c)
Cứ như hàm ý trong câu nói của Bạn, thì các bậc xuất gia
là bất khả xâm phạm, là không ai có quyền phê phán các
Ngài, rằng chỉ có các đệ tử xuất gia của Phật thì tu
hành mới có thể đắc pháp hay dễ đắc pháp, còn các tín
đồ Phật tử tại gia là khó hay không thể kiến tánh, hoặc
chỉ tạo phước báo ở cõi Nhơn-Thiên mà thôi, thì đó là
một sự nhầm lẫn rất lớn, một thứ bệnh thiên kiến rất
tai hại, bỡi nó thể hiện những tánh xấu làm trở ngại
việc tiến tu của mình như tự ti, tự tôn, ngã mạn, cao ngạo,
dựa dẫm, ỷ lại vào người khác vv….., nói chung là
nặng chấp ngã .
Tại
sao Bạn lại xử ép các Thầy như thế. Các Thầy cũng là
người, nào có khác gì những Phật tử tại gia như chúng
ta đâu? Chỗ vượt hơn người của các Thầy, đó là
căn lành, phước nghiệp mà các thầy đã từng gieo trong quá
khứ nhiều hơn chúng ta, nên trong đời này các Thầy mới
có duyên lớn được làm đệ tử xuất gia của Phật, lục
dục thất tình các Thầy đã thệ nguyện trước mười phương
chư Phật là cắt đứt, giũ bỏ sạch sẽ, nhàm chán tất
thảy các pháp thế gian, luôn trau dồi giới đức tinh tấn,
lại không lo một công việc gì khác ngoài sự an ổn tu học
và giáo hoá chúng sanh.
Thế
nhưng không phải ai ai trong đời này hễ cứ xuất gia tu học
là đắc pháp, cũng là thấy tánh thành Phật; cũng như
không phải hàng Phật-tử tại gia thì chẳng ai có thể đắc
pháp, như thiên kiến của Bạn đã nghĩ. Đắc pháp hay không
còn do nhiều yếu tố, mà yếu tố quyết định là chính bản
thân người ấy có nhứt tâm vì cầu giải thoát mà cắt đứt,
buông bỏ tận gốc rễ tất thảy pháp trói buộc với nhơn
quả hay không, có được thầy đắc pháp hướng dẫn đến
nơi đến chốn không, có sáng suốt chọn được pháp tu tương
ưng tương hợp với căn cơ trí tuệ của mình hay không, cũng
như đã trọn đủ duyên lành để gặt hái quả kiến
tánh chưa vv… và vv.
Đọc
trong Phật sử cũng như các điển tích xưa nay của chư Tổ
để lại, người tu Phật tại gia kiến-tánh không phải là
ít. Có điều sách vở chỉ ghi chép lại những vị có công-lao
to lớn trong việc xiểng-dương và truyền bá Chánh-pháp để
cứu độ mà thôi.
Lại
nữa, khiêm tốn, tự trọng và biết tôn-kính, tôn-trọng người
khác là những đức tính mà mọi người ai ai cũng cần phải
giữ gìn để vun đắp phẩm hạnh, nâng cao đạo đức, làm
người tốt đối với nhân quần xã hội, chứ đâu phải
riêng gì Phật tử mới cần có.
Kính
trọng một bậc xuất gia, đức cao đạo cả, là đạo lý,
là việc nên làm, cần làm và phải làm, chẳng những đối
với người tu Phật tại gia cũng như xuất gia, mà còn cho
tất cả những ai muốn được gọi là người tốt, là thiện
nhơn.
Thế
nhưng kính mến, tôn trọng, vững vàng sáng suốt đặt hết
niềm tin vào thầy mà học đạo để cầu giải thoát là một
lẽ, mà cuồng tín, bợ đỡ, a-dua, nịnh hót, lười biếng,
ỷ lại, dựa dẫm, mơn trớn thầy vì chấp ngã, chấp tướng.
. . là một lẽ khác.
Tự
thân nỗ lực trong việc công phu hành trì chơn chánh các pháp
Phật để tự gặt hái thành quả "sáng tỏ tánh Phật chúng
sanh" của mình là một lẽ, mà làm ra thể như thầy kiến
tánh thì mình ắc cũng được kiến tánh theo, thầy thác lên
cõi trời thì ắc mình cũng được thầy thương mà bỏ túi
mang theo lên trời, thầy chứng nhập Niết-bàn thì mình ắc
cũng được dự phần nhập ké với thầy, lại là một lẽ
khác.
Những
người có tâm ý lệch lạc như vừa nêu chẳng phải là không
có trong đời này.
Biết
tôn trọng, kính mến, sáng suốt tin tưởng các bậc trưởng
thượng, đồng thời cũng biết tự trọng, biết tàm biết
quí là đạo lý làm người xưa nay, không riêng gì chỉ có
Phật tử mới cần phải làm. Còn cuồng tín, bợ đỡ, a-dua,
mơn trớn, nịnh hót, tự ti, ỷ lại, lười biếng, không biết
tàm quí là phàm tâm xấu xa, mê mờ, u tối, chẳng những làm
chướng ngại cho việc tiến tu của chính mình đã đành mà
còn có thể vì đó mà làm hư các thầy, làm cản đường
tiến tu của quí thầy, nếu đạo tâm của các thầy chưa
thật sự cứng sáng như kim-cang.
Thật
ra, các thầy có Niết-bàn tịch diệt thì đó cũng là nhờ
căn lành trong muôn ngàn kiếp mà các thầy đã từng gieo ở
quá khứ nên trong đời này các thầy được thiện duyên đưa
đẩy, hay giác ngộ sớm mà xuất gia, cộng với công phu tu
hành nghiêm cẩn, sớm ngộ tánh Phật, lại sống trọn trong
thánh thai mà tống khứ hết thảy uế nhiễm, lậu hoặc trong
đời này và các đời quá khứ, rồi an nhiên Niết-bàn tịch
diệt thì đó là việc của các Ngài đã riêng xong. Còn tự
thân mỗi người trong chúng ta đang tu hành đây thì thiệt
chẳng phải là "một" cùng các Ngài, nếu mỗi mỗi chưa tự
sáng tánh Phật như các Ngài, mà nói cho cùng lý, tột đạo,
thì hiện tại trước mắt chẳng gì dính dấp tới các Ngài,
nếu không khởi vọng niệm trói buộc với các pháp sanh diệt
nhơn quả. Mà hễ chợt có niệm trói buộc thì là lẽ khác,
nghĩa là cùng nắm tay nhau đi vào nhơn quả vậy.
Vì
đạo Phật là đạo tự giác, nên phải biết, các Ngài là
các Ngài, mà chúng ta là chúng ta, theo lý mà nói, không chỗ
can hệ. Chúng ta là những người đang cầu đạo giải thoát,
đang nhờ các Ngài ấy chỉ lối đưa đường. Nhiệm vụ của
chúng ta là nương theo pháp hành chơn thật của Như-lai mà
tu, lại được các Ngài đi trước hướng dẫn, nên vì lòng
biết ơn mà chúng ta thành tâm tôn trọng, quí kính các Ngài
như cha; lại thật hành hạnh cúng dường giải thoát rốt
ráo (hành-thí, cúng dường Ba-la-mật) các vật thực,
y phục, ngoạ cụ, y dược, xây dựng trú xá, Phật đường
vv… để các Ngài có phương tiện dưỡng thân mà tu hành
và giáo hóa. Còn việc tu hành của chúng ta thì tự thân chúng
ta gánh vác, không ai có thể gánh thế.
Chúng
ta thân cận với quí Ngài để được nghe những lời khai
thị quí báu từ các Ngài, lại phải biết tư duy, biết nhìn
xuyên qua lớp áo tràng, nhìn xuyên qua thân tuớng của quí
Ngài để thấy được chỗ kỳ đặc tự tại, an ổn, giải
thoát của quí Ngài cũng là Pháp-thân, đâu là chỗ thật
sự buông bỏ, thật sự vượt lìa nhơn quả của các Ngài;
rồi nhìn lại chính mình mà gắng bước theo thầy, nỗ lực
tu hành để cứu cánh cùng thầy một chỗ, là sáng tỏ, tự
"một" pháp tánh như-thị.
Lục
căn lục thức của chúng sanh là cữa ngõ để người tu Phật
tuỳ duyên ngộ nhập Phật tri-kiến qua từng mỗi căn thức
khác nhau. Khi một trong các tánh thấy, nghe, hay, biết ứng
hợp với từng căn thức chợt sáng tỏ thì cũng ngay
đó là tánh Phật hiễn hiện. Dù căn thức nào được khai
mở thì chỗ ngộ nhập cũng chỉ một, là Phật tánh. Có người
nhận ra tự tánh Phật bằng con mắt (Sắc trần - Nhãn căn)
, có người nhận ra bằng tai (Thinh - Nhĩ) . Có người nhận
ra bằng lưỡi vv….Nhưng xưa nay tai (+ Tâm) và mắt (+Tâm)
là hai cữa ngõ dễ dàng thâm nhập nhất.
Cho
nên thường có người ngộ đạo nhờ nghe thầy thuyết pháp,
nhưng lại cũng có người nhờ biết dùng con mắt quán sát,
nhìn thầy buông thân giải thoát chỗ nào mà tư duy để
ngộ ra chỗ ấy, liền đó cùng thầy một chỗ, không khác
không hai.
Bằng
nghe thuyết hay nhìn mà chưa hiểu ra, chưa sáng ra được chỗ
an nhiên tự tại, thật sự giải thoát của thầy, thì cầu
thầy chỉ bảo, lại cố gắng tu học, thì đó mới là một
Phật tử thuần thành, chơn chánh. Còn không biết như thế,
không làm được như thế mà chỉ lo se sua, nịnh nọt, vuốt
ve, mơn trớn theo thầy thì nào có ích gì cho đại sự giải
thoát của chúng ta đâu.
Ngày
xưa, Tôn giả Tu-bồ-đề theo Phật tu hành, hằng ngày nhìn
Phật rồi tư duy quán sát mọi động thái sinh hoạt
đời thường của Ngài và nghe Phật thuyết pháp, khám phá
ra được chỗ kỳ đặc, an nhiên, tự tại, giải thoát của
Đức Phật, nên mới cầu xin Phật chỉ ra giùm cho ông và
đại chúng, làm cách nào để có thể điều phục được
vọng tâm của mình, an trụ tâm này ra sao để cho ai ai cũng
được tự tại, giải thoát mọi trói buộc với nhơn quả,
để cùng như Phật không khác. Nhờ chỗ thân cận, biết tư
duy, quán xét, biết hỏi pháp đúng pháp, đúng thời của Tôn-giả
Tu-bồ-đề mà Phật đã thuyết kinh Kim-Cang, khiến Tôn-giả
triệt-ngộ Tánh-Không, giải thoát rốt ráo, được Phật khen
là Giải-Không Đệ Nhất. Ngày xưa chư Thánh học Phật, tu
Phật là học như thế, tu như thế, chứ chưa từng nghe Phật
khen ai nịnh hót, mơn trớn Phật bao giờ, cũng như chưa từng
nghe ai nhờ nịnh nọt se sua mà được giải thoát nhơn quả,
sanh tử bao giờ.
Chỉ
phải tự mình thật tu để thật chứng, mà không ai có thể
tu thế, chứng thế giùm cho mình cả. Nhơn quả tử sanh, chỉ
riêng mình tự vượt thoát mà không ai vượt thế giùm được
cho ai cả. Còn đối với những người luyến mến cõi này
thì không cần bàn tới.
Cho
nên, thí như chúng ta bị bệnh, chỉ một cách duy nhất là
nhờ Thầy thuốc giỏi khám bệnh, cho thuốc đúng bệnh, chỉ
dẫn cách dùng, liều lượng và theo dõi sự tiến triển của
con bệnh; đó là công việc của các Thầy; còn có chịu uống
thuốc theo đúng liều lượng và sự chỉ dẫn của Thầy để
cho hết bệnh hay không là việc của chúng ta, chứ các Thầy
chẳng thể thay ta uống thế được; cũng như các Thầy
dẫu có là thần y, dẫu có thương yêu chúng ta như con đẻ
của các Ngài đi nữa thì cũng chỉ biết đứng nhìn chúng
ta hưu hỹ mà thôi, nếu chúng ta không tự uống thuốc mà
chỉ lo vuốt ve, nịnh bợ các Ngài.
Thí
như chúng ta bị cam tích vật thực, cam tích tri kiến. Các
thầy bốc thuốc cho chúng ta đúng phương, đúng liều để
xổ, để tống khứ những vật thừa mứa nguy hại ra khỏi
bụng, khỏi đầu chúng ta. Muốn hết bệnh, chỉ tự chúng
ta uống thuốc tiêu, thuốc xổ mà không thể nhờ thầy uống
thế để xổ giúp chúng ta, cũng như chẳng thể dựa dẫm,
ỷ lại, se sua, nịnh bợ thầy mà cái bụng đau, cái đầu
to vì cam tích của chúng ta có thể khỏi bệnh, khoẻ khoắn
lại được.
Bằng
nếu không hiểu hoặc cố tình không muốn hiểu như thế,
không biết tự thân lo liệu trước, không tự cần khổ tu
hành, thì dẫu có cuồng tín nịnh bợ, a dua, ỷ lại vào các
Ngài tới đâu, một sớm vô thường, chúng ta bị khí tuyệt
thân hàn, tử thần gõ cữa, thì dẫu các Ngài đó có làm
Thánh, làm Tổ đi nữa ắc cũng lắc đầu mà nhìn chúng
ta đi vào vô minh sanh tử mà thôi. Bằng ngược lại, tự thân
chúng ta nỗ lực tu hành, sải một sải liền lọt vào cữa
Đạo, thì dẫu các Ngài có đồng tâm hiệp lực mà xô ra
cũng chẳng được nào, không chỗ dính dấp; cũng như khi chúng
ta chợt khám phá bổn lai diện mục, thì dẫu các Ngài có
muốn đồng hội đồng thuyền ắc cũng không xong, nếu các
Ngài không tự chính mình trong ấy "đang-là" . Đó là điều
hoàn toàn chơn thực, không hề sai dối, không hề có mảy
vọng niệm nào là tự cao, tự đại móng khởi ở đây cả.
Khi
Tổ Nam-Tuyền sắp tịch, thủ-tọa hỏi :
* Sau khi Hoà-thượng trăm tuổi thì về đâu ?
Tổ
Nam-Tuyền đáp :
- Làm con trâu dưới núi.
Một
tăng nhân dưới trướng bước ra thưa :
* Con theo Hoà-thượng được chăng ?
Tổ
Nam-Tuyền đáp :
- Nếu ngươi muốn theo ta thì ngậm theo bó cỏ.
Cũng
là trâu mà một đàng pháp hành lợi tha, vô ngã, tuỳ duyên
đến đi mà vẫn chơn thường tự tại, bất biến như như,
hoàn toàn khác hẵn con trâu trói buộc trong vọng nghiệp trả
vay, sanh tử quả báo.
Mẫu
Thiền ngữ dăm câu vừa nêu, cũng rất có thể làm cho những
người a dua, nịnh hót, cuồng tín, lười biếng tu hành, ỷ
lại vào ngừơi khác, phải tự nghĩ suy, giật thót mà nhìn
lại chính mình để tự tỉnh thức kẻo không còn kịp nữa.
Trong
đạo làm người của người Á-Đông xưa nay, Khổng giáo quan
niệm hiếu đạo có ba.
-
Làm cho cha mẹ, tổ tiên rạng danh là đại hiếu.
-
Không làm cho cha mẹ, tổ tiên phải vì mình mà ô nhục là
trung hiếu.
-Hết
lòng chăm sóc, hầu hạ, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà lúc
tuổi xế chiều, là tiểu hiếu.
Ngoài
ra cũng chưa từng nghe ai nói, hay sách vở nào viết là a dua,
xu phụ, nịnh bợ, mơn trớn ông bà cha mẹ là có hiếu bao
giờ.
- Với Phật đạo cũng vậy. Kiên cố Phật tâm không gì lay
chuyển nổi, tu hành miên mật, sáng tỏ tánh Phật, tiếp bước
người trước đốt càng thêm sáng ngọn đèn chánh pháp, để
cho Phật đạo ngày càng hưng long, rạng rỡ khắp cõi ta bà,
đó là đại hiếu đối với mười phương chư Phật, với
lịch đại Tổ sư và tôn sư của mình.
- Không làm cho ngôi nhà Tam bảo bị tiếng không lành, không
mắc tội hủy Phật, Báng pháp, chẳng làm đen đúa không môn,
đó là bậc trung-hiếu đối với Tổ, Phật và pháp của các
Ngài.
- Gần gũi, thân cận, cúng dường đúng phép giải thoát rốt
ráo (hành thí Ba-la-mật) để tôn sư có đầy đủ thuốc men,
vật thực, ngoạ cụ, tịnh xá,… trong lúc ốm đau già yếu
đó là tiểu hiếu. Ngoài ra cũng chưa từng nghe ai nói rằng
nịnh bợ, ve vuốt, dựa dẫm, ỷ lại tôn sư là hiếu bao
giờ.
Với
người tu Phật chơn chánh, hãy nên cố gắng làm người đại
hiếu với chư Phật, chư Thánh và tôn sư trước hết. Chừng
nào vô duyên với Phật đạo lắm thì hẵn làm các hiếu thấp
hơn. Nếu ai cũng làm được như thế thì lo gì ngôi nhà
chung Tam-Bảo không ngày một hưng long, Phật đạo ngày một
sáng chói khắp các cõi nước, và chúng sanh các loài lo gì
không được giải thoát, trở về lại chơn thể vô sanh.
Đạo
Phật là đạo tự giác. Tánh Phật thì ai ai cũng tự
gồm đủ mà không hề hay biết. Lại cũng chỉ có chính mình
tự chứng ngộ tánh Phật của mình mà thôi, không ai chứng
thế.
Thí
như người sáng mắt tự thấy biết như thật mọi cảnh sắc
trước mắt. Người đui mù chỉ có thể nhìn thấy như thật
nếu được chữa hết mù. Bằng dựa dẫm vào người khác,
nhờ người khác nhìn thế, mô tả giùm thì đều không phải
là cái nhìn như thật được.
Trong
việc tu hành cũng vậy, làm sao người khác có thể giác ngộ
thế cho mình? Nhờ vào người khác, hay nhờ chữ nghĩa, kinh
điển, tụng niệm, trì chú, hành thiền vv…. vv….đều
là phương tiện tạm mượn để ta nương đó tự hành trì
mà đạt đến cứu cánh. Đến nỗi viết ra chữ, nói bằng
lời, thấy bằng mắt, nghe bằng chính đôi tai của mình mà
cũng còn khó nhận ra, huống là nhờ đỡ, trông cậy, ỷ lại,
dựa dẫm vào người khác, thì làm sao đại sự của mình
xong được?
-
Một
hôm Thần-Quang (Nhị-Tổ Huệ-Khả) tha thiết cầu hỏi Sơ-Tổ
Bồ-đề Đạt-ma : - Pháp ấn của chư Phật con đây có thể
được biết chăng?
Sơ-Tổ
đáp : - Pháp ấn của chư Phật chẳng phải từ người khác
mà nhận được.
Lời
hỏi đáp của hai vị Tổ Tông Thiền đã xác quyết cho chúng
ta một điều rằng, tu hành, chứng ngộ và giải thoát chỉ
do một thân tâm này và cũng chỉ từ một thân tâm này mà
được, chứ không phải từ ngoài vào, huống là cậy nhờ,
ỷ lại hay nịnh nọt, a dua vào kẻ khác mà có chỗ sở đắc!
Thật không thể nào. Với các Thầy, chúng ta nên tôn trọng,
kính mến, và biết ơn bằng cái "tâm bình thường của đạo"
mà không cần phải a-dua, nịnh nọt, vuốt ve . . . bỡi chính
các Ngài cũng không muốn thế (nhưng không nỡ nói ra đó thôi,
chỉ vì sợ làm phật lòng người, sợ làm thế chẳng đắc
nhơn tâm!!!).
Phải
nhớ chắc một điều rằng, các Thầy là các Thầy, còn chúng
ta là chúng ta, cũng có nghĩa là mỗi chúng sanh có từng duyên
phước, nghiệp tội khác nhau, không ai giống ai, và cũng chẳng
ai có thể cứu rỗi cho kẻ khác được, mà mỗi chúng sanh
phải tự cứu lấy chính mình.
Đức
bà Ma-Da là mẹ sanh của Thái-tử Tất-Đạt-Đa, và cũng từng
là mẹ của nhiều đời chư Phật trong quá khứ, được Đức
Bổn-sư thuyết pháp cho nghe, tự tu hành và chứng quả giải
thoát. Ngài La-hầu-la là con đẻ của Phật, cũng
theo Phật hành trì Mật hạnh trong mấy mươi năm, tự chứng
giải thoát.
Xem
thế đủ biết Phật pháp chỉ độ cho người thật sự tu
hành, tự tu, tự chứng, tự giải thoát ràng buộc sanh tử,
chứ chưa hề độ cho những người mê mờ, cuồng tín, nịnh
bợ, lười biếng, ỷ lại vào người khác bao giờ. Không
ai có thể tu giúp, chứng giúp, ngộ giúp cho mình được. Đó
là lẽ thật.
Bỡi
vì nếu có thể cứu rỗi được cho những chúng sanh khác,
thì chư Phật nhiều đời trước ắc đã cứu hết thảy chúng
sanh thoát khổ nhơn quả phiền não từ lâu rồi, đâu phải
đợi đến thời Phật Thích-Ca giáng thế. Cũng như nếu Như-lai
có thể cứu rỗi được chúng sanh thì hai ngàn rưởi năm
trước, Đức Thế-tôn ắc đã cứu tất thảy chúng sanh thoát
khỏi tử sanh nhơn quả từ khi Ngài còn tại thế, đâu cần
đợi đến giờ này chúng ta phải tự tu tự chứng để cứu
cánh vô sanh.
Thế
cho nên, hãy vì sự nghiệp giải thoát của chính mình mà tự
nhìn vào trong để biện biệt đâu là chơn giả, chánh tà,
ma Phật mà tất thảy đều trọn đủ trong một tâm này. Cũng
như chỉ có nhìn vào trong mới có thể khám phá tánh thấy
biết tuyệt đối, cũng là Phật tánh để không lầm nhơn
quả, mà tự thăng hoa. Bằng cứ cột chặc với cái biết
của tri thức cũng là vọng biết trong nhơn quả, biết theo
cảnh ngoài, thì trăm đời ngàn kiếp không sao thoát khỏi
cảnh giới hư vọng của nhơn quả sanh diệt trói buộc. Đó
là lẽ thật.
Lại
nữa, đối với sự cao sâu không thể nghĩ bàn của Phật
pháp, có ai tự nhận mình là đắc pháp đâu! Bỡi vừa khởi
ý nhận có sở đắc, có chỗ chứng thì ngay đó đã chợt
trái, đã đi vào nhơn quả liền. Đang-là, chơn như vô ngã,
trước mắt tất thảy pháp không, chợt một niệm khởi sanh
thì cảnh giới nhơn quả ngay đó lập thành, liền tự
có chỗ lặn ngụp, trói buộc. Biết lẽ duyên sanh vô ngã
thì an trụ không chỗ trụ tức ngay đó giải thoát, tức ở
bờ kia, tức tâm thường trụ, trụ vô sở trụ. Bằng vọng
niệm có chỗ trụ tức chẳng phải là chơn trụ, chẳng phải
là thường trụ pháp giới, mà là trụ vào chỗ tương đối,
cũng là trói buộc vào nhơn quả, sanh diệt.
Chỉ
một niệm khởi là ngay đó một thế giới sanh diệt hiện
thành.
Cho
nên, há chúng ta không nghe ngài Tu-Bồ-Đề đã trả lời Đức
Phật một cách rốt ráo về chỗ tự chứng giải thoát của
mình hay sao : “Bạch Thế Tôn! Phật thuyết ngã đắc
vô tránh tam muội, nhơn trung tối vi đệ nhứt, thiï đệ nhứt
ly dục A-la-hán. Thế Tôn! Ngã bất tác thị niệm, ngã thị
ly dục A-la-hán. Thế Tôn ! Ngã nhược tác thị niệm
: Ngã đắc A-la-hán đạo, Thế Tôn tức bất thuyết Tu-Bồ-Đề
thị nhạo A-lan-na hánh giả. Dĩ Tu-Bồ-Đề thật vô sở hành,
nhi danh Tu-Bồ-Đề thị nhạo A-lan-na hánh.”
“
Bạch Thế Tôn ! Phật nói con được pháp vô tranh tam muội,
đối trong loài người là đứng bậc nhất, mà cũng là bậc
ly dục A-la-hán thứ nhất nữa. Bạch Thế Tôn! Con chẳng nghĩ
tưởng như vậy, thì con mới thiệt là bậc ly dục A-la-hán.
“
Bạch Thế Tôn ! Nếu con có nghĩ tưởng như vầy : Con được
đạo quả A-la-hán thì Thế Tôn ắc chẳng nói rằng Tu-Bồ-Đề
này ưa thật hành hạnh A-lan-nhã. Bỡi Tu-Bồ-Đề này
thật không có cái chi gọi là sở hành, nên mới nói Tu-Bồ-Đề
ưa làm theo hạnh A-lan-nhã vậy.”
Một
câu của Ngài Tu-bồ-đề trong kinh Kim-Cang vừa trích dẫn đủ
nói lên hành trạng của một bậc đắc pháp, lìa tất thảy
tướng, thanh thoát, tự tại, vô ngã, vô vi; lại cũng có thể
dùng nó để trả lời cho câu hỏi đầy vướng mắc, trói
buộc của Bạn ở trên kia, lại cũng có thể dùng nó làm
tiếng chuông để tỉnh thức những người mê mờ, cầu Phật
ngoài tâm, chạy theo hình tướng.
Lại
nữa, trong đây có đề cập đến hai từ kiến tánh; nhưng
thật ra có tánh gì để thấy mà nói kiến, và ai kiến trong
đây? Chợt ngộ tánh thì ngay đó cóù gì là hai trong
chỗ hoàn toàn độc diệu đâu để mà nói có với không,
kiến với không kiến, có tánh với không tánh. Là Pháp
tánh như-thị. Như-thị Pháp tánh. Chỉ thế mà thôi.
Trọn độc hữu thì đâu còn đối đãi để có thể nói thấy
với không thấy, thực có gì là năng kiến, sở kiến trong
đây ? Tất thảy đều chỉ là mượn từ lập danh để
tải đạo mà chỉ chỗ vô sở trụ, vô sở đắc, vô sở
thuyết, bất khả tư nghì màthôi.
Chỉ
có “uống nước nóng lạnh tự biết” là câu trả lời
tạm gọi là chân thật nhứt cho người thật tu.
Xem Tiếp Trang
6
