Lại
nói về chơn giả, đúng sai, phải trái. Thí như nhấn vào
mắt liền thấy có hai ông trăng, còn không nhấn mắt thì
chỉ thấy có một ông trăng. Một mặt trăng chúng ta cho là
thật, còn một mặt trăng chúng ta cho là giả, là ảo ảnh.
Cái thấy (của tâm ý thức có khái niệm phân biệt hướng
ra ngoài) có một mặt trăng, cái thấy có hai trăng, cái
thấy trăng giả, cái thấy trăng thật là cái thấy do nhơn
duyên vọng lập mà thấy. Đó là thấy bằng vọng tâm thức
ý kết buộc với khái niệm phân biệt theo nhị nguyên nhơn
quả. Còn chỗ thấy không đổi, tức có trăng cũng thấy,
không trăng cũng thấy, trăng giả cũng thấy mà trăng thật
cũng thấy, mở mắt cũng thấy, nhắm mắt cũng thấy, lúc
nào cũng thấy, là tánh thấy, thường thấy, không sanh không
mất.
Trăng
thật chúng ta cũng thấy. Trăng giả chúng ta cũng thấy. Nhưng
chỗ thấy mà ta cho là thật, lẫn chỗ thấy mà ta cho là giả
đó, tức vật bị thấy cả thật lẫn giả theo tâm vọng
phân biệt, cũng là lầm thấy, vọng thấy thì chớ nên đeo
đuổi nó, vì đều không can hệ, không dính dấp gì tới sự
nghiệp, tới chân lý mà chúng ta đang tìm kiếm.
Bỡi
cớ sao ? Vì "thấy" trăng thật lẫn trăng giả đều cùng chung
một chỗ thấy, là thấy, cũng là tánh thấy, thường thấy,
chơn thường vô ngã, bất khả tư nghì. Nhận ra chỗ thấy
không đổi, lúc nào cũng thấy, thì đó là tánh thấy.
Với
tánh thấy, tánh biết chơn thật, tự tại vô ngã thì giả
cũng thấy mà thật cũng thấy. Không phải giả, không phải
thật cũng thấy. Chẳng phải không phải giả, chẳng phải
không phải thật cũng thấy. Có cũng thấy, không có cũng thấy,
sáng cũng thấy mà tối cũng thấy, vì tánh thấy thì thường
thấy, thường thanh tịnh, bất động, viên mãn, dung thông,
vô lượng, vô biên, không còn không mất, vô chung thỉ, bất
khả thuyết, bất khả tư nghì.
Còn
thấy cái gì, thấy ai, ra sao, thế nào, ở đâu, tại sao vv……
là vọng thấy, là chỗ thấy có hạn lượng, có mất còn,
là sự thấy do nhơn duyên vọng lập chạy theo khái niệm nhơn
quả hai bờ, bó buộc theo thức ý hư vọng trong một cá thể
sanh diệt.
Điều
mà lâu nay chúng ta cần khổ tu hành là làm sao khám phá cho
được tánh thấy, tánh biết tự sẵn có của chính mình,
cũng là Phật tánh, chứ chẳng phải là tìm cái vật bị thấy,
bị biết, là thiệt hay giả, là thánh hay phàm ngoài một tâm
này, như ông trăng bị thấy, để rồi phân biệt tốt xấu,
thánh phàm, chơn giả vv. . .kết buộc với vạn pháp hư huyễn
trong nhơn quả sanh diệt.
Thật
ra, dẫu có cái gì chơn hay giả đi nữa thì tự chúng cũng
chẳng dính dấp gì tới sự nghiệp sống chết của chúng
ta, vì giả hay chơn cùng đều nằm trong pháp tương đối của
luật tắc nhơn quả. Cho nên nếu cứ cắm đầu cắm cổ,
nhắm mắt, nhắm mũi mà lẩn tránh cái giả, cũng như thắp
đèn đốt đuốc đi tìm cái chơn thì suốt đời suốt kiếp
cũng chỉ là theo hình đuổi bóng, chạy lòng vòng trong nhơn
quả để tìm chỗ cao thấp, có không, phải trái cột buộc
cho chính mình mà thôi. Bỡi cớ sao ? Vì giả, chơn chỉ
là pháp vọng, được biết do cái "biết lầm" của vọng tâm
phân biệt mà thôi; nói giả hay chơn chỉ là giả danh được
giả lập để làm phương tiện cho chúng sanh biết nương theo
đó để quay ngược lại tự khám phá ra cái "biết" tuyệt
đối của chính mình (mà đối với sự sự chơn giả, giả
chơn chẳng chỗ dính dấp) cũng là tánh thấy, tánh biết
sáng suốt tự tại của Phật chúng sanh, cũng là ngộ nhập
Phật tri kiến; người xưa nay tạm mượn các từ "chơn, chơn-thật"
mà dùng để gọi chỗ thấy biết tuyệt đối của bổn tâm,
bổn tánh như gọi chơn tâm, chơn tánh mà thôi, chứ thiệt
tình đối với tâm ý thức trong nhơn quả, tất thảy đều
là vọng, không gì chơn cả. Bằng tới chỗ thiệt chơn, cũng
là tự "một" tánh thấy biết tuyệt đối, thì còn có ai trong
đây mà nói chơn hay không chơn, bỡi tới đó chỉ còn là
độc diệu chiếu soi, tuyệt vô đối đãi, bất khả thuyết,
bất khả tư nghì, như mắt thấy tất thảy pháp mà mắt chẳng
thể thấy mắt.
Tất
thảy các pháp tướng đều là hư vọng. Khám phá được
tánh "Biết tuyệt đối" thì liền có chỗ thấy biết như
thật, tự nó không chơn không giả, không thực không hư, mà
như hư như thật, như không như có, bất khả tư nghì, nói
không thể tới; còn các pháp ngoài tâm chơn như đều là huyễn
hóa, hư vọng. Thật biết như vậy thì dòm lại những gì
chúng ta từ lâu bỏ vọng cầu chơn, bỏ giả tìm thật chỉ
là việc làm của kẻ giữa trưa đi trốn bóng mình mà thôi.
Khởi tâm bỏ vọng cầu chơn, thì chơn đó cũng là chơn vọng.
Biết vọng là vọng, thì ngay đó chỗ biết ấy là biết chơn,
liền tự sáng tỏ pháp-tánh như-thị, nhứt thiết pháp không,
vô ngã duyên khởi, sanh khởi trùng trùng, cảnh cảnh sự sự
lập thành vi trần thế giới mà tự rõ tánh chúng vốn không
tự tánh, thì nhơn quả vô can, đến đi vô ngại. Bằng không
biết bằng tánh biết chơn thật mà chỉ biết bằng tâm ý
thức nhơn duyên vọng lập thì thân tâm này ắc phải trói
buộc trong tử sanh nhơn quả, như một giấc mê dài trong mộng
mà không tỉnh. Đó là lẽ thật.
Vì
tự tánh hay sanh muôn pháp, cũng là pháp không vô ngã duyên
khởi, duyên sanh, tuỳ duyên mà bất biến; thế nên để đối
trị các "pháp" huyễn giả do tâm sanh mà "pháp" chơn mới được
tạm giả lập, chứ giả chơn đều không thực có, bỡi tới
chỗ tự một đồng tánh"thấy biết tuyệt đối" thì không
một pháp nào có thể lập trong chỗ "như thật như hư, như
không như có"; tất thảy chỉ tuyệt đối "một", tự tại,
không hai không khác thì chơn, giả có chỗ nào được trụ
vị trong đây?
Cho
nên, hễ có chơn thì chơn này cũng chỉ là "tướng" chơn hư
vọng trong khái niệm nhơn quả mà thôi. Bỡi vậy, chúng ta
phải biết một điều rằng, tự tâm tu chứng, tự ngộ nhập
tánh biết "Giác" sáng suốt tuyệt đối cũng là Phật tri kiến
thì tự biết thế nào là thật nghĩa "chơn", chứ cứ bàn
"chơn" suông thì cũng vô ích, dẫu tìm cùng trời cuối đất
thì tri thức, chữ nghĩa, mồm miệng trong nhơn quả cũng chẳng
chỗ dính dấp tới, mà vọng niệm chơn giả lại trói buộc
lấy mình. Đó cũng là bệnh.
Đức
Phật có tám vạn pháp môn dùng để chỉ vẽ, dẫn dắt, đánh
thức chúng sanh tỏ ngộ Phật tánh, cũng là "Giác", là ngộ
ra tánh "Biết tuyệt đối" tự sẵn có của mình, để không
còn bị biết lầm, khiến chúng sanh sáng suốt tự chủ mà
tự rời lìa bốn khổ sanh lão bệnh tử, cũng là vượt thoát
nhị nguyên nhơn quả.
Pháp
của Phật như tay chỉ trăng. Hằng vạn ngón tay đưa lên,
tuỳ theo mỗi góc độ cao thấp, xa gần ứng hợp cho từng
căn cơ, duyên nghiệp, tội phước nông sâu, nhiều ít, nặng
nhẹ mà có từng chỗ chỉ riêng, nhưng đích nhắm cuối cùng
vẫn là một ông trăng duy nhất.
Nương
pháp phương tiện mà nói lấy tay chỉ trăng, để thấy trăng;
nhưng trăng ở đây chính thiệt là tánh thấy biết chơn thật
của Phật tâm, tức cần phải khám phá và ngộ nhập tánh
này, nghĩa là lấy phương tiện làm kinh nghiệm dẫn lối để
biết tự quay vào trong soi xét tâm mình, sáng dần tâm mình
chứ chẳng phải tìm kiếm cái vật chơn hay giả bị thấy
ngoài tâm, tức cũng là chạy theo pháp hư vọng bên ngoài.
Đây
chính là chỗ mà nhiều người thường lầm, nên mới xảy
ra chuyện bỏ vọng tìm chơn, hoặc khen pháp này hay chê pháp
kia dở, nâng pháp này lên, đè pháp kia xuống, mặc dù tất
thảy các pháp môn đều do Đức Thế-tôn phát minh, thảy thảy
đều là vi diệu pháp ứng hợp cho từng căn cơ sai biệt;
cũng như có không ít người tự hào về chỗ học rộng, biết
nhiều, làu thuộc trăm kinh, vạn quyển, nhưng đối chỗ cùng
tột của đạo "không một pháp có thể lập", thì chỗ "biết"
bằng vọng biết ngoài tâm ấy hoàn toàn không dính dấp tới
"nó".
Đã
biết các pháp môn do Phật phát minh đều là phương tiện,
đều là vật tạm mượn dùng làm bè để qua sông, chẳng
phải là cứu cánh, chẳng phải là bờ kia, ấy thế mà có
nhiều người lại tự hào, hãnh diện về sự thông kim bác
cổ, học rộng biết nhiều, cũng là cái túi chứa tri kiến
sanh diệt mà thôi. Những người như thế há chẳng phải là
còn nhiều trói buộc, còn chấp ngã, chấp tướng, đối chỗ
hật sự vô vi giải thoát thì chưa là gì cả, cũng có nghĩa
là đối với đạo khó có chỗ nào để có thể gọi là có
chút "thấm tháp" được.
Người
học rộng, đa tri kiến (mà chưa thấy tánh) có khác chi kẻ
chạy theo hằng vạn ngón tay của Đức Phật để tìm trăng,
ngón nào cũng dòm, cũng quan sát, cũng chấp thủ trong khi chỉ
có một ông trăng duy nhất để thấy? Tại sao không biết
trụ con mắt vào chỉ một ngón tay duy nhất của Thế-tôn
để tìm trăng có phải thật tế và ích lợi hơn không? Khéo
biết nương một pháp hợp với căn cơ và biết đào sâu đến
tận gốc rễ pháp ấy để kiếm tìm chơn lý, để tự thăng
hoa vượt thoát nhơn quả là điều người trí nên làm, chứ
đâu phải ngồi vào bàn tiệc mà món nào cũng gắp, món nào
cũng nhâm nhi, thưởng thức để rồi bình phẩm khen chê, món
này ngon, món kia dở. Ngon dở là tuỳ sở thích của từng
người, cũng là pháp vọng (chấp) kết buộc trong nhơn quả
sanh diệt mà thôi. Muôn pháp do duyên sanh, thành trụ hoại
không, sanh trụ dị diệt, sanh lão bệnh tử, mỗi mỗi đều
có chỗ dụng riêng, cùng pháp pháp tương sanh tương diệt
trong nhơn quả, mà thảy thảy cùng đạo tương ưng, tương
hợp, cũng là tự nhiên như nhiên, nếu đương thể vô ngã,
không tâm, vô tác ý. Thí như không thể nói tại sao không
là cây lim, cây trắc, cây hương cứng cáp, quí giá mà là
cây chuối, cây khoai, cây cà kia chứ. Bỡi vì kẻ nhà giàu
kia đã quá sung túc, chẳng gì là không có ngoại trừ muốn
cất một cái nhà lầu thật lớn bằng gỗ cứng chắc nên
mới cho cây lim, cây trắc, cây hương là quí, là có ích.
Nhưng nếu người ấy bảo với người bình dân tầm thường,
hằng ngày lo kiếm cái ăn còn không đủ, rằng : "Sao anh trồng
cây chuối, cây khoai, cây cà làm gì, anh hãy trồng cây lim,
cây trắc là những thứ cây quí hiếm mới phải chớ. Anh
thật là rồ dại!". Theo bạn, thì ai trong đây là người ngây?
Phật
pháp cũng vậy. Tuỳ căn cơ, duyên phước từng mỗi chúng
sanh mà Phật phát minh hằng vạn pháp môn, mà pháp pháp nào
cũng đều vi diệu. Thế nhưng pháp vi diệu cho căn trí này
chưa chắc đã vi diệu cho căn trí kia. Bỡi cớ sao? Đó là
vì Phật tuỳ duyên nói pháp mà không có chỗ buộc ràng, nghĩa
là tuỳ căn cơ mà không ra ngoài Trung-Đạo. Còn người
thế gian chưa sạch tâm chấp ngã chấp pháp nên chỗ nói pháp
thường hay vướng mắc với khái niệm phân biệt, cột buộc
với nhơn quả hai bờ.
Đã là chúng sanh thì không ai không mắc phải bệnh phiền
não, tử sanh. Tuỳ từng người bị bệnh mới phát hay đã
lâu, nặng hay nhẹ khác nhau mà mỗi người cần phải được
điều trị bằng một phương pháp khác nhau, một toa thuốc
khác nhau, khó có ai giống ai, vì vọng tâm của từng người
trong mỗi sát na còn sai biệt trùng trùng, huống là nhiều
tâm vọng chất chứa nhiều nghiệp vọng lâu mau, nặng nhẹ
khác nhau, thì các phép điều phục vọng tâm cũng có chỗ
sai biệt vậy. Cứu cánh của người bệnh đang cần điều
trị là được hết bệnh, khoẻ khoắn như xưa, chứ
không phải làm ông Thần-Nông nếm thuốc. Vị thuốc nào cũng
nếm để biết dược tánh hàn, nhiệt, ôn, nhu, cam, khổ là
việc của Thần Nông, cũng như phát minh từng pháp pháp giải
thoát khác nhau ứng hợp cho từng mỗi căn cơ, duyên nghiệp
chúng sanh là việc của bậc Đại-Giác. Cho nên, nếu không
hiểu rõ điều này, thay vì một người một bè cố công gắng
sức tự chèo chống để qua bờ kia, lại cứ nhảy hết
bè này sang bè khác, bè lớn bè nhỏ, bè tre, bè chuối gì
gì cũng biết, bè nào cũng có dấu chân mình, lại khởi vọng
phân biệt khen bè này, chê bè kia mà thiệt tình tự bản thân
mình không đi tới đâu cả. Thế thì biết đến bao giờ mới
sang sông được.
Chỉ
cần dùng một bè mà quyết chí chèo chống đến nơi đến
chốn, còn hơn là nhảy nhót lung tung. Đến khi qua được tới
bờ kia ngoảnh đầu nhìn lại, thì ra mọi cái bè to nhỏ dài
ngắn vuông tròn có khác nhau, ứng hợp cho từng mỗi căn cơ,
nhưng công năng vẫn chỉ một, là độ người sang sông. Thế
nên chợt khởi tâm phân biệt, khen bè này hay chê bè kia dở
thì ngay đó tự sái.
Người
nào tự hào về chỗ đa văn, đa tri thức cũng vậy. Những
người ấy đâu biết rằng, biển pháp mênh mông không ngằn
mé, mà người tu ví như chiếc thuyền con trên sóng nước,
không biết đâu là bến bờ, thế thì tri thức của một người
làm sao hiểu hết Phật pháp. Nếu muốn hiểu hết, biết hết
chỉ khi nào người ấy cùng đạo tương ưng, đương thể
vô ngã, vô vi, vô pháp, tất thảy tự như, cũng là ngộ ra
không có gì để gọi là "hiểu" trong đây cả, ngoài tánh
"Giác" sáng suốt, chơn như tự tại. Vì hiểu, cũng là thấy
nghe hay biết ngoài chơn tâm, là nhơn duyên vọng lập, là
lìa tánh biết chơn thật, lìa "Giác", mà hiểu, tức cũng là
pháp vọng.
Vả
lại, những người ấy đâu biết rằng, đã gọi là pháp,
thì cũng không ngoài vạn pháp duyên sanh từ chơn như tự tánh,
cũng là vô ngã duyên khởi trùng trùng mà pháp pháp sanh khởi
bất tận, bất tận tận. Đức Thế tôn là bậc Toàn-Giác,
có trọn lục thông, ngũ nhãn (nhục nhãn, thiên nhãn, huệ
nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn) đầy đủ biện tài, mới dùng
phương tiện thiện xảo, tạm gọi là "pháp" làm tay chỉ trăng,
khiến chúng sanh biết nương theo đó, để quay ngược đầu
mà nhìn trở lại, để bắt gặp tánh thấy biết chơn thật
cũng là ngộ tự tánh chơn như, sáng trong vô nhất vật mà
hay sanh muôn pháp, để tự vượt thoát nhơn quả, chứ Ngài
có dạy chúng sanh chạy theo trói buộc với các pháp huyễn
hóa sanh diệt đúng sai, phải trái, có không, còn mất, chơn
giả ngoài một tâm này đâu ? Cho nên, chỉ do lầm và
chấp nên mới tự hào về chỗ đa văn, tri thức, tức cũng
là chạy theo các pháp ngoài tâm, làm giàu tri kiến để cùng
vạn pháp đi vào sanh diệt mà thôi.
Tri
kiến giải thoát tức là chiếc bè độ sông, là ngọn đèn
soi đường chỉ lối cho chúng ta tự chèo chống, tự bước
tới để đến bến bờ giải thoát; nhưng để bước được
lên bờ giải thoát, cũng là bước lên bờ kia, cũng là tự
thăng hoa, thì chúng ta phải biết cởi bỏ hết mớ tri kiến
giải thoát cũng là "phương tiện tạm mượn dùng" trước
đã, thì mới có thể lên bờ được. Bằng không chịu
buông nó, nghĩa là còn nắm níu các pháp phương tiện làm
lẽ sống, thì còn trói buộc trong nhơn quả. Đó là điều
hoàn toàn chơn thật.
Thật
ra, dẫu có thông thái đến đâu, gì cũng biết, nhưng nếu
không biết vượt thoát khỏi nó, thì cũng uổng cho sở học
bình sinh, vì chưa tự giải thoát khỏi tri kiến giải thoát,
nghĩa là vẫn còn cột buộc với nhơn quả, thế thì làm sao
có thể tự thăng hoa ?
Ngũ-Tổ
Diễn đã ví von những người còn bị tri kiến giải thoát
trói buộc :
"Thí
như con trâu kia, đầu, sừng, mình mẩy, bốn chân qua lọt,
sao cái đuôi qua không lọt" thật là chí lý.
Nếu
dùng cái tâm bình thường của đạo (không - vô tướng - vô
tác) mà hiểu thì ngay đó liền hiểu, tất thảy đều qua,
làm sao cái đuôi trâu không qua lọt được kia chứ ! Qua là
lẽ tất nhiên. Bằng còn có chút tư duy, động niệm, "chạy
theo cảnh ngoài", còn trói buộc với khái niệm đúng sai, phải
trái của nhị nguyên thì quả tình khó mà rứt ra được cái
sợi dây trói buộc trong đầu mình, chẳng khác con trâu kia
qua lọt cái cữa, mà cái chởm lông đuôi thì vẫn còn
bị vướng mắc, níu kéo.
Phải
nên dọn sạch sành sanh không còn một chút gì của tri kiến
dính dấp trong đây, dẫu là tri kiến giải thoát tối ưu đi
nữa, thì mới mong tự một với bổn lai tự tánh, cũng là
đồng nhứt thể chơn tâm, sáng trong vắng lặng, vô nhất
vật.
Cho
nên, cái đuôi con trâu kia ắc phải qua lọt, cũng như kẻ
kia ắc phải thăng hoa, nếu kẻ ấy biết vượt thoát khỏi
tri kiến giải thoát mà mình đang chấp thủ. Còn cái đuôi
trâu qua không lọt, có khác nào kẻ đa văn thông tuệ, giàu
tri kiến giải thoát mà còn chấp thủ nó, xem nó là của quí,
lấy nó làm của riêng, cũng là tứ tướng hiện tiền, cũng
là trói buộc trong nhơn quả vậy. Cho nên người trí thì không
tự hào về sở học của mình, bỡi đó chỉ là pháp phương
tiện tạm mượn, cũng là huyễn pháp trong nhơn quả mà
thôi.
Từ xưa nay chư Tổ đắc pháp cũng đã dùng nhiều phương
tiện khác nhau chỉ trăng để cứu độ, cũng là cách đền
ơn chư Phật. Nay là thời mạt pháp, những ngón tay chỉ trăng
cũng không phải là ít. Đồng thời những ngón tay chỉ trăng
sai biệt với ngón tay chỉ trăng của Thế-tôn cũng chẳng
phải là chẳng xảy ra nhiều trong đời này. Bỡi cớ sao ?
Vì ngón tay chỉ trăng của Thế-Tôn lưu xuất từ cảnh giới
tự chứng giải thoát, thanh tịnh sáng suốt, nói nín đều
là diệu dụng của chơn tâm, lìa tất thảy tướng, vô ngã,
vô pháp, vô tác ý, không một mảy dính dấp tới nhị nguyên
nhơn quả. Còn ngón tay chỉ trăng của không ít người
thời mạt pháp, lưu xuất từ tâm tướng cũng là vọng thức
sanh diệt, trói buộc với nhơn quả, vì chưa thật sự sáng
tỏ cảnh giới tự tại như-lai, chưa tự "một" pháp tánh
như-thị, nên mới có chỗ chỉ ra sai biệt . Bỡi vậy
nên mới có câu hỏi của ông bạn trên kia, rằng tại sao
tôi thông kim bát cổ, tụng hàng ngàn bộ kinh, thuyết pháp
như nước chảy, ấy thế mà đối với đạo chẳng thấy
thấm tháp gì cả.
Làm
sao có chỗ "thấm" được khi mà chỉ có mỗi một ông trăng
trên cao, trong khi người này lại đang cỡi sóng đếm trăng,
tìm trăng trên nước. Vì cái thân tướng sanh diệt kia
đối với vũ trụ sanh diệt vô cùng thì nó chỉ có bé tí,
thế mà cứ chạy theo các pháp hữu vi, là pháp vọng, do tâm
duyên sanh khởi trói buộc trong cảnh giới nhơn quả, trùng
trùng điệp điệp hết lớp này đến lớp khác, như cỡi
sóng đếm sóng thì làm sao có chỗ thấm tháp với đạo, với
tự tánh chơn như, vô ngã?
Nếu
ai là người tỉnh giác, biết quay đầu dòm lại, biết tự
hỏi xem cái kẻ quá sức thông minh, có cái đầu bé xíu mà
chứa vạn quyển trăm kinh, lại đang thắc mắc này nọ, thiệt
là ai đó; ngộ ra nó thiệt là gì thì chừng ấy mới
có chỗ cùng đạo "thấm tháp". Đến chừng ấy mới vỡ lẽ
ra, ồ lên một tiếng, bờ này bờ kia chỉ ngoảnh cái đầu
là tới, chưa tới nửa bước là tới, chỉ một sát na là
tới, chưa kịp nháy mắt đã tới, thế mà chỉ vì cái tội
"chấp" theo cái biết "bị biết lầm" trong vô minh, cũng như
cái biết lầm ấy dính khắn trong đầu gỡ không ra nên mới
nhảy hết bè này sang bè kia để ngao du, vui say cùng khắp
các cảnh giới trong nhơn quả mà quên mất tự chèo chống,
để cứu cánh bờ kia.
Lại
nữa, do phàm tâm phân biệt, chấp ngã, chấp tướng trói buộc
nên người cầu đạo thường hay quán xét sự việc còn nhiều
lầm lẫn, thí như hỏi: Ai chỉ trăng ? Kẻ cư sĩ tại
gia tầm thường kia hay bậc xuất gia cao trọng chỉ trăng;
là Hoà thượng, Thượng toạ hay Đại-đức chỉ; là người
tu Thiền hay tu Mật hay Tịnh chỉ; ở chùa lớn hay chùa nhỏ,
tay dài hay tay ngắn, là già hay trẻ chỉ, mà quên không hỏi,
không biết không hỏi, hay không cần biết nên không hỏi,
về một yếu tố hết sức quan-trọng, quyết định cho việc
tiến tu của chính mình là biết hỏi, chỗ chỉ đó có tương
ưng hay không tương ưng với ngón tay chỉ trăng của Đức
Thế-tôn. Tương ưng là Phật pháp, là pháp giải thoát
chơn thật, viễn ly sanh tử phiền não; chẳng tương ưng
là pháp vọng, pháp ma, pháp trói buộc với các cảnh giới
nhơn quả, sanh diệt.
Do
phàm tâm còn nhiều phân biệt, trói buộc, nên người được
chỉ thường hay quan niệm, Hòa thượng chỉ thì ắc phải
trúng như Phật chỉ, còn Đại-đức, Thượng-tọa là người
mới tu, còn trẻ nên chỗ chỉ ắc khó trúng. Cũng như chấp,
chỉ có người xuất gia, nói gì, làm gì, chỉ gì cũng trúng,
chứ Phật tử tại gia bình thường thì làm sao chỉ trúng
được. Hoặc nghĩ, chỉ có người tu theo Thiền của Giáo-tông
học nhiều, hiểu rộng, làu thuộc kinh điển, thông kim bác
cổ, nói ra như suối tuông nuớc chảy, bất tuyệt thao thao
thì chỉ mới trúng, chứ người tu Tịnh, tu Mật chỉ biết
hành trì có Lục-tự Hồng-danh hoặc đôi câu mật ngữ của
chư Phật thì biết gì mà chỉ, làm sao chỉ trúng được !!!
Rồi
lỡ có ai đó phê phán pháp hành hay pháp công phu của một
vị nào đó mà mình tin tưởng tuyệt đối, nếu không muốn
nói là cuồng tín, thì tức khắc mình giống như đỉa phải
vôi, không nói ra thì ai cũng biết, sự việc rồi sẽ như
thế nào.
Phải
biết một điều rằng, chúng sanh hữu tình thì ai ai cũng đồng
một tánh Phật, luôn tự hàm tàng, tự sẵn có bên mình, không
hề hư mất. Dẫu cho bốn món thành tro, vì nghiệp duyên tội
phước trong nhơn quả mà trở sanh khác loài, thay da đổi cốt,
hình tướng có khác cũ, nhưng tánh bổn lai thì không hề suy
suyển, vẫn chỉ một nó. Như múc nước biển đổ vào hàng
vạn chai lọ, keo hũ, đồ đựng hình thù khác nhau. Hình dáng
vật đựng to nhỏ, cũ mới, vuông tròn, bầu dẹp, dài ngắn
có khác nhau nhưng tánh nuớc trong mỗi vật đựng thì không
hai, không khác. Chỉ vì nhơn duyên mà nước trong mỗi chai
lọ tuỳ thuận vật đựng hình này thể nọ chứ tánh nước
thì không khác.
Chỉ
cần tự khám phá được tánh ướt của nước thì mỗi cá
thể ngay đó tự thấy "đang-là" cùng đại hải mênh mông
không hai không khác. Tự biết được như thật mình từ đại
dương, tánh mình cùng tánh đại dương không hai không khác,
tự mình cũng là đại dương, là thành công, mà không nên
để ý nhiều đến chai lọ hũ bình cũ mới thấp cao lớn
bé đựng nó. Bỡi cớ sao ? Vì chúng ta chẳng phải là
những người đi săn lùng đồ cổ hay đi tìm báu vật quí
hiếm ngoài thân, mà là những người đang đi tìm tự tánh
Phật chúng sanh của riêng từng cá thể để tự thăng hoa,
để không lầm nhơn quả mà cứu cánh giải thoát phiền não,
tử sanh, cũng là trở về bổn nguyên sáng trong tịch lặng
phi sanh diệt.
Cho
nên, việc tu lâu hay mới tu, xuất gia hay tại gia, già hay trẻ,
Thiền tu hay Tịnh, Mật v..v….cốt lõi chỉ một chỗ, mặc
dù có nhiều tên, là làm sao sáng tánh Di-đà, cũng là khám
phá tự tánh Phật, cũng là ngộ nhập Phật tri kiến, cũng
là kiến tánh, cũng là sáng tỏ tánh Viên-giác tự tại v v….
thì liền có chỗ thấy biết như thật các pháp đến đi,
mất còn trước mắt là như thế nào; cũng liền ấy, tự
thân giải quyết đại sự đến đi trong nhơn quả của chính
mình, cũng như vì người mà nói, mà nín, mà làm, mà không
làm, nhưng không lìa nó, tự như, tự chủ, tự tại.
Trọn được như thế thì nói gì, làm gì cũng trúng, cũng
cùng đạo tương ưng mà không cần biết kẻ đang nói pháp
giải thoát kia là ai.
Nghĩa
là khi ấy, diệu tánh Phật chúng sanh đang nói pháp chứ chẳng
phải ai nói cả, chỉ là mượn miệng một ai đó để động
môi, động lưỡi cho pháp bất khả tư nghì từ cảnh giới
chơn như tuỳ duyên tuông trào, cốt làm lợi lạc quần sanh,
mà ngay trong ấy vô chủ, vô khách, vô thủ, vô xả, vô ngã,
vô thuyết, không gốc gác. Cho nên, hễ sáng tánh này là nói
trúng, như người sáng mắt chỉ trăng, mà không cần biết
là già hay trẻ, trai hay gái, sang hay hèn, cao hay thấp, học
nhiều hay ít học, tu lâu hay mới tu, là người tôn quí hay
Phật tử bình thường.
Lục-Tổ
Huệ-Năng mới ngoài hai mươi tuổi, nhà nghèo, đi bán củi
nuôi mẹ, chưa từng đi học, không biết một chữ nào. Ay
thế mà chỉ nghe người tụng Kinh Kim-Cang có mấy câu thì
chợt sáng tánh, vào núi Hoàng-Mai cầu đạo không bao lâu đã
triệt ngộ Phật đạo, được chánh truyền y bát làm Tổ
thứ Sáu của Tông Thiền; trong khi đó Thượng-Toạ Thần-Tú
tu trước mấy mươi năm, là đệ tử thứ nhứt của Ngũ-Tổ,
là thầy dạy của năm trăm tăng ở núi này thì không chính
thức được trao tâm ấn của Phật. Bỡi cớ sao ? Vì
hễ kiến tánh là được việc. Nghĩa là đối với tánh biết
tuyệt đối thì "hữu học" lẫn "vô hữu học" đều không
chỗ dính dấp; nghĩa là cái biết của tri thức tức "hữu
học" cũng chỉ là cây gậy dò đường; còn ngu si, không biết
lý lẽ gì do nghiệp, bẩm sinh đần độn hay biếng lười
không chịu tu học tạm gọi "vô hữu học", chẳng khác kẻ
mù đặc lại không gậy dò đường, thì cũng không can hệ
tới "nó".
Thế
thì làm cách nào để có thể lọt vào cữa Đạo, cùng Đạo
"thấm tháp", cũng là sáng tánh "biết tuyệt đối" để không
lầm nhơn quả mà cứu cánh giải thoát? Đó chính là
vô học, tức nương phương tiện là pháp (tạm gọi là pháp,
chứ pháp Phật thì thiệt chẳng phải pháp, cũng chẳng phải
không phải pháp, là Trung-đạo) để tự khám phá tánh biết
chơn thật, chứ chẳng chấp vào sở học tri kiến mà cột
buộc với nó, cũng như chẳng nên biếng lười không chịu
học để không biết đâu là con đường giải thoát chơn chánh,
hay làm sao đi được trên con đường đó. Nghĩa "Vô"
trong đây tức là Trung-Đạo, là chẳng chấp vào hai bên có
học hay không học. Thông thái, bát lãm cùng ngu si, đần độn
là hai con đường song song ngược chiều đến đi, cột buộc
trong nhơn quả, chẳng dính dấp tới Trung-Đạo, nếu còn chấp
thủ hai bên ngã, pháp. Bổn lai tự tánh vốn dĩ chơn như,
không thiệt không hư, như hư như thiệt, không là gì cả,
không một pháp có thể lập, nên nói "vô" tức chỉ một con
đường để thâm nhập, tức Trung-Đạo, chứ chẳng phải
nói "vô" là đối với "hữu" mà nói. Hữu, Vô đều là pháp
tướng hư vọng trong nhơn quả.
Thật
ra tánh thấy biết tuyệt đối thì lúc nào cũng rỡ rỡ, ràng
ràng trước mỏ ác, trước hai lằn mi, trước hai con mắt
thao láo của chúng sanh, không phân biệt nam, phụ, lão, ấu
hay cao trọng hoặc thấp hèn vv… Nhưng chúng sanh
không nhận ra nó, chỉ vì một tội là vọng tâm thức ý cứ
chạy theo cảnh ngoài để thấy, nghe, hay, biết, cũng là lầm
biết theo vọng tâm phân biệt, mà không biết tự nhìn vào
trong để bắt gặp chính mình vốn thiệt là một "nó". Như
sóng ngộ ra chính mình vốn thiệt là nước không khác không
hai, thì cũng ngay ấy còn đâu là pháp sanh diệt tồn tại
trong cái biết không lầm của sóng nữa.
Thí
dụ như có người hỏi "Đạo là gì?" hay "Phật là gì" chẳng
hạng. Thiệt ra, dẫu có nhờ giải thích mà biết được đạo
là gì, Phật là gì đi nữa, thì cái chỗ biết ấy cũng chỉ
là tướng biết kết buộc trong khái niệm hư vọng của nhơn
quả, chỉ có mục đích làm giàu tri thức sanh diệt mà thôi,
chứ chẳng phải là tự chính mình ngộ ra cái biết "Giác",
cái biết tuyệt đối, cái biết không lầm, cũng là chơn tâm,
cũng là Phật tâm, chơn như thường hằng, tự tại, vô ngã,
là đạo thường, cùng mình tự "một" không khác không hai,
cũng là pháp tánh như-thị. Tới chỗ này thì chợt biết như
thật, cái chuyện hỏi Đạo, hỏi Phật là gì, cũng như chuyện
tự hào chấp thủ trăm kinh vạn quyển của mình trước kia,
thật là trò hí luận, như gãi ngứa ngoài giày, như gió thoảng
trên đá, không chỗ "thấm tháp". Rõ rồi thì chỉ tủm tỉm
cười thầm mà không lời biện biệt.
Nếu
biết tự nhìn vào trong để hỏi ngược lại, cái kẻ đang
hỏi Đạo, hỏi Phật kia là ai mà cứ đi hỏi chuyện tào
lao, thiên địa ngoài tâm, cứ hỏi mãi như thế cho đến khi
nào bất tỉnh thì cũng có lúc khám phá, bắt gặp chính mình
ngay ấy cùng Đạo, cùng Phật "đang-là", không khác, không
hai; thì ngay đó cũng liền tự rõ, chỗ hỏi Đạo, hỏi
Phật trước kia của mình cũng bằng thừa, không chỗ dính
dấp, vì chẳng ai có thể mở miệng mà trả lời cách chơn
thật được, vì hễ chợt mở miệng là cùng Phật, cùng Đạo
liền là khác là hai, là bàn Phật bàn Đạo bằng khái niệm
sanh diệt, là gãi ngứa ngoài giày, là ngàn trùng xa cách Phật,
là tự rời lìa, đánh mất Đạo rồi. Thế nên nói, chỗ
này uống nước nóng lạnh tự biết là vậy.
Bằng
không biết nương cái học để tự khám phá bổn Phật, cũng
là ngộ tánh biết tuyệt đối, là Giác, thì dẫu có học
cao hiểu rộng, đa tri thức để vặn Phật, hỏi Đạo, thao
thao bất tuyệt, hoặc si ngây không biết nặn ra được một
câu nào để hỏi, cũng là có tri thức và không tri thức,
thì cả hai đều là hữu vi pháp kết buộc theo vọng nghiệp
nhơn quả, chẳng chút dính dấp tới tánh sáng tuyệt đối,
cũng là tánh Phật chúng sanh, để từ đây có thể vượt
lìa nhơn quả.
Nếu
biết mượn sở học tri kiến (hữu vi pháp) để biết đường
tu, cũng là thật hành tri kiến giải thoát của Thế-tôn để
cứu cánh Trung-đạo (vô vi pháp), cũng là sáng tánh biết tuyệt
đối, giống như mượn bè tự chèo chống qua sông. Đến bến
liền lìa bè lên bờ là hành chánh kiến giải thoát. Lại
phải quên ngay cái "bờ kia", cũng là khéo lìa "bờ này" vừa
mới có chỗ sở đắc, nghĩa là nên trụ không chỗ trụ,
đắc vô sở đắc (được không chỗ được) tức liền
tự thăng hoa, cũng là giải thoát vậy.
Bằng
chưa lìa được cái "bờ kia" mà từ lâu đối sở học mình
cho là cứu cánh, thì còn chưa phải là rốt ráo, huống nữa
là còn cõng bè mà tìm bờ kia thì làm sao có thể gọi là
giải thoát chơn thật được. Trạng thái sau cũng chỉ là
lìa chỗ này, trụ chỗ kia, tức cũng là thay da đổi cốt
trong nhơn quả mà thôi.
Thế
cho nên, kẻ đã "Biết" chơn thật thì không ai còn đem cái
túi chứa tri kiến sanh diệt ra mà hợm mình, hay tự hào vì
nó, vì đã trọn "Biết" thì không một pháp có thể lập trong
đây. Bằng có một pháp nào chợt hiện,tức có nghĩa là tự
lìa cảnh giới chơn như, là cùng nó là khác là hai, là ngàn
trùng xa cách. Cho nên, nếu ai khởi vọng tự hào thế này,
thế nọ, tức là còn chấp ngã, chấp tướng, tự chứng tỏ
mình chưa sáng tánh biết chơn thật, tâm chưa tự như với
vạn pháp, nghĩa là tứ tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng
còn gồm đủ, đang trói buộc trong sanh diệt pháp, cũng là
đang thuyết pháp trói buộc.
Nói
tóm lại, sáng tánh là mục đích tối hậu mà người tu Phật
chơn chánh phải nhắm đến ngay trong đời này.
Bỡi
thế, trong Pháp-Bảo Đàn kinh, Lục-Tổ Huệ-Năng đã trả
lời rất rõ ràng cho Pháp-sư Ấn-Tông về các pháp Thiền-định
và Giải thoát tương quan như thế nào đối với việc kiến
tánh.
Lục-Tổ
giảng giải, đại ý rằng : -Pháp của Ngài (Lục-Tổ) chỉ
luận về kiến tánh mà không luận về Thiền-định hay
Giải thoát. Vì hễ kiến tánh là thành đạo, thì còn cần
luận chi Thiền định và giải thoát nữa.
Nghĩa
là thế nào? - Nghĩa là chợt kiến tánh, cũng là chợt khám
phá tánh thấy biết tuyệt đối của Phật tâm, thì ngay ấy
đương thể ắc Chơn-Thiền, đương thể ắc Tam-muội, đương
thể tất Định rồi, cùng Đạo tương ưng, không hai không
khác, thì cần gì phải luận tới Thiền-Định nữa. Tới
chỗ này mà còn luận Thiền, luận Đạo thì hoá ra trên tuyết
thêm băng, trên đầu thêm đầu ư ?
Lại
nữa, chợt kiến tánh thì tự sáng suốt, không lầm nhơn quả;
đang ở cảnh giới nhơn quả mà đã không lầm nhơn quả thì
trong đây còn có gì trói buộc, và ai trói buộc đâu mà đòi
giải thoát? Đó là lẽ thật vậy.
Vừa
nghe đến đây thì ngài Ấn-tông tỉnh ngộ.
Thế
mới biết, đối với vô-vi pháp, dẫu tu lâu đến già, đến
gần chết, nơi pháp thế gian thì chỗ ngồi cao vợi, nhưng
nếu chưa tự sáng tâm, tỏ tánh thì chỗ chỉ của người
ấy ắc cũng không phải trúng "như thật" như người sáng
mắt, mặc dù người trẻ tuổi kia không hề biết một chữ,
chưa thọ cụ túc giới, mới chuẩn bị bắt đầu nhập cuộc
hoằng pháp mà thôi.
Thế
cho nên, khi Tỳ-khưu-ni Vô-tận-Tạng hỏi Lục-Tổ Huệ-Năng
rằng, Thầy đã không biết chữ thì làm sao tỏ rõ nghĩa lý
của kinh (Đại Niết-Bàn) được. Thì Lục-Tổ mới trả lời
: "Lẽ huyền diệu cao sâu của chư Phật, không cần văn tự".
Cho
nên, chỉ cần trước tiên sáng tánh là được việc. Hễ
sáng tánh thì tự biết việc phải làm, mà chớ lo khi ấy
không cùng đạo tương ưng. Vì hễ đã thông tỏ bổn lai tự
tánh, thì việc nói, việc làm, hay không làm không nói mà không
cùng đạo pháp tương ưng, thì quả thiệt cũng khó như người
hành trì pháp Phật, từ chỗ mê lầm đến chổ sáng tỏ tánh
biết chơn thật vậy. Bỡi kẻ tu hành đã sáng tỏ được
tánh thấy biết chơn thật tự tại, đã không lầm nhơn quả,
thế mà kẻ ấy còn cố tình xa lìa "nó", cũng là lìa tánh
thật của mình để tự trói buộc với nhơn quả, với các
pháp đen đúa sanh diệt, thì quả là chuyện hy hữu, xưa nay
chưa từng nghe thấy vậy.
Bạn
còn trẻ, tu Phật tại gia, thời gian cũng chưa lâu, nhưng vì
nhờ duyên lành nào đó tự lâu đời trong quá khứ, liền
chợt tỏ ngộ tự tánh Phật chúng sanh của Bạn, thì ngay
đó Bạn tự có chỗ thấy biết như thật Bạn là gì. Thì
cũng ngay đó, tay chỉ trăng của Bạn tất phải cùng Đạo
tương ưng không hai, không khác, vì ngón tay chỉ ấy cũng lưu
xuất từ cảnh giới tự chứng giải thoát, cũng là từ tâm
chơn như sáng suốt, không gốc gác, vô thủ, vô xả, vô ngã,
vô pháp, vô tác ý, là pháp tánh như-thị; còn cái đích chỉ,
chỉ có một chỗ chỉ là chỉ ra chỗ ách yếu khiến chúng
sanh biết đường ngộ nhập Phật tri kiến, thấu tỏ tự
tánh không tánh, nhứt thiết pháp không, vô ngã duyên sanh,
tuỳ duyên bất biến, nói gọn là chỉ ra "pháp tánh như thị",
vô ngã duyên sanh, đến như thế, đi như thế, giải thoát
như thế, một mạch thông suốt, không gì lầm lẫn.
Cũng
như một ngài Hoà thượng, hay một Thượng toạ trung niên,
hay Đại đức trẻ hễ ngộ nhập tánh này thì ngay đó
cùng Bạn "đang-là" pháp giới đồng nhứt thể, vì tự tánh
chơn như vốn dĩ tuỳ duyên mà bất biến, nên chợt ngộ thì
tự "một" pháp giới tánh, không hai không khác. Cứ gắng tới
đó hẵn hay, còn sau nữa thì ai uống nước, nóng lạnh tự
người ấy biết. Chỉ cần vượt qua cữa ải này, cữa ải
kiên cố "ngộ tánh biết tuyệt đối, chơn thật", cũng là
ngộ nhập Phật tri kiến, thì đại sự sống chết ắc cũng
giải quyết gần xong.
Chỉ
có điều, tuỳ căn cơ, duyên phước, nghiệp ác, hạnh lành
của từng chúng sanh mà có những tám vạn ngón tay chỉ trăng.
Và cũng tuỳ từng duyên phận mà phương tiện đưa rước
tự có xe lớn, xe nhỏ, thành quả có lâu mau, cao thấp, xa
gần mà thôi, nghĩa là cách chỉ cách dòm có khác, chứ thiệt
chỗ chỉ chỗ thấy chỉ có một . Chẳng khác ông thầy thuốc
trị bệnh. Hằng vạn căn bệnh ứng trên hằng vạn bệnh
nhân, trẻ già, trai gái, vua quan, dân đen, người tu, người
không tu, mới uống, uống lâu, thuốc đắng, thuốc ngọt vv…
Nhưng cứu cánh chỉ một, là hết bệnh, khoẻ khoắn, tự
tại. Hễ ai uống đúng thuốc, lại chịu khó uống theo lời
lương y (thầy thuốc giỏi có lương tâm) hướng dẫn, thì
mau hết bệnh, bằng không được như thế thì chịu, chẳng
thể so đo già trẻ, lớn bé, cao thấp, sang hèn trong đây,
cũng như chẳng ai, kể cả vị lương y kia có thể uống thuốc
giùm mà mình hết bệnh được.
Biết
đích đến là hết bệnh, là khoẻ khoắn, tự tại nhưng tự
thân có chịu uống thuốc hay không lại là việc khác. Hoặc
ngồi đó không chịu uống thuốc mà cứ vuốt ve, nịnh bợ,
ỷ lại nhờ thầy thuốc giỏi uống giùm để cho mình hết
bệnh thì chỉ có người ngây mới làm như thế.
Lại
nữa, dẫu sáng tánh này mà nói pháp, thì thiệt đó cũng là
pháp phương tiện, là vật ngoài, không chỗ dính dấp tới
"nó" của chính mình, như gãi ngứa ngoài giày, huống là chưa
sáng mà nói, cũng là lìa tự tánh mà nói pháp, thì chỗ nói
này còn đi xa hơn, nghĩa là nói pháp phương tiện của phương
tiện. Cho nên chỗ này chúng ta nên cẩn thận.
Hãy
ráng mở chứ đừng nên thắt, vì đã là người tu để giải
thoát thì trước tiên phải mở rộng tâm mình, nghĩa là nên
cởi chấp. Bằng còn chấp ngã, chấp pháp, chấp thường,
chấp đoạn cũng là còn tự lấy dây buộc mình.
Cho
nên, thấy pháp chỉ trăng của người này không tương ưng
ngón tay chỉ trăng của Thế-tôn, thì hãy cứ không rời lìa
tự tánh mà nói, mà chỉ ra, để khiến người ấy "biết"
mình bị "biết lầm" mà sửa, để chỗ chỉ của người ấy
tương ưng trở lại, không phụ sự trông cậy và uỷ thác
của Thế-tôn khi xưa. Bằng bẻ người cho ngay theo ý mình,
cũng là chấp, cũng là lìa tánh chơn như vô ngã mà nói, thì
người bẻ cùng người bị bẻ đều sái; vì chẳng tự
chơn tánh nói, mà tữ vọng thức hư huyễn nói, thì cả hai
người đều là những chúng sanh đang chạy lòng vòng đuổi
bắt trong nhơn quả, mà không ai tỉnh cả.
Do
tâm còn nhiều vướng mắc như những gì vừa kể nên mới
có những ý tưởng lạ lùng như câu hỏi của một đạo hữu
ở trên.
Nói
tóm lại, dù hành trì bất cứ pháp môn nào của Đức Phật,
mục đích của chúng ta, tăng cũng như tục, là phải giác
ngộ tánh Phật chúng sanh trước đã, để ngay đó tự sáng
suốt mà không lầm nhơn quả, vượt thoát nhơn quả, tự chủ,
tự tại, rồi sau đó tuỳ thuận nhơn duyên mà tự có chỗ
đến đi vô ngại. Dẫu có vào nhơn quả cũng chỉ là việc
du hí thần thông, tiếp tục hạnh lành cứu độ chúng sanh
theo đại nguyện mà xưa kia đã từng phát thệ với mười
phương chư Phật .
Xem Tiếp Trang
3
