d)
Phần cuối cùng, chúng tôi xin được đề cập đến việc
ăn chay như Bạn đã nêu.
Nói
tới việc ăn chay thì, thì từ lâu người ta đã tốn không
biết bao nhiêu là giấy mực cho vấn đề này. Nhưng không
hiểu sao, mỗi khi có ai đề cập tới nó, tôi lại liên tưởng
đến thân phận của một con người, được sinh ra từ thuở
xa xăm. nào đó, và tôi thường trở nên phấn chấn, khuyến
khích cũng như tán thán việc ăn chay.
Cho
tới giờ này, thuyết tiến hóa của Darwin có đúng hay không
thì tôi cũng không cần biết, mà chỉ với cách nhìn và nghĩ
suy đơn giản của mình, thì theo tôi, con ngừơi rất giống
loài khỉ, vượn. Từ cái hộp sọ cho đến tay chân, tai mắt,
miệng lưỡi, các bàn tay, bàn chân, móng, ngón cho đến sự
cấu tạo và sắp xếp của răng cữa, răng hàm loài khỉ,
vượn đều giống hệt con người. Từ cách sinh hoạt của
từng cá thể như đưa tay hái trái, bóc vỏ, gặm trái, nhai
hoa lá, chứa ngốn thức ăn hai bên má, cho tới cuộc sống
quần thể, biết kỷ luật, biết tương trợ thân ái trong
bầy đàn, như bắt chí rận cho nhau, vỗ về, an ủi chăm sóc
nhau, chẳng khác một xã hội loài người thu nhỏ thuở
bán khai.
Cho
nên, tôi có ý nghĩ (chỉ là ý nghĩ của riêng tôi mà thôi,
trúng hay trật các bạn cũng nên bỏ qua, vì đây cũng chỉ
là tri kiến phàm tình) thì ra, từ thuở xa xưa, theo luật
tiến hoá tự nhiên, cơ thể của con người được hình thành
là để ăn rau trái, hoa lá chứ chẳng phải là để ăn thịt
sống như loài có răng nanh và vuốt nhọn như hổ, báo, chó,
mèo, sói, sư tử cũng chẳng phải để gặm cỏ như loài trâu,
bò, hưu, nai, cũng chẳng phải là loài mang quá nhiều mầm
ác, thứ gì cũng ăn được, không kiêng món nào.
Hoá
ra, nhân loại càng văn minh, tiến bộ thì quan niệm về cuộc
sống càng thực dụng hơn, sống để hưởng thụ, nên vấn
đề ẩm thực càng được người ta chú trọng, đặt lên
hàng đầu, càng trở nên cầu kỳ đến khó hiểu. Ăn ngán
thịt gia súc như bò heo dê ngỗng gà vịt, ớn bợn các loại
động vật rừng, các loài hải sản, thì người ta lại "phát
minh" ra lắm món "đặc sản" khác để thỏa mãn sự ưa
thích lạ lùng bất tận của khẩu vị con người, như ăn
thịt chó, mèo, rắn, chuột, dế, giun, óc khỉ ….được
người ta đặt cho những cái tên nghe rất kêu, có tính mời
gọi, như nai đồng quê là thịt chó, hổ nhà là thịt mèo,
rồng không chân tức rắn các loài, huyết rồng tức uống
máu rắn vv….
Con
người càng văn minh thì cơ tâm (cái tâm máy móc - vô hồn,
đen đúa kết buộc chặc chẽ với vô minh) càng cứng cỏi,
càng xa lìa chơn như bổn tánh, nghĩa là càng vướng mắc,
trói cột sâu nặng hơn trong nhơn quả, cũng là càng khó vượt
lìa vô minh, nhơn quả để trở về lại bổn tánh vô sanh.
Nhân
đã gieo như thế, ắc phải gặt quả như thế; mọi động
tác thiện, ác dù nhỏ nhặt, thi vi tới đâu, cũng khó dấu
che nghiệp thức, đó là luật tắc tự nhiên bất biến của
nhơn quả vậy.
Nói
đến ăn chay, một chút ưu tư, cám cảnh của riêng tôi dấy
lên; rất tội nghiệp cho những chúng sanh đang an bình trong
cảnh giới của mình, thoắt một cái phải bị chia đàn xẻ
nghé, bị bắt đi, bị đưa cho dao thớt, lên chảo dầu hay
lò lửa nóng, làm thức ăn cho kẻ khác loài. Rất tội nghiệp
cho những người, vì nghiệp vô minh quá nặng, không biết
lý nhơn quả là gì, vị kỷ, ác tâm, tham mê vật dục, thích
dùng thân mạng những chúng sanh khác loài làm thức ăn béo
bổ cho mình; họ đâu biết rằng, cảnh giới trong nhơn quả
như tấm gương soi, mọi động tác chiên xào, nấu nướng,
cắt cổ, thọc huyết kia sẽ phản chiếu lại, ghi vào tàng
thức không sai sót một mảy nào; chính kẻ đang tạo nghiệp
dữ hôm nay cũng là tự tay mài dao, gọt đầu, đun sẵn chảo
dầu, thổi hừng ngọn lửa để sẵn sàng cho chúng sanh khác
chặt đầu, lột da, móc ruột, chiên xào, nấu nướng mình
ở ngày mai, là điều không sai chạy. Vì đó là luật tắc
bất biến của nhơn quả mà.
Đức
Phật từ bi, bác ái thương khắp chúng sanh, biết chúng sanh
mọi loài mỗi mỗi đều hàm chứa tánh Phật, mỗi mỗi đều
bình đẳng, đồng một trong tánh Phật, và mỗi mỗi đều
có chung một tánh bất di dịch là tham sống, sợ chết. Không
một loài chúng sanh hữu tình nào trong cảnh giới nhơn quả
mà không tham sống sợ chết cả.
Biết
chúng sanh các loài cũng tham sống sợ chết như mình, thế
thì ai nỡ nào vì sự ngon miệng, béo bổ cho bản thân mình
mà lại đi giết chúng sanh khác cũng đồng một tánh
như mình để ăn thịt? Ai nỡ nào !
Thật
ra, ăn cá thịt cũng chỉ là một thói quen xấu, do tập nhiễm
lâu đời mà quen đi, rồi con người tự cho như thế là việc
bình thường trong đời. Chứ theo tôi (lại cũng tôi nữa !)
con người từ thuở xa xăm nào đó rất giống như loài
khỉ vượn bây giờ, quanh năm suốt tháng ăn toàn rau trái
hoa quả mà vẫn sống khoẻ mạnh, bình thường, có sao đâu,
vì các cơ quan trong thân thể chúng được cấu tạo để ăn
rau trái hoa lá chứ không phải để ăn mặn hay ăn đủ thứ
như bây giờ. Cũng như các vị xuất gia, trường trai cả đời
mà vẫn mạnh khoẻ và trường thọ hơn cả những người
ăn mạng nữa là .
Có
phải do xã hội loài người ngày càng văn minh, tiến bộ mà
tánh thiện lành muôn thuở của con người ngày càng sa
sút dần chăng? .
Một
chút suy tư của tôi đối với con người và việc ăn chay.
Tôi tán thán việc ăn chay. Còn ăn chay đuợc hay không là tuỳ
thiện tâm lẫn nghiệp thức của mỗi người đối với các
loài chúng sanh khác, cũng như ăn chay thế nào để được
gọi là bố thí (thân mạng) giải thoát rốt ráo lại là một
việc khác.
Bằng
có Bạn nào tu hành đã được không tâm, vô ngã, bốn tướng
rời lìa, thõng tay vào chợ, tự tại đến đi, không thiện
không ác, thì cũng nên quên đi chỗ ưu tư của người viết,
không trách cứ người viết "sao lại còn cái chỗ này?" kẻo
tự làm vướng bận tâm mình.
Bằng
bạn nào chưa tới được chỗ như bạn kia, thì hãy ráng gieo
nhiều căn lành, càng bố thí nhiều thân mạng càng tốt, cũng
là tự vun gốc phước để nuôi lớn cây kiến tánh, để
sớm đơm hoa kết trái ở vị lai vậy.
Bây
giờ xin trở lại với việc ăn chay của Bạn.
Một
tôn-giáo từ bi như đạo Phật, ăn chay là điều bắt-buộc
đối với các tu-sĩ xuất gia cũng như được khuyến-khích
thực-hành đối với các tín-đồ Phật tử tại gia.
Không
xử-dụng nhục thân của các sanh vật khác làm thức ăn cho
mình tức là đã trừ được sát nạn cho các loài chúng-sanh,
cũng là cách củng cố tâm từ và giúp chúng ta tránh được
nhân sát của quả báo ngay trong hiện tại và ở đời vị
lai, cũng như tránh được những tham muốn của nhục cảm
do việc ăn mặn (ăn mạng) gây ra.
Trong
sáu hạnh lành giải thoát (Lục-Độ Ba-la-mật) : Bố thí,
Trì- giới, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn, Thiền-định và Trí-huệ
thì bố thí là hạnh đứng đầu.
Không
dùng nhục thân chúng sanh làm vật thực, chính là hạnh lành
bố thí thân mạng đó vậy.
Dù
chỉ ăn chay được một ngày trong đời, thì đó cũng là một
căn lành đã gieo trong hiện kiếp, huống là ăn chay ba, bốn
mươi năm, hoặc ăn chay cả đời như Bạn nói đó, phước
đức vô cùng.
Người
biết rành lẽ nhơn quả thì không ai là không muốn ăn chay,
làm lành, gieo nhân tốt, để cầu quả báo tốt cho đời vị
lai.
Tuy
nhiên, ăn chay ba, bốn mươi năm, ăn chay suốt đời cho đến
chết như Bạn nói, mà tâm ý lúc nào cũng câu nệ, chấp trước
vào việc ăn chay từng ngày từng giờ như thế, lúc nào cũng
thấy có “Ta” đang ăn chay, đang trì giới, đang nhẫn
nhục, đang hành tinh tấn hơn mọi người khác thì hữu-lậu
phước của Bạn sẽ gặt được ngay trong đời này và
ở vị lai là việc không ai phủ nhận; ăn rau cỏ mà không
ăn cá thịt, và các sanh vật khác tức là giới-đức được
tinh-tấn, quả lành sẽ được hưởng, ắc không ai chối
cãi. Nhưng nói đến nhân lành quả tốt, tức cũng là đề
cập đến các việc thiện ác vướng mắc trong nhơn quả vậy.
Còn đối với sự giải thoát tử sanh, cũng là cứu cánh của
người tu Phật, thì việc ăn chay mà còn chấp tướng
như Bạn nói đó, thì nó chỉ có thể đóng góp một phần
nào đó cho công-đức này mà thôi.
Bỡi
cớ sao ? Vì tu hành mà tâm còn chấp lên sự ăn chay là còn
chưa thoát-ly khỏi bản-ngã, còn vọng niệm trói buộc với
các pháp tướng; mà còn ngã, còn chấp là còn đủ mọi vướng-mắc
trong nhơn quả thì làm sao vượt lìa, làm sao tự giải-thoát
khỏi nhơn quả được.
Ngay
như chúng ta tu hành mà còn chấp-chặc trên sự tu, niệm Phật
mà còn chấp vào sự niệm, còn có Ta niệm, còn có Phật để
được niệm, còn “để ý” niệm nhiều ít, lâu mau, còn
có niệm để được “trở thành” này nọ, thì dù niệm
đến suốt đời, suốt kiếp cũng khó thấy Phật hiện tiền,
tự thân chẳng thể nào phá tan được vô minh đã nhiễm ô
từ lâu đời lâu kiếp, để có thể bừng sáng bổn tâm,
hầu vượt lìa nhơn quả.
Bằng
niệm Phật mà hành trì được đến chỗ không còn thấy một
niệm nào là niệm Phật, dòm lại thật chẳng còn thấy
có ai niệm, cũng chẵng có Phật để được niệm, luôn niệm
mà chẳng còn thấy niệm, chẳng một niệm nào khởi sanh khởi
diệt, cũng là liền ngay đó tự "một" trong tánh sáng Di-đà,
quang minh chiếu diệu, hay trong nhứt niệm tròn đầy sáng suốt,
tịch lặng, bao trùm xuyên suốt, cũng là mặt mũi vốn tự
sẵn có xưa nay chưa từng hư mất hiển hiện, cũng
là pháp-tánh như-thị. Đến chừng đó thì tự có chỗ sáng
tỏ, thấy biết như thật chúng sanh ai cũng một nó mà bao
đời bao kiếp không tự nhận ra. Một khi đã nhận ra rồi
thì khó mà đuổi nó đi, khó mà đánh mất được nó, nếu
không khởi vọng niệm phân biệt, chấp trước, hay tham-đắm,
tà kiến này nọ đối với cảnh giới huyễn ảo của
nhơn quả.
Cho
nên, nói ăn chay là tâm ăn chay mới đúng nghĩa của nó, chứ
nếu chúng ta cứ cho rằng ăn chay nhiều, ăn chay càng
lâu càng dễ chứng ngộ, thì thật sai lầm. Thử hỏi các
loài ăn rau cỏ không phải là ăn chay suốt đời, suốt kiếp
hơn chúng ta đó sao, nhưng chỗ chúng ta chấp đó nếu thật
sự xảy ra, thì đâu còn chỗ dành cho chúng ta mà nói chuyện
tu-hành với chay lạt.
Mục
đích cao cả của việc tu Phật là kiến tánh để tự giải
thoát, để không lầm nhân quả, hay nếu vì hạnh nguyện cứu
độ chúng sanh dù có vào nhân quả thì nhân-quả cũng
biện biệt rõ ràng, không lầm nên chẳng bị vướng mắc,
trói buộc. Cho nên đối các bậc tu hành đã đắc pháp, khi
nói đến hai chữ giải thoát, không phải chỉ cho việc các
Ngài sẽ được giải thoát cho mai hậu, nghĩa là sau khi chết
đi, bốn món thành tro, mà chỉ cho tâm giải-thoát rổng rang
của các Ngài ngay tại hiện-tiền. Đó chính là sự nhiệm
mầu và siêu-việt của Phật pháp mà không một tôn giáo nào
trên thế gian này sánh kịp vậy. Ăn chay đối với các Ngài
là việc bình thường của đạo, vô thủ, vô xả, vô ngã,
vô chấp.
Cho
nên, ăn chay cũng là việc bình thường của người tu Phật,
như là hít thở, uống nước, là sống vậy; nghĩa là ăn mà
không rời lìa tự tánh, bỡi sự việc nó tự nhiên như nhiên
là vậy, chứ có gì lạ lùng đối với tự tánh đâu mà phải
kể lể là ăn được lâu hay mau, nhiều hay ít. Bằng nếu
có niệm tưởng chấp vào sự tu-hành hình thức như Bạn vừa
nêu, thì dù tu lâu, ăn chay lâu tới đâu, mà sáu món vẫn
còn vương, năm món tích chứa chẳng thật lòng xả bỏ, thì
nợ sanh-già-bệnh-chết chớ mong thoát khỏi vậy.
Tóm
lại, nếu nói ăn chay thật đúng nghĩa của nó, là cùng đạo
tương ưng, thì chính là hành một lúc bốn Ba-la-mật : Bố-thí,
trì-giới, nhẫn-nhục, tinh-tấn.
Thế
nào là ăn chay mà hành-trì một lúc bốn hạnh giải thoát
rốt ráo (Ba-la-mật) .
1. Không dùng sanh mạng chúng sanh khác để làm thức
ăn, đó là trừ sát nạn cho chúng sanh, há chẳng phải
là Bố thí thân mạng đó ư ? Nhưng ăn chay mà nên không
chấp, không tưởng vào sự ăn chay ấy; hễ cứ đói thì ăn
(phải hiểu ăn chay là việc bình thường của tự tánh,
còn ăn mạng, là sát sanh mới là việc không bình thường),
khát thì uống, với cái tâm bình thường rỗng lặng,
vô thủ, vô xả, vô ngã, vô chấp, như hít thở để sống
mà không chút quan tâm, để ý. Aên mà không mong cầu dở ngon,
thích ghét, hay vọng tưởng ăn chay để được “trở thành”
này nọ, mà chỉ biết ăn để dưỡng cái thân tu; nếu được
thế thì việc ăn chay (bố thí thân mạng) này có khác gì
với phép hành thí vô tướng “Tam-Luân-Không” chăng ? Aên
chay mà được như thế thì đáng gọi là hạnh
lành ăn chay giải thoát rốt ráo (Ba-la-mật), vì tự thân
thể hiện vô ngã, lìa tất thảy tướng khi thọ thực : không
thấy có người ăn chay, không có gì là đồ chay, không vọng
niệm ăn chay để trở thành này nọ, cũng là đương thể
chơn-thiền, đương thể nhập không-tam muội, đương thể
tự tại giải thoát.
2. Ăn chay để trừ sát giới thì chính là trì
giới rồi vậy. Nhưng nếu còn tưởng biết còn có chỗ
trì giới là còn trói buộc. Hãy nên không rời lìa tự tánh
mà trì giới, nghĩa là hành trì mà không còn thấy có chỗ
hành trì, như hàng ngày hít thở để sống mà không hề tưởng
đến có hít thở; trì giới mà đến chỗ miên-mật, tự thấy
như thật không một pháp nào gọi là giới, hay chẳng
giới, lại chẳng còn có người thật-hành giới ấy, bỡi
ngay trong ấy, cùng đạo tương ưng, vô thủ, vô xả, vô ngã,
vô pháp, vô tác ý; ngay đó cũng là sống trọn "một" với
tự tánh, thì còn có gì để mà nói trì với không trì trong
đây, cái gì trì, cái gì giới nữa, vì giới và chẳng giới
đều chẳng thật có trong thể tánh trọn thanh-tịnh; nói giới
mà thật chẳng có gì là giới, chỉ tạm gọi là giới để
chỉ chỗ sống trong thể tánh chơn thật mà thôi. Bỡi
hễ còn nghĩ, còn niệm biết có giới, còn có ngừơi
trì giới thì vẫn chưa tự tại, chưa sạch hết bốn tướng
trói buộc.
Ăn
chay trì giới mà tới chỗ đó thì thiệt đáng gọi là hạnh
lành ăn chay trì giới giải thoát rốt ráo (Ba-la-mật) vậy.
3. Ăn chay để được tinh-tấn, thân tâm thanh-tịnh là
đúng rồi. Nhưng còn phải cố gắng tu trì tới chỗ
không còn chấp lên khái niệm tinh tấn ấy, không còn thấy
có người hành trì tinh tấn, như hít thở hằng ngày để
sống là sự tự nhiên như nhiên mà không ai chấp lên chỗ
hít thở cả; bỡi nếu còn thấy có người hành trì tinh tấn,
còn có chỗ phải tinh tấn thì ngay đó cũng là lìa, là hai,
là khác với tâm chơn như thường hằng, không sanh không diệt
mà chính mình ngay ấy đang-là. Bỡi cớ sao ? Bỡi cái sự
mà ta cho là tinh tấn ấy cũng chỉ là pháp giả lập để
tạm mượn làm phương tiện ngộ nhập tánh chơn như tự tại,
chứ thật tướng pháp này vốn thiệt không tướng, không
thể hiện diện trong thể tánh trọn thanh-tịnh, tuyệt vô
đối đãi, phi khái niệm của chơn tâm; đến được chỗ
đó thì còn có cái gì để gọi là tu nữa nếu không muốn
nói là đã sống thật với Đạo, với tự Phật của mình,
tự trọn một, một là tất cả, tất cả là một, là bất
khả tư nghì. Ăn chay để tinh tấn mà tới được chỗ đó
thì thiệt đáng gọi là hạnh lành ăn chay tinh tấn giải thoát
rốt ráo (Ba-la-mật) vậy.
4. Ăn chay để bớt nhân đen đúa về sát-mạng-báo,
khiến thân tâm an ổn, ít bị vọng động, không kích thích
nhục cảm, ít làm nóng nảy, sân hận, củng cố thêm cho tâm
nhẫn nhục. Tuy nhiên, nhẫn nhục là gì nếu không phải
là trạng thái đối nghịch của tâm sân hận. Mà dù là trạng
thái nào cũng đều là pháp vọng, không thật. Đối chơn như
tự tánh, thật chẳng có pháp sân hận hay nhẫn nhục trong
đây. Sân hay nhẫn đều chỉ do tâm sanh và mượn
phép phương tiện để điều-phục vọng tâm từ sân ra nhẫn.
Bằng nhẫn nhục được đến chỗ không còn thấy ai là người
hành nhẫn nhục, gì là cần phải nhẫn nhục cả, cũng là
sống trọn trong thể tánh sáng trong lặng lẽ, tự tại, phi
sanh diệt thì chỗ ăn chay nhẫn nhục đó mới đáng được
gọi là hạnh lành nhẫn nhục giải thoát rốt ráo vậy.
Ăn chay mà hành được một lúc bốn Ba-la-mật, là thể hiện
tâm không vô ngã, hành thí vô tướng, không ra ngoài phép bố
thí tam-luân không, cũng là phép giải thoát rốt ráo. Một
khi đã được gọi một cách chân-thật là “Ăn chay Ba-la-mật”
thì người này đâu còn thấy có tướng ngã, tướng nhơn,
tướng chúng sanh, tướng thọ giả, đến đó thì còn có gì
chay, gì mặn, gì chứng, gì tu, mà ngay đó khắp mọi thời
đều là “Đương Niệm”, “Đang là” đồng pháp-tánh như-thị,
thảy thảy sự lý dung thông, cũng là cùng đạo tương ưng,
không hai không khác. Đến khi ấy, đi đứng, nằm, ngồi, uống,
ăn, ngủ, nghỉ tự rõ như thiệt đều là diệu dụng của
tự tánh chơn thường vô ngã, trọn trong đệ ngũ Ba-la-mật,
tức đương thể Chơn-Thiền, đương thể nhập không Tam-muội,
đương thể tự tại giải thoát vậy.
Pháp,
cũng là pháp phương tiện nên không thể dùng lời để có
thể diễn tả đến chỗ rốt ráo được. Cho nên trước đây
có một bạn đòi hỏi tại sao không nói một cách cụ thể
như thế này thế nọ để cho bạn ấy hiểu mà chỉ nói chung
chung.
Thưa
. Nếu nói được cụ thể thì đó là nói pháp sanh diệt,
là nói pháp khái niệm, pháp phân biệt, là pháp tướng ràng
buộc của ma chứ đâu còn là pháp Phật, là pháp giải thoát
nữa; bỡi vì thiệt chẳng một pháp nào khởi sanh, chẳng
một pháp nào khởi diệt, không một pháp có thể lập, chẳng
phải pháp, cũng chẳng phải chẳng phải pháp, thì đó mới
là Phật pháp, là Trung-Đạo, là vượt lìa trói buộc của
nhị nguyên nhơn quả, là vô vi pháp, là giải thoát vậy. Bằng
chẳng phải thế là pháp của các cảnh giới nhơn quả.
Đã
như vậy thì làm gì có được chỗ nào cụ thể đâu mà đòi
nói cụ thể. Chừng nào bạn đưa được cái tâm vọng đang
câu hữu với vô minh nhơn quả của bạn cho tôi xem một cách
cụ thể, thì chừng ấy tôi sẽ nói pháp Phật cụ thể cho
bạn nghe.
Thế
nên, với Trung-đạo, cũng là vô vi pháp, thì miệng mồm trong
nhơn quả chỉ có thể diển tả chung chung, bên ngoài, như
gãi ngứa ngoài giày mà thôi, còn sau đó là tuỳ căn cơ trí
tuệ của từng người mà dụng chỗ nói đó làm phương tiện
để tự có chỗ thâm nhập Trung-đạo mà thăng hoa, chứ ngôn
từ thì thiệt chẳng thể với tới.
Do
chữ nghĩa có hạn, mà đề tài Bạn hỏi lại quá sức thâm
sâu đối với người viết ít học này, nên đôi lúc phải
lập đi lập lại nhiều lần mới mong hết ý muốn nói. Rất
mong Bạn thông cảm. Chúc Bạn mau mau ngoảnh đầu nhìn lại
chính mình và sớm khám phá cái biết "Giác" tuyệt đối, chơn-thật,
vốn tự sẵn có xưa nay của Bạn, cũng là chỗ mà Phật và
chư Thánh muốn chỉ ra, chứ chẳng phải là chạy theo nhơn
duyên vọng lập để góp nhặt cái biết, tức cái biết của
vọng thức hư huyễn ngoài tâm chơn như, ngoài tánh "Biết-Giác"
của Phật tâm. Khi nào sáng được tánh biết chơn thật
tuyệt đối chưa từng hư mất, thì Bạn sẽ không bao giờ
có những câu hỏi trói buộc với khái niệm nhơn quả phàm
tình như câu hỏi trên. Còn bây giờ, mặc dù Bạn là người
đa văn tri thức đấy, nhưng tự thân chưa vượt thoát khỏi
mớ tri kiến giải thoát mà bạn đang chấp thủ, nghĩa là
còn trói buộc với các pháp phương tiện, với khái niệm
phân biệt vướng mắc trong nhơn quả, cũng là các pháp tướng,
cũng là còn đang ở bờ này mà nhấc chân lên chưa nổi vậy.
Bằng
khi nào bạn thật sự "biết" bằng tánh biết chơn thật của
Phật tâm, thì cũng ngay đó bạn tháo mồ hôi hột mà hối
quá cho những ý nghĩ sai lầm trước đây, tự biết rằng
chỗ sở học bác lãm của bạn lâu nay chỉ là vật ngoài,
có hạn lượng và ràng buộc với một cá thể sanh diệt,
trong nhơn quả sanh diệt. Đồng thời cũng ngay ấy, bạn liền
tự biết như thật rằng, Phật pháp của bạn lúc này là
rất ít, sở dĩ nói ít vì Phật pháp thì không nhiều, nếu
không muốn nói là không là gì cả; không gì cả mà tuỳ duyên
nói pháp độ người đến ngàn vạn năm cũng không sao hết
được.
Thiện
tai Phật pháp, hy hữu, nhiệm mầu, vô lượng, vô biên, bất
khả thuyết, bất khả tư nghì.
Thân.
Nhuận-Bảo.
