Một
đạo hữu tự giới thiệu là cư-sĩ tu Thiền, đã trường
trai trên ba mươi năm, viết thư hỏi, đại ý :
-"Ngay trong đời này, có rất nhiều người chăm lo tu hành;
họ ăn chay trường, hoặc tu Thiền hoặc theo Tịnh-độ (Pháp-môn
niệm Phật) hàng bốn năm mươi năm; có người (xuất
gia cũng như tại gia) còn làu thông ba tạng kinh lớn, điển
tích cổ kim không chi không biết, không gì không nhớ, rành
tụng hàng ngàn bộ kinh, thuyết pháp như nước chảy; thế
nhưng đối với Đạo, tự thân những người ấy còn chưa
thấy thấm tháp gì, huống là những người mới biết tu trong
thời gian ngắn, ăn rau cỏ chừng dăm bảy năm, không bằng
thời gian các vị nói trên uống trà, đi dạo mát. Ấy thế
mà những kẻ tân tu, tân học không biết tự lượng sức
mình, đặt bày viết sách luận Phật, bàn pháp, nói chuyện
đạo-lý giải thoát; đôi khi lại còn dám phê-phán cả pháp
hành cũng như các "pháp tu" của quí Thầy đức cao đạo trọng,
vừa phát minh ra trong đời này. ....Những kẻ tân tu tân học
này, theo ý ông có đáng nên gọi là cao ngạo, là ngựa non
háu đá, là múa rìu qua mắt Lỗ-Ban không?".
Đáp
: I. Việc cấp thiết và quan trọng nhất trong
đời tu của một Phật tử chơn chánh là, dù ở thời đại
nào, trú xứ nào, địa-vị nào, xuất gia hay tại gia, dù theo
tông phái nào, hành trì bất cứ pháp môn nào của Đức Phật,
thì cứu cánh cũng không ngoài cái đích tối hậu là sáng
bổn tâm, tỏ bổn tánh cũng là giác ngộ Phật tri kiến. Giác
ngộ bổn tánh chơn như tự tại, cũng là sáng tỏ bổn lai
diện mục (dù sanh làm loài nào, trụ trong cảnh giới nào,
thân tướng ra sao thì tánh chơn thật vốn tự sẵn có xưa
nay của chúng sanh ấy vẫn không hề hư mất - đó là tánh
Phật chúng sanh, là mặt mũi xưa nay vậy), thì liền ngay đó
tự sáng suốt, không lầm nhơn quả. Đây là điều hoàn toàn
chơn thật.
(Chúng
tôi mượn chữ của người xưa không lầm nhơn quả, chứ
chẳng nói là không vào, hay không rơi vào, hay không kết buộc
vào nhơn quả. Vào hay không là tuỳ duyên. Còn xác định không
vào hay không rơi vào hay không bị kết buộc vào là pháp đoạn
diệt, nên tránh. Thế nên người xưa dùng từ không lầm,
tức
thấy biết chơn thật, tức tự rõ như thật, tức biết bằng
tánh biết tuyệt đối, tức"Giác" thì vào hay không
là tuỳ thuận nhơn duyên, thật là toàn ý. Tự chủ không
vào thì trở về bổn tánh vô sanh, uyên nguyên tự tại, chơn
như tịch lặng, tức giải thoát rốt ráo, cũng là Niết-bàn
tịch diệt; còn nếu vì hạnh nguyện độ sanh mà ra vào trong
nhơn quả để hành Bồ-tát đạo, thì đương thể tự tại
vô ngã, tánh tướng dung thông, không lầm nhơn quả, sáng suốt
tỏ rõ cảnh giới nhơn quả như huyễn, thì vào hay không
vào là việc làm tự chủ, nên đến đi vô ngại; trong nhơn
quả mà vẫn tự như, không rời lìa tánh "Biết - Giác"sáng
suốt, uyên nguyên, chơn thật, nên lúc nào, ở đâu cũng vẫn
thường- lạc- ngã - tịnh, hoàn toàn khác với chỗ do
bị biết lầm vì nghiệp thức vô minh trói buộc, không tự
sáng suốt, khiến bị dẫn dắt, xô đẩy, lôi kéo, không tự
làm chủ được trong nghiệp thức nhơn quả).
Nhận
ra được bổn lai tự tánh, thì ngay trong đời này, nên biết
tự sống chơn thật trong nó, nghĩa là làm việc, đi đứng,
ngủ nghỉ, nói năng, thuyết pháp, thảy thảy việc, mà nên
"không rời lìa tự tánh Phật chúng sanh".
Thế
nào là sống chơn thật, không rời lìa tự tánh Phật chúng
sanh?
-
Pháp tánh vốn như-thị, cũng là tâm chơn như thường hằng,
tự tại vô ngã, tự tánh không tánh, vốn tự không sanh không
mất, không bớt không thêm, không thiện không ác, không thánh
không phàm, không sáng không tối, không nhơn không qủa, không
thiệt không hư, như như tự tại mà hay sanh muôn pháp; nên
nói sống chơn thật trong nó, nghĩa là nương diệu dụng của
bổn tánh chơn thường vô ngã nhưng khéo sanh muôn pháp mà
động tay múa chân, mà nói mà nín, mà làm mà không làm, mà
thuyết mà không thuyết, để làm tự lợi và lợi tha, nghĩa
là vừa trưởng dưỡng thánh thai để cứu cánh giải thoát
viên mãn, vừa giác tha cứu độ mà vẫn không rời lìa tự
tâm chơn như thường hằng vô ngã; nghĩa là làm tất thảy
việc mà không khởi một vọng niệm nào hệ luỵ tới khái
niệm tương đối của các tướng sanh diệt, tức không trói
buộc với nhị nguyên phân biệt, tức là thường xa lìa các
pháp có không, thường đoạn vướng mắc trong nhơn quả, nghĩa
là vô phân-biệt, vô trụ, vô chấp, vô tác ý, cũng là
trụ tâm không chỗ trụ, là thường trụ pháp giới, là "một"
bổn lai tự tánh, cũng là "đang-là", đương niệm, đồng nhứt
thể pháp-tánh như-thị .
Lại cũng phải biết tự mài gọt, tẩy rửa trong tâm ngoài
thân, tống khứ ra ngoài tất thảy uế nhiễm, ô trược từ
thô đến tế đã từng tích lũy từ lâu đời, để tự sáng
trong không vết tích, hầu trở về lại bổn tánh chơn như
thanh tịnh, tức cứu cánh giải thoát rốt ráo. Nói thì dễ
thế đấy, chứ thực hành thì gian nan biết bao !
Thế
nhưng, với người nhứt tâm vì cầu giải thoát tử sanh nhơn
quả, tự nhận mình là Phật tử mà không thẹn với danh xưng
là đệ tử chơn chánh của Đức Phật trong đời này, thì
dẫu là người xuất gia hay tại gia, trước hết cần phải
hành trì đúng pháp Phật để sao cho sớm sáng tỏ tánh "Biết"
chơn thật, tánh biết tuyệt đối tự sẵn có, là "Giác",
cũng là ngộ tánh Phật chúng sanh trước đã. Điều đó có
nghĩa là nương kinh, mượn pháp mà hành trì chơn chánh
để chuyển tâm, từ tối ra sáng, từ mê ra ngộ.
Sau
đó tư duy tu để thông suốt tánh này, cũng là thấu suốt
nguồn tâm, cũng là thấu tỏ nhứt thiết pháp tự tánh không
tánh, cũng là sáng tỏ lẽ vô ngã duyên khởi duyên sanh, tuỳ
duyên mà bất biến. Tới đó thì tự có chỗ đến đi vô
ngại, cũng là không lầm nhơn quả, cũng là tuỳ duyên mà
đến đi trong nhơn quả để xiểng dương chánh pháp giải
thoát của chư Phật, để cứu độ chúng sanh, cũng là cách
trả ơn chư Phật, mà trong nhơn quả tự không có chỗ buộc
ràng, vướng mắc.
Còn
với người không hiểu tâm ý của Tổ, Phật, tuy tu lâu nhưng
thay vì nương kinh mượn pháp làm phương tiện để ngoảnh
đầu trực ngộ tánh thấy biết tuyệt đối, cũng bổn lai
tự tánh, thì họ lại cứ theo cảnh cảnh sự sự trong kinh
mà giong rủi, mà phân biệt giả chơn đến bất tận, cũng
là lìa tánh biết chơn thật để vọng biết, vọng thấy,
cũng là lìa Phật tìm Phật, cũng là tìm Phật ngoài tâm, cũng
chỉ là cách làm giàu tri kiến sanh diệt mà thôi chứ chẳng
ích gì cho sự nghiệp giải thoát, đó cũng còn gọi là
tâm bị chuyển theo kinh vậy.
Đức
Phật phát minh hằng vạn pháp môn; tuỳ căn cơ duyên phước
từng mỗi chúng sanh ứng hợp mà pháp pháp nào cũng đều
vi diệu cả; tuy có hằng vạn pháp được tạm mượn làm
phương tiện để khai mở nhưng chỉ có một chỗ ngộ nhập
là sáng tánh biết tuyệt đối, tánh biết chơn thật, tánh
biết không lầm, là sáng tỏ bổn lai tự tánh, cũng là sáng
tỏ tánh Phật chúng sanh. Có hằng ngàn vạn nẻo đường để
đi đến chỗ đoạn lìa phiền não tử sanh, nhưng không một
con đường nào dẫn đến giải thoát chơn thật mà không qua
cữa ải này, cữa ải duy nhất là "ngộ nhập Phật tri-kiến".
Sáng
tỏ "tánh Biết chơn thật", cũng là ngộ nhập Phật tri-kiến,
lại thấu suốt lẽ vô ngã duyên khởi, tuỳ duyên bất biến
cũng là tất thảy pháp - tánh không tự tánh, tuỳ duyên sanh
khởi pháp pháp trùng trùng mà vạn pháp vẫn không hề mất
tánh chơn như vô ngã, cũng là pháp tánh như-thị. Biết như
thật vạn pháp đến như thế, đi như thế, khởi sanh như
thế, khởi diệt như thế thì mọi cảnh giới, cũng là "pháp-pháp
tánh không tự tánh" từ vô ngã duyên khởi duyên sanh, đều
là chỗ dừng chân nghỉ tạm, nhơn quả vượt lìa, không chi
trói buộc.
Trong
hầu khắp các bộ kinh Đại-thừa Phương-đẳng, tuỳ từng
thời kỳ, từng quốc độ, tuỳ căn cơ duyên phước của
từng chúng sanh mà Phật thuyết pháp giải thoát; văn ngôn,
danh tự, phương tiện biện tài dùng trong mỗi bộ kinh tuy
có khác nhau, nhưng tựu chung vẫn là một chỗ chỉ, đó là
khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, cũng là kiến
tánh, cũng là khiến chúng sanh nhận ra bổn tánh chơn thật
tự tại của mình để ngay đó tự sáng suốt vượt lìa nhơn
quả, cũng là trở về chơn tánh vô sanh.
Từ
ngàn xưa tới nay, với người tu Phật, khám phá bổn lai tự
tánh là cái đích nhắm, cũng là việc hy hữu đệ nhứt,
mà như Đức Phật đã từng nói, đó là người đại duyên,
đại phước đức, đã từng gieo không biết bao nhiều là
căn lành trong quá khứ, và đến đời này tu hành được thành
tựu đại công đức là kiến tánh, là ngộ nhập Phật tri
kiến, là sáng tỏ tánh Viên-giác tự tại vv…. Chữ nghĩa,
danh từ mà Thế-tôn dùng có khác nhau trong mỗi bộ kinh, nhưng
chỉ có một chỗ chỉ, một chỗ cần khám phá và thâm nhập,
đó là sáng tỏ tánh Phật chúng sanh.
Hàm
linh hữu tình, vạn loại chúng sanh, thể trạng, tướng mạo
của từng loài, từng cá thể có khác biệt nhau, nhưng mỗi
mỗi đều tự hàm tàng bổn tánh chơn như không sanh không
mất, cũng là pháp-tánh như-thị. Dù sanh ra trong loài nào,
to như voi nhỏ như rận, rệp, kiến, gián cũng không mất tánh
Phật chúng sanh. Nói sâu xa hơn, ngay đến loài vô tình như
cỏ cây, đất đá, non nước, trăng sao, vv…. cũng không mất
tánh này. Thế nhưng trong việc tu học trước mắt, người
ta thường ít đề cập tới các loài vô tình, chỉ vì phần
"sắc" thô (bốn đại: đất, nước, gió, lửa) của chúng
thì nhiều, nặng và thô kệch, mà phần tế (tưởng, thức)
thì ít, tánh tướng trong ngoài sai biệt rất nhiều so với
loài hữu tình, nên xưa nay ít người nêu ra, chứ chẳng phải
loài vô tình không có Phật tánh.
Cho
nên đối với các loài vô tình, chúng ta cứ nên bình thản
tu hành, như cùng đi song song mà không chỗ can hệ. Tới chừng
nào mỗi mỗi trong chúng ta tự bừng sáng bổn tâm, triệt
ngộ pháp không, sáng lẽ vô ngã duyên khởi duyên sanh, nhứt
thiết pháp tánh không tự tánh, cũng là pháp tánh như-thị,
thì mỗi người liền tự có chỗ thấy biết chơn thật, vạn
pháp, vạn loại hữu tình, vô tình cũng từ chơn như tự tánh
duyên khởi duyên sanh, tuỳ duyên mà từng loài tự có chỗ
đến đi, được đặt tên sai biệt trong vọng nghiệp nhơn
quả, mà tánh Phật chúng sanh của mỗi mỗi không hề hư mất.
Tức cũng là vô ngã duyên khởi, duyên sanh, tuỳ duyên bất
biến vậy. Chỗ này xin được nói rõ phần sau.
Tỏ
ngộ Phật tánh, ngộ nhập Phật tri kiến tức cũng là tự
sáng tỏ chỗ thấy biết chơn thật của bổn tâm, bổn tánh
thì không lầm nhơn quả, vô ngại đến đi trong nhơn quả.
Không
sáng tỏ tánh thấy biết chơn thật tức là lầm thấy, lầm
biết, tức là lìa Phật tánh mà thấy biết, là mê mờ tối
tăm, bị nghiệp thức hư vọng xô đẩy, dẫn dắt, không tự
làm chủ được mình, trôi nổi vĩnh kỳ trong nhơn quả.
Chợt
ngộ, cũng là "biết chơn thật" mình vốn thiệt là gì, thì
liền ngay đó tự sáng tỏ, giải quyết và tháo gỡ tất
cả mọi trói buộc với nhơn quả, mà từ lâu tự thân đã
bị hệ lụy khiến cho mình phải tự đi vào luân hồi, kết
buộc với phiền não tử sanh mà chính mình không ngờ, không
tự hay biết, cũng là không tự làm chủ được mình.
Chợt
ngộ tánh thì liền ngay đó sáng tỏ tất thảy; mọi mầm
móng, gốc rễ đã từng là nguyên nhân làm cho chúng ta bị
lệ thuộc, bị vướng mắc trước đây, khiến mình không
tự làm chủ được mình, thì ngay đây nhìn lại, không một
chỗ dính dấp, cũng là tự giải thoát, nếu không móng khởi
vọng niệm trói buộc với khái niệm tương đối của nhị
nguyên nhơn quả.
Sở
dĩ chúng sanh không tự chủ được trong nhơn quả, bị nhơn
quả bịt mắt xô đẩy, đánh lừa, trói buộc chỉ vì
một tội thấy lầm, biết lầm. Do bị biết lầm bằng cái
biết của nhơn duyên vọng lập nên vọng chấp thân này, cảnh
này làm thật có, mà tự trói buộc sống chết với nhơn quả,
nhị nguyên.
Chợt
biết mình bị biết lầm thì ngay đó tánh biết chơn thật
của tự tâm bổn tánh hiển hiện, cũng là Phật tánh, sáng
suốt, tự tại, không lầm nhơn quả, vượt lìa nhơn quả;
nhận ra tánh thấy biết chơn thật của bổn tâm (tức cũng
tự "một" đồng-nhứt chơn tâm, không hai không khác) thì dẫu
ở trong nhơn quả cũng tự vô can, không chỗ dính dấp, trói
buộc, vì tự rõ như thật các pháp trói buộc kia đều là
huyễn pháp, hư vọng, không thật có, nên tự chẳng can hệ.
Không
còn bị "biết lầm", thì liền ngay đó tự biết như thật
tử sanh, phiền não, thế giới, cuộc đời, có không, phải
trái, giàu nghèo, cao thấp, phàm thánh, sang hèn, hơn thua vv….
thảy thảy đều là pháp hư vọng, huyễn giả, không chơn
thật, chẳng dính dấp tới mình như ngàn trăng trên sóng nước
mà không chỗ can hệ, trói buộc tới nước, liền tự biết
việc phải làm bèn làm người vô sự, làm chủ chính mình,
không lầm nhơn quả.
Thí
như từ lâu sống với mộng mị, chợt tỉnh thức thì liền
trở về với hiện thực; chợt tỉnh thức thì ngay đó tự
biết, sát-na trước vì mê nên đã lầm, đã nhận cảnh sắc
hư dối trong mộng làm thật; chợt tỉnh thức, sát na sau thì
biết như thật mọi trói buộc, khổ vui, mừng giận, sống
chết, sang hèn trong mộng đều là hư huyễn, giả dối, không
phải thực có; nghĩa là, lúc chợt tỉnh, các pháp hư huyễn,
giả dối kia tự tan biến, rời lìa khỏi mình, hoặc tự thấy
chúng không chút dính dấp, can hệ tới mình, nếu không tự
khởi vọng trói buộc này nọ.
Chưa
sáng tỏ "tánh thấy biết chơn thật" của bổn tâm (Phật
tánh) là còn chỗ thấy lầm, biết lầm của vọng duyên
trong cảnh giới nhơn quả; lầm biết là cái biết bằng tâm
thức ý do nhơn duyên vọng lập, vọng sanh vọng diệt; do không
tự ngộ ra chỗ mình đang bị biết lầm, là lìa tánh biết
chơn thật tự tại mà biết, cũng là biết bằng vọng duyên
nên còn làm chúng sanh, còn ràng buộc với nhơn quả, sanh tử
hai bờ. Bằng ngộ ra mình biết lầm, thì cũng ngay đó hết
lầm, là tự sáng suốt, là tánh thấy biết tuyệt đối, chơn
thật hiển hiện; tánh thấy biết chơn thật phô bày thì không
lầm nhơn quả, cũng có nghĩa là mọi dây mơ rễ má từ lâu
ràng buộc chúng ta trong nhơn quả sanh diệt vì lầm thấy
trong tăm tối, nay chợt sáng, liền tự thấy không còn chỗ
dính dấp, can hệ, tức là tự rời lìa, vượt thoát nhơn
quả.
Tỏ
ngộ tự tánh Phật chúng sanh, cũng có nghĩa là "chợt biết"
mình lâu nay bị "biết lầm" thì liền ngay đó hết lầm, là
bừng sáng, là giác ngộ tánh thấy biết chơn thật, cũng là
mặt mũi vốn có tự xưa nay chưa từng sanh diệt hiển hiện,
thì mọi vấn đề liên quan đến tử sanh phiền não, nhơn
quả luân hồi liền được tháo gỡ tức khắc; nhơn quả
vẫn đó, trước mắt, nhưng không chỗ dính dấp, can hệ nếu
không khởi vọng niệm trói buộc với nó.
"Lầm
biết" có khác nào như người sống trong mộng, cứ tưởng
thiệt mình đang thiệt sống với cảnh thiệt; chợt tỉnh
thức thì liền tự biết là mình đã lầm, đã sống chết,
khổ vui trong mộng mị, hư huyễn, không thật có, mà trước
đó sát-na tự trói buộc với nó; chợt tỉnh biết lầm thì
liền hết lầm, mọi trói buộc một sát na trước tự tan
biến, không chi can hệ. Không chi can hệ tức là tự giải
thoát vậy. Thí như đang trong bóng tối, thấy sợi dây tưởng
lầm con rắn, lo âu sợ hãi, mất ăn mất ngủ. Chợt điện
sáng liền biết đó là sợi dây, thì sự lo âu sợ hãi sát
na trước, thoắt chốc tự tan biến, không còn chỗ dính dấp.
Chưa
sáng tánh thì vọng nghiệp nhơn quả luân hồi, tử sanh phiền
não (vọng - không thật) vẫn còn trói buộc chúng ta, khiến
chúng ta phải bị hệ lụy, bị sai bảo, bị giật dây, không
được tự do tự tại, và cứ thế trôi lăn, biến hiện,
mất còn theo nghiệp thức nhơn quả; như người mù bị
xô đẩy, lôi kéo, dẫn dắt, không tự làm chủ được mình.
Vì
lòng từ thương khắp mọi loài, thấy chúng sanh bị thấy
biết mê lầm, (vọng biết vọng thấy), bị mờ mịt tự tìm
vào đường khổ tử sanh nhơn quả, nên chư Phật mới thị
hiện các cõi để giáo hóa, cứu độ, khiến chúng sanh hết
mê hết lầm mà thức tỉnh, để thấy biết bằng tánh biết
chơn như, sáng suốt, tự tại, vô ngã, cũng là biết bằng
tánh biết sáng suốt của Phật tâm, để từ đó sống chơn
thật trong nó mà tu hành, đến khi tròn quả trở về bổn
tánh chơn như tịch lặng phi sanh diệt, cũng là giải thoát
rốt ráo.
Hết
mê chợt tỉnh thì cũng ngay đó tánh bổn lai chợt sáng. Tự
biết mình đã bị biết lầm, liền hết lầm, ngay đó tánh
biết chơn thật vô thỉ vô chung tự bừng tỏ, các pháp (nhơn
duyên huyễn sanh huyễn diệt) trói buộc trong nhơn quả tự
nhiên rời lìa, tan biến, không dính dấp, tức là tự giải
thoát vậy.
Chúng
sanh đang sống trong mộng mà cứ tưởng là thật, đó là do
chỗ "Biết" bị biết lầm. Nghĩa là chẳng phải biết bằng
tánh biết chơn như vô ngã, sáng suốt tự tại của Phật
tâm, mà biết bằng thức ý sanh diệt do nhơn duyên vọng lập
trói buộc với khái niệm tương đối trong nhơn quả. Nói
tương đối là chỉ cảnh giới của nhị nguyên phân biệt,
là vọng sanh vọng diệt trong nhơn quả vậy .
Do
bị biết lầm nên mới mê mờ khởi vọng chấp; do vọng khởi,
chấp ngã, chấp pháp mà duyên thành vạn sự, vạn hình, vạn
cảnh sai biệt trong từng mỗi sát na, từng mỗi thế giới,
từng mỗi vi trần và tâm ý thức sanh diệt niệm niệm
tự kết buộc vào chúng.
Cái
biết mà chúng sanh nói chung đang thấy, nghe,hay, biết giữa
cuộc đời này là cái biết của tâm duyên, là nhơn duyên
vọng lập, xuất sanh từ vọng tâm, vọng thức, theo nghiệp
mê lầm trong nhơn quả mà có, chứ chẳng phải là chỗ thấy
biết như thật của chơn tâm bổn tánh, chẳng phải là cái
biết "Giác" chơn như, sáng suốt, không đến đi, vô hạn lượng,
cũng là Phật tri kiến.
Ba
đời chư Phật thị hiện ở các cõi nước cũng không ngoài
mục đích chỉ cho chúng sanh "Biết" chỗ chúng sanh bị "biết
lầm, thấy lầm" khiến phải bị kết buộc trong nhơn quả
sanh diệt; cũng có nghĩa là chỉ ra giùm cái "thấy biết" chơn
thật của tánh Phật chúng sanh, cũng là điểm nhãn, khai thị
cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, khiến chúng sanh được
tự tại, có thể tự rời lìa, không lầm nhơn quả, vượt
thoát nhơn quả.
Nói
thì lâu chứ chợt khám phá mình bị "biết lầm" thì cũng
ngay đó "cái biết không lầm" của tự tâm sáng suốt,
chơn thật hiện tiền, cũng là chơn tâm, Phật tánh hiển hiện,
bao la trùm khắp, xuyên suốt như như, không đến không đi,
không sanh không mất, vô thỉ vô chung; liền tự thấy biết
như thật nhơn quả tử sanh đều như huyễn, không thật, biến
hiện mất còn theo vọng nghiệp nhơn quả, mà với mình giờ
đây, không chỗ dính dấp, nếu không khởi vọng niệm trói
buộc với nhị nguyên nhơn quả. Trạng thái này chẳng khác
như chiêm bao chợt tỉnh thức.
Vì
bị lầm chỗ "Biết", rời lìa tánh biết chơn như thanh tịnh
của bổn tâm, bổn tánh mà biết, biết bằng thức ý hư vọng
do tâm duyên, nên mới gọi chúng sanh "vọng biết", vọng thấy,
cũng là thấy lầm, biết lầm, thấy biết không chơn thật,
thấy biết cột buộc trong nhơn quả, sanh diệt hai bờ.
Biết
bằng tánh biết chơn thật của bổn lai tự tánh là Giác.
Giác tức Phật. Biết bằng cái biết bị "biết lầm",
biết do duyên sanh, cũng là nhơn duyên vọng lập là chúng sanh.
Đây mới chính là chỗ mà người tu Phật chúng ta phải hết
sức lưu ý. Nên chăm chăm chú chú thật kỹ chỗ này cho đến
khi tìm ra lẽ thật thì gọi là thành công.
Từ
chỗ này trở về trước, chúng tôi có lập đi lập lại nhiều
lần cùng một chỗ muốn đề cập là "cái biết lầm" và
"cái biết không lầm", cũng không ngoài mục đích lưu ý cho
từng căn cơ có chỗ thấy biết khác nhau theo từng vọng tâm,
từ đó tư duy, tu hành đến chỗ nhận ra cái biết của chơn
tánh cũng có nhiều đường, nhiều ngõ ngách khác nhau, nhưng
chỉ có một cái biết chơn thật là tánh biết, là "Giác"
mà thôi.
Thầy
nói tôi nghe đó là tánh nghe, tánh thường nghe, thường sáng
suốt, là chơn thường, tịch lặng, vô ngã, vô hạn, vô biên,
là Phật tánh. Nhưng nghe cái gì, thế nào, ra sao, ai nghe, ai
nói, phân biệt như thế nào, là cái nghe của nhơn duyên vọng
lập, là vọng nghe (thức ý sanh diệt), có hạn lượng, bó
buộc trong mỗi cá thể hữu tình nơi nhơn quả.
Biết
dùng tánh nghe để nghe, thì ngay đó tự đồng "một" pháp
giới tánh, dung thông, viên mãn, sáng suốt tự tại, không
đến không đi mà bao trùm, xuyên suốt. Nghe bằng nhơn duyên
vọng lập là lầm nghe, là tướng nghe hư vọng, là lìa tự
tánh chơn thật mà nghe, là kết buộc với khái niệm phân
biệt, hư dối, là tự đi theo pháp sanh diệt, ràng buộc với
nhơn quả nhị nguyên.
Có
người đi qua trước mặt, tôi thấy. Đó là tánh thấy, tánh
thường thấy, thường sáng suốt, chơn thường vô ngã, vô
hạn vô biên, là Phật tánh. Nhưng thấy cái gì, to nhỏ ra
sao, màu sắc thế nào, xấu đẹp làm sao thì đó là cái thấy
của nhơn duyên vọng lập, của vọng thức hư huyễn, có hạn
lượng bó buộc trong mỗi cá thể hữu tình nơi nhơn quả.
Biết
dùng tánh thấy để thấy, thì ngay đó đồng "một" pháp giới
tánh, viên mãn dung thông, tự tại vô ngã. Thấy bằng thức
ý do nhơn duyên vọng lập là lầm thấy, là tướng thấy hư
vọng, là chỗ thấy kết buộc với khái niệm, huyễn sanh
huyễn diệt, là tự đi vào nhơn quả.
Chợt
biết mình bị biết lầm, thì ngay đó hết lầm; hết lầm
tức thấy biết chơn thật, cũng là "sáng tánh biết tuyệt
đối" của bổn tâm, chơn thường sáng suốt, tự tại như
như. Trạng thái này còn gọi là sáng tỏ bổn tâm. Đến đây
thì tự biết rõ các pháp huyễn sanh huyễn diệt trùng trùng
bất tận trong nhơn quả mà không chỗ dính dấp tới mình,
nếu không khởi vọng niệm trói buộc với chúng. Trường
hợp này có thể ví như chỗ chợt biết bằng tánh biết chơn
thật sáng suốt (ngộ) của Lục-Tổ Huệ-Năng đang khi Ngài
gánh củi đi bán, được nghe người tụng Kim-Cang kinh mà hốt
nhiên sáng tỏ bổn tâm, bổn tánh.
Nhận
biết nó rồi thì cứ trong đó sống chơn thật với nó mà
tu hành, soi rọi tất thảy mọi ngõ ngách, để thông sáng
nhứt thiết pháp không, tỏ rõ lý vô ngã duyên sanh, tuỳ duyên
mà bất biến. Biết vạn pháp tánh không tự tánh cũng
là sáng tỏ chơn như vô ngã duyên khởi duyên sanh, pháp pháp
trùng trùng bất tận, biết lẽ tuỳ duyên mà bất biến cũng
là vạn pháp không hề mất tánh chơn như thường hằng, cũng
là thấu suốt nguồn tâm, cũng là tỏ rõ Phật tánh (triệt
ngộ), thì liền có chỗ tự tại, tuỳ duyên đến đi qua lại,
thuyết pháp độ sanh, để đền ơn chư Phật. Thông suốt
lẽ vô ngã duyên khởi, thì dẫu qua lại đến đi trong
nhơn quả mà không chi ràng buộc, trói cột, vì sáng tỏ thật
tướng vạn pháp vốn thiệt không tướng. Thật tướng không
tướng cũng là nhứt thiết pháp tánh không vô ngã, do lẽ
vô ngã duyên khởi mà vạn pháp trùng trùng khởi sanh bất
tận, bất tận tận, mà tánh không tự tánh. Giác tri
vạn pháp như thế, thấu suốt nguồn tâm như thế thì dẫu
có tuỳ thuận nhơn duyên, ra vào nhơn quả để thật hành
Bồ-tát hạnh mà độ sanh, cũng là cách đền ơn chư Phật
trong muôn một, thì cũng không gì trói buộc, là tự tại trong
nhơn quả.
Trạng
thái này được gọi là triệt ngộ, có thể ví trong trường
hợp của Lục-Tổ Huệ-Năng giữa đêm khuya được Ngũ-tổ
Hoằng-Nhẫn thuyết cho nghe kinh Kim-Cang, đến câu "ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm" thì Lục-Tổ hoát nhiên sáng tỏ tự
tánh chơn như, biết lẽ vô ngã duyên sanh, tức tất thảy
pháp không, cũng là thấu suốt nguồn tâm, mới bất giác
thốt lên : "Không dè tự tánh vốn tự thanh tịnh. Không dè
tự tánh vốn không sanh diệt. Không dè tự tánh vốn tự tròn
đầy. Không dè tự tánh hay sanh muôn pháp vv….".
Tại
sao sáng tỏ bổn tâm, bổn tánh thì không lầm tử sanh nhơn
quả? Vì khi ấy tự rõ như thật, tướng thật chúng
sanh như huyễn, tất thảy vạn pháp tánh không tự tánh; các
pháp hư huyễn vốn tự chơn như vô ngã duyên khởi duyên sanh,
nên còn duyên thì tuỳ diệu dụng mà động tay múa chân mà
nói mà nín để phương tiện giác ngộ chúng sanh đồng thành
Phật đạo; đến khi hết duyên thì huyễn tướng lại trở
về không, mà tự tánh chơn như không chỗ buộc ràng với
nhơn quả; biết như thật tâm chúng sanh (tâm đang biết lầm
- vọng biết) là do nhơn duyên vọng lập, vọng sanh vọng diệt
trong cái thân hư huyễn không thật, nên tự chẳng có
chỗ dính dấp. Bằng không biết bằng tánh biết chơn thật
tự tại mà biết bằng tâm ý thức sanh diệt, cũng là vọng
biết thì không sao thoát khỏi sự trói buộc của nhơn quả.
Tuy
nhiên, không phải thấy nói thân này huyễn, tâm này hư rồi
ghét bỏ nó, muốn rời lìa nó. Đó cũng là bịnh. Hãy nên
không bỏ cũng không cố nắm níu mà cứ tuỳ thuận nhơn duyên
sống với huyễn thân mà không rời lìa tự tánh. Bỡi nếu
không có cái tâm "vọng biết - vọng thấy" trong cái thân hư
huyễn này thì lấy ai để học, lấy ai tu hành để thật
chứng "tánh biết chơn thật", để tự "một" đang-là pháp
giới tánh, cũng là sáng tỏ "pháp tánh như-thị" đểø
cứu cánh giải thoát rốt ráo.
Đối
tánh biết chơn thật của tự tâm, thì thân tâm này huyễn
sanh huyễn diệt, nhưng lại rất quan trọng, vì không có thân
tâm thức ý, không có lục thức lục căn thì lấy gì
để tu, lấy gì để biết quay ngược vào trong mà ngộ nhập
tánh thấy biết chơn thật, để cứu cánh tự tại, vô sanh.
Đang
trong nhơn quả, vì lầm biết (vọng thức) nên chạy theo vọng
nghiệp, chấp lầm bốn tướng làm thật có (ngã, nhơn, chúng
sanh, thọ giả) mà tự buộc ràng vào chỗ vọng sanh vọng
diệt. Chợt hết lầm cũng là biết bằng tánh biết tuyệt
đối, chơn thật thì ngay đó tự sáng suốt không lầm nhơn
quả, vượt thoát nhơn quả, cũng liền ngay đó "đang-là" pháp
tánh như-thị, tự "một" pháp giới tánh.
Thân
tâm này tuy là hư vọng, huyễn sanh huyễn diệt, không thật,
nhưng tự tánh chơn như thường hằng, phi sanh diệt vốn không
lìa nó. Đó gọi là tất thảy pháp không, thật tướng không
tướng; tự tánh chơn như vô ngã duyên khởi duyên sanh; tuỳ
duyên pháp pháp sanh khởi trùng trùng sai biệt, mà vạn pháp
mỗi mỗi vẫn không hề mất tánh chơn như thường hằng,
nên nói tuỳ duyên mà bất biến. Nhờ pháp Phật, nên chúng
sanh cần biết nương chỗ vọng biết, vọng thấy của thân
tâm hư vọng trong cảnh giới này để tu hành mà trực ngộ
cái biết tuyệt đối, cũng là tự tánh Phật, cũng là tỏ
rõ bộ mặt thật xưa nay vốn có không hề hư mất của mình,
để tự sáng suốt không lầm nhơn quả, vượt lìa nhơn quả,
cũng là giải thoát tử sanh.
Thấu
tỏ, thông suốt lẽ vô ngã duyên khởi, cũng là nhứt thiết
pháp không, thì cứ tuỳ duyên ứng hiện, nơi nào cũng tự
tại, vì tánh tướng dung thông vô ngại, cũng là hạt cải
chứa Đại Tu-di, là tuỳ duyên mà bất biến; pháp tánh như-thị,
bất biến mà cứ tuỳ duyên.
Nói
bất biến là chỉ chơn tâm, Phật tánh, vô ngã tự tại, không
đến không đi, mà bao la trùm khắp, không đâu không "đang-là",
cũng là pháp tánh như thị.
Nói
tuỳ duyên là chỉ tự tánh không tánh, vô ngã duyên khởi
duyên sanh, trùng trùng sanh khởi, vô lượng vô biên cảnh cảnh
sự sự vật vật mà mỗi mỗi không hề mất tự tánh chơn
như vô ngã. Trong nhơn quả chợt trực ngộ tánh này thì liền
không lầm nhơn quả, tự lìa nhơn quả, tự tại đến đi.
Đến
được chỗ này thì tự biết rõ, mỗi chúng sanh đương thể
hàm tàng pháp tánh như-thị (Pháp thân) mà cũng là một pháp,
tức cá thể sanh tử hư vọng (thân hư, tâm vọng) đang trong
cảnh giới nhơn quả. Bị biết lầm nên phải trói buộc với
nhơn quả là một cá thể nối tiếp sanh diệt bất tận trong
đó. Chợt hết lầm, cũng là biết mình bị biết lầm, là
ngộ tánh biết chơn thật tuyệt đối không đến đi của
Phật tâm, cũng là pháp tánh như-thị thì liền thấy bổn
tánh tự vô sanh, không đến không đi, tự tại viên mãn, vượt
thoát tử sanh nhơn quả, dẫu cho cái xác thân đang đeo mang
kia (tứ đại) có tiêu tan thành tro bụi . Không sanh thì không
tử, đó là chơn lý. Thấy biết chơn thật, cũng là sáng tỏ
tánh tự tại thì đến đi vô ngại. Dẫu có vào nhơn
quả cũng tự sáng suốt không lầm, để ngay đây thật hành
hạnh độ sanh, điểm nhãn cho chúng sanh mê lầm biết đường
mà tự vượt khổ, cũng là cách đền ơn chư Phật, mà không
chi ràng buộc.
Pháp
tánh chơn thường vô ngã, như nhứt viên thông, nhưng khéo
sanh muôn pháp nên mới có chỗ thấy nghe hay biết, động tay
múa chân, chau mày liếc mắt. Đó là diệu dụng của chơn
tâm, chơn tánh, cũng là tự tánh không tánh, vô ngã duyên khởi,
tất thảy pháp không, tuỳ duyên ứng hiện.
Do
chúng sanh mê lầm, chạy theo cảnh ngoài, trụ vào chỗ "vọng
biết, vọng thấy" mà cứ cho là thật, cũng là tự xa lìa
tánh thấy tánh biết chơn thật để thấy biết, nên mới
tự kết buộc với nhơn quả tử sanh. Nghĩa là lầm, hay "vọng
biết" thì rơi vào các pháp tướng hư vọng trói buộc với
nhơn quả, sanh diệt. Chợt hết lầm, cũng là biết bằng tánh
biết chơn thật tự tại, tự sẵn có, là Phật tánh, thì
dẫu đang trong cảnh giới nhơn quả cũng không lìa tự tánh
sáng suốt, bỡi đương thể "đang-là" pháp tánh như-thị,
nên không lầm nhơn quả, nhơn quả chẳng thể trói buộc.
Chợt
biết bằng tánh biết chơn thường vô ngã, thì tử sanh nhơn
quả trước mắt đâu đâu cũng là nhà ở tạm, là chỗ trú
chân, ra vào đến đi an nhiên tự tại, không chi can hệ. Vì
ngay đó tánh biết tự sáng tỏ, "Giác" nhứt thiết pháp không,
thân tâm cùng cảnh giới này cũng từ chơn như vô ngã duyên
sanh. Vô ngã duyên sanh cũng là tuỳ duyên mà bất biến. Vì
chơn như vô ngã sanh khởi trùng trùng mà vạn pháp không mất
tánh chơn thường vô ngã. Nghĩa là tự tánh không tánh, chơn
như bất biến mà thường tuỳ duyên, hay sanh muôn pháp mà
pháp tánh vẫn chơn thường như như (bất biến), nên dẫu
có hiện tướng tuỳ duyên ra vào nhơn quả nhưng sáng tỏ
pháp tánh như-thị cũng là đương thể vô ngã chơn thường,
thì nhơn quả cũng không dính dấp, không trói buộc.
Bằng
không tỏ ngộ lẽ vô ngã duyên sanh, nhứt thiết pháp không,
tuỳ duyên bất biến, mà vọng duyên thành cảnh cảnh sự
sự vật vật thì liền có chỗ buộc ràng, vi trần thế giới
chuỗi chuỗi lập thành bất tận, cũng là tự nhắm mắt đi
vào nhơn quả, cùng vạn pháp sanh diệt trói cột vĩnh
kỳ.
Phải
thấy biết như thật rằng tử sanh phiền nào, cảnh cảnh
sự sự đều không ngoài lẽ vô ngã duyên khởi duyên sanh
mà tuỳ duyên huyễn sanh huyễn diệt, chứ thật tướng phiền
não, tử sanh, cùng nhứt thiết vạn pháp vốn thiệt chơn như
không tướng, cũng là tất thảy pháp không, thật tánh không
tánh, chơn thường tự tại, vô ngã vô pháp.
Cho
nên, chợt sáng tỏ pháp tánh như-thị, rõ lẽ chơn như vô
ngã duyên khởi, liền trụ tâm không chỗ trụ, cũng là an
trụ pháp giới thường trụ, thì dẫu trong sanh tử nhơn quả,
nơi nào chẳng phải là chỗ để nghỉ chân, tự tại đến
đi, lúc nào không là thường, lạc, ngã, tịnh.
Xem Tiếp Trang
2
