THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
c
VIẾT CHO NGƯỜI CÒN NHIỀU TRÓI BUỘC 
Cư-Sĩ Nhuận-Bảo
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
b) - Bạn tu Thiền, tuy có lâu thật đấy, nhưng chưa sáng được bổn tâm, chưa tỏ rõ bổn tánh, nên qua câu hỏi trên, tự minh chứng rằng chỗ thấy, nghe, hay, biết mà Bạn đang chấp thủ còn nhiều trói buộc phàm tình, là chỗ thấy nghe của quan năng thức ý huyễn sanh huyễn diệt, cột buộc với khái niệm tương đối trong nhơn quả, vì nó thiệt đang câu hữu với vô minh, vọng nghiệp  sanh tử. 

Do còn nặng chấp ngã, phân biệt phàm tình nên chính Bạn mới đáng bị gọi là người còn vọng tâm ngã mạn, sân si, cao ngạo, chứ không ai khác vào đây. Bỡi chỉ một niệm sanh khởi là các pháp sanh diệt trói buộc tức khắc hiện diện trọn đủ. Vì tất thảy pháp pháp đều do một tâm này mà ra. 

Bằng một khi đạo tâm đã sáng, tỏ rõ tánh thấy biết chơn thật tự tại, đã thiệt thể hiện vô ngã, vô chấp, ngọai duyên chẳng dính, lần đến bặc tuyệt, tự tánh phô bày; tự sống chân-thật với chính Bạn cũng là sống không rời lìa tự tánh Phật chúng sanh, nhứt niệm tròn đầy sáng trong, cũng chính là tự một cùng Đạo, thì chừng ấy đối với Đạo pháp, với tự tánh Phật mà chính bạn ngay ấy đang-là, thì thiệt còn có chỗ nào có thể phân biệt thấp cao, phải trái, mau lâu, non già, phàm thánh, tôn hạ vướng víu nữa chăng ?  Cũng như đối với vạn pháp nổi trôi biến hiện, mất còn trước mắt Bạn, tự chúng có chỗ nào can hệ, dính dấp tới mình chăng, hay thiệt lý là nhứt thiết pháp không, vô ngã duyên sanh, tùy duyên bất biến, mà tự tại đến đi không chi trói buộc?  Bất biến mà vẫn cứ tuỳ duyên, sanh khởi vạn pháp, rõ như thật vạn pháp tánh thiệt vốn không, nhứt thiết pháp vô ngã, vô ngã tùy duyên sanh khởi vô lượng vô biên đến bất tận, bất tận tận mà tự không chỗ buộc ràng. 

Một khi phàm tâm đã triệt tiêu, tự tánh đã sáng tỏ, lại sống trọn được trong nó cũng là nuôi dưỡng nó, không rời lìa nó, thì khi ấy dẫu Bạn có làm gì, nói gì cũng trúng, cũng không ra ngoài dòng đạo pháp. Và dẫu có ai thấp ai cao, ai tôn ai hạ, ai chê ai khen cũng mặc, bỡi chẳng chút can hệ; Bạn chỉ vì lòng từ thương khắp chúng sanh mà làm, mà không làm, mà nói, mà nín, mà chỉ bảo, cũng là thật hành các hạnh lành để cứu độ chúng sanh, để trả ơn chư Phật trong muôn một mà thôi. Còn những lời chê khen, đàm tiếu kia thì hoàn toàn chẳng chút can hệ tới tự tánh Phật mà Bạn ngay ấy đang-là. 

Chỗ biết rõ như thật không gì can hệ, lại làm tất thảy mọi hạnh lành vì lợi tha cứu độ mà không khởi một niệm phân biệt nào, khiến có thể làm lu mờ tự tánh, thì chỗ làm đó chính thiệt là hạnh lành vô vi, vô ngã, vô pháp, đang nuôi lớn thánh thai mà bạn tự trưởng dưỡng cho sự nghiệp giải thoát của mình ở vị lai vậy . 

Tới chừng ấy, tu lâu hay mới tu, ăn chay hay không ăn chay, thậm chí đến pháp Phật đối với Bạn cũng đều vô nghĩa, vì tự rõ tất thảy đều là pháp phương tiện (giả lập) mà bậc Đại-Giác đã tạm cho mượn trong nhứt thời, để giúp người ngoảnh đầu thấy Phật, cũng là từ chỗ chúng sanh đang sống trong mộng, sang thức tỉnh để tự tại mà thôi. 

Tới đó thì với Bạn làm gì, nói gì cũng đều hợp Đạo cả; nói "hợp" lại cũng chỉ là tạm mượn từ để tải đạo, chứ thật ra cũng chẳng có gì để nói hợp với chẳng hợp trong chỗ độc diệu, tuyệt vô đối đãi, một mẩy chẳng dính dấp, chẳng liên quan, vì trước mắt  pháp tánh bình đẳng, dung thông, không sở không năng, chẳng hai chẳng khác. 

Chỗ thấy biết của Bạn khi ấy hoàn toàn sáng suốt, chính thiệt là tánh thấy, tánh biết của tự tánh Phật chúng sanh, tự tại vô ngã, tận khái niệm, vượt thoát tri kiến phân biệt phàm tình, không ràng buộc, không can hệ với bất cứ một pháp nào, chứ không phải không gì can hệ mà lại khởi niệm trói buộc, tự chuốc lấy nhơn quả vào mình, để rồi phân biệt dở hay, tốt xấu, thấp cao, hèn quí, tại gia xuất gia, tu lâu mới tu, thượng tọa hạ tọa, ... vướng-víu, ràng buộc trong sanh diệt pháp như Bạn bây giờ. 

Một khi sáng tỏ tự tánh, ngay đó, chỉ sát-na, vạn pháp tự như trước mắt Bạn, chẳng gì dính dấp, chẳng gì can hệ.  Thí như bụi bặm trong ánh sáng. Các pháp tướng hư huyễn ví như bụi băm. Bụi bặm tự biến hiện, lên xuống, lại qua, mất còn trong ánh sáng, mà ánh sáng thì vẫn cứ tự như, không thêm không bớt, không mất không còn, không sáng hơn, không tối bớt, chẳng gì dính dấp. 

Đến chừng ấy, sẽ chẳng còn điều gì làm cho Bạn phải e ngại, sợ sệt, hay phải a dua hay tự ti, hoặc nên phân-biệt kẻ cao người thấp, kẻ sang người hèn, kẻ tu lâu, người mới tu, kẻ nên tôn người nên hạ, hay cái gì lợi cái gì hại nữa cả. Ngay đó Bạn liền tự thấy biết như thật rằng, cái hình hài mà từ lâu Bạn trân trọng, yêu mến, giữ gìn, ngàn lần không muốn mất nó và tự nhận là thật Bạn đó, thiệt nó đã sống đui mù trong mộng mị, như một khối lông tóc thịt xương dơ dáy biết cử động vì bị vô minh, vọng thức, vọng nghiệp giật dây, bị sai khiến, cam chịu sống chết, chết sống theo nghiệp thức huyễn hoặc, hư dối dẫn dắt, xô đẩy, tự không làm chủ được mình, mà trước đây Bạn đã từng an ủi chính Bạn, gọi đó là số phận, là kiếp người của mình đó. Cái hình hài đó không đáng ba xu, thế mà trước đây Bạn đã tôn thờ nó, hệ lụy nó, làm nô lệ cho nó. Không một việc gì nó sai khiến mà Bạn không làm để thoã mãn tánh tham lam, mê si, sân giận của nó. Nó là kẻ vị ngã, ham danh hám lợi, tự cao tự đại, ngu mê sân giậïn, không thiếu một thói hư tật xấu nào. Còn chính Bạn trước đây lại là kẻ nô lệ cho nó, bị nó sai khiến từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, không lúc nào ngưng dứt. Đến Bạn ngủ nó cũng còn sai khiến nữa. Chỉ đến khi ngủ mê không mộng mị là may ra Bạn có thể  thoát khỏi sự kềm tỏa của nó trong chốc lát, nhưng đó cũng chỉ là chỗ thoát nạn giả tạm mà thôi, vì tâm thức vẫn còn câu hữu với vô minh. 

Đến chừng đó Bạn mới thấy biết như thật rằng, chỗ thấy nghe hay biết của Bạn trước kia chỉ là chỗ vọng nghe, vọng thấy xuất sanh từ  tâm thức sanh diệt do vọng nghiệp  dẫn dắt mà thôi. Chỗ thấy biết trước kia là thức, tưởng sanh diệt kết buộc trong vô minh, nhơn quả. 

Tới chỗ đó, Bạn như chiêm bao chợt tỉnh, biết như thật một sát na trước tự lầm nên mới bị kết buộc trong sanh diệt pháp, bị vọng thức vọng nghiệp lôi kéo, xỏ mũi dẫn dắt để cùng sống chết chết sống với nó. Một sát na sau chợt tỉnh, hết lầm, liền thấy mình đã tự vượt thoát sang bờ kia, làm chủ một ông chủ tuyệt đối, chân thật, không sanh không diệt, tự tại an nhiên, không lầm nhơn quả. Vạn pháp trước mắt cứ tuỳ duyên huyễn sanh huyễn diệt, mà chẳng chút dính dấp, ràng buộc, can hệ tới mình. 

Ở đây có nói tới hai chữ "bờ kia" cũng là tạm mượn từ để nói chứ thật không có bờ kia, bờ này . Bờ kia tạm chỉ trạng thái giải thoát buộc ràng của nhơn quả, tử sanh, trở về diệu tánh hằng hữu, chơn như tự tại phi nhơn quả, phi sanh diệt. Thí như ngủ mê chợt tỉnh, giữa tỉnh và mê thiệt chẳng có bờ nào. 

Đến khi đó, Bạn làm, Bạn nói, Bạn bày vẽ bằng mọi phương tiện mà Bạn có thể làm,  để tuỳ duyên giúp chúng sanh đoạn lìa tử sanh phiền não mà chẳng gì dính mắc, ràng buộc tới Bạn, chẳng chút gì có thể gọi là có lợi hay có hại cho Bạn cả, cũng chẳng còn thấy có chỗ nào phân biệt tu lâu hay mới tu, chẳng ai cần phải tôn cao, chẳng ai cần phải hạ thấp xuống, mà tự tỏ rõ tất thảy chúng sanh hữu tình bình đẳng trong tánh Phật, vì mỗi mỗi hàm tàng pháp tánh như-thị. 

Với Bạn lúc đó, làm mà thật chẳng có gì gọi là làm, nói mà thật chẳng có gì để gọi là nói, vì chỗ làm mà vô vi không rời lìa tự tánh, làm trong tánh sáng uyên nguyên vô phân biệt, nói mà không khởi vọng niệm trói buộc với sanh diệt pháp, luôn từ tự tánh mà nói, vì đã tự thể hiện không tâm, bình đẳng, thật tướng vô tướng, vô ngã, vô vi. 

Tới đó, Bạn là tất cả, tất cả là Bạn; Bạn là độc hữu, chơn như, không đến không đi, không còn không mất, mà chính Bạn cũng là một phần vi tế nhất trong chỗ "một" thật hữu diệu mầu, vì diệu tánh của Phật tâm chơn như vô ngã mà khéo sanh chỗ động tay múa chân, mở miệng, nhắm mắt, nói năng, đi đứng trong cảnh giới nhơn quả, để mượn nó làm tất thảy các hạnh lành mà nuôi lớn thánh thai, vừa phương tiện giúp người giác ngộ Phật-đạo, để tỏ lòng biết ơn chư Phật đã vì chúng sanh trong đó có Bạn, mà từ lâu đời các Ngài phải bôn ba vất vả thị hiện hoá đạo khắp các cõi nước. 

Tới đó Bạn tự rõ như thật thế nào là vô ngã duyên sanh, pháp tánh như-thị. Vì đâu mà nhứt điểm linh quang hốt sanh vạn pháp, vì đâu mà vạn pháp trở về một tất tâm mầu. Tại sao một hạt cải mà dung chứa cả Đại Tu-di. 

Tới chừng ấy, Bạn phát tâm bi cứu độ chúng sanh, làm tất thảy việc mà nhứt niệm không rời lìa tự tánh, hoàn toàn khác xa những việc Bạn đang nói, đang làm, đang nghĩ  như bây giờ đây, như là phân biệt thánh phàm, thiện ác, bỏ vọng tìm chơn, cầu chứng quả vị, tu mau mới tu, tôn quí hèn mọn, so đo lành dữ, cao thấp, giàu nghèo, suy tính lợi hại, sợ mếch lòng người này, sợ chạm tự ái người kia, dựa dẫm ỷ lại, bợ đỡ người này người nọ vv….  những việc như thế thật khó xảy ra cho Bạn khi đó.  Bỡi ngay trong ấy, chẳng ai dại gì đem da thịt tốt xinh lành lặn lại tự mổ xẻ ra cho lở lói làm gì; nghĩa là tự Bạn hiện tiền trong Đạo, hay nói cách khác chính Bạn tự thể hiện vô ngã, vô vi, cùng  đạo lớn không hai không khác. 

Thế nên, đối với chỗ tột cùng, cũng là Đạo, thì những gì Bạn vừa hỏi ở trên kia, chẳng chút dính dấp, chẳng may may can hệ. Bỡi cớ sao ? Ví tâm Bạn như hư không, hàm chứa tất thảy pháp, nhưng có pháp nào có thể làm chướng ngại được hư không chăng ?  Bỡi pháp-tánh như-thị, như-thị pháp-tánh. Tới đây đành chịu gãy răng, đứt lưỡi mất rồi. 

Ở câu hỏi trên, rõ-ràng Bạn tự hào về việc tu lâu, ăn chay trường cả đời, thông kim bác cổ, hiểu rành kinh-điển, biện-thuyết giỏi giang. Nhưng những việc này, đối trong chỗ cùng tột của đạo pháp, thực sự chẳng liên quan, chẳng dính dấp tới; tự chúng cũng chỉ là thuyền bè tạm mượn để qua sông mà thôi, chứ tự chúng chẳng phải là bờ kia. Thấy, nghe, hay, biết mà Bạn đang chấp thủ đó chẳng phải là cứu cánh tự chứng giải thoát mà là mượn dây tự cột mình cho chặc thêm trong nhơn quả. 

Bằng nếu muốn nói đến chỗ giải thoát, thật sự giải thoát, thì ngay trường hợp của riêng Bạn, trước hết nên biết phải tự giải thoát tức khắc khỏi mớ "tri kiến giải thoát" mà Bạn đã tạm mượn, thay vì dùng nó làm phương tiện, Bạn lại giữ phương tiện làm của riêng. 

Một mai Bạn nhận ra đâu là bờ kia rồi, lại cũng phải tự giải thoát ngay khỏi cái "bờ giải thoát kia" nữa thì mới tạm gọi là được giải thoát. Còn nói giải thoát "rốt ráo" thì cũng chỉ là mượn từ "rốt ráo" để lập danh, chỉ chỗ vô sở đắc, vô sở trụ, bất khả tư nghì mà thôi, chứ nói không thể tới vậy.

Những người có trí tuệ như Bạn, ví như được phước lớn nên có cái bè tốt, còn những người thiểu trí hơn có thể ví như được cái bè kém hơn, nhỏ hơn một chút, nhưng cả hai vật đều có cùng một công năng là đưa người sang bờ kia. Nhưng phải biết rõ một điều là dùng bè chỉ cốt để qua sông chứ không phải dùng nó làm của riêng, của quí mà sơn phết, cất giữ hay dùng làm vật gia bảo để trưng bày, thưởng lãm. 

Chưa qua được sông thì tạm mượn bè, dùng nó làm phương tiện để tự chèo chống mà cố vượt qua bờ kia. Không nên vì  tríu mến cái bè quí, tốt do công sức và thời gian mà mình đã bỏ ra tạo nên nó, được nhiều người khen tốt, khen đẹp mà chấp thủ nó, khư khư ôm giữ nó làm của riêng, ắc phải cùng hư nát, mục mĩu, tiêu ma với nó. 

Chợt qua được sông thì liền bỏ bè lên bờ, dù cái bè ấy có quí có đẹp tới đâu cũng phải lìa bỏ, chớ có lụy (vị ngã, chấp ngã, chấp pháp) mà kè kè cõng nó theo, ắc phải cùng nó chìm vào tử sanh nhơn quả vậy. Bỡi thế, không nên chấp thủ, tự hào về tri kiến bác học của mình, dù là tri-kiến giải-thoát tối ưu đi nữa. Bậc Đa-văn Đệ Nhất thời Chánh-Pháp là Tôn-giả A-Nan mà còn bị Đức Phật quở là chướng ngại, huống là thời mạt pháp lại có người chấp ngã, chấp pháp, lại hãnh diện về đa tri-thức, há không phải càng bị chướng hơn ư ? 

Trong câu hỏi trên, Bạn so đo, phân biệt cao thấp hơn thua giữa người xuất gia và tại gia, tu lâu và mới tu, ít học và đa tri kiến, rồi khởi vọng khen chê, hay dở, phải trái, nên và không nên.  Thật ra những điều ấy có can hệ gì đến việc sáng tánh Phật là mục đích tối hậu của từng căn cơ phúc phận, có duyên tu và có duyên thâm nhập với từng pháp môn vi diệu của Đức Phật đâu ? 

Tạm thí dụ như có người giàu tri kiến, thông kim bác cổ, làu thuộc kinh điển, giảng pháp như nước chảy, trường trai hằng ba, bốn mươi năm, thường ngồi thiền không mỏi mệt; tuy miệt mài trong thời gian lâu nhưng vẫn chưa sáng tỏ bổn lai tự tánh, xưa nay vẫn cứ như con mọt kinh, mọt sách, ngồi Thiền mà vọng niệm sanh khởi trùng trùng hết lớp này đến lớp khác như biển động sóng trào, đem ví với người ít học, chỉ biết sáu chữ Hồng-danh Di-đà Thế-tôn mà trì niệm; người này hết lòng đặt niềm tin nơi thầy, cả quyết tin Tổ, Phật, chuyên chú cần mẫn, ngày đêm tâm trí không rời lìa sáu chữ, niệm đến nhứt tâm bất loạn, niệm đến sáng tánh Di-Đà, được tự tại  ngay trong đời này mà không cần phải đợi đến chết mới được chư thánh thị hiện rước về cõi Cực-lạc phương Tây; thế thì thử hỏi giữa một ông đa văn bác học, tu lâu và người kia, ai đã hơn ai nào?  Hay đem ví với người chỉ biết trì niệm một câu chơn ngôn của chư Phật, một lòng tin tưởng Phật tại  chơn ngôn, dồn hết thân, khẩu, ý vào thần chú, niệm niệm đến tam mật tương ưng, linh-quang hốt nhiên bừng sáng ngay trong đời này. Thế thì thử hỏi giữa một ông đa văn, bác học, tu lâu và người ít học chỉ biết trì niệm mật ngữ kia, ai đã hơn ai nào? 

Tuỳ căn cơ, trí tuệ, nghiệp duyên, tội phước của mỗi chúng sanh mà Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni đã phát minh ra hằng vạn pháp-môn để đối trị với ngần ấy trần lao, nghiệp thức của chúng sanh cõi này. Pháp của Ngài và của ba đời chư Phật đều như nhau, nghĩa là cũng không ngoài mục đích tối hậu là chỉ cho chúng sanh giác ngộ Phật tri-kiến, cũng là ngộ tánh Phật, mà tánh này thì ai ai cũng tự gồm đủ, ai ai cũng tự sẵn có nhưng không tự hay biết vì nghiệp thức vô minh che lấp. 

Mỗi chúng sanh tuỳ duyên mà thâm nhập một pháp trong muôn, vạn pháp của Thế-tôn đã phát minh; lại cũng tuỳ phước đức, trí tuệ từng của người mà chỗ tạm gọi là "sở đắc" có mau chậm, cao thấp khác nhau. 

Sở dĩ chúng tôi dùng từ "tạm gọi" vì sợ rằng nếu có ai đó còn tâm chấp tướng, liền cho rằng thiệt có chỗ sở đắc thì sái. Bỡi còn có năng đắc, sở đắc là còn bị ràng buộc trong nhị nguyên nhơn quả, trong sanh diệt hai bờ. Chỉ đến trạng thái tâm linh "đắc vô sở đắc, trụ vô sở trụ" - được chỗ không gì để được, trụ chỗ không chỗ trụ cũng là an trụ pháp giới thường trụ, cũng là sáng tỏ pháp tánh như thị, như-thị pháp tánh, thì mới là chỗ giải thoát triệt để, rốt ráo của người tu Phật. 

Bỡi vậy không nên tự hào rằng mình tu lâu mà chê bai người mới học đạo. Hoặc là nghĩ mình thông kim bác cổ, kinh điển thuộc làu, không chi không biết mà chê người khác không biết gì  nhiều về Phật pháp như mình, hay chê bai người chỉ biết niệm Lục tự Di-đà, hoặc chỉ biết niệm một câu chơn ngôn nào đó của chư Phật là thua mình, chẳng bằng mình. Do lầm nên Bạn mới nghĩ là mình có chỗ biết rành về Phật pháp đó thôi. Chứ đối với chơn pháp, thiệt chẳng phải như Bạn nghĩ. Bỡi "không một pháp khởi sanh, không một pháp khởi diệt, ngay đó là Phật pháp" . Thế thì chỗ Bạn vọng niệm đó có chút nào dính dấp tới Phật pháp, cũng là Trung-đạo chăng? 

Biết nhiều bằng thế trí cũng chỉ là cái túi sanh diệt chứa tri kiến sanh diệt, phải đến đi ràng buộc với nhơn quả sanh diệt, chứ nào có ích gì. Ngược lại, chỉ cần được một lần "biết chân thật" trong đời, biết bằng tánh biết tuyệt đối thì liền ngay đó tất thảy có trọn, sáng suốt không lầm, vượt lìa nhị nguyên, tự tại giải thoát; liền tự biết vạn quyển trăm kinh, thảy thảy pháp-môn cũng chỉ có một chỗ khai mở mà thôi, đó là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri-kiến; cũng ngay ấy liền biết rõ như thật, chỉ vì mỗi mỗi chúng sanh trong nhơn quả có từng căn cơ, phước nghiệp, duyên phận khác nhau mà Phật mới có hằng vạn pháp môn tương ứng để khai thị. 

Biết nhiều hay biết ít đều là phương tiện. Vì nhiều hay ít của hữu vi pháp không liên quan gì đến sự bùng vỡ của tự tâm, nếu còn chấp thủ vào chỗ ít nhiều mà không biết nhìn ngược để rồi buông tay vào hố thẳm không đáy của tự tâm, cũng là dũng mãnh vượt khỏi đầu sào trăm trượng để tự chứng nhập vô sanh. 

Bỡi thế nên khi Lâm-Tế chợt ngộ tánh ở chỗ Đại-Ngu, ngài Lâm-Tế đã thốt lên :"Phật pháp Hoàng-Bá không nhiều !". Bạn thấy chưa ? Không nhiều hay ít cũng cùng một nghĩa. Aáy là vì Lâm-Tế đã nhận ra hàng vạn chìa khoá nhưng chỉ có một chỗ mở, hàng vạn con đường nhưng chỉ có một chỗ đến.  Thì ra tâm trạng lâu nay của ngài Lâm-Tế là tìm Phật tìm Pháp ngoài tâm bằng vọng biết vọng thấy của tri kiến. Đến khi được Đại-Ngu dùng mấy lời khai thị, tánh thấy biết chơn thật cũng là Phật tâm chợt sáng, nên liền thốt lên, Phật pháp Hoàng-Bá không nhiều, cũng là minh xác pháp Phật tuy có hằng vạn nhưng chỗ ngộ nhập chỉ một, cũng là nói lên mình đã tỏ tánh. Chẳng phải pháp, chẳng phải chẳng phải pháp, là Phật pháp, thì có gì là nhiều hay ít trong đây. Ai là nguời có thể tham đến sáng tỏ câu nói bất chợt này của Lâm-Tế, ắc cũng có chỗ dành sẵn cho người ấy, cùng pháp giới đang-là đồng nhứt thể, là sáng tỏ pháp tánh như- thị. 

Thế nên đối với Phật đạo, người có ý nghĩ tự hào về tri thức bác học của mình, cho chúng ta liên tưởng tới hình ảnh một người mù đặc, coi cây gậy dò đường như con mắt, nên mới rất hãnh diện về cây gậy của mình. Thật tội nghiệp biết bao. 

Phải luôn ghi nhớ một điều là, pháp môn nào của Đức  Phật cũng đều dẫn dắt chúng sanh đến một chỗ như nhau là nhận ra tự tánh Phật để cứu cánh giải thoát, vì hữu tình chúng sanh ai ai cũng đồng một tánh này. Chỉ vì mê nên lầm biết mà tự sái, phải trói buộc với nhơn quả. Hết mê chợt tỉnh thì liền hết lầm. Hết lầm cũng là tánh biết tuyệt đối hiển hiện, thì tự sáng suốt mà không lầm nhơn quả. 

Tự tánh Phật chưa hề dấu che, cũng chưa hề đóng mở với riêng ai, mà luôn rỡ ràng trước mắt, trong mọi hoạt dụng hàng ngày, ngay trong giòng sống, nhưng hiếm người tự tỏ, vì vọng tâm phân biệt, chấp ngã, chấp pháp, vì vô minh che lấp, làm mờ tánh này. 

Cho nên, người tu lâu mà chưa khám phá, chưa thâm nhập "một" đồng tự tánh Phật thì có gì hay ho đâu mà đem chỗ ngày dài, tháng rộng vướng mắc trong nhơn quả ra khoe khoang, tự hào, nếu không muốn nói đó là người ngủ mê lâu. Người ngủ mê lâu có thể là do nghiệp nặng, quả xấu, ít từng gieo căn lành trong quá khứ nên mới nhận cái quả ngủ mê lâu hơn người, thế thì có gì tốt đâu mà khoe mình tu lâu hơn người khác. Ngược lại, người tuy mới biết tu, ăn rau cỏ chỉ dăm ba năm, nhưng căn cơ trí tuệ, phước duyên gồm đủ, đã từng nhiều đời nhiều kiếp gieo trồng không biết bao nhiêu căn lành; đến đời này phát tâm cầu giải thoát, thì cũng là lúc nhân duyên vừa kịp chín muồi nên chỉ cần thấy, nghe hay được đọc một bài pháp đốn giáo nào đó thì hốt nhiên tỏ ngộ tánh thật, cũng là chuyện thường xảy ra cho người cầu đạo xưa nay mà thôi. 

Đối với sự bất khả tư-nghị của Phật pháp, chỉ một loáng trong sát na tự tâm chợt bùng vỡ, tất cả tri kiến thế gian tự cháy tiêu không lưu dấu tích, ngay đó tự sáng tỏ “bổn lai diện mục” của chính mình. Cho nên không thể căn cứ vào việc tu lâu hay mới tu để đánh giá việc thể nhập đạo pháp, mà chỉ nên tuỳ duyên và y cứ vào việc có chọn được cho mình một pháp thích hợp hay không, tự mình có thật tu hay không, có thật sự buông bỏ và cắt đứt tận gốc rễ tất cả các pháp trói buộc của thế gian hay không, có biết chăm bẳm quay vào chính mình để tìm ra lẽ thật hay không, có bậc thầy đắc pháp hướng dẫn tâm linh hay không, và nhất là duyên lành đã đủ chín muồi để cho quả công đức là kiến tánh chưa mà thôi. Với sự vi diệu không thể suy lường của Phật pháp, thời gian không hẵn là yếu tố chính để thể nhập đạo pháp như  Bạn tưởng. Chỉ một thoáng liền có thể nhận ra, mà trăm đời, ngàn kiếp không nhận ra cũng chính ngay tại đó. 

Xem Tiếp Trang 5


c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap