THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
c
VIẾT CHO NGƯỜI CÒN NHIỀU TRÓI BUỘC 
Cư-Sĩ Nhuận-Bảo
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
c)  Cứ như hàm ý trong câu nói của Bạn, thì các bậc xuất gia là bất khả xâm phạm, là không ai có quyền phê phán các Ngài, rằng chỉ có các đệ tử xuất gia của Phật thì tu hành mới có thể đắc pháp hay dễ đắc pháp, còn các tín đồ Phật tử tại gia là khó hay không thể kiến tánh, hoặc chỉ tạo phước báo ở cõi Nhơn-Thiên mà thôi, thì đó là một sự nhầm lẫn rất lớn, một thứ bệnh thiên kiến rất tai hại, bỡi nó thể hiện những tánh xấu làm trở ngại việc tiến tu của mình như tự ti, tự tôn, ngã mạn, cao ngạo, dựa dẫm, ỷ lại  vào người khác vv….., nói chung là nặng chấp ngã . 

Tại sao Bạn lại xử ép các Thầy như thế. Các Thầy cũng là người, nào có khác gì những Phật tử tại gia như chúng ta đâu?  Chỗ vượt hơn người của các Thầy, đó là căn lành, phước nghiệp mà các thầy đã từng gieo trong quá khứ nhiều hơn chúng ta, nên trong đời này các Thầy mới có duyên lớn được làm đệ tử xuất gia của Phật, lục dục thất tình các Thầy đã thệ nguyện trước mười phương chư Phật là cắt đứt, giũ bỏ sạch sẽ, nhàm chán tất thảy các pháp thế gian, luôn trau dồi giới đức tinh tấn, lại không lo một công việc gì khác ngoài sự an ổn tu học  và giáo hoá chúng sanh. 

Thế nhưng không phải ai ai trong đời này hễ cứ xuất gia tu học là đắc pháp, cũng là thấy tánh thành Phật; cũng như  không phải hàng Phật-tử tại gia thì chẳng ai có thể đắc pháp, như thiên kiến của Bạn đã nghĩ. Đắc pháp hay không còn do nhiều yếu tố, mà yếu tố quyết định là chính bản thân người ấy có nhứt tâm vì cầu giải thoát mà cắt đứt, buông bỏ tận gốc rễ tất thảy pháp trói buộc với nhơn quả hay không, có được thầy đắc pháp hướng dẫn đến nơi đến chốn không, có sáng suốt chọn được pháp tu tương ưng tương hợp với căn cơ trí tuệ của mình hay không, cũng như đã trọn  đủ duyên lành để gặt hái quả kiến tánh chưa vv… và vv. 

Đọc trong Phật sử cũng như các điển tích xưa nay của chư Tổ để lại, người tu Phật tại gia kiến-tánh không phải là ít. Có điều sách vở chỉ ghi chép lại những vị có công-lao to lớn trong việc xiểng-dương và truyền bá Chánh-pháp để cứu độ mà thôi.

Lại nữa, khiêm tốn, tự trọng và biết tôn-kính, tôn-trọng người khác là những đức tính mà mọi người ai ai cũng cần phải giữ gìn để vun đắp phẩm hạnh, nâng cao đạo đức, làm người tốt đối với nhân quần xã hội, chứ đâu phải riêng gì Phật tử mới cần có. 

Kính trọng một bậc xuất gia, đức cao đạo cả, là đạo lý, là việc nên làm, cần làm và phải làm, chẳng những đối với người tu Phật tại gia cũng như xuất gia, mà còn cho tất cả những ai muốn được gọi là người tốt, là thiện nhơn. 

Thế nhưng kính mến, tôn trọng, vững vàng sáng suốt đặt hết niềm tin vào thầy mà học đạo để cầu giải thoát là một lẽ, mà cuồng tín, bợ đỡ, a-dua, nịnh hót, lười biếng, ỷ lại, dựa dẫm, mơn trớn thầy vì chấp ngã, chấp tướng. . . là một lẽ khác.

 Tự thân nỗ lực trong việc công phu hành trì chơn chánh các pháp Phật để tự gặt hái thành quả "sáng tỏ tánh Phật chúng sanh" của mình là một lẽ, mà làm ra thể như thầy kiến tánh thì mình ắc cũng được kiến tánh theo, thầy thác lên cõi trời thì ắc mình cũng được thầy thương mà bỏ túi mang theo lên trời, thầy chứng nhập Niết-bàn thì mình ắc cũng được dự phần nhập ké với thầy, lại là một lẽ  khác. 

Những người có tâm ý lệch lạc như vừa nêu chẳng phải là không có trong đời này. 

Biết tôn trọng, kính mến, sáng suốt tin tưởng các bậc trưởng thượng, đồng thời cũng biết tự trọng, biết tàm biết quí là đạo lý làm người xưa nay, không riêng gì chỉ có Phật tử mới cần phải làm. Còn cuồng tín, bợ đỡ, a-dua, mơn trớn, nịnh hót, tự ti, ỷ lại, lười biếng, không biết tàm quí là phàm tâm xấu xa, mê mờ, u tối, chẳng những làm chướng ngại cho việc tiến tu của chính mình đã đành mà còn có thể vì đó mà làm hư các thầy, làm cản đường tiến tu của quí thầy, nếu đạo tâm của các thầy chưa thật sự cứng sáng như kim-cang. 

Thật ra, các thầy có Niết-bàn tịch diệt thì đó cũng là nhờ căn lành trong muôn ngàn kiếp mà các thầy đã từng gieo ở quá khứ nên trong đời này các thầy được thiện duyên đưa đẩy, hay giác ngộ sớm mà xuất gia, cộng với công phu tu hành nghiêm cẩn, sớm ngộ tánh Phật, lại sống trọn trong thánh thai mà tống khứ hết thảy uế nhiễm, lậu hoặc trong đời này và các đời quá khứ, rồi an nhiên Niết-bàn tịch diệt thì đó là việc của các Ngài đã riêng xong. Còn tự thân mỗi người trong chúng ta đang tu hành đây thì thiệt chẳng phải là "một" cùng các Ngài, nếu mỗi mỗi chưa tự sáng tánh Phật như các Ngài, mà nói cho cùng lý, tột đạo, thì hiện tại trước mắt chẳng gì dính dấp tới các Ngài, nếu không khởi vọng niệm trói buộc với các pháp sanh diệt nhơn quả. Mà hễ chợt có niệm trói buộc thì là lẽ khác, nghĩa là cùng nắm tay nhau đi vào nhơn quả vậy. 

Vì đạo Phật là đạo tự giác, nên phải biết, các Ngài là các Ngài, mà chúng ta là chúng ta, theo lý mà nói, không chỗ can hệ. Chúng ta là những người đang cầu đạo giải thoát, đang nhờ các Ngài ấy chỉ lối đưa đường. Nhiệm vụ của chúng ta là nương theo pháp hành chơn thật của Như-lai mà tu, lại được các Ngài đi trước hướng dẫn, nên vì lòng biết ơn mà chúng ta thành tâm tôn trọng, quí kính các Ngài như cha; lại thật hành hạnh cúng dường giải thoát rốt ráo (hành-thí, cúng dường Ba-la-mật)  các vật thực, y phục, ngoạ cụ, y dược, xây dựng trú xá, Phật đường vv… để các Ngài có phương tiện dưỡng thân mà tu hành và giáo hóa. Còn việc tu hành của chúng ta thì tự thân chúng ta gánh vác, không ai có thể gánh thế.

Chúng ta thân cận với quí Ngài để được nghe những lời khai thị quí báu từ các Ngài, lại phải biết tư duy, biết nhìn xuyên qua lớp áo tràng, nhìn xuyên qua thân tuớng của quí Ngài để thấy được chỗ kỳ đặc tự tại, an ổn, giải thoát của quí Ngài cũng là Pháp-thân,  đâu là chỗ thật sự buông bỏ, thật sự vượt lìa nhơn quả của các Ngài; rồi nhìn lại chính mình mà gắng bước theo thầy, nỗ lực tu hành để cứu cánh cùng thầy một chỗ, là sáng tỏ, tự "một" pháp tánh như-thị. 

Lục căn lục thức của chúng sanh là cữa ngõ để người tu Phật tuỳ duyên ngộ nhập Phật tri-kiến qua từng mỗi căn thức khác nhau. Khi một trong các tánh thấy, nghe, hay, biết ứng hợp với từng căn thức chợt  sáng tỏ thì cũng ngay đó là tánh Phật hiễn hiện. Dù căn thức nào được khai mở thì chỗ ngộ nhập cũng chỉ một, là Phật tánh. Có người nhận ra tự tánh Phật bằng con mắt (Sắc trần - Nhãn căn) , có người nhận ra bằng tai (Thinh - Nhĩ) . Có người nhận ra bằng lưỡi vv….Nhưng xưa nay tai (+ Tâm) và mắt (+Tâm) là hai cữa ngõ dễ dàng thâm nhập nhất. 

Cho nên thường có người ngộ đạo nhờ nghe thầy thuyết pháp, nhưng lại cũng có người nhờ biết dùng con mắt quán sát, nhìn thầy buông thân giải thoát chỗ nào mà tư duy để  ngộ ra chỗ ấy, liền đó cùng thầy một chỗ, không khác không hai. 

Bằng nghe thuyết hay nhìn mà chưa hiểu ra, chưa sáng ra được chỗ an nhiên tự tại, thật sự giải thoát của thầy, thì cầu thầy chỉ bảo, lại cố gắng tu học, thì đó mới là một Phật tử thuần thành, chơn chánh. Còn không biết như thế, không làm được như thế mà chỉ lo se sua, nịnh nọt, vuốt ve, mơn trớn theo thầy thì nào có ích gì cho đại sự giải thoát của chúng ta đâu. 

Ngày xưa, Tôn giả Tu-bồ-đề theo Phật tu hành, hằng ngày nhìn Phật rồi tư duy quán sát   mọi động thái sinh hoạt đời thường của Ngài và nghe Phật thuyết pháp, khám phá ra được chỗ kỳ đặc, an nhiên, tự tại, giải thoát của Đức Phật, nên mới cầu xin Phật chỉ ra giùm cho ông và đại chúng, làm cách nào để có thể  điều phục được vọng tâm của mình, an trụ tâm này ra sao để cho ai ai cũng được tự tại, giải thoát mọi trói buộc với nhơn quả, để cùng như Phật không khác. Nhờ chỗ thân cận, biết tư duy, quán xét, biết hỏi pháp đúng pháp, đúng thời của Tôn-giả Tu-bồ-đề mà Phật đã thuyết kinh Kim-Cang, khiến Tôn-giả triệt-ngộ Tánh-Không, giải thoát rốt ráo, được Phật khen là Giải-Không Đệ Nhất. Ngày xưa chư Thánh học Phật, tu Phật là học như thế, tu như thế, chứ chưa từng nghe Phật khen ai nịnh hót, mơn trớn Phật bao giờ, cũng như chưa từng nghe ai nhờ nịnh nọt se sua mà được giải thoát nhơn quả, sanh tử bao giờ. 

Chỉ phải tự mình thật tu để thật chứng, mà không ai có thể tu thế, chứng thế giùm cho mình cả. Nhơn quả tử sanh, chỉ riêng mình tự vượt thoát mà không ai vượt thế giùm được cho ai cả. Còn đối với những người luyến mến cõi này thì không cần bàn tới. 

 Cho nên, thí như chúng ta bị bệnh, chỉ một cách duy nhất là nhờ Thầy thuốc giỏi khám bệnh, cho thuốc đúng bệnh, chỉ dẫn cách dùng, liều lượng và theo dõi sự tiến triển của con bệnh; đó là công việc của các Thầy; còn có chịu uống thuốc theo đúng liều lượng và sự chỉ dẫn của Thầy để cho hết bệnh hay không là việc của chúng ta, chứ các Thầy chẳng thể thay ta uống thế được;  cũng như các Thầy dẫu có là thần y, dẫu có thương yêu chúng ta như con đẻ của các Ngài đi nữa thì cũng chỉ biết đứng nhìn chúng ta hưu hỹ mà thôi, nếu chúng ta không tự uống thuốc mà chỉ lo vuốt ve, nịnh bợ các Ngài. 

Thí như chúng ta bị cam tích vật thực, cam tích tri kiến. Các thầy bốc thuốc cho chúng ta đúng phương, đúng liều để xổ, để tống khứ những vật thừa mứa nguy hại ra khỏi bụng, khỏi đầu chúng ta. Muốn hết bệnh, chỉ tự chúng ta uống thuốc tiêu, thuốc xổ mà không thể nhờ thầy uống thế để xổ giúp chúng ta, cũng như chẳng thể dựa dẫm, ỷ lại, se sua, nịnh bợ thầy mà cái bụng đau, cái đầu to vì cam tích của chúng ta có thể khỏi bệnh, khoẻ khoắn lại được. 

Bằng nếu không hiểu hoặc cố tình không muốn hiểu như thế, không biết tự thân lo liệu trước, không tự cần khổ tu hành, thì dẫu có cuồng tín nịnh bợ, a dua, ỷ lại vào các Ngài tới đâu, một sớm vô thường, chúng ta bị khí tuyệt thân hàn, tử thần gõ cữa, thì dẫu các Ngài đó có làm Thánh, làm Tổ  đi nữa ắc cũng lắc đầu mà nhìn chúng ta đi vào vô minh sanh tử mà thôi. Bằng ngược lại, tự thân chúng ta nỗ lực tu hành, sải một sải liền lọt vào cữa Đạo, thì dẫu các Ngài có đồng tâm hiệp lực mà xô ra cũng chẳng được nào, không chỗ dính dấp; cũng như khi chúng ta chợt khám phá bổn lai diện mục, thì dẫu các Ngài có muốn đồng hội đồng thuyền ắc cũng không xong, nếu các Ngài không tự chính mình trong ấy "đang-là" . Đó là điều hoàn toàn chơn thực, không hề sai dối, không hề có mảy vọng niệm nào là tự cao, tự đại móng khởi ở đây cả. 

 Khi Tổ Nam-Tuyền sắp tịch, thủ-tọa hỏi : 
  *  Sau khi Hoà-thượng trăm tuổi thì về đâu ? 
Tổ Nam-Tuyền đáp : 
  -  Làm con trâu dưới núi. 
Một tăng nhân dưới trướng bước ra thưa : 
   *  Con theo Hoà-thượng được chăng ? 
Tổ Nam-Tuyền đáp : 
   - Nếu ngươi muốn theo ta thì ngậm theo bó cỏ. 

Cũng là trâu mà một đàng pháp hành lợi tha, vô ngã, tuỳ duyên đến đi mà vẫn chơn thường tự tại, bất biến như như, hoàn toàn khác hẵn con trâu trói buộc trong vọng nghiệp trả vay, sanh tử quả báo. 

Mẫu Thiền ngữ dăm câu vừa nêu, cũng rất có thể làm cho những người a dua, nịnh hót, cuồng tín, lười biếng tu hành, ỷ lại vào ngừơi khác, phải tự nghĩ suy, giật thót mà nhìn lại chính mình để tự tỉnh thức kẻo không còn kịp nữa. 

Trong đạo làm người của người Á-Đông xưa nay, Khổng giáo quan niệm hiếu đạo có ba.
- Làm cho cha mẹ, tổ tiên rạng danh là đại hiếu.
- Không làm cho cha mẹ, tổ tiên phải vì mình mà ô nhục là trung hiếu.
-Hết lòng chăm sóc, hầu hạ, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà lúc tuổi xế chiều, là tiểu hiếu. 

Ngoài ra cũng chưa từng nghe ai nói, hay sách vở nào viết là a dua, xu phụ, nịnh bợ, mơn trớn ông bà cha mẹ là có hiếu bao giờ. 

  - Với Phật đạo cũng vậy. Kiên cố Phật tâm không gì lay chuyển nổi, tu hành miên mật, sáng tỏ tánh Phật, tiếp bước người trước đốt càng thêm sáng ngọn đèn chánh pháp, để cho Phật đạo ngày càng hưng long, rạng rỡ khắp cõi ta bà, đó là đại hiếu đối với mười phương chư Phật, với lịch đại Tổ sư  và tôn sư của mình. 
  - Không làm cho ngôi nhà Tam bảo bị tiếng không lành, không mắc tội hủy Phật, Báng pháp, chẳng làm đen đúa không môn, đó là bậc trung-hiếu đối với Tổ, Phật và pháp của các Ngài. 
  - Gần gũi, thân cận, cúng dường đúng phép giải thoát rốt ráo (hành thí Ba-la-mật) để tôn sư có đầy đủ thuốc men, vật thực, ngoạ cụ, tịnh xá,… trong lúc ốm đau già yếu đó là tiểu hiếu. Ngoài ra cũng chưa từng nghe ai nói rằng nịnh bợ, ve vuốt, dựa dẫm, ỷ lại tôn sư là hiếu bao giờ. 

Với người tu Phật chơn chánh, hãy nên cố gắng làm người đại hiếu với chư Phật, chư Thánh và tôn sư trước hết. Chừng nào vô duyên với Phật đạo lắm thì hẵn làm các hiếu thấp hơn. Nếu ai cũng làm được như thế thì lo gì  ngôi nhà chung Tam-Bảo không ngày một hưng long, Phật đạo ngày một sáng chói khắp các cõi nước, và chúng sanh các loài lo gì không được giải thoát, trở về lại chơn thể vô sanh. 

Đạo Phật là đạo tự giác. Tánh Phật thì ai ai cũng  tự gồm đủ mà không hề hay biết. Lại cũng chỉ có chính mình tự chứng ngộ tánh Phật của mình mà thôi, không ai chứng thế. 
Thí như người sáng mắt tự thấy biết như thật mọi cảnh sắc trước mắt. Người đui mù chỉ có thể nhìn thấy như thật nếu được chữa hết mù. Bằng dựa dẫm vào người khác, nhờ người khác nhìn thế, mô tả giùm thì đều không phải là cái nhìn như thật được. 

Trong việc tu hành cũng vậy, làm sao người khác có thể giác ngộ thế cho mình? Nhờ vào người khác, hay nhờ chữ nghĩa, kinh điển, tụng niệm, trì chú, hành thiền  vv…. vv….đều là phương tiện tạm mượn để ta nương đó tự hành trì mà đạt đến cứu cánh. Đến nỗi viết ra chữ, nói bằng lời, thấy bằng mắt, nghe bằng chính đôi tai của mình mà cũng còn khó nhận ra, huống là nhờ đỡ, trông cậy, ỷ lại, dựa dẫm vào người khác, thì làm sao đại sự của mình xong được? 
 - Một hôm Thần-Quang (Nhị-Tổ Huệ-Khả) tha thiết cầu hỏi Sơ-Tổ Bồ-đề Đạt-ma : - Pháp ấn của chư Phật con đây có thể được biết chăng? 
Sơ-Tổ đáp : - Pháp ấn của chư Phật chẳng phải từ người khác mà nhận được. 

Lời hỏi đáp của hai vị Tổ Tông Thiền đã xác quyết cho chúng ta một điều rằng, tu hành, chứng ngộ và giải thoát chỉ do một thân tâm này và cũng chỉ từ một thân tâm này mà được, chứ không phải từ ngoài vào, huống là cậy nhờ, ỷ lại hay nịnh nọt, a dua vào kẻ khác mà có chỗ sở đắc! Thật không thể nào. Với các Thầy, chúng ta nên tôn trọng, kính mến, và biết ơn bằng cái "tâm bình thường của đạo" mà không cần phải a-dua, nịnh nọt, vuốt ve . . . bỡi chính các Ngài cũng không muốn thế (nhưng không nỡ nói ra đó thôi, chỉ vì sợ làm phật lòng người, sợ làm thế chẳng đắc nhơn tâm!!!). 

Phải nhớ chắc một điều rằng, các Thầy là các Thầy, còn chúng ta là chúng ta, cũng có nghĩa là mỗi chúng sanh có từng duyên phước, nghiệp tội khác nhau, không ai giống ai, và cũng chẳng ai có thể cứu rỗi cho kẻ khác được, mà mỗi chúng sanh phải tự cứu lấy chính mình. 

Đức bà Ma-Da là mẹ sanh của Thái-tử Tất-Đạt-Đa, và cũng từng là mẹ của nhiều đời chư Phật trong quá khứ, được Đức Bổn-sư thuyết pháp cho nghe, tự tu hành và chứng quả giải thoát.   Ngài La-hầu-la là con đẻ của Phật, cũng theo Phật hành trì Mật hạnh trong mấy mươi năm, tự chứng giải thoát. 

Xem thế đủ biết Phật pháp chỉ độ cho người thật sự tu hành, tự tu, tự chứng, tự giải thoát ràng buộc sanh tử, chứ chưa hề độ cho những người mê mờ, cuồng tín, nịnh bợ, lười biếng, ỷ lại vào người khác bao giờ. Không ai có thể tu giúp, chứng giúp, ngộ giúp cho mình được. Đó là lẽ thật. 

Bỡi vì nếu có thể cứu rỗi được cho những chúng sanh khác, thì chư Phật nhiều đời trước ắc đã cứu hết thảy chúng sanh thoát khổ nhơn quả phiền não từ lâu rồi, đâu phải đợi đến thời Phật Thích-Ca giáng thế. Cũng như nếu Như-lai có thể cứu rỗi được chúng sanh thì hai ngàn rưởi năm trước, Đức Thế-tôn ắc đã cứu tất thảy chúng sanh thoát khỏi tử sanh nhơn quả từ khi Ngài còn tại thế, đâu cần đợi đến giờ này chúng ta phải tự tu tự chứng để cứu cánh vô sanh. 

Thế cho nên, hãy vì sự nghiệp giải thoát của chính mình mà tự nhìn vào trong để biện biệt đâu là chơn giả, chánh tà, ma Phật mà tất thảy đều trọn đủ trong một tâm này. Cũng như chỉ có nhìn vào trong mới có thể khám phá tánh thấy biết tuyệt đối, cũng là Phật tánh để không lầm nhơn quả, mà tự thăng hoa. Bằng cứ cột chặc với cái biết của tri thức cũng là vọng biết trong nhơn quả, biết theo cảnh ngoài, thì trăm đời ngàn kiếp không sao thoát khỏi cảnh giới hư vọng của nhơn quả sanh diệt trói buộc. Đó là lẽ thật. 

Lại nữa, đối với sự cao sâu không thể nghĩ bàn của Phật pháp, có ai tự nhận mình là đắc pháp đâu! Bỡi vừa khởi ý nhận có sở đắc, có chỗ chứng thì ngay đó đã chợt trái, đã đi vào nhơn quả liền. Đang-là, chơn như vô ngã, trước mắt tất thảy pháp không, chợt một niệm khởi sanh thì  cảnh giới nhơn quả ngay đó lập thành, liền tự có chỗ lặn ngụp, trói buộc. Biết lẽ duyên sanh vô ngã thì an trụ không chỗ trụ tức ngay đó giải thoát, tức ở bờ kia, tức tâm thường trụ, trụ vô sở trụ. Bằng vọng niệm có chỗ trụ tức chẳng phải là chơn trụ, chẳng phải là thường trụ pháp giới, mà là trụ vào chỗ tương đối, cũng là trói buộc vào nhơn quả, sanh diệt. 

Chỉ một niệm khởi là ngay đó một thế giới sanh diệt hiện thành. 

Cho nên, há chúng ta không nghe ngài Tu-Bồ-Đề đã trả lời Đức Phật một cách rốt ráo về chỗ tự chứng giải thoát của mình hay sao : “Bạch Thế Tôn!  Phật thuyết ngã đắc vô tránh tam muội, nhơn trung tối vi đệ nhứt, thiï đệ nhứt ly dục A-la-hán. Thế Tôn! Ngã bất tác thị niệm, ngã thị ly dục A-la-hán.  Thế Tôn ! Ngã nhược tác thị niệm : Ngã đắc A-la-hán đạo, Thế Tôn tức bất thuyết Tu-Bồ-Đề thị nhạo A-lan-na hánh giả. Dĩ Tu-Bồ-Đề thật vô sở hành, nhi danh Tu-Bồ-Đề thị nhạo A-lan-na hánh.”

 “ Bạch Thế Tôn ! Phật nói con được pháp vô tranh tam muội, đối trong loài người là đứng bậc nhất, mà cũng là bậc ly dục A-la-hán thứ nhất nữa. Bạch Thế Tôn! Con chẳng nghĩ tưởng như vậy, thì con mới thiệt là bậc ly dục A-la-hán.
 “ Bạch Thế Tôn ! Nếu con có nghĩ tưởng như vầy : Con được đạo quả A-la-hán thì Thế Tôn ắc chẳng nói rằng Tu-Bồ-Đề này ưa thật hành hạnh A-lan-nhã.  Bỡi Tu-Bồ-Đề này thật không có cái chi gọi là sở hành, nên mới nói Tu-Bồ-Đề ưa làm theo hạnh A-lan-nhã vậy.”

Một câu của Ngài Tu-bồ-đề trong kinh Kim-Cang vừa trích dẫn đủ nói lên hành trạng của một bậc đắc pháp, lìa tất thảy tướng, thanh thoát, tự tại, vô ngã, vô vi; lại cũng có thể dùng nó để trả lời cho câu hỏi đầy vướng mắc, trói buộc của Bạn ở trên kia, lại cũng có thể dùng nó làm tiếng chuông để tỉnh thức những người mê mờ, cầu Phật ngoài tâm, chạy theo hình tướng. 

Lại nữa, trong đây có đề cập đến hai từ kiến tánh; nhưng thật ra có tánh gì để thấy mà nói kiến, và ai kiến trong đây?  Chợt ngộ tánh thì ngay đó cóù gì là hai trong chỗ hoàn toàn độc diệu đâu để mà nói có với không, kiến với không kiến, có tánh với không tánh.  Là Pháp tánh như-thị. Như-thị Pháp tánh. Chỉ thế mà thôi.  Trọn độc hữu thì đâu còn đối đãi để có thể nói thấy với không thấy, thực có gì là năng kiến, sở kiến trong  đây ?  Tất thảy đều chỉ là mượn từ lập danh để tải đạo mà chỉ chỗ vô sở trụ, vô sở đắc, vô sở thuyết, bất khả tư nghì màthôi. 

Chỉ có “uống nước nóng lạnh tự biết” là câu trả lời tạm gọi là chân thật nhứt cho người thật tu.

Xem Tiếp Trang 6


c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap