THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
c
VIẾT CHO NGƯỜI CÒN NHIỀU TRÓI BUỘC 
Cư-Sĩ Nhuận-Bảo
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
II.  Qua câu hỏi trên của Bạn, chúng tôi chia ra làm bốn phần để giải quyết giúp Bạn từng thắc mắc một cho thật rõ ràng. 

a) - Bạn nói rằng, Bạn tu Thiền trong một thời gian dài, cũng như hàm ý tự hào về chỗ "tu lâu", ăn chay lâu hơn người, lại thông kim bác cổ, làu thuộc kinh điển nữa, nhưng tự thân đối với Đạo, Bạn thấy chưa có chỗ thấm tháp gì ! 

Cũng phải thôi. Làm sao có chỗ "thấm tháp" với Đạo trong trường hợp của Bạn được. 
Bỡi vì, một chúng sanh chào đời, bất cứ loài nào, tức là nhận nghiệp thức làm thân  sanh diệt trong nhơn quả. Khi vừa có chút ít tri thức, tức cái "biết lầm" của tri kiến do nhơn duyên vọng lập, cũng là vọng thức sanh diệt, tức cũng là chúng sanh ấy tự rời lìa ngày càng xa tánh biết tuyệt đối phi sanh diệt vốn tự sẵn có xưa nay để biết, khiến thân tâm chúng sanh ấy ngày càng trói buộc theo các pháp vọng trong cảnh giới nhơn quả hư huyễn của từng loài. Tự thân chúng sanh, tướng thật vốn dĩ không tướng. Thảy thảy các pháp, tướng thật vốn dĩ không tướng. Vì lẽ vô ngã duyên khởi mà cảnh cảnh, sự sự, vật vật lập thành, nên nói thật tánh tất thảy pháp vốn thiệt không tánh. 

Do phàm tâm bị "biết lầm" nên mê mờ điên đảo, vọng thành chủ khách, chạy theo ngoại cảnh, nên tứ tướng liền trọn đủ. Đến khi càng lớn, vọng biết càng nhiều (cũng là tri thức sanh diệt), thì chúng sanh ấy càng trói buộc với các pháp vọng trong nhơn quả nhị nguyên ngày càng chặc hơn, nghĩa là càng xa lìa  tánh biết chơn thật hơn. 

Thế nên trong đây, thay vì mượn pháp Phật (Tri-kiến giải thoát) làm phương tiện để soi rọi mà ngộ ra tánh thấy biết chơn thật để khỏi lầm nhơn quả, cũng là "thấm tháp" một với Đạo, thì bạn lại làm ngược lại, chấp thủ và trói buộc quá chặc với thế pháp, với khái niệm nhơn quả nhị nguyên, với phàm tình phân biệt, khiến càng rời lìa tánh biết tuyệt đối càng xa hơn nữa, thì đối với đạo làm sao có điều kiện để có thể dung thông, thâm nhập, thấm tháp với Đạo được. Có khác nào như đôi chân của Bạn, vốn dĩ không nhảy cao quá ba thước, nay lại cột buộc thêm hàng tạ sắt vào thân mà muốn bay lên không trung, thì điều ấy khó thành hiện thực. 

Đây là tự thân Bạn làm khổ chính Bạn mà không tự biết, chứ chẳng có ai vào đây? Bằng chứng chính là câu hỏi đầy trói buộc của Bạn ở trên. 

Do tâm mê kết buộc chặc chẽ với các pháp hữu vi, nên tự thân chưa thể rời lìa, chưa vượt thoát khỏi sự trói cột của kiến chấp "Ngã-Pháp", còn coi ngã này, pháp này làm thiệt có; cũng có nghĩa là vì còn vọng chấp cái thế giới tương đối của nhơn quả sanh diệt mà mình đang sống đây làm thiệt có, nên mới vọng niệm thấy có tất thảy mọi pháp tướng tuơng quan, đối đãi, hiện diện trước mắt : có người có ta, có kẻ cao người thấp, có sang có hèn, có tu lâu và mới tu, có người tôn quí cần phải được đội lên đầu, có người bé mọn phải bị đặt dưới chân, có thầy thợ, búa rìu, có ông Lỗ-Ban, có người học mộc, có ngựa già, ngựa non, thị-phi trùm khắp . 

Tuy tu lâu nhưng tự thân chưa cắt đứt hết phàm tâm trói buộc, còn chấp ngã, chấp pháp, nên mới vọng khởi phân biệt chạy theo khái niệm tương đối của nhơn quả để tự cột mình vào các pháp tướng hư dối, huyễn vọng như cao thấp, lâu mau, sang hèn, thượng toạ hạ tọa, đại đức tiểu đức, tại gia xuất gia, chực chờ ra vào trong tử sanh phiền não do vọng thức, vọng nghiệp dẫn dắt. 

Cho nên cũng không trách gì khi Bạn khởi vọng phàm tình, vì yêu nên mới tôn người này lên cao, do ghét nên mới hạ người kia xuống thấp; vọng khởi tự ti, nhu nhược khi thấy các thầy kia cao trọng tôn quí; vọng khởi ngã mạn, cao ngạo khi thấy mình tu lâu, đa văn tri thức hơn người, hoặc xem người mới tu là những kẻ không biết gì . Do đó mà khởi niệm chấp ngã, chấp tướng, phân biệt, rằng mình hơn người mọi mặt thế mà với đạo chẳng biết chút gì, còn những người mới tu có chỗ khác với Bạn thì liền bị Bạn trách cứ. 

Với tâm chấp ngã trói buộc, của tôi là thiệt, là nhứt, chẳng phải của tôi đều là giả, đều kém hèn nên dù những vị mà Bạn nghĩ là đáng tôn, đáng kính kia có nói, có dạy, có làm điều gì không đúng pháp hay ra ngoài giòng đạo pháp đi nữa thì cũng không ai được phép sửa sai, chỉ bỡi một lý do rất đơn giản là tâm Bạn đang mê vì chấp ngã, chấp pháp và cũng tự trong mê mờ Bạn đã phong thánh cho những ai mà Bạn ưa thích, và tự cột buộc mình với các thánh làm "một" . 

Với những vị thánh đã được cột buộc chắc chắn trong tâm tưởng của Bạn, cũng như Bạn tự "một" nguyện cùng sống chết với họ, thì có lẽ theo ý Bạn, chỉ vì những con người phàm tục nhỏ nhoi, trí tuệ cạn cợt, tu chưa lâu, chưa nhiều đã không hiểu nổi các thầy ấy làm gì, nói gì, dạy gì  mà thôi, chứ  làm gì có chuyện các thầy ấy dạy sai, nói sai, tu sai hay làm sai bao giờ, bỡi họ là thánh của Bạn kia mà. 

Do đó, mặc dù hoàn toàn không hiểu hết những gì các thầy ấy đã chỉ dạy, sai đúng ra sao cũng không biện biệt được, chỗ dạy chỗ làm ấy có tương ưng hay đi ngược lại với giáo pháp của Như-lai hay không, Bạn cũng không hay; Bạn chỉ biết nhắm mắt nhắm mũi đi theo, dẫu bị dẫn đi lòng vòng không có lối thoát cũng mặc, cứ một mực mê mờ tin tưởng tuyệt đối, phó thác thân tâm này cho thầy dắt đi đâu thì dắt, mà không cần phải suy nghĩ, lý lẽ biện biệt lôi thôi, cũng như không cho phép ai được phê phán những gì thuộc về bạn, có liên quan đến bạn . 

Lại nữa, chính Bạn cũng không hiểu thấu, hoặc cũng không muốn hiểu, hoặc không cần tìm hiểu những gì người khác biện biệt, chỉ ra giùm chỗ đúng sai ở pháp hành hay pháp dạy người của các vị thầy đó có tương ưng hay nghịch lại những lời dạy của Đức Thế-tôn hay không; thế nhưng Bạn và những người như Bạn do nặng chấp ngã, chấp pháp, nên vẫn cứ gân cổ lên nói càn, nói không lý lẽ, nói cho có nói, chỉ cần lên tiếng cho nhiều mồm nhiều lưỡi để cậy sốá đông bịt miệng người khác là được, không ngoài mục đích bênh vực cho những ông thánh mà Bạn đã lỡ phong và cột buộc với họï, mà trong chỗ vi tế là phản ứng để bảo vệ cho chính tự ngã, cũng là tâm chấp ngã, chấp pháp trói buộc nhơn quả của Bạn. 

Dẫu biết sai nhưng vẫn cứ cãi bừa, cãi để mà góp tiếng to, chứ chẳng phải góp ý để biện thông lý lẽ, để cùng học hỏi.  Bỡi một điều rất dễ hiểu là hiện tại Bạn  đang núp bóng, dựa dẫm các vị thánh của Bạn, để vun đắp cho tự ngã; bỡi vậy Bạn có thể nghĩ, nếu không cố tâm dùng miệng mồm bênh vực cho thánh, lỡ một mai cái ông thánh giả được Bạn mặc áo đội mũ kia ngã đổ xuống thì sự nghiệp ăn theo thánh của Bạn ắc cũng phải tiêu tan. 

Bạn đâu có biết rằng, do nặng ngã chấp nên tự thân Bạn có khác gì người mù cầm đèn đi trong đêm tối đâu. 

Một người mù đi trong đêm tối, được người đưa cho cây đèn lồng, để người khác thấy biết mà tránh.  Đi được một đoạn đường, thì "rầm" một cái. Người mù lăng kềnh ra đường. Anh mù lên mặt sừng sộ : "Bộ đui sao không thấy cái đèn?". Người kia trả lời. "Tôi không đui, chỉ có ông mới đui thôi. Ông cầm đèn lồng đi trong đêm tối, mà đèn tắt tự lúc nào ông cũng không hay, cứ đâm sầm vào người ta, thì quả nhiên ông đui thiệt rồi, có té ngã cũng đáng đời". 

Thì ra kẻ mù kia chỉ biết dựa dẫm, ỷ lại vào cây đèn lồng, mà không biết rằng giữa mình và cây đèn lồng có lúc cũng không chỗ dính dấp. Nhưng đến khi rõ lẽ thì cũng đã quá muộn rồi. 

Đối với đạo pháp, với sự nghiệp cả một đời tu của mình, thì Bạn có khác gì người mù đi đêm trên kia đâu. Nếu chỉ biết dựa dẫm, trông cậy, nhờ đỡ, ỷ lại vào chỗ sáng của ngọn đèn lồng, cũng là vật ngoài thân, mà không biết tự thắp sáng tâm đăng để thấy  đường bước tới, thì việc sa hầm, sẩy hố, tông người này, đụng người kia đối với Bạn ắc khó tránh khỏi. Và hậu quả tất yếu sẽ ra sao thì ai cũng có thể đoán ra được, chỉ trừ người đang trong cơn mê. 

Lại nữa, tuy tự nhận là đa văn thông tuệ, đọc nhiều nhớ dai, nhưng Bạn vẫn có chỗ quên, nên mới khởi vọng trách cứ người tân học. 

Thật ra không ai bắt buộc Bạn không được tôn trọng, quí kính những người mà Bạn kính mến, yêu thích.  Nhưng việc Bạn nói xa, nói gần hàm ý rằng những bậc xuất gia là bất khả xâm phạm, rằng những kẻ hậu sinh không nên hay không được phép phê phán các pháp tu cũng như pháp hành của các thầy, mà không biết vì vô tình hay cố ý, họ đã tự đi ra ngoài, hay dẫn dắt người khác cùng đi ra ngoài dòng đạo pháp của Thế-tôn, thì yêu cầu đó của Bạn là không chính xác, là miễn cưỡng, gượng gạo, là không thể chấp nhận được. 

Bỡi nếu những người con Phật, xuất gia cũng như tại gia, mà ai ai cũng đều như Bạn, là thấy biết như thật các pháp hành kia là đen đúa, là đi nghịch lại di-giáo của Thế-tôn hay lệch ra ngoài dòng đạo-pháp, hay giảng pháp trói buộc với nhơn quả, vv… mà vẫn cứ bình chân như vại, cứ giả vờ như không nghe, không biết, không thấy; hay cố tình lấp liếm che đậy vì sợ bị gán là "vạch áo cho người xem lưng" hoặc "mặc kệ nó - không dính dấp tới mình thì thôi, ai nghe ráng chịu ", thì ngôi nhà chung chẳng những không còn  đẹp đẽ như xưa đã đành, mà bên trong cột rường cũng ruỗng mọt, hư nát hết; ai là người tâm huyết với giáo pháp của Như-lai, ai là người có lòng biết ơn sâu sắc đối với Phật và chư Tổ, sao lại có thể cam tâm đứng nhìn mà không nói hay chí ít là một lời than thở cho đành. Giả như biết đó là ma giảng pháp trói buộc, mà ai cũng vẫn cứ ngậm miệng, không nghe, không biết, không thấy, thì nếu không gọi đó là đồng lõa với ma thì gọi là gì? 

Một tâm chúng sanh trong nhơn quả, đang lúc này dung chứa trọn đủ cả Phật lẫn ma. Phật mạnh ma trốn, ma mạnh Phật tiêu. Lại cũng chỉ có thể chọn một con đường để đi mà không có con đường thứ hai, trừ các bậc Đại-Bồ-Tát vâng Thánh-chỉ của chư Phật thị hiện cõi này độ sanh với một Phật tâm như như, đại giác, thấy biết tất thảy thì không nói tới. Còn phàm tình như chúng ta thì, hoặc theo Phật để giải thoát sanh tử hoặc theo ma đi vào các cảnh giới sai biệt trong nhơn quả mà thôi. Không theo Phật thì chỉ có theo ma, không giải thoát thì phải ràng buộc với nhơn quả, dẫu trụ trong cảnh giới nhơn quả nào đi nữa. Cho nên mới nói, đồng lõa với ma là vậy. 

Dù rằng một tiếng thét đơn độc cất lên giữa trời đất bao la, chưa chắc đã có ai hay, ai biết, nhưng với nguời thật tâm nghĩ tới đạo pháp, tới ân huệ của Thế-tôn đã đem ánh sáng giải thoát lại cho cõi này, thì cần gì phải có ai biết ai hay mới được, mà chỉ tự một mình thét cho mỗi mình nghe cũng đủ để không thẹn với lòng mình, cũng là làm tròn phận sự của một người chịu ơn, không phụ lòng Tổ, Phật rồi. Đó là việc cần làm để có thể lợi lạc cho chúng sanh thì mình đã làm xong, mà không chỗ dính dấp. 

Bạn đừng lo rằng khi bạn thét lên như thế, thì người ta sẽ gán cho bạn là chấp ngã, hay là ưa tranh đấu. Bạn đừng lo. Vì bạn còn chấp ngã, chấp pháp hay còn tâm tranh đấu vướng mắc trong nhơn quả hay không, thì tự riêng mình Bạn biết. Còn việc bị người trách cứ, nếu thiệt bạn đã tự thể hiện không tâm vô ngã trong hiện tại, thì dẫu người có dội nước vào bạn thì cũng có khác nào tạt nước vào hư không. Thế thì bạn còn lo chi. 

Ngược lại, Bạn cũng đừng nên đem kinh kệ ra để chứng minh này nọ, rằng người tu Phật phải nên có hạnh vô tranh, rằng ai làm gì thì làm, miễn là không đụng chạm gì tới mình thì thôi, vì với bạn, vạn pháp tự như trước mắt.  Đúng. Người tu nên vô tranh, bỡi vì ai tu nấy chứng mà. Nhưng phải hiểu rốt ráo lời Phật dạy về hai chữ vô tranh, rằng người có tâm  tranh đấu tức là người còn chấp ngã, chấp pháp, chấp tướng; do vị ngã nên mới đấu tranh. Bỡi thế Phật dạy chớ khởi tâm tranh đấu, kẻo trói buộc vào nhơn quả. 

Còn đã "biết" và nói ra được pháp hành hay giáo pháp dạy người của ai đó không tương ưng với dòng đạo pháp hay làm trái di-giáo của Thế-tôn, ảnh hưởng không tốt tới ngôi nhà chung Tam-bảo thì việc nói đó chẳng phải là tranh đấu gì cả, mà chỉ là uốn nắn chỗ cong vạy để thành ngay, là rửa chỗ dơ để thành sạch, là lau gương mờ để thành gương sáng cho mọi người soi chung, là làm cho ánh đạo vàng ngày càng sáng chói hơn, trong trẻo hơn, rực rỡ hơn, cũng là cách đền ơn chư Phật ; nói ra được như thế, chỉ vẽ được như thế màbằng cái tâm không tâm, vô ngã, vô chấp, không vì danh cũng chẳng vì lợi trong cõi này buộc ràng, mà chỉ cốt làm lợi lạc cho nhiều người, thì kẻ nói ấy không phải là tranh đấu vì chấp ngã, mà đó là vì sự trong sáng của Phật đạo mà nói, cũng là làm đúng với tâm ý của Tổ, Phật, là trả hiếu đối với chư Phật vậy. Việc làm vô tâm, vô chấp của người này hơn rất nhiều đối với những ai còn nặng tâm chấp ngã, thấy nghe hay biết có chỗ quấy như thế, nghịch đạo như thế mà vẫn cứ ngậm miệng "mặc kệ nó", hoặc la làng lên khi có ai đó đụng tới chỗ nhược của tự ngã hay những người dính dấp tới "bản ngã". Những người sau mới chính là kẻ vị  kỷ, chấp ngã, chấp pháp, tâm tướng còn ràng buộc trói cột với các pháp vọng tử sanh nhơn quả. 

Cho nên, việc cha có chỗ lầm (chưa bùng vỡ tánh "biết" tuyệt đối hoặc chưa phải là bậc đã chứng các Thánh-quả vô vi thì vẫn còn có thể bị lầm  nhơn quả, huống là người còn đang lội ngược trong nhơn quả để thâm nhập vào dòng Thánh, hay là người mà công phu chưa là gì cả đối với quả vô vi)  con cái nhỏ to nhắc nhở là chuyện thường tình, hợp đạo lý chứ có gì là lạ đâu. Biết người lầm mà không khéo nhắc nhở, hoặc không dám nhắc nhở, không nói ra chỗ lầm của cha, hoặc a-dua theo điều sái thì đó mới là lạ, mới là vị  kỷ, là bảo thủ, chấp ngã, là không hợp đạo lý, khiến sai lầm ngày một to thêm. 

Nếu thật sự không biết cha mình là người sai đúng thế nào, dạy dỗ ra sao, dẫn dắt mình đi đâu, làm gì cũng không biết, thì chẳng ai trách cứ. Vì có ai trách cứ người si bao giờ.  Tuy nhiên, nếu có người biết thế nào là lẽ thật, nói ra chỗ sai lầm của cha mình, thì với tư cách của người con hiếu đạo, ta nên lắng nghe, và tiếp thu, tư duy đến nơi đến chốn, để có cách giúp cha giải quyết sự việc hoàn mỹ nhất. Chứ có lý nào, nghe người ta đề cập tới cha mình, không cần biết hay dở, phải trái ra sao, không cần biết người ta vì thương hay vì ghét mà nói, cứ nhảy xổng lên, miệng la mồm chửi không cần lý lẽ. Thế thì, đó là đạo lý của người tu Phật ư ?  Khổng phu tử là bậc thầy vạn đại (vạn thế sư biểu), đã cách vật trí tri, thế mà anh chàng Hạng-Thác bảy tuổi nói có mấy câu cũng làm cho Phu-tử phải nghiền ngẫm nhiều ngày, phải thốt lên "hậu sanh khả úy - (kẻ sanh sau đáng sợ)  huống là trong đời mạt pháp, có không ít người chẳng phải thánh thiệt như Phu-tử. 

Cái chỗ mà chúng tôi nói Bạn quên, đó là do chấp tướng quá đáng khiến cho tâm trí mê mờ không còn biết đâu là lẽ thật. Bạn quên rằng, trong thời mạt pháp, những người đứng ra hộ pháp, uốn nắn chỗ cong vạy, lau chỗ tối để thành sáng, nhận lãnh gánh vác các Phật sự nặng nề lại chính là những Cư-sĩ. Đó là điều mà Đức Phật đã dự ngôn ký thác từ hơn hai ngàn rưởi năm trước. Và rất nhiều diễn đàn Phật-học trên khắp thế giới được các Cư sĩ xây dựng, chính là bằng chứng cụ thể minh xác rằng lời Phật dạy không sai. 

Lại nữa, chẳng lẽ thảy thảy mọi pháp hành của các thầy đều tốt, đều phải, đều tương ưng với đạo pháp hay sao ?  Nếu quả đúng như thế thì giờ này đâu phải là đời mạt pháp nữa mà phải là đang trong đời Chánh-pháp thịnh đạt nhất, thời Phật còn tại thế mới đúng chứ. Thế nhưng sự thật thì chẳng phải vậy, mà hoàn toàn ngược lại. 

Do chúng sanh mê lầm, chấp ngã, chấp pháp, nên mới khởi vọng a dua, nịnh hót, tôn cao, đè thấp, cuồng tín quá đáng nên ma mới có điều kiện tốt nhảy ra thuyết pháp Phật, mới xảy ra các hiện tượng quái dị như Thượng-sư này, Bồ tát nọ,  thánh thần kia giáng trần thuyết pháp trói buộc, làm điên đảo Phật môn. 

Thật ra, ai cũng lo tu hành chứ có dư công đâu mà đi tìm chỗ sai của người khác mà nói. Bỡi một người mù tự ý cầm đèn đi trong đêm tối, dẫu có sa hầm sẩy hố thì cũng chỉ riêng một mình người ấy chịu. Còn dẫn hàng trăm, hàng ngàn người mù khác cùng đi theo mình lại là một việc khác. Với từ tâm của một người con Phật, thấy người gần sụp hầm mà ai nỡ nào ngậm miệng không thét lên một tiếng để thức tỉnh mọi người, trừ phi người ấy cũng đui mù không thấy, không nghe, không hay, không biết, hoặc ma tâm ác ý bỏ mặc, thì không nói tới.

Lại nữa, tại sao bảo phải tìm đến tu-sĩ  nói riêng cho thầy biết, rằng chỗ này tương ưng, chỗ kia không tương ưng tâm ý Tổ, Phật để cho thầy sửa sai, trong khi thầy có viết cho riêng ai đâu mà là phổ biến cùng khắp để dạy người. Hơn nữa ai biết thầy trụ ở đâu mà tới, cũng như chưa từng gặp thầy một lần trong đời. Chỉ nghe danh, xem văn mà biết thầy. Vả lại, dẫu có biết cũng chẳng tới, vì tới là tự thể hiện mình còn đủ ràng buộc của tứ tướng, còn nặng nghiệp nhơn quả, cũng như vô tình ám chỉ rằng thầy cũng còn chấp ngã, chưa sạch phàm tình. 

Thật ra, nếu ai đã là người tâm không vô ngã, thì trong trường hợp này, nói hay nín, mở miệng cảnh tỉnh người khác hay cứ tự nhiên ngậm miệng đều đúng cả. 

Những kẻ mở miệng kia chỉ vì tự thể hiện tánh không vô ngã, vạn pháp tự như truớc mắt, không gì dính dấp, nên dẫu cho chỗ mở miệng đó có làm cho vài người can hệ phật lòng đi nữa, thì đối với người nói cũng không gì can hệ. Nghĩa là, do những người không bằng lòng ấy còn chấp ngã, chấp tướng mới khởi vọng trách cứ, sân giận, chứ nếu tự thể đã vô ngã, vô chấp thì mọi việc nói nín của người khác đối với mình cũng đều vô can, không dính dấp tới, mà chỉ riêng một việc mở miệng của người ấy thì lại tốt, làm được việc lợi lạc cho những chúng sanh khác, chỉ giúp cho những người mù biết đường cảnh giác những hố hầm cạm bẩy. 

Còn những kẻ ngậm miệng cũng chỉ vì tự thể hiện vô ngã, vô tâm, nhìn vạn pháp trước mắt tự như, nên việc sai đúng, thánh phàm, sáng đui, phải trái đều không chỗ dính dấp tới mình, nên việc kẻ đui dẫn người mù đối với họ cũng không can hệ, nên không nói.  Thí như xem phim Tề-Thiên Đại Thánh, ai tự một được trong cái cười vô thủ, vô xả, vô ngã, vô pháp của Đức Di-Lặc Bồ-tát khi thấy anh em Tôn-Ngộ-Không được trao cho toàn bộ đều là kinh vô tự, thì người ấy có thể nương đó mà tự cởi trói cho mình. 

Hai trường hợp nói, nín trên dành cho những bậc không tâm, vô ngã, hành vô tác ý, trong nhơn quả cũng không chi ràng buộc. 

Bằng mở miệng mà tâm còn kết buộc với nhơn quả, nghĩa là nói mà còn có tâm ý phân biệt kết buộc với lợi danh, chấp trước thì ngay đó liền sái. 

Cũng như biết có người lầm, có thể kéo theo nhiều người khác cùng lầm, nhưng vẫn cứ ngậm miệng vì  còn phân biệt ngã nhơn, bỉ thử, còn sợ mếch lòng người này người nọ, thì đó là phàm tâm phân biệt, là chấp ngã, không cần phải nói tới. 

Cho nên, dùng tâm không, vô thủ, vô xả, vô ngã, vô chấp mà nói mà nín, mà làm, mà không làm, tuỳ duyên nói nín mà làm lợi lạc cho quần sanh, thì không chỗ nào không tương ưng với đạo pháp. 

Do tâm còn nhiều trói buộc nên trong Bạn luôn có kẻ trọng người khinh, kẻ nên tôn người nên hạ, đó là phàm tâm phân biệt. 

Bỡi nặng chấp mà Bạn đã tự trói buộc mình, cũng như cột mình với vật ngoài, tự làm khổ thân suốt đời suốt kiếp như thế đó.

Xem Tiếp Trang 4


c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap