâm địa họ trở nên phóng khoáng. Họ
có những hành động tốt như vậy là để tưởng nhớ và
tạo sợi dây liên lạc tâm linh với người quá cố. Nếu
người quá vãng ở trong một vị thế thuận lợi để tiếp
nhận các nguồn sóng tâm linh (hồi hướng công đức),
họ sẽ nhiều điều lợi lạc. Mặt khác nếu họ không ở
trong một môi trường thuận lọi, những việc thiện đó cũng
không phí phạm vì nó giúp cho người sống, một khi đã có
tư tưởng tốt, sẽ có một tâm hồn cao đẹp. Các nhà sư
Phật Giáo tại bất cứ chùa nào lúc nào cũng sæn sàng khuyến
cáo tang quyến phải làm những điều cần thiết trong việc
cúng duờng .
KẾT
LUẬN
Chúng
tôi tha thiết hy vọng các bậc lãnh đạo Phật Tử địa phương
nhận thức được một số tập tục nói trên đang thịnh
hành có tính cách tiêu cực và thành kiến, ngõ hầu cải tạo
để cho bất cứ những tập tục nào mà chúng ta thi hành phải
có đầy dủ ý nghĩa. Các bậc lãnh đạo của chúng ta nên
đánh giá lại những tập tục hiện hành và nhận thức những
điều khẩn thiết để cải tổ việc giáo dục quần chúng
và việc phổ biến rộng rãi mục tiêu này.
-
[HẾT] -
Trở
Về Phần I
Source:
Tu Viện Quảng Đức