THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
c
VIẾT CHO NGƯỜI CÒN NHIỀU TRÓI BUỘC 
Cư-Sĩ Nhuận-Bảo
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
d)  Phần cuối cùng, chúng tôi xin được đề cập đến việc  ăn chay như Bạn đã nêu. 

Nói tới việc ăn chay thì, thì từ lâu người ta đã tốn không biết bao nhiêu là giấy mực cho vấn đề này. Nhưng không hiểu sao, mỗi khi có ai đề cập tới nó, tôi lại liên tưởng đến thân phận của một con người, được sinh ra từ thuở xa xăm. nào đó, và tôi thường trở nên phấn chấn, khuyến khích cũng như tán thán việc ăn chay. 

Cho tới giờ này, thuyết tiến hóa của Darwin có đúng hay không thì tôi cũng không cần biết, mà chỉ với cách nhìn và nghĩ suy đơn giản của mình, thì theo tôi, con ngừơi rất giống loài khỉ, vượn. Từ cái hộp sọ cho đến tay chân, tai mắt, miệng lưỡi, các bàn tay, bàn chân, móng, ngón cho đến sự cấu tạo và sắp xếp của răng cữa, răng hàm loài khỉ, vượn đều giống hệt con người. Từ cách sinh hoạt của từng cá thể như đưa tay hái trái, bóc vỏ, gặm trái, nhai hoa lá, chứa ngốn thức ăn hai bên má, cho tới cuộc sống quần thể, biết kỷ luật, biết tương trợ thân ái trong bầy đàn, như bắt chí rận cho nhau, vỗ về, an ủi chăm sóc nhau, chẳng khác một xã hội loài người thu nhỏ thuở  bán khai. 

Cho nên, tôi có ý nghĩ (chỉ là ý nghĩ của riêng tôi mà thôi, trúng hay trật các bạn cũng nên bỏ qua, vì đây cũng chỉ là tri kiến phàm tình)  thì ra, từ thuở xa xưa, theo luật tiến hoá tự nhiên, cơ thể của con người được hình thành là để ăn rau trái, hoa lá chứ chẳng phải là để ăn thịt sống như loài có răng nanh và vuốt nhọn như hổ, báo, chó, mèo, sói, sư tử cũng chẳng phải để gặm cỏ như loài trâu, bò, hưu, nai, cũng chẳng phải là loài mang quá nhiều mầm ác, thứ gì cũng ăn được, không kiêng món nào. 

Hoá ra, nhân loại càng văn minh, tiến bộ thì quan niệm về cuộc sống càng thực dụng hơn, sống để hưởng thụ, nên vấn đề ẩm thực càng được người ta chú trọng, đặt lên hàng đầu, càng trở nên cầu kỳ đến khó hiểu. Ăn ngán thịt gia súc như bò heo dê ngỗng gà vịt, ớn bợn các loại động vật rừng, các loài hải sản, thì người ta lại "phát minh" ra lắm món  "đặc sản" khác để thỏa mãn sự ưa thích lạ lùng bất tận của khẩu vị con người, như ăn thịt chó, mèo, rắn, chuột, dế, giun, óc khỉ  ….được người ta đặt cho những cái tên nghe rất kêu, có tính mời gọi, như nai đồng quê là thịt chó, hổ nhà là thịt mèo, rồng không chân tức rắn các loài, huyết rồng tức uống máu rắn  vv….

Con người càng văn minh thì cơ tâm (cái tâm máy móc - vô hồn, đen đúa kết buộc chặc chẽ với vô minh) càng cứng cỏi, càng xa lìa chơn như bổn tánh, nghĩa là càng vướng mắc, trói cột sâu nặng hơn trong nhơn quả, cũng là càng khó vượt lìa vô minh, nhơn quả để trở về lại bổn tánh vô sanh. 

Nhân đã gieo như thế, ắc phải gặt quả như thế; mọi động tác thiện, ác dù nhỏ nhặt, thi vi tới đâu, cũng khó dấu che nghiệp thức, đó là luật tắc tự nhiên bất biến của nhơn quả vậy. 

Nói đến ăn chay, một chút ưu tư, cám cảnh của riêng tôi dấy lên; rất tội nghiệp cho những chúng sanh đang an bình trong cảnh giới của mình, thoắt một cái phải bị chia đàn xẻ nghé, bị bắt đi, bị đưa cho dao thớt, lên chảo dầu hay lò lửa nóng, làm thức ăn cho kẻ khác loài. Rất tội nghiệp cho những người, vì nghiệp vô minh quá nặng, không biết lý nhơn quả là gì, vị kỷ, ác tâm, tham mê vật dục, thích dùng thân mạng những chúng sanh khác loài làm thức ăn béo bổ cho mình; họ đâu biết rằng, cảnh giới trong nhơn quả như tấm gương soi, mọi động tác chiên xào, nấu nướng, cắt cổ, thọc huyết kia sẽ phản chiếu lại, ghi vào tàng thức không sai sót một mảy nào; chính kẻ đang tạo nghiệp dữ hôm nay cũng là tự tay mài dao, gọt đầu, đun sẵn chảo dầu, thổi hừng ngọn lửa để sẵn sàng cho chúng sanh khác chặt đầu, lột da, móc ruột, chiên xào, nấu nướng mình ở ngày mai, là điều không sai chạy. Vì đó là luật tắc bất biến của nhơn quả mà.

Đức Phật từ bi, bác ái thương khắp chúng sanh, biết chúng sanh mọi loài mỗi mỗi đều hàm chứa tánh Phật, mỗi mỗi đều bình đẳng, đồng một trong tánh Phật, và mỗi mỗi đều có chung một tánh bất di dịch là tham sống, sợ chết. Không một loài chúng sanh hữu tình nào trong cảnh giới nhơn quả mà không tham sống sợ chết cả. 

Biết chúng sanh các loài cũng tham sống sợ chết như mình, thế thì ai nỡ nào vì sự ngon miệng, béo bổ cho bản thân mình mà lại đi giết chúng sanh khác cũng đồng một tánh  như mình để ăn thịt? Ai nỡ nào ! 

Thật ra, ăn cá thịt cũng chỉ là một thói quen xấu, do tập nhiễm lâu đời mà quen đi, rồi con người tự cho như thế là việc bình thường trong đời. Chứ theo tôi (lại cũng tôi nữa !) con người từ thuở xa xăm nào đó rất giống như  loài khỉ vượn bây giờ, quanh năm suốt tháng ăn toàn rau trái hoa quả mà vẫn sống khoẻ mạnh, bình thường, có sao đâu, vì các cơ quan trong thân thể chúng được cấu tạo để ăn rau trái hoa lá chứ không phải để ăn mặn hay ăn đủ thứ như bây giờ. Cũng như các vị xuất gia, trường trai cả đời mà vẫn mạnh khoẻ và trường thọ hơn cả những người ăn mạng nữa là . 

Có phải do xã hội loài người ngày càng văn minh, tiến bộ mà tánh thiện lành muôn thuở  của con người ngày càng sa sút dần chăng? . 

Một chút suy tư của tôi đối với con người và việc ăn chay. Tôi tán thán việc ăn chay. Còn ăn chay đuợc hay không là tuỳ thiện tâm lẫn nghiệp thức của mỗi người đối với các loài chúng sanh khác, cũng như ăn chay thế nào để được gọi là bố thí (thân mạng) giải thoát rốt ráo lại là một việc khác. 

Bằng có Bạn nào tu hành đã được không tâm, vô ngã, bốn tướng rời lìa, thõng tay vào chợ, tự tại đến đi, không thiện không ác, thì cũng nên quên đi chỗ ưu tư của người viết, không trách cứ người viết "sao lại còn cái chỗ này?" kẻo tự làm vướng bận tâm mình. 

Bằng bạn nào chưa tới được chỗ như bạn kia, thì hãy ráng gieo nhiều căn lành, càng bố thí nhiều thân mạng càng tốt, cũng là tự vun gốc phước để nuôi lớn cây kiến tánh, để sớm  đơm hoa kết trái ở vị lai vậy. 

Bây giờ xin trở lại với việc ăn chay của Bạn. 

Một tôn-giáo từ bi như đạo Phật, ăn chay là điều bắt-buộc đối với các tu-sĩ xuất gia cũng như được khuyến-khích thực-hành đối với các tín-đồ Phật tử tại gia. 

Không xử-dụng nhục thân của các sanh vật khác làm thức ăn cho mình tức là đã trừ được sát nạn cho các loài chúng-sanh, cũng là cách củng cố tâm từ và giúp chúng ta tránh được nhân sát của quả báo ngay trong hiện tại và ở đời vị lai, cũng như tránh được những tham muốn của nhục cảm do việc ăn mặn  (ăn mạng)  gây ra. 

Trong sáu hạnh lành giải thoát (Lục-Độ Ba-la-mật) : Bố thí, Trì- giới, Nhẫn-nhục, Tinh-tấn, Thiền-định và Trí-huệ thì bố thí là hạnh đứng đầu

Không dùng nhục thân chúng sanh làm vật thực, chính là hạnh lành bố thí thân mạng đó vậy. 

Dù chỉ ăn chay được một ngày trong đời, thì đó cũng là một căn lành đã gieo trong hiện kiếp, huống là ăn chay ba, bốn mươi năm, hoặc ăn chay cả đời như Bạn nói đó, phước đức vô cùng. 

Người biết rành lẽ nhơn quả thì không ai là không muốn ăn chay, làm lành, gieo nhân tốt, để cầu quả báo tốt cho đời vị lai. 

Tuy nhiên, ăn chay ba, bốn mươi năm, ăn chay suốt đời cho đến chết như Bạn nói, mà tâm ý lúc nào cũng câu nệ, chấp trước vào việc ăn chay từng ngày từng giờ như thế, lúc nào cũng thấy có “Ta” đang  ăn chay, đang trì giới, đang nhẫn nhục, đang hành tinh tấn hơn mọi người khác thì hữu-lậu phước của Bạn sẽ gặt được ngay trong đời này và ở vị lai là việc không ai phủ nhận; ăn rau cỏ mà không ăn cá thịt, và các sanh vật khác tức là giới-đức được tinh-tấn, quả lành sẽ được hưởng, ắc không ai chối cãi. Nhưng nói đến nhân lành quả tốt, tức cũng là đề cập đến các việc thiện ác vướng mắc trong nhơn quả vậy.  Còn đối với sự giải thoát tử sanh, cũng là cứu cánh của người tu Phật, thì việc ăn chay mà còn chấp tướng như Bạn nói đó, thì nó chỉ có thể đóng góp một phần nào đó cho công-đức này mà thôi. 

Bỡi cớ sao ? Vì tu hành mà tâm còn chấp lên sự ăn chay là còn chưa thoát-ly khỏi bản-ngã, còn vọng niệm trói buộc với các pháp tướng; mà còn ngã, còn chấp là còn đủ mọi vướng-mắc trong nhơn quả thì làm sao vượt lìa, làm sao tự giải-thoát khỏi nhơn quả được. 

Ngay như chúng ta tu hành mà còn chấp-chặc trên sự tu, niệm Phật mà còn chấp vào sự niệm, còn có Ta niệm, còn có Phật để được niệm, còn “để ý” niệm nhiều ít, lâu mau, còn có niệm để được “trở thành” này nọ, thì dù niệm đến suốt đời, suốt kiếp cũng khó thấy Phật hiện tiền, tự thân chẳng thể nào phá tan được vô minh đã nhiễm ô từ lâu đời lâu kiếp, để có thể bừng sáng bổn tâm, hầu vượt lìa nhơn quả. 

Bằng niệm Phật mà hành trì được đến chỗ không còn thấy một niệm nào là niệm Phật,  dòm lại thật chẳng còn thấy có ai niệm, cũng chẵng có Phật để được niệm, luôn niệm mà chẳng còn thấy niệm, chẳng một niệm nào khởi sanh khởi diệt, cũng là liền ngay đó tự "một" trong tánh sáng Di-đà, quang minh chiếu diệu, hay trong nhứt niệm tròn đầy sáng suốt, tịch lặng, bao trùm xuyên suốt, cũng là mặt mũi vốn tự sẵn có xưa nay chưa từng hư mất hiển hiện,  cũng  là pháp-tánh như-thị. Đến chừng đó thì tự có chỗ sáng tỏ, thấy biết như thật chúng sanh ai cũng một nó mà bao đời bao kiếp không tự nhận ra. Một khi đã nhận ra rồi thì khó mà đuổi nó đi, khó mà đánh mất được nó, nếu không khởi vọng niệm phân biệt, chấp trước, hay  tham-đắm, tà kiến  này nọ đối với cảnh giới huyễn ảo của nhơn quả. 

Cho nên, nói ăn chay là tâm ăn chay mới đúng nghĩa của nó, chứ nếu chúng ta cứ cho rằng ăn chay nhiều,  ăn chay càng lâu càng dễ chứng ngộ, thì thật sai lầm. Thử hỏi các loài ăn rau cỏ không phải là ăn chay suốt đời, suốt kiếp hơn chúng ta đó sao, nhưng chỗ chúng ta chấp đó nếu thật sự xảy ra, thì đâu còn chỗ dành cho chúng ta mà nói chuyện tu-hành với chay lạt. 

Mục đích cao cả của việc tu Phật là kiến tánh để tự giải thoát, để không lầm nhân quả, hay nếu vì hạnh nguyện cứu độ chúng sanh  dù có vào nhân quả thì nhân-quả cũng biện biệt rõ ràng, không lầm nên chẳng bị vướng mắc, trói buộc. Cho nên đối các bậc tu hành đã đắc pháp, khi nói đến hai chữ giải thoát, không phải chỉ cho việc các Ngài sẽ được giải thoát cho mai hậu, nghĩa là sau khi chết đi, bốn món thành tro, mà chỉ cho tâm giải-thoát rổng rang của các Ngài ngay tại hiện-tiền. Đó chính là sự nhiệm mầu và siêu-việt của Phật pháp mà không một tôn giáo nào trên thế gian này sánh kịp vậy. Ăn chay đối với các Ngài là việc bình thường của đạo, vô thủ, vô xả, vô ngã, vô chấp. 

Cho nên, ăn chay cũng là việc bình thường của người tu Phật, như là hít thở, uống nước, là sống vậy; nghĩa là ăn mà không rời lìa tự tánh, bỡi sự việc nó tự nhiên như nhiên là vậy, chứ có gì lạ lùng đối với tự tánh đâu mà phải kể lể là ăn được lâu hay mau, nhiều hay ít. Bằng nếu có niệm tưởng chấp vào sự tu-hành hình thức như Bạn vừa nêu, thì dù tu lâu, ăn chay lâu tới đâu, mà sáu món vẫn còn vương, năm món tích chứa chẳng thật lòng xả bỏ, thì  nợ sanh-già-bệnh-chết chớ mong thoát khỏi vậy. 

Tóm lại, nếu nói ăn chay thật đúng nghĩa của nó, là cùng đạo tương ưng, thì chính là hành một lúc bốn Ba-la-mật : Bố-thí, trì-giới, nhẫn-nhục, tinh-tấn. 

 Thế nào là ăn chay mà hành-trì  một lúc bốn hạnh giải thoát rốt ráo (Ba-la-mật) .

   1.  Không dùng sanh mạng chúng sanh khác để làm thức ăn, đó là trừ sát nạn cho chúng sanh, há chẳng phải là Bố thí thân mạng đó ư ?  Nhưng ăn chay mà nên không chấp, không tưởng vào sự ăn chay ấy; hễ cứ đói thì ăn (phải hiểu  ăn chay là việc bình thường của tự tánh, còn ăn mạng, là sát sanh mới là việc không bình thường), khát thì  uống, với cái tâm bình thường rỗng lặng, vô thủ, vô xả, vô ngã, vô chấp, như hít thở để sống mà không chút quan tâm, để ý. Aên mà không mong cầu dở ngon, thích ghét, hay vọng tưởng ăn chay để được “trở thành” này nọ, mà chỉ biết ăn để dưỡng cái thân tu; nếu được thế thì việc ăn chay (bố thí thân mạng) này có khác gì với phép hành thí vô tướng “Tam-Luân-Không” chăng ? Aên chay mà được như  thế  thì  đáng gọi là hạnh lành ăn chay giải thoát rốt ráo (Ba-la-mật), vì  tự thân thể hiện vô ngã, lìa tất thảy tướng khi thọ thực : không thấy có người ăn chay, không có gì là đồ chay, không vọng niệm ăn chay để trở thành này nọ, cũng là đương thể chơn-thiền, đương thể nhập không-tam muội, đương thể tự tại giải thoát. 

      2.   Ăn chay để trừ sát giới thì chính là trì giới rồi vậy. Nhưng nếu còn tưởng biết còn có chỗ trì giới là còn trói buộc. Hãy nên không rời lìa tự tánh mà trì giới, nghĩa là hành trì mà không còn thấy có chỗ hành trì, như hàng ngày hít thở để sống mà không hề tưởng đến có hít thở; trì giới mà đến chỗ miên-mật, tự thấy như thật không  một pháp nào gọi là giới, hay chẳng giới, lại chẳng còn có người thật-hành giới ấy, bỡi ngay trong ấy, cùng đạo tương ưng, vô thủ, vô xả, vô ngã, vô pháp, vô tác ý; ngay đó cũng là sống trọn "một" với tự tánh, thì còn có gì để mà nói trì với không trì trong đây, cái gì trì, cái gì giới nữa, vì giới và chẳng giới đều chẳng thật có trong thể tánh trọn thanh-tịnh; nói giới mà thật chẳng có gì là giới, chỉ tạm gọi là giới để chỉ chỗ  sống trong thể tánh chơn thật mà thôi. Bỡi hễ còn  nghĩ, còn niệm biết có giới, còn có ngừơi trì giới thì vẫn chưa tự tại, chưa sạch hết bốn tướng trói buộc. 
Ăn chay trì giới mà tới chỗ đó thì thiệt đáng gọi là hạnh lành ăn chay trì giới giải thoát rốt ráo (Ba-la-mật) vậy. 

        3. Ăn chay để được tinh-tấn, thân tâm thanh-tịnh là đúng rồi. Nhưng còn phải cố  gắng tu trì tới chỗ không còn chấp lên khái niệm tinh tấn ấy, không còn thấy có người hành trì tinh tấn, như hít thở hằng ngày để sống là sự tự nhiên như nhiên mà không ai chấp lên chỗ hít thở cả; bỡi nếu còn thấy có người hành trì tinh tấn, còn có chỗ phải tinh tấn thì ngay đó cũng là lìa, là hai, là khác với tâm chơn như thường hằng, không sanh không diệt mà chính mình ngay ấy đang-là. Bỡi cớ sao ? Bỡi cái sự mà ta cho là tinh tấn ấy cũng chỉ là pháp giả lập để tạm mượn làm phương tiện ngộ nhập tánh chơn như tự tại, chứ thật tướng pháp này vốn thiệt không tướng, không thể hiện diện trong thể tánh trọn thanh-tịnh, tuyệt vô đối đãi, phi khái niệm của chơn tâm; đến được chỗ đó thì còn có cái gì để gọi là tu nữa nếu không muốn  nói là đã sống thật với Đạo, với tự Phật của mình, tự trọn một, một là tất cả, tất cả là một, là bất khả tư nghì. Ăn chay để tinh tấn mà tới được chỗ đó thì thiệt đáng gọi là hạnh lành ăn chay tinh tấn giải thoát rốt ráo (Ba-la-mật) vậy. 

       4.  Ăn chay để bớt nhân đen đúa về sát-mạng-báo, khiến thân tâm an ổn, ít bị vọng động, không kích thích nhục cảm, ít làm nóng nảy, sân hận, củng cố thêm cho tâm nhẫn nhục.  Tuy nhiên, nhẫn nhục là gì nếu không phải là trạng thái đối nghịch của tâm sân hận. Mà dù là trạng thái nào cũng đều là pháp vọng, không thật. Đối chơn như tự tánh, thật chẳng có pháp sân hận hay nhẫn nhục trong đây.  Sân hay nhẫn đều chỉ do tâm sanh và mượn  phép phương tiện để điều-phục vọng tâm từ sân ra nhẫn. Bằng nhẫn nhục được đến chỗ không còn thấy ai là người hành nhẫn nhục, gì là cần phải nhẫn nhục cả, cũng là sống trọn trong thể tánh sáng trong lặng lẽ, tự tại, phi sanh diệt thì chỗ ăn chay nhẫn nhục đó mới đáng được gọi là hạnh lành nhẫn nhục giải thoát rốt ráo vậy. 

    Ăn chay mà hành được một lúc bốn Ba-la-mật, là thể hiện tâm không vô ngã, hành thí vô tướng, không ra ngoài phép bố thí tam-luân không, cũng là phép giải thoát rốt ráo. Một khi đã được gọi một cách chân-thật là “Ăn chay Ba-la-mật” thì người này đâu còn thấy có tướng ngã, tướng nhơn, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, đến đó thì còn có gì chay, gì mặn, gì chứng, gì tu, mà ngay đó khắp mọi thời đều là “Đương Niệm”, “Đang là” đồng pháp-tánh như-thị, thảy thảy sự lý dung thông, cũng là cùng đạo tương ưng, không hai không khác. Đến khi ấy, đi đứng, nằm, ngồi, uống, ăn, ngủ, nghỉ tự rõ như thiệt đều là diệu dụng của tự tánh chơn thường vô ngã, trọn trong đệ ngũ Ba-la-mật, tức đương thể Chơn-Thiền, đương thể nhập không Tam-muội, đương thể tự tại giải thoát vậy. 

Pháp, cũng là pháp phương tiện nên không thể dùng lời để có thể diễn tả đến chỗ rốt ráo được. Cho nên trước đây có một bạn đòi hỏi tại sao không nói một cách cụ thể như thế này thế nọ để cho bạn ấy hiểu mà chỉ nói chung chung. 

Thưa . Nếu nói được cụ thể thì đó là nói pháp sanh diệt, là nói pháp khái niệm, pháp phân biệt, là pháp tướng ràng buộc của ma chứ đâu còn là pháp Phật, là pháp giải thoát nữa; bỡi vì thiệt chẳng một pháp nào khởi sanh, chẳng một pháp nào khởi diệt, không một pháp có thể lập, chẳng phải pháp, cũng chẳng phải chẳng phải pháp, thì đó mới là Phật pháp, là Trung-Đạo, là vượt lìa trói buộc của nhị nguyên nhơn quả, là vô vi pháp, là giải thoát vậy. Bằng chẳng phải thế là pháp của các cảnh giới nhơn quả. 

Đã như vậy thì làm gì có được chỗ nào cụ thể đâu mà đòi nói cụ thể. Chừng nào bạn đưa được cái tâm vọng đang câu hữu với vô minh nhơn quả của bạn cho tôi xem một cách cụ thể, thì chừng ấy tôi sẽ nói pháp Phật cụ thể cho bạn nghe. 

Thế nên, với Trung-đạo, cũng là vô vi pháp, thì miệng mồm trong nhơn quả chỉ có thể diển tả chung chung, bên ngoài, như gãi ngứa ngoài giày mà thôi, còn sau đó là tuỳ căn cơ trí tuệ của từng người mà dụng chỗ nói đó làm phương tiện để tự có chỗ thâm nhập Trung-đạo mà thăng hoa, chứ ngôn từ thì thiệt chẳng thể với tới. 

Do chữ nghĩa có hạn, mà đề tài Bạn hỏi lại quá sức thâm sâu đối với người viết ít học này, nên đôi lúc phải lập đi lập lại nhiều lần mới mong hết ý muốn nói. Rất mong Bạn thông cảm. Chúc Bạn mau mau ngoảnh đầu nhìn lại chính mình và sớm khám phá cái biết "Giác" tuyệt đối, chơn-thật, vốn tự sẵn có xưa nay của Bạn, cũng là chỗ mà Phật và chư Thánh muốn chỉ ra, chứ chẳng phải là chạy theo nhơn duyên vọng lập để góp nhặt cái biết, tức cái biết của vọng thức hư huyễn ngoài tâm chơn như, ngoài tánh "Biết-Giác" của Phật tâm.  Khi nào sáng được tánh biết chơn thật tuyệt đối chưa từng hư mất, thì Bạn sẽ không bao giờ có những câu hỏi trói buộc với khái niệm nhơn quả phàm tình như câu hỏi trên. Còn bây giờ, mặc dù Bạn là người đa văn tri thức đấy, nhưng tự thân chưa vượt thoát khỏi mớ tri kiến giải thoát mà bạn đang chấp thủ, nghĩa là còn trói buộc với các pháp phương tiện, với khái niệm phân biệt vướng mắc trong nhơn quả, cũng là các pháp tướng, cũng là còn đang ở bờ này mà nhấc chân lên chưa nổi vậy. 

Bằng khi nào bạn thật sự "biết" bằng tánh biết chơn thật của Phật tâm, thì cũng ngay đó bạn tháo mồ hôi hột mà hối quá cho những ý nghĩ sai lầm trước đây, tự biết rằng chỗ sở học bác lãm của bạn lâu nay chỉ là vật ngoài, có hạn lượng và ràng buộc với một cá thể sanh diệt, trong nhơn quả sanh diệt. Đồng thời cũng ngay ấy, bạn liền tự biết như thật rằng, Phật pháp của bạn lúc này là rất ít, sở dĩ nói ít vì Phật pháp thì không nhiều, nếu không muốn nói là không là gì cả; không gì cả mà tuỳ duyên nói pháp độ người đến ngàn vạn năm cũng không sao hết được. 

Thiện tai Phật pháp, hy hữu, nhiệm mầu, vô lượng, vô biên, bất khả thuyết, bất khả tư nghì. 

   Thân.  
Nhuận-Bảo.


c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap