THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
c
VIẾT CHO NGƯỜI CÒN NHIỀU TRÓI BUỘC 
Cư-Sĩ Nhuận-Bảo
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Lại nói về chơn giả, đúng sai, phải trái. Thí như nhấn vào mắt liền thấy có hai ông trăng, còn không nhấn mắt thì chỉ thấy có một ông trăng. Một mặt trăng chúng ta cho là thật, còn một mặt trăng chúng ta cho là giả, là ảo ảnh. Cái thấy (của tâm ý thức có khái niệm phân biệt hướng ra ngoài)  có một mặt trăng, cái thấy có hai trăng, cái thấy trăng giả, cái thấy trăng thật là cái thấy do nhơn duyên vọng lập mà thấy. Đó là thấy bằng vọng tâm thức ý kết buộc với khái niệm phân biệt theo nhị nguyên nhơn quả. Còn chỗ thấy không đổi, tức có trăng cũng thấy, không trăng cũng thấy, trăng giả cũng thấy mà trăng thật cũng thấy, mở mắt cũng thấy, nhắm mắt cũng thấy, lúc nào cũng thấy, là tánh thấy, thường thấy, không sanh không mất. 

Trăng thật chúng ta cũng thấy. Trăng giả chúng ta cũng thấy. Nhưng chỗ thấy mà ta cho là thật, lẫn chỗ thấy mà ta cho là giả đó, tức vật bị thấy cả thật lẫn giả theo tâm vọng phân biệt, cũng là lầm thấy, vọng thấy thì chớ nên đeo đuổi nó, vì đều không can hệ, không dính dấp gì tới sự nghiệp, tới chân lý mà chúng ta đang tìm kiếm. 

Bỡi cớ sao ? Vì "thấy" trăng thật lẫn trăng giả đều cùng chung một chỗ thấy, là thấy, cũng là tánh thấy, thường thấy, chơn thường vô ngã, bất khả tư nghì. Nhận ra chỗ thấy không đổi, lúc nào cũng thấy, thì đó là tánh thấy. 

Với tánh thấy, tánh biết chơn thật, tự tại vô ngã thì giả cũng thấy mà thật cũng thấy. Không phải giả, không phải thật cũng thấy. Chẳng phải không phải giả, chẳng phải không phải thật cũng thấy. Có cũng thấy, không có cũng thấy, sáng cũng thấy mà tối cũng thấy, vì tánh thấy thì thường thấy, thường thanh tịnh, bất động, viên mãn, dung thông, vô lượng, vô biên, không còn không mất, vô chung thỉ, bất khả thuyết, bất khả tư nghì. 

Còn thấy cái gì, thấy ai, ra sao, thế nào, ở đâu, tại sao vv…… là vọng thấy, là chỗ thấy có hạn lượng, có mất còn, là sự thấy do nhơn duyên vọng lập chạy theo khái niệm nhơn quả hai bờ, bó buộc theo thức ý hư vọng trong một cá thể sanh diệt. 

Điều mà lâu nay chúng ta cần khổ tu hành là làm sao khám phá cho được tánh thấy, tánh biết tự sẵn có của chính mình, cũng là Phật tánh, chứ chẳng phải là tìm cái vật bị thấy, bị biết, là thiệt hay giả, là thánh hay phàm ngoài một tâm này, như ông trăng bị thấy, để rồi phân biệt tốt xấu, thánh phàm, chơn giả vv. . .kết buộc với vạn pháp hư huyễn trong nhơn quả sanh diệt. 

Thật ra, dẫu có cái gì chơn hay giả đi nữa thì tự chúng cũng chẳng dính dấp gì tới sự nghiệp sống chết của chúng ta, vì giả hay chơn cùng đều nằm trong pháp tương đối của luật tắc nhơn quả. Cho nên nếu cứ cắm đầu cắm cổ, nhắm mắt, nhắm mũi mà lẩn tránh cái giả, cũng như thắp đèn đốt đuốc đi tìm cái chơn thì suốt đời suốt kiếp cũng chỉ là theo hình đuổi bóng, chạy lòng vòng trong nhơn quả để tìm chỗ cao thấp, có không, phải trái cột buộc cho chính mình mà thôi. Bỡi cớ sao ?  Vì giả, chơn chỉ là pháp vọng, được biết do cái "biết lầm" của vọng tâm phân biệt mà thôi; nói giả hay chơn chỉ là giả danh được giả lập để làm phương tiện cho chúng sanh biết nương theo đó để quay ngược lại tự khám phá ra cái "biết" tuyệt đối của chính mình (mà đối với sự sự chơn giả, giả chơn chẳng chỗ dính dấp)  cũng là tánh thấy, tánh biết sáng suốt tự tại của Phật chúng sanh, cũng là ngộ nhập Phật tri kiến; người xưa nay tạm mượn các từ "chơn, chơn-thật" mà dùng để gọi chỗ thấy biết tuyệt đối của bổn tâm, bổn tánh như gọi chơn tâm, chơn tánh mà thôi, chứ thiệt tình đối với tâm ý thức trong nhơn quả, tất thảy đều là vọng, không gì chơn cả. Bằng tới chỗ thiệt chơn, cũng là tự "một" tánh thấy biết tuyệt đối, thì còn có ai trong đây mà nói chơn hay không chơn, bỡi tới đó chỉ còn là độc diệu chiếu soi, tuyệt vô đối đãi, bất khả thuyết, bất khả tư nghì, như mắt thấy tất thảy pháp mà mắt chẳng thể thấy mắt. 

Tất thảy các pháp tướng đều là hư vọng.  Khám phá được  tánh "Biết tuyệt đối" thì liền có chỗ thấy biết như thật, tự nó không chơn không giả, không thực không hư, mà như hư như thật, như không như có, bất khả tư nghì, nói không thể tới; còn các pháp ngoài tâm chơn như đều là huyễn hóa, hư vọng. Thật biết như vậy thì dòm lại những gì chúng ta từ lâu bỏ vọng cầu chơn, bỏ giả tìm thật chỉ là việc làm của kẻ giữa trưa đi trốn bóng mình mà thôi. Khởi tâm bỏ vọng cầu chơn, thì chơn đó cũng là chơn vọng. Biết vọng là vọng, thì ngay đó chỗ biết ấy là biết chơn, liền tự sáng tỏ pháp-tánh như-thị, nhứt thiết pháp không, vô ngã duyên khởi, sanh khởi trùng trùng, cảnh cảnh sự sự lập thành vi trần thế giới mà tự rõ tánh chúng vốn không tự tánh, thì nhơn quả vô can, đến đi vô ngại. Bằng không biết bằng tánh biết chơn thật mà chỉ biết bằng tâm ý thức nhơn duyên vọng lập thì thân tâm này ắc phải trói buộc trong tử sanh nhơn quả, như một giấc mê dài trong mộng mà không tỉnh.  Đó là lẽ thật. 

Vì tự tánh hay sanh muôn pháp, cũng là pháp không vô ngã duyên khởi, duyên sanh, tuỳ duyên mà bất biến; thế nên để đối trị các "pháp" huyễn giả do tâm sanh mà "pháp" chơn mới được tạm giả lập, chứ giả chơn đều không thực có, bỡi tới chỗ tự một đồng tánh"thấy biết tuyệt đối" thì không một pháp nào có thể lập trong chỗ "như thật như hư, như không như có"; tất thảy chỉ tuyệt đối "một", tự tại, không hai không khác thì chơn, giả có chỗ nào được trụ vị trong đây? 

Cho nên, hễ có chơn thì chơn này cũng chỉ là "tướng" chơn hư vọng trong khái niệm nhơn quả mà thôi. Bỡi vậy, chúng ta phải biết một điều rằng, tự tâm tu chứng, tự ngộ nhập tánh biết "Giác" sáng suốt tuyệt đối cũng là Phật tri kiến thì tự biết thế nào là thật nghĩa "chơn", chứ cứ bàn "chơn" suông thì cũng vô ích, dẫu tìm cùng trời cuối đất thì tri thức, chữ nghĩa, mồm miệng trong nhơn quả cũng chẳng chỗ dính dấp tới, mà vọng niệm chơn giả lại trói buộc lấy mình. Đó cũng là bệnh. 

Đức Phật có tám vạn pháp môn dùng để chỉ vẽ, dẫn dắt, đánh thức chúng sanh tỏ ngộ Phật tánh, cũng là "Giác", là ngộ ra tánh "Biết tuyệt đối" tự sẵn có của mình, để không còn bị biết lầm, khiến chúng sanh sáng suốt tự chủ mà tự rời lìa bốn khổ sanh lão bệnh tử, cũng là vượt thoát nhị nguyên nhơn quả. 

Pháp của Phật như tay chỉ trăng. Hằng vạn ngón tay đưa lên, tuỳ theo mỗi góc độ cao thấp, xa gần ứng hợp cho từng căn cơ, duyên nghiệp, tội phước nông sâu, nhiều ít, nặng nhẹ mà có từng chỗ chỉ riêng, nhưng đích nhắm cuối cùng vẫn là một ông trăng duy nhất. 

Nương pháp phương tiện mà nói lấy tay chỉ trăng, để thấy trăng; nhưng trăng ở đây chính thiệt là tánh thấy biết chơn thật của Phật tâm, tức cần phải khám phá và ngộ nhập tánh này, nghĩa là lấy phương tiện làm kinh nghiệm dẫn lối để biết tự quay vào trong soi xét tâm mình, sáng dần tâm mình chứ chẳng phải tìm kiếm cái vật chơn hay giả bị thấy ngoài tâm, tức cũng là chạy theo pháp hư vọng bên ngoài. 

Đây chính là chỗ mà nhiều người thường lầm, nên mới xảy ra chuyện bỏ vọng tìm chơn, hoặc khen pháp này hay chê pháp kia dở, nâng pháp này lên, đè pháp kia xuống, mặc dù tất thảy các pháp môn đều do Đức Thế-tôn phát minh, thảy thảy đều là vi diệu pháp ứng hợp cho từng căn cơ sai biệt; cũng như có không ít người tự hào về chỗ học rộng, biết nhiều, làu thuộc trăm kinh, vạn quyển, nhưng đối chỗ cùng tột của đạo "không một pháp có thể lập", thì chỗ "biết" bằng vọng biết ngoài tâm ấy hoàn toàn không dính dấp tới "nó". 

Đã biết các pháp môn do Phật phát minh đều là phương tiện, đều là vật tạm mượn dùng làm bè để qua sông, chẳng phải là cứu cánh, chẳng phải là bờ kia, ấy thế mà có nhiều người lại tự hào, hãnh diện về sự thông kim bác cổ, học rộng biết nhiều, cũng là cái túi chứa tri kiến sanh diệt mà thôi. Những người như thế há chẳng phải là còn nhiều trói buộc, còn chấp ngã, chấp tướng, đối chỗ hật sự vô vi giải thoát thì chưa là gì cả, cũng có nghĩa là đối với đạo khó có chỗ nào để có thể gọi là có chút "thấm tháp" được. 

Người học rộng, đa tri kiến (mà chưa thấy tánh) có khác chi kẻ chạy theo hằng vạn ngón tay của Đức Phật để tìm trăng, ngón nào cũng dòm, cũng quan sát, cũng chấp thủ trong khi chỉ có một ông trăng duy nhất để thấy? Tại sao không biết trụ con mắt vào chỉ một ngón tay duy nhất của Thế-tôn để tìm trăng có phải thật tế và ích lợi hơn không? Khéo biết nương một pháp hợp với căn cơ và biết đào sâu đến tận gốc rễ pháp ấy để kiếm tìm chơn lý, để tự thăng hoa vượt thoát nhơn quả là điều người trí nên làm, chứ đâu phải ngồi vào bàn tiệc mà món nào cũng gắp, món nào cũng nhâm nhi, thưởng thức để rồi bình phẩm khen chê, món này ngon, món kia dở. Ngon dở là tuỳ sở thích của từng người, cũng là pháp vọng (chấp) kết buộc trong nhơn quả sanh diệt mà thôi. Muôn pháp do duyên sanh, thành trụ hoại không, sanh trụ dị diệt, sanh lão bệnh tử, mỗi mỗi đều có chỗ dụng riêng, cùng pháp pháp tương sanh tương diệt trong nhơn quả, mà thảy thảy cùng đạo tương ưng, tương hợp, cũng là tự nhiên như nhiên, nếu đương thể vô ngã, không tâm, vô tác ý. Thí như không thể nói tại sao không là cây lim, cây trắc, cây hương cứng cáp, quí giá mà là cây chuối, cây khoai, cây cà kia chứ. Bỡi vì kẻ nhà giàu kia đã quá sung túc, chẳng gì là không có ngoại trừ muốn cất một cái nhà lầu thật lớn bằng gỗ cứng chắc nên mới cho cây lim, cây trắc, cây hương là quí, là có ích.  Nhưng nếu người ấy bảo với người bình dân tầm thường, hằng ngày lo kiếm cái ăn còn không đủ, rằng : "Sao anh trồng cây chuối, cây khoai, cây cà làm gì, anh hãy trồng cây lim, cây trắc là những thứ cây quí hiếm mới phải chớ. Anh thật là rồ dại!". Theo bạn, thì ai trong đây là người ngây? 

Phật pháp cũng vậy. Tuỳ căn cơ, duyên phước từng mỗi chúng sanh mà Phật phát minh hằng vạn pháp môn, mà pháp pháp nào cũng đều vi diệu. Thế nhưng pháp vi diệu cho căn trí này chưa chắc đã vi diệu cho căn trí kia. Bỡi cớ sao? Đó là vì Phật tuỳ duyên nói pháp mà không có chỗ buộc ràng, nghĩa là tuỳ căn cơ mà không ra ngoài Trung-Đạo.  Còn người thế gian chưa sạch tâm chấp ngã chấp pháp nên chỗ nói pháp thường hay vướng mắc với khái niệm phân biệt, cột buộc với nhơn quả hai bờ. 

   Đã là chúng sanh thì không ai không mắc phải bệnh phiền não, tử sanh. Tuỳ từng người bị bệnh mới phát hay đã lâu, nặng hay nhẹ khác nhau mà mỗi người cần phải được điều trị bằng một phương pháp khác nhau, một toa thuốc khác nhau, khó có ai giống ai, vì vọng tâm của từng người trong mỗi sát na còn sai biệt trùng trùng, huống là nhiều tâm vọng chất chứa nhiều nghiệp vọng lâu mau, nặng nhẹ khác nhau, thì các phép điều phục vọng tâm cũng có chỗ sai biệt vậy.  Cứu cánh của người bệnh đang cần điều trị là được hết  bệnh, khoẻ khoắn như xưa, chứ không phải làm ông Thần-Nông nếm thuốc. Vị thuốc nào cũng nếm để biết dược tánh hàn, nhiệt, ôn, nhu, cam, khổ là việc của Thần Nông, cũng như phát minh từng pháp pháp giải thoát khác nhau ứng hợp cho từng mỗi căn cơ, duyên nghiệp chúng sanh là việc của bậc Đại-Giác. Cho nên, nếu không hiểu rõ điều này, thay vì một người một bè cố công gắng sức tự chèo chống để qua bờ kia, lại  cứ nhảy hết bè này sang bè khác, bè lớn bè nhỏ, bè tre, bè chuối gì gì cũng biết, bè nào cũng có dấu chân mình, lại khởi vọng phân biệt khen bè này, chê bè kia mà thiệt tình tự bản thân mình không đi tới đâu cả. Thế thì biết đến bao giờ mới sang sông được. 

Chỉ cần dùng một bè mà quyết chí chèo chống đến nơi đến chốn, còn hơn là nhảy nhót lung tung. Đến khi qua được tới bờ kia ngoảnh đầu nhìn lại, thì ra mọi cái bè to nhỏ dài ngắn vuông tròn có khác nhau, ứng hợp cho từng mỗi căn cơ,  nhưng công năng vẫn chỉ một, là độ người sang sông. Thế nên chợt khởi tâm phân biệt, khen bè này hay chê bè kia dở thì ngay đó tự sái. 

Người nào tự hào về chỗ đa văn, đa tri thức cũng vậy. Những người ấy đâu biết rằng, biển pháp mênh mông không ngằn mé, mà người tu ví như chiếc thuyền con trên sóng nước, không biết đâu là bến bờ, thế thì tri thức của một người làm sao hiểu hết Phật pháp. Nếu muốn hiểu hết, biết hết chỉ khi nào người ấy cùng đạo tương ưng, đương thể vô ngã, vô vi, vô pháp, tất thảy tự như, cũng là ngộ ra không có gì để gọi là "hiểu" trong đây cả, ngoài tánh "Giác" sáng suốt, chơn như tự tại. Vì hiểu, cũng là thấy nghe hay biết ngoài chơn tâm, là nhơn duyên vọng lập, là lìa tánh biết chơn thật, lìa "Giác", mà hiểu, tức cũng là pháp vọng. 

Vả lại, những người ấy đâu biết rằng, đã gọi là pháp, thì cũng không ngoài vạn pháp duyên sanh từ chơn như tự tánh, cũng là vô ngã duyên khởi trùng trùng mà pháp pháp sanh khởi bất tận, bất tận tận. Đức Thế tôn là bậc Toàn-Giác, có trọn lục thông, ngũ nhãn (nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn) đầy đủ biện tài, mới dùng phương tiện thiện xảo, tạm gọi là "pháp" làm tay chỉ trăng, khiến chúng sanh biết nương theo đó, để quay ngược đầu mà nhìn trở lại, để bắt gặp tánh thấy biết chơn thật cũng là ngộ tự tánh chơn như, sáng trong vô nhất vật mà hay sanh muôn pháp, để tự vượt thoát nhơn quả, chứ Ngài có dạy chúng sanh chạy theo trói buộc với các pháp huyễn hóa sanh diệt đúng sai, phải trái, có không, còn mất, chơn giả ngoài một tâm này đâu ?  Cho nên, chỉ do lầm và chấp nên mới tự hào về chỗ đa văn, tri thức, tức cũng là chạy theo các pháp ngoài tâm, làm giàu tri kiến để cùng vạn pháp đi vào sanh diệt mà thôi. 

Tri kiến giải thoát tức là chiếc bè độ sông, là ngọn đèn soi đường chỉ lối cho chúng ta tự chèo chống, tự bước tới để đến bến bờ giải thoát; nhưng để bước được lên bờ giải thoát, cũng là bước lên bờ kia, cũng là tự thăng hoa, thì chúng ta phải biết cởi bỏ hết mớ tri kiến giải thoát cũng là "phương tiện tạm mượn dùng" trước đã, thì mới có thể lên bờ được.  Bằng không chịu buông nó, nghĩa là còn nắm níu các pháp phương tiện làm lẽ sống, thì còn trói buộc trong nhơn quả. Đó là điều hoàn toàn chơn thật. 

Thật ra, dẫu có thông thái đến đâu, gì cũng biết, nhưng nếu không biết vượt thoát khỏi nó, thì cũng uổng cho sở học bình sinh, vì chưa tự giải thoát khỏi tri kiến giải thoát, nghĩa là vẫn còn cột buộc với nhơn quả, thế thì làm sao có thể tự thăng hoa ? 

Ngũ-Tổ Diễn đã ví von những người còn bị tri kiến giải thoát trói buộc : 
"Thí như con trâu kia, đầu, sừng, mình mẩy, bốn chân qua lọt, sao cái đuôi qua không lọt" thật là chí lý. 

Nếu dùng cái tâm bình thường của đạo (không - vô tướng - vô tác) mà hiểu thì ngay đó liền hiểu, tất thảy đều qua, làm sao cái đuôi trâu không qua lọt được kia chứ ! Qua là lẽ tất nhiên. Bằng còn có chút tư duy, động niệm, "chạy theo cảnh ngoài", còn trói buộc với khái niệm đúng sai, phải trái của nhị nguyên thì quả tình khó mà rứt ra được cái sợi dây trói buộc trong đầu mình, chẳng khác con trâu kia qua lọt cái cữa, mà cái chởm lông đuôi thì  vẫn còn bị vướng mắc, níu kéo. 
Phải nên dọn sạch sành sanh không còn một chút gì của tri kiến dính dấp trong đây, dẫu là tri kiến giải thoát tối ưu đi nữa, thì mới mong tự một với bổn lai tự tánh, cũng là đồng nhứt thể chơn tâm, sáng trong vắng lặng, vô nhất vật. 

Cho nên, cái đuôi con trâu kia ắc phải qua lọt, cũng như kẻ kia ắc phải thăng hoa, nếu kẻ ấy biết vượt thoát khỏi tri kiến giải thoát mà mình đang chấp thủ. Còn cái đuôi trâu qua không lọt, có khác nào kẻ đa văn thông tuệ, giàu tri kiến giải thoát mà còn chấp thủ nó, xem nó là của quí, lấy nó làm của riêng, cũng là tứ tướng hiện tiền, cũng là trói buộc trong nhơn quả vậy. Cho nên người trí thì không tự hào về sở học của mình, bỡi đó chỉ là pháp phương tiện tạm mượn, cũng là huyễn pháp trong nhơn quả  mà thôi. 

  Từ xưa nay chư Tổ đắc pháp cũng đã dùng nhiều phương tiện khác nhau chỉ trăng để cứu độ, cũng là cách đền ơn chư Phật. Nay là thời mạt pháp, những ngón tay chỉ trăng cũng không phải là ít. Đồng thời những ngón tay chỉ trăng sai biệt với ngón tay chỉ trăng của Thế-tôn cũng chẳng phải là chẳng xảy ra nhiều trong đời này. Bỡi cớ sao ?  Vì ngón tay chỉ trăng của Thế-Tôn lưu xuất từ cảnh giới tự chứng giải thoát, thanh tịnh sáng suốt, nói nín đều là diệu dụng của chơn tâm, lìa tất thảy tướng, vô ngã, vô pháp, vô tác ý, không một mảy dính dấp tới nhị nguyên nhơn quả.  Còn ngón tay chỉ trăng của không ít người thời mạt pháp, lưu xuất từ tâm tướng cũng là vọng thức sanh diệt, trói buộc với nhơn quả, vì chưa thật sự sáng tỏ cảnh giới tự tại như-lai, chưa tự "một" pháp tánh như-thị, nên mới có chỗ chỉ ra sai biệt .  Bỡi vậy nên mới có câu hỏi của ông bạn trên kia, rằng tại sao tôi thông kim bát cổ, tụng hàng ngàn bộ kinh, thuyết pháp như nước chảy, ấy thế mà đối với đạo chẳng thấy thấm tháp gì cả. 

Làm sao có chỗ "thấm" được khi mà chỉ có mỗi một ông trăng trên cao, trong khi người này lại đang cỡi sóng đếm trăng, tìm trăng trên nước. Vì cái thân tướng sanh diệt kia  đối với vũ trụ sanh diệt vô cùng thì nó chỉ có bé tí, thế mà cứ chạy theo các pháp hữu vi, là pháp vọng, do tâm duyên sanh khởi trói buộc trong cảnh giới nhơn quả, trùng trùng điệp điệp hết lớp này đến lớp khác, như cỡi sóng đếm sóng thì làm sao có chỗ thấm tháp với đạo, với tự tánh chơn như, vô ngã? 

Nếu ai là người tỉnh giác, biết quay đầu dòm lại, biết tự hỏi xem cái kẻ quá sức thông minh, có cái đầu bé xíu mà chứa vạn quyển trăm kinh, lại đang thắc mắc này nọ, thiệt  là ai đó;  ngộ ra nó thiệt là gì thì chừng ấy mới có chỗ cùng đạo "thấm tháp". Đến chừng ấy mới vỡ lẽ ra, ồ lên một tiếng, bờ này bờ kia chỉ ngoảnh cái đầu là tới, chưa tới nửa bước là tới, chỉ một sát na là tới, chưa kịp nháy mắt đã tới, thế mà chỉ vì cái tội "chấp" theo cái biết "bị biết lầm" trong vô minh, cũng như cái biết lầm ấy dính khắn trong đầu gỡ không ra nên mới nhảy hết bè này sang bè kia để ngao du, vui say cùng khắp các cảnh giới trong nhơn quả mà quên mất tự chèo chống, để cứu cánh bờ kia. 

Lại nữa, do phàm tâm phân biệt, chấp ngã, chấp tướng trói buộc nên người cầu đạo thường hay quán xét sự việc còn nhiều lầm lẫn, thí như hỏi:  Ai chỉ trăng ? Kẻ cư sĩ tại gia tầm thường kia hay bậc xuất gia cao trọng chỉ trăng; là Hoà thượng, Thượng toạ hay Đại-đức chỉ; là người tu Thiền hay tu Mật hay Tịnh chỉ; ở chùa lớn hay chùa nhỏ, tay dài hay tay ngắn, là già hay trẻ chỉ, mà quên không hỏi, không biết không hỏi, hay không cần biết nên không hỏi, về một yếu tố hết sức quan-trọng, quyết định cho việc tiến tu của chính mình là biết hỏi, chỗ chỉ đó có tương ưng hay không tương ưng với ngón tay chỉ trăng của Đức Thế-tôn. Tương ưng là Phật pháp, là pháp giải thoát chơn thật, viễn ly sanh tử phiền não;  chẳng tương ưng là pháp vọng, pháp ma, pháp trói buộc với các cảnh giới nhơn quả, sanh diệt. 

Do phàm tâm còn nhiều phân biệt, trói buộc, nên người được chỉ thường hay quan niệm, Hòa thượng chỉ thì ắc phải trúng như Phật chỉ, còn Đại-đức, Thượng-tọa là người mới tu, còn trẻ nên chỗ chỉ ắc khó trúng. Cũng như chấp, chỉ có người xuất gia, nói gì, làm gì, chỉ gì cũng trúng, chứ Phật tử tại gia bình thường thì làm sao chỉ trúng được. Hoặc nghĩ, chỉ có người tu theo Thiền của Giáo-tông học nhiều, hiểu rộng, làu thuộc kinh điển, thông kim bác cổ, nói ra như suối tuông nuớc chảy, bất tuyệt thao thao thì chỉ mới trúng, chứ người tu Tịnh, tu Mật chỉ biết hành trì có Lục-tự Hồng-danh hoặc đôi câu mật ngữ của chư Phật thì biết gì mà chỉ, làm sao chỉ trúng được !!! 

Rồi lỡ có ai đó phê phán pháp hành hay pháp công phu của một vị nào đó mà mình tin tưởng tuyệt đối, nếu không muốn nói là cuồng tín, thì tức khắc mình giống như đỉa phải vôi, không nói ra thì ai cũng biết, sự việc rồi sẽ như thế nào. 

Phải biết một điều rằng, chúng sanh hữu tình thì ai ai cũng đồng một tánh Phật, luôn tự hàm tàng, tự sẵn có bên mình, không hề hư mất. Dẫu cho bốn món thành tro, vì nghiệp duyên tội phước trong nhơn quả mà trở sanh khác loài, thay da đổi cốt, hình tướng có khác cũ, nhưng tánh bổn lai thì không hề suy suyển, vẫn chỉ một nó. Như múc nước biển đổ vào hàng vạn chai lọ, keo hũ, đồ đựng hình thù khác nhau. Hình dáng vật đựng to nhỏ, cũ mới, vuông tròn, bầu dẹp, dài ngắn có khác nhau nhưng tánh nuớc trong mỗi vật đựng thì không hai, không khác. Chỉ vì nhơn duyên mà nước trong mỗi chai lọ tuỳ thuận vật đựng hình này thể nọ chứ tánh nước thì không khác. 

Chỉ cần tự khám phá được tánh ướt của nước thì mỗi cá thể ngay đó tự thấy "đang-là" cùng đại hải mênh mông không hai không khác. Tự biết được như thật mình từ đại dương, tánh mình cùng tánh đại dương không hai không khác, tự mình cũng là đại dương, là thành công, mà không nên để ý nhiều đến chai lọ hũ bình cũ mới thấp cao lớn bé đựng nó. Bỡi cớ sao ?  Vì chúng ta chẳng phải là những người đi săn lùng đồ cổ hay đi tìm báu vật quí hiếm ngoài thân, mà là những người đang đi tìm tự tánh Phật chúng sanh của riêng từng cá thể để tự thăng hoa, để không lầm nhơn quả mà cứu cánh giải thoát phiền não, tử sanh, cũng là trở về bổn nguyên sáng trong tịch lặng phi sanh diệt. 

Cho nên, việc tu lâu hay mới tu, xuất gia hay tại gia, già hay trẻ, Thiền tu hay Tịnh, Mật v..v….cốt lõi chỉ một chỗ, mặc dù có nhiều tên, là làm sao sáng tánh Di-đà, cũng là khám phá tự tánh Phật, cũng là ngộ nhập Phật tri kiến, cũng là kiến tánh, cũng là sáng tỏ tánh Viên-giác tự tại v v….  thì liền có chỗ thấy biết như thật các pháp đến đi, mất còn trước mắt là như thế nào; cũng liền ấy, tự thân giải quyết đại sự đến đi trong nhơn quả của chính mình, cũng như vì người mà nói, mà nín, mà làm, mà không làm, nhưng không lìa nó, tự như, tự chủ, tự tại.  Trọn được như thế thì nói gì, làm gì cũng trúng, cũng cùng đạo tương ưng mà không cần biết kẻ đang nói pháp giải thoát kia là ai. 

Nghĩa là khi ấy, diệu tánh Phật chúng sanh đang nói pháp chứ chẳng phải ai nói cả, chỉ là mượn miệng một ai đó để động môi, động lưỡi cho pháp bất khả tư nghì từ cảnh giới chơn như tuỳ duyên tuông trào, cốt làm lợi lạc quần sanh, mà ngay trong ấy vô chủ, vô khách, vô thủ, vô xả, vô ngã, vô thuyết, không gốc gác. Cho nên, hễ sáng tánh này là nói trúng, như người sáng mắt chỉ trăng, mà không cần biết là già hay trẻ, trai hay gái, sang hay hèn, cao hay thấp, học nhiều hay ít học, tu lâu hay mới tu, là người tôn quí hay Phật tử bình thường. 
 

Lục-Tổ Huệ-Năng mới ngoài hai mươi tuổi, nhà nghèo, đi bán củi nuôi mẹ, chưa từng đi học, không biết một chữ nào. Ay thế mà chỉ nghe người tụng Kinh Kim-Cang có mấy câu thì chợt sáng tánh, vào núi Hoàng-Mai cầu đạo không bao lâu đã triệt ngộ Phật đạo, được chánh truyền y bát làm Tổ thứ Sáu của Tông Thiền; trong khi đó Thượng-Toạ Thần-Tú tu trước mấy mươi năm, là đệ tử thứ nhứt của Ngũ-Tổ, là thầy dạy của năm trăm tăng ở núi này thì không chính thức được trao tâm ấn của Phật. Bỡi cớ sao ?  Vì hễ kiến tánh là được việc. Nghĩa là đối với tánh biết tuyệt đối thì "hữu học" lẫn "vô hữu học" đều không chỗ dính dấp; nghĩa là cái biết của tri thức tức "hữu học" cũng chỉ là cây gậy dò đường; còn ngu si, không biết lý lẽ gì do nghiệp, bẩm sinh đần độn hay biếng lười không chịu tu học tạm gọi "vô hữu học", chẳng khác kẻ mù đặc lại không gậy dò đường, thì cũng không can hệ tới "nó". 

Thế thì làm cách nào để có thể lọt vào cữa Đạo, cùng Đạo "thấm tháp", cũng là sáng tánh "biết tuyệt đối" để không lầm nhơn quả mà cứu cánh giải thoát?  Đó chính là vô học, tức nương phương tiện là pháp (tạm gọi là pháp, chứ pháp Phật thì thiệt chẳng phải pháp, cũng chẳng phải không phải pháp, là Trung-đạo) để tự khám phá tánh biết chơn thật, chứ chẳng chấp vào sở học tri kiến mà cột buộc với nó, cũng như chẳng nên biếng lười không chịu học để không biết đâu là con đường giải thoát chơn chánh, hay làm sao đi được trên con đường đó.  Nghĩa "Vô" trong đây tức là Trung-Đạo, là chẳng chấp vào hai bên có học hay không học. Thông thái, bát lãm cùng ngu si, đần độn là hai con đường song song ngược chiều đến đi, cột buộc trong nhơn quả, chẳng dính dấp tới Trung-Đạo, nếu còn chấp thủ hai bên ngã, pháp. Bổn lai tự tánh vốn dĩ chơn như, không thiệt không hư, như hư như thiệt, không là gì cả, không một pháp có thể lập, nên nói "vô" tức chỉ một con đường để thâm nhập, tức Trung-Đạo, chứ chẳng phải nói "vô" là đối với "hữu" mà nói. Hữu, Vô đều là pháp tướng hư vọng trong nhơn quả. 

Thật ra tánh thấy biết tuyệt đối thì lúc nào cũng rỡ rỡ, ràng ràng trước mỏ ác, trước hai lằn mi, trước hai con mắt thao láo của chúng sanh, không phân biệt nam, phụ, lão, ấu hay cao trọng hoặc thấp hèn vv…   Nhưng chúng sanh không nhận ra nó, chỉ vì một tội là vọng tâm thức ý cứ chạy theo cảnh ngoài để thấy, nghe, hay, biết, cũng là lầm biết theo vọng tâm phân biệt, mà không biết tự nhìn vào trong để bắt gặp chính mình vốn thiệt là một "nó". Như sóng ngộ ra chính mình vốn thiệt là nước không khác không hai, thì cũng ngay ấy còn đâu là pháp sanh diệt tồn tại trong cái biết không lầm của sóng nữa. 

Thí dụ như có người hỏi "Đạo là gì?" hay "Phật là gì" chẳng hạng. Thiệt ra, dẫu có nhờ giải thích mà biết được đạo là gì, Phật là gì đi nữa, thì cái chỗ biết ấy cũng chỉ là tướng biết kết buộc trong khái niệm hư vọng của nhơn quả, chỉ có mục đích làm giàu tri thức sanh diệt mà thôi, chứ chẳng phải là tự chính mình ngộ ra cái biết "Giác", cái biết tuyệt đối, cái biết không lầm, cũng là chơn tâm, cũng là Phật tâm, chơn như thường hằng, tự tại, vô ngã, là đạo thường, cùng mình tự "một" không khác không hai, cũng là pháp tánh như-thị. Tới chỗ này thì chợt biết như thật, cái chuyện hỏi Đạo, hỏi Phật là gì, cũng như chuyện tự hào chấp thủ trăm kinh vạn quyển của mình trước kia, thật là trò hí luận, như gãi ngứa ngoài giày, như gió thoảng trên đá, không chỗ "thấm tháp". Rõ rồi thì chỉ tủm tỉm cười thầm mà không lời biện biệt. 

Nếu biết tự nhìn vào trong để hỏi ngược lại, cái kẻ đang hỏi Đạo, hỏi Phật kia là ai mà cứ đi hỏi chuyện tào lao, thiên địa ngoài tâm, cứ hỏi mãi như thế cho đến khi nào bất tỉnh thì cũng có lúc khám phá, bắt gặp chính mình ngay ấy cùng Đạo, cùng Phật "đang-là", không khác, không hai; thì  ngay đó cũng liền tự rõ, chỗ hỏi Đạo, hỏi Phật trước kia của mình cũng bằng thừa, không chỗ dính dấp, vì chẳng ai có thể mở miệng mà trả lời cách chơn thật được, vì hễ chợt mở miệng là cùng Phật, cùng Đạo liền là khác là hai, là bàn Phật bàn Đạo bằng khái niệm sanh diệt, là gãi ngứa ngoài giày, là ngàn trùng xa cách Phật, là tự rời lìa, đánh mất Đạo rồi. Thế nên nói, chỗ này uống nước nóng lạnh tự biết là vậy. 

Bằng không biết nương cái học để tự khám phá bổn Phật, cũng là ngộ tánh biết tuyệt đối, là Giác, thì dẫu có học cao hiểu rộng, đa tri thức để vặn Phật, hỏi Đạo, thao thao bất tuyệt, hoặc si ngây không biết nặn ra được một câu nào để hỏi, cũng là có tri thức và không tri thức, thì cả hai đều là hữu vi pháp kết buộc theo vọng nghiệp nhơn quả, chẳng chút dính dấp tới tánh sáng tuyệt đối, cũng là tánh Phật chúng sanh, để từ đây có thể vượt lìa nhơn quả. 

Nếu biết mượn sở học tri kiến (hữu vi pháp) để biết đường tu, cũng là thật hành tri kiến giải thoát của Thế-tôn để cứu cánh Trung-đạo (vô vi pháp), cũng là sáng tánh biết tuyệt đối, giống như mượn bè tự chèo chống qua sông. Đến bến liền lìa bè lên bờ là hành chánh kiến giải thoát. Lại phải quên ngay cái "bờ kia", cũng là khéo lìa "bờ này" vừa mới có chỗ sở đắc, nghĩa là nên trụ không chỗ trụ, đắc vô sở đắc (được không chỗ được)  tức liền tự thăng hoa, cũng là giải thoát vậy. 

Bằng chưa lìa được cái "bờ kia" mà từ lâu đối sở học mình cho là cứu cánh, thì còn chưa phải là rốt ráo, huống nữa là còn cõng bè mà tìm bờ kia thì làm sao có thể gọi là giải thoát chơn thật được. Trạng thái sau cũng chỉ là lìa chỗ này, trụ chỗ kia, tức cũng là thay da đổi cốt trong nhơn quả mà thôi. 

Thế cho nên, kẻ đã "Biết" chơn thật thì không ai còn đem cái túi chứa tri kiến sanh diệt ra mà hợm mình, hay tự hào vì nó, vì đã trọn "Biết" thì không một pháp có thể lập trong đây. Bằng có một pháp nào chợt hiện,tức có nghĩa là tự lìa cảnh giới chơn như, là cùng nó là khác là hai, là ngàn trùng xa cách. Cho nên, nếu ai khởi vọng tự hào thế này, thế nọ, tức là còn chấp ngã, chấp tướng, tự chứng tỏ mình chưa sáng tánh biết chơn thật, tâm chưa tự như với vạn pháp, nghĩa là tứ tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng còn gồm đủ, đang trói buộc trong sanh diệt pháp, cũng là đang thuyết pháp trói buộc. 

Nói tóm lại, sáng tánh là mục đích tối hậu mà người tu Phật chơn chánh phải nhắm đến ngay trong đời này. 

Bỡi thế, trong Pháp-Bảo Đàn kinh, Lục-Tổ Huệ-Năng đã trả lời rất rõ ràng cho Pháp-sư Ấn-Tông về các pháp Thiền-định và Giải thoát tương quan như thế nào đối với việc kiến tánh. 

Lục-Tổ giảng giải, đại ý rằng : -Pháp của Ngài (Lục-Tổ) chỉ luận về kiến tánh mà không luận về Thiền-định hay Giải thoát. Vì hễ kiến tánh là thành đạo, thì còn cần luận chi Thiền định và giải thoát nữa. 

Nghĩa là thế nào? - Nghĩa là chợt kiến tánh, cũng là chợt khám phá tánh thấy biết tuyệt đối của Phật tâm, thì ngay ấy đương thể ắc Chơn-Thiền, đương thể ắc Tam-muội, đương thể tất Định rồi, cùng Đạo tương ưng, không hai không khác, thì cần gì phải luận tới Thiền-Định nữa. Tới chỗ này mà còn luận Thiền, luận Đạo thì hoá ra trên tuyết thêm băng, trên đầu thêm đầu ư ? 

Lại nữa, chợt kiến tánh thì tự sáng suốt, không lầm nhơn quả; đang ở cảnh giới nhơn quả mà đã không lầm nhơn quả thì trong đây còn có gì trói buộc, và ai trói buộc đâu mà đòi giải thoát?  Đó là lẽ thật vậy. 

Vừa nghe đến đây thì ngài Ấn-tông tỉnh ngộ. 

Thế mới biết, đối với vô-vi pháp, dẫu tu lâu đến già, đến gần chết, nơi pháp thế gian thì chỗ ngồi cao vợi, nhưng nếu chưa tự sáng tâm, tỏ tánh thì chỗ chỉ của người ấy ắc cũng không phải trúng "như thật" như người sáng mắt, mặc dù người trẻ tuổi kia không hề biết một chữ, chưa thọ cụ túc giới, mới chuẩn bị bắt đầu nhập cuộc hoằng pháp mà thôi. 

Thế cho nên, khi Tỳ-khưu-ni Vô-tận-Tạng hỏi Lục-Tổ Huệ-Năng rằng, Thầy đã không biết chữ thì làm sao tỏ rõ nghĩa lý của kinh (Đại Niết-Bàn) được. Thì Lục-Tổ mới trả lời : "Lẽ huyền diệu cao sâu của chư Phật, không cần văn tự". 

Cho nên, chỉ cần trước tiên sáng tánh là được việc. Hễ sáng tánh thì tự biết việc phải làm, mà chớ lo khi ấy không cùng đạo tương ưng. Vì hễ đã thông tỏ bổn lai tự tánh, thì việc nói, việc làm, hay không làm không nói mà không cùng đạo pháp tương ưng, thì quả thiệt cũng khó như người hành trì pháp Phật, từ chỗ mê lầm đến chổ sáng tỏ tánh biết chơn thật vậy. Bỡi kẻ tu hành đã sáng tỏ được tánh thấy biết chơn thật tự tại, đã không lầm nhơn quả, thế mà kẻ ấy còn cố tình xa lìa "nó", cũng là lìa tánh thật của mình để tự trói buộc với nhơn quả, với các pháp đen đúa sanh diệt, thì quả là chuyện hy hữu, xưa nay chưa từng nghe thấy vậy. 

Bạn còn trẻ, tu Phật tại gia, thời gian cũng chưa lâu, nhưng vì nhờ duyên lành nào đó tự lâu đời trong quá khứ, liền chợt tỏ ngộ tự tánh Phật chúng sanh của Bạn, thì ngay đó Bạn tự có chỗ thấy biết như thật Bạn là gì. Thì cũng ngay đó, tay chỉ trăng của Bạn tất phải cùng Đạo tương ưng không hai, không khác, vì ngón tay chỉ ấy cũng lưu xuất từ cảnh giới tự chứng giải thoát, cũng là từ tâm chơn như sáng suốt, không gốc gác, vô thủ, vô xả, vô ngã, vô pháp, vô tác ý, là pháp tánh như-thị; còn cái đích chỉ, chỉ có một chỗ chỉ là chỉ ra chỗ ách yếu khiến chúng sanh biết đường ngộ nhập Phật tri kiến, thấu tỏ tự tánh không tánh, nhứt thiết pháp không, vô ngã duyên sanh, tuỳ duyên bất biến, nói gọn là chỉ ra "pháp tánh như thị", vô ngã duyên sanh, đến như thế, đi như thế, giải thoát như thế, một mạch thông suốt, không gì lầm lẫn. 

Cũng như một ngài Hoà thượng, hay một Thượng toạ trung niên, hay Đại đức trẻ hễ ngộ nhập tánh  này thì ngay đó cùng Bạn "đang-là" pháp giới đồng nhứt thể, vì tự tánh chơn như vốn dĩ tuỳ duyên mà bất biến, nên chợt ngộ thì tự "một" pháp giới tánh, không hai không khác. Cứ gắng tới đó hẵn hay, còn sau nữa thì ai uống nước, nóng lạnh tự người ấy biết. Chỉ cần vượt qua cữa ải này, cữa ải kiên cố "ngộ tánh biết tuyệt đối, chơn thật", cũng là ngộ nhập Phật tri kiến, thì đại sự sống chết ắc cũng giải quyết gần xong. 

Chỉ có điều, tuỳ căn cơ, duyên phước, nghiệp ác, hạnh lành của từng chúng sanh mà có những tám vạn ngón tay chỉ trăng. Và cũng tuỳ từng duyên phận mà phương tiện đưa rước tự có xe lớn, xe nhỏ, thành quả có lâu mau, cao thấp, xa gần mà thôi, nghĩa là cách chỉ cách dòm có khác, chứ thiệt chỗ chỉ chỗ thấy chỉ có một . Chẳng khác ông thầy thuốc trị bệnh. Hằng vạn căn bệnh ứng trên hằng vạn bệnh nhân, trẻ già, trai gái, vua quan, dân đen, người tu, người không tu, mới uống, uống lâu, thuốc đắng, thuốc ngọt vv… Nhưng cứu cánh chỉ một, là hết bệnh, khoẻ khoắn, tự tại. Hễ ai uống đúng thuốc, lại chịu khó uống theo lời lương y (thầy thuốc giỏi có lương tâm) hướng dẫn, thì mau hết bệnh, bằng không được như thế thì chịu, chẳng thể so đo già trẻ, lớn bé, cao thấp, sang hèn trong đây, cũng như chẳng ai, kể cả vị lương y kia có thể uống thuốc giùm mà mình hết bệnh được. 

Biết đích đến là hết bệnh, là khoẻ khoắn, tự tại nhưng tự thân có chịu uống thuốc hay không lại là việc khác. Hoặc ngồi đó không chịu uống thuốc mà cứ vuốt ve, nịnh bợ, ỷ lại nhờ thầy thuốc giỏi uống giùm để cho mình hết bệnh thì chỉ có người ngây mới làm như thế. 

Lại nữa, dẫu sáng tánh này mà nói pháp, thì thiệt đó cũng là pháp phương tiện, là vật ngoài, không chỗ dính dấp tới "nó" của chính mình, như gãi ngứa ngoài giày, huống là chưa sáng mà nói, cũng là lìa tự tánh mà nói pháp, thì chỗ nói này còn đi xa hơn, nghĩa là nói pháp phương tiện của phương tiện. Cho nên chỗ này chúng ta nên cẩn thận. 

Hãy ráng mở chứ đừng nên thắt, vì đã là người tu để giải thoát thì trước tiên phải mở rộng tâm mình, nghĩa là nên cởi chấp. Bằng còn chấp ngã, chấp pháp, chấp thường, chấp đoạn cũng là còn tự lấy dây buộc mình. 

Cho nên, thấy pháp chỉ trăng của người này không tương ưng ngón tay chỉ trăng của Thế-tôn, thì hãy cứ không rời lìa tự tánh mà nói, mà chỉ ra, để khiến người ấy "biết" mình bị "biết lầm" mà sửa, để chỗ chỉ của người ấy tương ưng trở lại, không phụ sự trông cậy và uỷ thác của Thế-tôn khi xưa. Bằng bẻ người cho ngay theo ý mình, cũng là chấp, cũng là lìa tánh chơn như vô ngã mà nói, thì người bẻ cùng người bị bẻ đều sái;  vì chẳng tự chơn tánh nói, mà tữ vọng thức hư huyễn nói, thì cả hai người đều là những chúng sanh đang chạy lòng vòng đuổi bắt trong nhơn quả, mà không ai tỉnh cả. 

Do tâm còn nhiều vướng mắc như những gì vừa kể nên mới có những ý tưởng lạ lùng như câu hỏi của một đạo hữu ở trên. 

Nói tóm lại, dù hành trì bất cứ pháp môn nào của Đức Phật, mục đích của chúng ta, tăng cũng như tục, là phải giác ngộ tánh Phật chúng sanh trước đã, để ngay đó tự sáng suốt mà không lầm nhơn quả, vượt thoát nhơn quả, tự chủ, tự tại, rồi sau đó tuỳ thuận nhơn duyên mà tự có chỗ đến đi vô ngại. Dẫu có vào nhơn quả cũng chỉ là việc du hí thần thông, tiếp tục hạnh lành cứu độ chúng sanh theo đại nguyện mà xưa kia đã từng phát thệ với mười phương chư Phật . 

Xem Tiếp Trang 3


c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap