|
.
GÍAO
LÝ VÔ THƯỜNG
Nguyên
tác: All About Change, của Tỳ Khưu Thanissaro
Việt
dịch: TN. Chân Giải Nghiêm
 |
 |
(Có
thể tùy nghi in lại để dùng cho cá nhân hay phổ biến
miễn phí. Ngoài ra, tác giả giữ bản quyền.)
Lời
Người Dịch: Phân tích những
ngộ nhận phổ thông về giáo lý Vô Thường. Phân tích chủ
đích của Đức Phật khi dạy về 3 đặc tính Vô Thường,
Khổ và Vô Ngã của các pháp, Ngài dạy về 3 đặc tính này
như những cánh cửa (phép quán) để đi vào giải thoát chứ
không phải như những khẳng định, triết lý về cuộc đời.
Vô
Thường là trọng tâm của tuệ giác đạo Bụt -- điều này
phổ thông cho đến nổi đã nảy sinh ra một câu kết quen
thuộc: ‘Há chẳng phải giáo lý nhà Phật là vô thường
đó sao?’ Điều ít được biết đến là trọng tâm này nằm
trong một bố cục, và vô thường không phải là điểm tuệ
giác khởi đầu hay kết thúc. Tuệ giác bắt đầu bằng câu
hỏi đánh giá vô thường dưới ánh sáng của ước vọng
muốn có một hạnh phúc chân thật. Tuệ giác dừng lại ở
một hạnh phúc vượt ra ngoài vòng biến chuyển đổi thay.
Khi bố cục này bị quên đi, người ta tự tạo ra những chủ
hướng mới cho giáo pháp, và thường cho rằng Bụt cũng giảng
dạy trong cùng những chủ hướng này. Hai trong số những chủ
hướng bây giờ thường được gán vào cho Bụt là:
Kiến
giải về vô thường dạy ta ôm ấp những gì ta kinh qua mà
không bám vào chúng -- tận hưởng chúng trong giây phút hiện
tại bằng cách trân quý sự biểu hiện của chúng, biết rất
rõ rằng rồi ta sẽ phải buông chúng ra để đón nhận những
gì tiếp đến.
Kiến
giải về vô thường dạy ta hy vọng. Bởi vì vô thường nằm
trong bản chất của mọi vật, cho nên không có gì có tính
cố định, kể cả bản ngã chúng ta. Cho dù hoàn cảnh có
tệ đến đâu, thì chuyện gì cũng có khả năng trở thành
hiện thực. Ta có thể làm được những gì ta muốn làm, xây
đắp nên cõi đời ta muốn sống, và trở nên những
gì ta muốn trở nên.
Cách
diễn dịch thứ nhất cho ta sự khôn ngoan biết hưởng thụ
những khoái lạc có tính cách chủ quan, nhất thời trong khi
ta không muốn chúng biến dị đổi thay; cách diễn dịch thứ
hai, cho ta biết tạo ra sự đổi thay khi ta muốn. Dù đôi lúc
được trình bày như những kiến giải bổ sung, hai cách diễn
dịch này chứa đựng một mâu thuẫn có tính thực tiễn:
Nếu các kinh nghiệm đều phu du và dễ đổi, thì có đáng
để phải nhọc công tạo tác ra chúng hay không? Làm sao ta
có thể tìm thấy hy vọng đích thực trong viễn cảnh một
thay đổi tích cực khi ta không thể thực sự nghỉ ngơi trên
thành quả? Há chẳng phải ta đang sắp xếp cho mình một sự
thất vọng đó sao?
Hay
phải chăng đây lại là một trong những nghịch lý không thể
tránh được của cuộc đời? Trí tuệ cổ truyền dân gian
từ nhiều nền văn hoá cũng bảo vậy, khuyên ta hãy đón nhận
đổi thay bằng thái độ vui mừng dè dặt và thản nhiên khắc
kỷ: tự rèn luyện để không vướng mắc vào kết quả của
việc mình làm, và chấp nhận không thắc mắc sự cần thiết
của việc phải liên tục chế tác những khoái lạc phù du
với hết khả năng mình, bởi chọn lựa duy nhất còn lại
là sự ù lì và tuyệt vọng. Lời khuyên này cũng thường
được gán ghép cho Bụt.
Nhưng
Bụt không phải là người chấp nhận sự việc không cần
thắc mắc. Trí tuệ của Người nằm ở chỗ thấy rõ rằng
nỗ lực dồn vào việc chế tác hạnh phúc chỉ đáng công
khi những vận hành của sự thay đổi có thể được xử
lý một cách khéo léo để đạt tới một hạnh phúc nằm
ngoài sự đổi thay[1]. Bằng không thì chẳng qua chúng ta chỉ
là những người tù trong trại khổ sai, bắt buộc phải chế
tác không ngừng những lạc thọ để nguôi đi cơn đói của
mình dẫu thấy rằng những tưởng tượng này chẳng có lấy
một chất thật nào và chẳng bao giờ có thể làm cho ta no
nổi.
Những
nhận thức này tiềm ẩn trong câu hỏi, mà theo Bụt, nằm
ở chỗ khởi đầu của kiến giải:
‘Điều
gì, khi thực tập, sẽ đưa đến cho tôi an ổn và hạnh phúc
lâu dài?’[2]
Đây
là một câu hỏi chân thành, thúc đẩy bởi ước muốn nằm
sau tất cả mọi hành động có ý thức: để đạt được
những mức độ hoan lạc, xứng với công sức bỏ vào. Câu
hỏi này nẩy sinh từ chỗ nhận thức rằng cuộc đời đòi
hỏi sự ra công, nếu không cẩn trọng thì cả cuộc đời
ta có thể trôi đi trong oan uổng. Câu hỏi này, cùng với những
nhận thức và ước muốn đằng sau nó, quy định ý hướng
chữ Vô Thường của Bụt. Nếu xét kỹ câu hỏi này, ta thấy
mầm mống của mọi kiến giải của Bụt trong việc chế tác
và tiêu thụ sự thay đổi.
Vế
thứ nhất của câu hỏi – ‘Điều gì, khi thực tập,
sẽ đưa đến cho ...’ -- nhắm vào các vấn đề của
việc tạo tác, và vào hiệu quả của hành động. Trước
khi Giác Ngộ, Bụt đã rời nhà, vào nơi vắng vẻ để tìm
hiểu một cách chính xác vấn đề này: để biết năng lực
hành động của con người có thể đi đến đâu, và có thể
đưa tới một bình diện vượt ra ngoài tầm với của vô
thường hay không. Sự Giác Ngộ của Ngài là sự xác nhận
khả năng này -- nếu hành động được phát triển đến một
bậc thuần thục thích hợp. Và Ngài đã dạy bốn loại hành
động, tương ứng với bốn mức độ thuần thục: ba loại
tạo ra các kinh nghiệm dễ chịu, khó chịu và pha lẫn (giữa
khổ và lạc) trong vòng thời gian và không gian; loại thứ
tư vượt trên hành động, đưa đến mức độ an lạc vượt
lên trên bình diện của thời gian và không gian, do đó từ
bỏ nhu cầu phải tạo tác thêm một an lạc nào nữa[3].
Mọi
tạo tác và tiêu thụ đều đòi hỏi yếu tố thời gian và
không gian, cho nên trên bản chất, hạnh phúc siêu xuất không
gian và thời gian thì không chế tác (sinh) hay tiêu thụ (diệt)
được[4]. Do vậy, khi Bụt đạt đến phúc lạc ấy và bước
ra ngoài những lề lối tạo tác và tiêu thụ, Ngài đã có
thể quay lại và nhìn một cách tường tận những hoạt động
này đã ảnh hưởng sâu rộng như thế nào trong đời thường,
và thường giam hãm ràng buộc đến đâu. Ngài thấy rằng
kinh nghiệm của chúng ta về hiện tại là một hoạt động
-- một cái gì đó được chế tác hay sinh ra, từ giây này
sang giây khác, từ chất liệu cung cấp bởi những hành động
trong quá khứ. Ta tạo ra ngay cả bản ngã của mình, cảm tưởng
mình là ai. Đồng thời, ta cũng cố gắng thọ hưởng những
lạc thọ tìm thấy trong những gì ta vừa tạo tác – dẫu
cho trong ước muốn thọ lạc của mình, ta vẫn thường ngấu
nghiến khổ đau. Trong từng giây phút, sự tạo tác và tiêu
thụ đan kết lẫn nhau: ta tiêu thụ những kinh nghiệm ngay
khi ta tạo chúng, và tạo tác chúng ngay khi ta tiêu thụ. Cách
ta thụ lạc hay thụ khổ có thể tạo thêm những lạc thọ
hay khổ thọ khác, bây giờ và tương lai, tùy thuộc vào sự
khéo léo của chúng ta.
Vế
thứ hai trong câu hỏi của Bụt có ba phần -- ‘tôi/ an ổn
và hạnh phúc/ lâu dài’ – quy định những tiêu chuẩn để
đo mức thâm sâu của chúng ta trong việc tiến đến chân lạc
hay hạnh phúc. (Từ Pali – sukkha – có thể được dịch là
lạc, hạnh phúc, an ổn/nhàn, hay cực lạc.) Áp dụng những
tiêu chuẩn này cho các kinh nghiệm mà ta tiêu thụ: nếu chúng
không lâu bền, thì dù có dễ chịu đến đâu, chúng cũng
không phải là chân hạnh phúc. Đã không phải là chân hạnh
phúc thì không có lý do gì lại nhận chúng là ‘của tôi.’
Kiến
giải này thành lập nền tảng cho giáo lý Ba Đặc Tính, Bụt
dạy để kích thích khả năng xả ly đối với các kinh nghiệm
thông thường, bị ràng buộc bởi thời gian và không gian.
Anicca, đặc tính đầu tiên, là mấu chốt. Anicca áp dụng
cho tất cả những gì thay đổi, thường được dịch là ‘vô
thường’ (impermanent), chính là phủ định của nicca, nghĩa
là vững bền, bất biến (constant) hay có thể trông cậy được
(dependable.) Những gì thay đổi thì không bền vững (inconstant.)
Sự khác biệt giữa ‘không bền lâu’ (impermanent) và ‘không
bền vững’ (inconstant) có vẻ như thuộc về ngữ nghĩa, nhưng
lại có tính cốt yếu trong cách anicca vận hành trong giáo
lý của Bụt. Các Kinh cổ thường nhắc đi nhắc lại rằng,
nếu cái gì anicca thì lập tức nối theo hai đặc tính kia:
dukkha(khổ) và anatta (không phải ngã, phi-ngã), nghĩa là không
đáng để nhận là ta hay của ta.
Nếu
dịch anicca là không bền lâu (impermanent) thì mối quan hệ
giữa Ba Đặc Tính này có thể bàn cãi được. Nhưng nếu
dịch là không bền vững (inconstant), và xét Ba Đặc Tính dưới
ánh sáng của câu hỏi ban đầu của Bụt, thì mối liên hệ
giữa chúng thật rõ ràng. Nếu ta đang tìm những nền tảng
có thể trông cậy được cho sự an ổn và hạnh phúc lâu
dài thì những gì không bền vững tất nhiên là chỗ đáng
lo ngại để treo hy vọng mình vào đó -- giống như tìm cách
nghỉ ngơi trên một cái ghế không vững, các chân ghế có
khả năng gãy bất cứ lúc nào. Nếu hiểu rằng ý thức về
cái tôi của mình chỉ là một sản phẩm của ước muốn
và tạo tác – mình chọn tạo ra nó – thì không còn một
lý do hấp dẫn nào nữa để tiếp tục tạo ra cái ‘tôi’
và ‘của tôi’ xung quanh những gì (kinh nghiệm) không kiên
định và đáng lo rầu. Ta muốn một cái gì tốt hơn. Ta không
muốn biến kinh nghiệm đó làm mục đích của sự thực tập
của mình.
Vậy
ta làm gì với những kinh nghiệm không kiên định và đáng
lo rầu? Ta có thể xem chúng như vô dụng và vất đi, nhưng
như vậy thì uổng phí quá. Ta đã mất công làm ra chúng rồi;
rốt cuộc, cách duy nhất để đạt tới mục đích là sử
dụng những kinh nghiệm thuộc loại này. Vậy ta cần học
cách dùng chúng như những phương tiện dẫn đến mục đích;
và vai trò của chúng trong mục đích này được quyết định
bởi loại hành động dùng để tạo tác ra chúng: loại chế
tác ra những lạc thọ có ích cho mục tiêu, hoặc loại không
chế tác ra những lạc thọ có ích cho mục tiêu. Với loại
hành động có ích cho mục tiêu, Bụt gọi là ‘Đạo.’ Đường
hướng này khuyến khích các hành động vị tha (Thí), đức
hạnh (giới), và sự thực tập thu nhiếp tâm ý hay định.
Mặc dù các hành động này vẫn nằm trong bình diện của
Ba Đặc Tính, chúng chế tác ra một loại lạc thọ tương
đối bền vững và an toàn, có tính chất tưởng thưởng và
nuôi dưỡng sâu sắc hơn việc chế tác và tiêu thụ những
dục lạc thông thường. Vậy, nếu ta nhắm đến hạnh phúc
trong vòng biến đổi, thì hãy lưu ý đến sự vị tha (Thí),
đức hạnh (giới), và thu nhiếp tâm ý để chế tác ra hạnh
phúc ấy. Nhưng nếu ta muốn nhắm đến hạnh phúc vượt ngoài
vòng biến đổi, thì cũng những hành động này lại có thể
giúp ta bằng cách nuôi lớn tính trong sáng của tâm ý, cần
thiết cho sự Giác Ngộ. Cho dù đường nào, chúng cũng đáng
để rèn luyện thuần thục. Đây là những dụng cụ căn bản
cho ta, vì vậy ta muốn giữ chúng thật tốt và thật sẵn
để dùng.
Với
những loại khổ và lạc khác – như những khổ, lạc dính
dáng đến những truy cầu dục lạc, và dính dáng đến sự
hiện hữu của thân tâm một cách đơn thuần – chúng có
thể đóng vai trò của những đối tượng được ta uốn nắn
bằng các dụng cụ của mình, vai trò của những chất liệu
của sự hiểu biết dẫn đến Giác Ngộ. Quán sát cẩn thận
chúng dưới ánh sáng của Ba Đặc Tính -- để thấy một cách
tường tận chúng không bền vững, đáng lo rầu (khổ), và
không-phải-ngã ra sao -- ta sẽ giảm dần khuynh hướng liên
tục chế tác và tiêu thụ chúng. Ta thấy rằng sự thôi thúc
nghiện ngập để chế tác ra chúng hoàn toàn đến từ sự
đói khát và vô minh thể hiện qua các trạng thái đam mê,
ghét bỏ, và ảo tưởng. Khi những nhận thức này làm phát
khởi sự xả ly (thản nhiên) đối với những kinh nghiệm
hiện hành (được tạo tác) và những quá trình tạo tác ra
chúng, thì ta bước vào con đường của loại nghiệp thứ
tư, dẫn đến sự Bất Tử.
Con
đường này chứa đựng hai bước ngoặc quan trọng. Bước
ngoặc thứ nhất đến khi tất cả tham đắm và ghét bỏ đối
với dục lạc và đau đớn đã được dứt bỏ, và sự ràng
buộc duy nhất của ta là với hỷ lạc của định. Tại điểm
này, ta quay lại xét hỷ lạc của định chiếu theo Ba Đặc
Tính đã được dùng để quán chiếu các kinh nghiệm dục
lạc. Điều khó ở đây là ta đã trông cậy quá nhiều vào
sự vững chãi của sức định của mình và không muốn tìm
những trở ngại của nó. Đồng thời, tính không kiên định
của tâm định vi tế hơn của các kinh nghiệm dục lạc rất
nhiều. Nhưng một khi ta vượt qua sự miễn cưỡng, không muốn
tìm sự không kiên định ấy, thì chắc chắn ta sẽ có lúc
tìm ra. Và rồi tâm có thể hướng đến Bất Tử.
Đó
là chỗ xảy ra bước ngoặc thứ hai. Kinh điển chỉ rằng
khi tâm đối diện với Bất Tử nó có thể xem đó như một
đối tượng của tâm - một pháp – và tạo ra một cảm giác
vui thích và hoan hỷ đối với nó. Cảm giác về ngã hình
thành sẽ tạo tác và tiêu thụ sự ưa thích, hoan hỷ này
sẽ là chướng ngại cho sự Giác Ngộ hoàn toàn. Đến đây,
logic của Ba Đặc Tính phải rẽ sang một khúc quanh mới. Logic
ban đầu – ‘Cái gì không bền vững thì có tính căng thẳng
và đáng lo rầu (khổ); cái gì căng thẳng và đáng lo rầu
(khổ) thì không-phải-ngã’ -- mở ra khả năng rằng cái gì
bền vững (thường hằng) thì có thể (1) an nhàn và (2) là
ngã. Khả năng thứ nhất thật sự đúng với trường hợp
này: cái gì bền vững thì an nhàn; sự Bất Tử chính là sự
an nhàn tuyệt đối. Nhưng khả năng thứ hai không phải là
một cách khéo léo để nhìn cái thường hằng: nếu bám vào
cái thường như Ngã, ta sẽ kẹt vào sự bám víu của mình.
Để vượt thoát không gian và thời gian, ta phải vượt thoát
hành động tạo tác và tiêu thụ ngã, đó là tại sao kiến
giải cuối cùng của Đạo là: ‘Mọi pháp’ -- thường hằng
hay không – ‘đều không-phải-ngã.’[5]
Khi
kiến giải này đã thực hiện xong việc vượt thắng mọi
ưa thích và hoan hỷ đối với Bất Tử, sự Giác Ngộ toàn
diện xảy ra. Ở điểm này, ngay cả con đường cũng được
buông bỏ, và sự Bất Tử còn lại, dù không còn là một
đối tượng của tâm. Nó chỉ đơn thuần có đó, hoàn toàn
trước và tách ly khỏi sự hình thành của không gian và thời
gian. Mọi tiêu thụ và tạo tác để tìm đến hạnh phúc cũng
chấm dứt, bởi sự an ổn vô tận đã được tìm thấy. Và
bởi vì mọi đối tượng của tâm đã được tận diệt trong
hạnh phúc này, câu hỏi thường hay vô thường, khổ hay lạc,
ngã hay không phải ngã cũng không còn là vấn đề nữa.
Đây
là ý nghĩa của kiến giải đạo Phật về sự thay đổi:
một phương pháp xem trọng những hiệu quả của sự nỗ lực,
và ước muốn căn bản của con người là nỗ lực ấy không
phí uổng, rằng thay đổi có khả năng đưa tới hạnh phúc
vượt ngoài tầm với của đổi thay. Kiến giải này tập
trung vào việc phát triển các khả năng dẫn đến sự chế
tác hạnh phúc chân thật[6]. Nó dùng Ba Đặc Tính – không
bền vững (vô thường), đáng lo rầu (khổ), và không-phải-ngã
(phi-ngã) – không phải như những phát biểu trừu tượng
về hiện hữu, mà như sự khích lệ để hoàn thiện những
khả năng kia, và như những nguyên tắc để đo lường bước
tiến của hành giả. Khi được dùng như vậy, Ba Đặc Tính
sẽ dẫn đến một hạnh phúc vượt lên trên Ba Đặc Tính,
các hoạt động tạo tác và tiêu thụ, cũng như toàn bộ không
gian và thời gian.
Khi
hiểu ý nghĩa này của Ba Đặc Tính, ta có thể thấy rõ những
sự thật nửa vời chứa đựng trong những kiến giải trong
việc chế tác và tiêu thụ sự biến đổi thường được
gán ghép sai lạc cho Bụt. Về tạo tác: Mặc dù có thể rằng,
với đầy đủ thực tập và kiên trì, ta có thể tạo ra bất
cứ gì, kể cả một chuỗi ngã kiến hết sức phi thường
từ chất liệu của hiện tại, vấn đề là: cái gì đáng
để tạo tác? Chúng ta đã tự nhốt mình với ám ảnh phải
tạo tác và tiêu thụ những khoái lạc và bản ngã chóng đổi
thay, nhưng cạnh đó là khả năng dùng sự thay đổi để thoát
khỏi ngục tù này, hưởng sự tự do của cái hạnh phúc vượt
thoát thời gian và không gian. Ta muốn tận dụng khả năng
này, hay thích dùng thì giờ rỗi rảnh của mình để thổi
bong bóng trong ánh nắng rọi xuống cửa sổ nhà tù của mình
và cố tìm thấy hạnh phúc từ những hình dạng uốn xoáy
trên những bọt bong bóng trước khi chúng vỡ tung?
Câu
hỏi này gắn liền với sự hiểu biết về việc tiêu thụ:
Tận dụng các kinh nghiệm có tính chất vô thường không có
nghĩa là ôm ấp chúng hay hút lấy cường độ biểu hiện
của chúng. Ngược lại, điều này có nghĩa là học xử lý
các lạc thọ và khổ thọ trong các kinh nghiệm ấy, không
phải như những mục đích phù du trong tự thân chúng, mà như
những công cụ cho mục đích Giác Ngộ. Với mỗi phút giây,
chúng ta được cung cấp các chất liệu – hấp dẫn, không
hấp dẫn. Thay vì ôm ấp chúng trong thích thú hay vất bỏ
chúng đi một cách ghê tởm, ta có thể học cách dùng chúng
để tạo ra những chìa khoá để mở cửa nhà tù của chúng
ta.
Cũng
như với sự khôn ngoan không vướng mắc vào kết quả các
hành động của mình: trong nghĩa thú của Bụt, khái niệm
này chỉ đúng nếu ta quan tâm sâu sắc đến kết quả của
các hành động của mình và muốn làm chủ các tiến trình
nhân-quả dẫn đến tự do đích thực. Nói một cách khác,
ta không đòi hỏi một cách ngây thơ rằng các hành động
của ta – khéo léo hay không -- đều sẽ mang lại hạnh phúc
tức thì, rằng bất cứ thứ gì ta đút vào ổ khoá cũng sẽ
tự động mở được chốt cửa. Nếu những gì ta làm đã
không được khéo léo và dẫn đến những kết quả không
mong muốn, thì ta phải chịu công nhận những sai lầm của
mình và tìm cho ra tại sao chúng đã sai để ta có thể học
cách sửa đổi lần sau. Chỉ khi nào ta có kiên nhẫn để
nhìn một cách khách quan kết quả của các hành động của
mình ta mới có thể học, bằng cách tìm hiểu những chiếc
chìa khoá không mở được cửa mà cuối cùng người ta học
được cách làm những chiếc chìa khoá có thể mở được.
Với
thái độ này ta có thể tận dụng các tiến trình thay đổi
để phát triển được khả năng có thể giải phóng ta khỏi
nhà tù của sự tạo tác và tiêu thụ không bao giờ ngưng
nghỉ. Với giải thoát, ta bước vào tự do của một hạnh
phúc chân thật, vượt lên trên các khái niệm nằm trong câu
hỏi ban đầu đã dẫn chúng ta đến đây. Không có gì nữa
cần phải làm; ý niệm về ‘của tôi’ và ‘thuộc về
tôi’ bị đào thải; và ngay cả sự ‘lâu dài’, hàm chứa
thời gian, cũng được xoá sạch bởi vô tận. Còn lại hạnh
phúc nằm tuyệt đối ngoài phạm trù của những quan niệm
hạnh phúc lệ thuộc thời gian và không gian. Hoàn toàn độc
lập bởi các đối tượng tâm thức, nó thuần khiết và không
thể thay đổi được, vô biên và thanh tịnh. Và như Kinh văn
nói, nó nằm ngoài cả phạm trù của ‘tổng thể’ và ‘Tất
Cả.’
Và
đó
là những gì mà sự tu tập trong đạo Phật nhắm đến.
(‘All
About Change’ của Thanissaro Bhikkhu, Việt dịch: TN Chân Giải
Nghiêm, 2004)
Ghi
chú của người dịch:
[1]
Nguyên bản: ‘khi các tiến trình thay đổi có thể sử dụng
một cách khéo léo để tạo lập một hạnh phúc có sức kháng
lại sự đổi thay.’ (‘only if the processes of change can be skillfully
managed to produce a happiness resistant to change.’) Nhưng những
gì do tạo tác thì đều phải theo luật vô thường (‘các
pháp hữu vi đều phải theo luật vô thường mà đi đến hoại
diệt’), đó là điều Bụt nhắc đi nhắc lại cho đến khi
gần nhập Niết Bàn. Vậy dù khéo léo đến đâu, hạnh phúc
do tạo dựng ấy cũng phải thay đổi. Trong khi đó, hạnh phúc
thường hằng, không sinh diệt phải là cái vốn là, điều
quan trọng là ta có buông bỏ những hạnh phúc giả tạm khác
để nhận chân ra hạnh phúc chân thật hay không thôi. Vì vậy,
trong bản dịch chúng tôi sửa chỗ này thành ‘đạt tới
một hạnh phúc ngoài nằm ngoài sự đổi thay’ để tránh
lưu truyền phần nghịch lý trong nguyên bản (theo chỗ thấy
của chúng tôi.) Mục đích dịch bản văn này là để giúp
làm sáng tỏ thêm sự học hiểu và hành trì, do đó chúng
tôi xin mạn phép có sự sửa đổi nhỏ này. Xin ghi lại để
độc giả tham khảo và chiêm nghiệm.
[2]
Sự an lạc này không phải là kết quả của việc tôi làm.
Nhưng việc làm ấy, là con đường (phương tiện) dẫn đến
chỗ an lạc.
[3]
Trong đoạn này, tác giả giải thích việc tu tập giải thoát
có vẻ tương tợ như việc phóng phi thuyền lên không gian:
phần chịu ảnh hưởng của vô thường giống như phần chịu
sức hút của trái đất, hạnh phúc chân thật hay giải thoát
thì vượt ra ngoài quỹ đạo. Theo ý này, sự tu tập giống
như là lực đẩy, đưa phi thuyền đến một tầm mức nhất
định để không bị rớt xuống trái đất nữa. Có lẽ đây
là vấn đề tác giả còn đang trăn trở, sàng lọc. Ai là
kẻ tu tập và chứng đạt giải thoát? (Chủ thể đó là thường
hay vô thường?) Cách phân tích của tác giả sẽ gặp lúng
túng chỗ này. Nói đến Chân Lạc, tức cũng phải là Thường,
Ngã. Vậy ngay từ khởi đầu của sự tu tập ba yếu tố này
vẫn luôn có mặt, vấn đề là sự mê lầm quá lớn mà thôi.
Sự trà trộn, lẫn lộn giữa hai bình diện tích môn và bản
môn là một trong những vấn đề lớn phải khai thông (viễn
ly) của hành giả. Thầy Thanissaro, là một trong những hành
giả rất hiếm hoi, đã có những bước phân định khá rõ
ràng trong vấn đề này (xin xem các bài ‘No-Self or Not-Self’,
‘the Not-Self Stratergy’, và ‘Buddhist Romanticism’ của Thanissaro
Bhikkhu), tuy vậy trong kiến giải dường như vẫn có vài chỗ
cần gạn lọc. Kiến giải đã khó, công phu sàng lọc càng
khó thay.
[4]
Nguyên bản: ‘a happiness transcending space and time, by its very
nature, is neither produced nor consumed.’ Chỗ này tác giả hơi
lấp lửng: có thể hiểu ‘không phải là sản phẩm của
chế tác hay tiêu thụ’ nhưng cũng có thể hiểu ‘không còn
được chế tác hay tiêu thụ.’ Theo ý ở các đoạn trước
và kế tiếp, dường như tác giả muốn nói ‘không còn
được chế tác hay tiêu thụ nữa.’ (Phẩn trên tác giả
đã nói đến một trình độ hạnh phúc nào đó thì không
cần phải chế tác thêm nữa.) Nhưng nếu trình độ hạnh
phúc siêu việt này, đã là kết quả của hành động (tu tập)
thì nó phải theo luật vô thường mà hoại diệt. Do đó ý
này chưa chỉnh. Hạnh phúc chân thật do vậy, không phải là
sản phẩm, hay kết quả của tạo tác. Như vậy, vấn đề
tu tập là chấm dứt sự tạo tác, bám víu, đồng nhất với
những gì có tính chất vô thường, không phải ngã (tức dẫn
đến khổ đau) và sống với cái chân thường, chân lạc (và
chân ngã.) Vấn đề tạo tác không còn đặt ra khi trú với
cái chân thường. Nhưng nếu chưa rõ mặt bản môn và chưa
an trú đưọc chỗ này thì vẫn cần những tạo tác để đưa
đến kiến giải và lắng đọng từ từ.
[5]
Chỗ này tác giả còn đang trăn trở. Thật sự ra, không thể
lấy những đặc tính của tích môn (phạm trù còn lệ thuộc
không gian và thời gian) để nói về bản môn. Không thể nói
chuyện thường, lạc hay ngã, tạo tác & tiêu thụ khi thời
gian và không gian không áp dụng được. Ta chỉ có thể tạm
dùng chúng như một phương tiện để giúp người đang quá
kẹt vào thế giới tích môn. Bất Tử phải là bản thể,
không phải là hiện tượng để nói đến từng cấp bậc,
trình độ như tác giả tìm cách trình bày. Tâm đối diện
với Bất Tử là tâm nào ? Có thể nhị nguyên như vậy chăng?
Và quả như tác giả nói, bất cứ kinh nghiệm nào ta bám vào,
cũng đều không phải ngã.
[6]
Hạnh phúc chân thật không thể là sản phẩm của sự
tạo tác, bởi vì những gì được tạo tác phải theo luật
vô thường. Câu này nên được viết là ‘phát triển các
phương tiện đưa đến hạnh phúc chân thật.’

NIẾT
BÀN (Nibbana)
Nguyên
tác: 'Nibbana', của Tỳ Khưu Thanissaro
Việt
dịch: TN. Chân Giải Nghiêm
 |
 |
Chúng
ta đều biết cái gì xảy ra khi một đám cháy tắt. Ngọn
lửa tàn và đám cháy cũng tắt luôn. Rồi, khi chúng ta mới
học lần đầu rằng cứu cánh của sự tu tập đạo Phật
có tên gọi là Nibbana (Nirvana, Niết Bàn), nghĩa đen là sự
tắt ngấm của lửa, thì thật khó mà hình dung ra một hình
ảnh nào ảm đạm chết chóc hơn cho một cứu cánh tâm linh:
hoàn toàn tiêu diệt hết (tận diệt.) Hoá ra cách đọc đó
là một sai lầm của dịch thuật, không phải về từ ngữ
mà về biểu tượng. Lửa tắt biểu trưng cho cái gì với
người Ấn Độ trong thời của Bụt? Tuyệt đối không phải
là sự tiêu diệt. Theo các Bà La Môn thời cổ, khi lửa tắt,
nó đi đến một trạng thái tiềm ẩn. Thay vì chấm dứt sự
tồn tại, nó yên ngủ và trong trạng thái đó không bị trói
buộc bởi một chất đốt nào nó lan toả suốt trong vũ trụ.
Khi Bụt dùng hình ảnh lửa tắt để giải thích Nibbana với
các Bà La Môn Ấn Độ trong thời của Ngài, Ngài đã bỏ qua
câu hỏi lửa tắt rồi có tiếp tục hiện hữu hay không,
và thay vào đó đặt trọng tâm vào sự không chỉ trỏ được
của một ngọn lửa không cháy[1]: Đó là lời phát biểu của
Ngài rằng người đã tận ‘diệt’ thì không thể mô tả
(chỉ trỏ) được.
Thế nhưng, khi dạy đệ Tử, Bụt lại dùng Nibbana như một
hình ảnh của tự do. Hiển nhiên, tất cả người Ấn vào
thời đó xem lửa cháy là giao động, lệ thuộc và bị bẫy
nhốt vì sự bám víu và mắc kẹt vào chất đốt khi lửa
cháy. Muốn nhen lửa người ta phải 'tóm bắt' nó. Khi lửa
buông chất đốt của nó ra, nó được 'tự do', thoát khỏi
trạng thái giao động, lệ thuộc và bị bẫy nhốt tïnh lặng
và không bị giới hạn. Đó là vì sao thi ca Pali lập đi lập
lại hình ảnh lửa tắt như một ẩn dụ cho tự do. Kỳ thật,
ẩn dụ này là một phần của biểu tượng lửa với những
thuật ngữ khác đính đi kèm. 'Upadana' hay sự bám víu, cũng
trỏ chất nuôi dưỡng lửa rút từ các nhiên liệu. 'Khandha'
không chỉ có nghĩa là uẩn, một trong nậm 'nhóm từ hợp'
(sắc, thọ, tưởng, hành, thức) phân định mọi pháp hữu
vi, mà còn có nghĩa là thân cây. Lúc lửa tắt là lúc nó ngưng
sự bám víu và rút chất nuôi dưỡng từ gỗ, cũng như vậy,
tâm được giải phóng tự do khi nó dụng sự bám víu với
các uẩn.
Vậy, biểu tượng chủ yếu của Nibbana là tự do. Các chú
giải tiếng Pali đã xác minh điểm này qua sự truy dò nguồn
gốc ngôn ngữ của từ Nibbana, có nghĩa là 'tháo mở ra' (giải
thoát)[2]. Giải thoát loại nào? Văn kiện trình bày hai bình
diện. Một là giải thoát trong đời này, tiêu biểu bởi lửa
tắt nhưng than vẫn còn nóng. Đó là trường hợp của vị
A La Hán giác ngộ, nhận thức (biết) các hình ảnh, âm thanh,
cố cảm giác đối với sự dễ chịu hay đau đớn, nhưng
tự do đối với đam mê, chán ghét và ảo tưởng. Bình diện
thứ hai của giải thoát, tiêu biểu bởi lửa đã hoàn toàn
tắt ngấm cho đến nỗi than cũng lạnh. Đó là điều vị
A La Hán (Arahant) thể nghiệm sau đời này. Tất cả mọi xâm
nhập từ các cận đều nguôi hết và vị ấy hoàn toàn tự
do ngay với cả những khổ đau, giới hạn vi tế nhất của
hiện hữu trong không gian và thời gian.
Bụt nhắn đi nhắn lại rằng bình diện này không thể diễn
tả được, ngay cả nói về hiện hữu (Hữu) hay không hiện
hữu (Vô), bởi vì ngôn ngữ chỉ đúng với những sự vật
hữu hạn (hữu biên.) Tất cả những gì Bụt nói về bình
diện này -- bỏ qua một bên các hình ảnh và ẩn dụ -- là:
người ta có thể nếm được kinh nghiệm ấy ngay trong đời
này, và đó là hạnh phúc tối hậu, thật sự đáng để biết
đến.
Vậy, nếu bạn có ngắm lửa tàn lần sau, xin đừng xem đó
là sự hoại diệt mà hãy xem đó như một bài học về: tự
do có thể được tìm thấy như thế nào qua sự buông bỏ.
('Nibbana'
-- Bản quyền 1996, Thanissaro Bhikkhu. Nguồn www.accesstoinsight.org
version 1996. Có thể sao, in, phổ biến bất kỳ ở đâu. Tuy
nhiên, sự phổ biến phải hoàn toàn miễn phí, theo nguyện
vọng của tác giả, các bản dịch và trích dẫn cũng phải
được ghi rõ như vậy.)
TKN
Giải Nghiêm dịch Đông 2001, tu chỉnh lại Jan. 2006
[1]
Khi một ngọn lửa không cháy thì không thể chỉ trỏ nó được.
[2]
unbinding
KHÔNG
CÓ NGÃ HAY KHÔNG PHẢI NGÃ
(Vô
Ngã hay Phi Ngã)
Nguyên
tác: No-self or Not-self, của Tỳ Khưu Thanissaro
Việt
dịch: TN. Chân Giải Nghiêm
 |
 |
Lời
Người Dịch: Phân tích những ngộ
nhận phổ thông về giáo lý Vô Ngã, và vì sao Phật dạy giáo
lý Vô-Ngã.
Một
trong những chướng ngại đầu tiên người Tây phương vấp
phải khi học Phật là giáo lý Anatta, thường được dịch
là Vô Ngã (no-self.) Giáo lý này làm họ hụt hẫng vì hai lẽ:
Thứ nhất, ý niệm không có một cái ngã dường như không
phù hợp với những giáo lý khác trong đạo Bụt như Nghiệp
(Karma) và Luân Hồi (Rebirth.) Nếu không có Ngã, cái gì phải
gánh chịu nghiệp quả (kết quả của nghiệp) và phải tái
sinh?
Thứ hai, ý niệm Vô Ngã không phù hợp với truyền thống
Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo của Tây phương, vốn đặt
nền tảng trên tiên đề có một linh hồn vĩnh cửu (hay một
cái ngã thường hằng.) Nếu không có Ngã thì đời sống đạo
đức, tâm linh còn có ý nghĩa gì?
Nhiều cuốn sách đã cố gắng trả lời những câu hỏi này.
Nhưng nếu tham khảo Kinh Tạng Pali – văn kiện xưa nhất ghi
chép lại lời dạy của Bụt -- ta sẽ không thấy những câu
hỏi loại này được đả động đến ở bất cứ chỗ nào.
Kỳ thực, ở đoạn Kinh duy nhất, khi Bụt được hỏi một
cách rạch ròi: ‘Có hay không có Ngã?’, Bụt đã từ chối
trả lời. Sau đó được hỏi tại sao, Ngài đáp chấp vào
ý niệm ‘Có Ngã’ hay ‘Không Có Ngã’ đều rơi vào hai
biên kiến, chướng ngại cho con đường tu tập. Vì vậy câu
hỏi này cần phải được đặt qua một bên. Sự im lặng
của Bụt cho chúng ta biết gì về ý nghĩa của Anatta? Muốn
hiểu điều này, trước hết ta phải xem lời Bụt dạy về
cách xử lý vấn đề: câu hỏi cần được đặt như thế
nào và trả lời ra sao? và câu trả lời của Ngài cần phải
được diễn dịch (hiểu) thế nào cho đúng?
Bụt phân các câu hỏi thành bốn loại:
1/
loại cần phải được trả lời xác quyết (xác nhận hay
phủ nhận); - (quyết định đáp)
2/
loại cần phải được trả lời qua sự phân tích, định
nghĩa và xác định tính chất của các danh từ dùng trong câu
hỏi; - (phân biệt đáp)
3/
loại cần phải đáp bằng cách hỏi ngược lại, dội banh
về lại sân của nguời hỏi. -(Nghi đáp)
4/
loại câu hỏi phải đặt qua một bên. - (yên lặng
mà đáp)
Loại
chót, bao hàm những câu hỏi không đưa đến sự chấm dứt
khổ đau ràng buộc. Khi được hỏi, bổn phận đầu tiên
của vị thầy là định ra xem câu hỏi thuộc loài nào rồi
trả lời cho phù hợp. Ta không trả lời xác nhận hay phủ
nhận (yes or no) cho một câu hỏi cần phải được đặt sang
một bên.
Nếu ta là người đặt câu hỏi và được trả lời, ta cần
phải định xem câu trả lời cần được diễn dịch đến
mức độ nào. Bụt nói có hai hạng người trình bày sai (xuyên
tạc) lời nói của Ngài: hạng suy diễn thêm những lời không
nên suy diễn thêm, và hạng không suy diễn thêm từ những
lời cần phải được suy diễn.
Đó là những nguyên tắc cơ bản để hiểu lời Bụt dạy.
Nhưng nếu nhìn vào cách luận giải giáo lý Anatta của phần
lớn các tác giả, chúng ta thấy các nguyên tắc này bị bỏ
qua. Một số tác giả tìm cách chứng minh thuyết Vô Ngã (no-self)
nói rằng Bụt bác bỏ sự hiện hữu của một cái ta thường
hằng hay riêng biệt, nhưng đó là đưa ra câu trả lời có
tính cách phân tích cho một câu hỏi đã bị Bụt đặt sang
một bên. Một số tác giả khác lại tìm cách rút ra những
hệ luận từ một vài câu nói trong Kinh có vẻ ẩn tàng ý
không có Ngã, nhưng ta có thể không ngần ngại giả thiết
rằng nếu cố ép những câu Kinh kia cung cấp đáp án cho một
câu hỏi cần phải được gạt sang một bên, người ta đang
phạm vào lỗi suy diễn thêm từ những lời không nên suy diễn
nữa.
Do đó, thay vì trả lời ‘Không’ cho câu hỏi ‘Có Ngã hay
không có Ngã?’, ‘cái Ngã là liên đới (interconnected) hay
riêng biệt? trường cửu hay không trường cửu?’, Bụt nhận
thấy câu hỏi đưa người ta đi về hướng sai lạc ngay từ
đầu. Vì sao? Dù bạn có phân định ranh giới giữa ‘Ngã’
và ‘Tha’ (kẻ khác) như thế nào đi nữa, ý niệm ‘Ngã’
luôn kéo theo yếu tố tự đồng nhất (Ngã chấp) và bám giữ
(Thủ), tiếp nối theo là khổ đau và ràng buộc. Điều này
ứng cho trường hợp cái Ngã là riêng biệt hay cái Ngã là
liên đới, bao trùm tất cả không loại ra ngoài một cái gì
(không có ‘Tha’.) Nếu đồng nhất mình với tất cả vạn
vật, người ta sẽ luôn luôn sầu muộn bởi lá úa cành khô.
Điều này cũng đúng khi cho rằng cái Ngã là một vũ trụ
(cảnh giới) hoàn toàn khác, trong trường hợp này, cảm giác
xa vời, phù phiếm sẽ làm suy nhược tinh thần, khiến cho
công cuộc tìm kiếm hạnh phúc cho mình và cho người trở
nên không sao thực hiện nổi. Vì những lý do này, Bụt khuyên
không nên để tâm đến những câu hỏi như ‘Tôi có?’ hay
‘Tôi không có?’
Để tránh cái đau khổ hàm chứa trong những câu hỏi về
‘Ngã’ (ta) và ‘Tha’ (kẻ khác), Bụt đưa ra một giải
pháp khác, chia kinh nghiệm ra thành từng chặng: Bốn Sự Thật
Cao Quý về Khổ, Nguyên Nhân của Khổ, Sự Chấm Dứt của
Khổ và Con Đường Chấm Dứt Khổ. Ngài nói: những sự thật
này, thay vì xem chúng thuộc về ai – ta hay người – hành
giả nên trực tiếp chứng nghiệm từng sự thật, nhận diện
chúng một cách đơn thuần như tự thân của chúng, rồi thực
hiện những gì cần làm, ứng với mỗi sự thực: Khổ cần
được hiểu, Nguyên Nhân Khổ phải đoạn trừ, Sự Chấm
Dứt Khổ phải được thực hiện, và Con Đường dẫn đến
sự diệt khổ phải được khai mở, thực tập. Giáo lý Anatta
cần phải được hiểu một cách đúng đắn trong chiều hướng
của những việc cần làm này.
Nếu bạn phát triển con đường Giới hạnh, Định lực và
Trí tuệ đến một trạng thái tĩnh lạc và dùng sự tĩnh
lạc này chiêm nghiệm Tứ Đế, câu hỏi hiện ra lúc đó không
phải là ‘Có Ngã không? Tôi là gì?’ mà là: ‘Có phải
tôi khổ vì tôi nắm níu lấy hiện tượng này? Đó có phải
thực sự là Tôi, là Của Tôi?’ Nếu đó là Khổ nhưng không
thực sự là Tôi, là Của Tôi thì tại sao phải nắm níu lấy?’
Những câu hỏi cuối này xứng đáng được đáp lại bằng
những câu trả lời xác quyết, bởi vì chúng giúp ta hiểu
rõ về khổ và đốn bỏ những ái, thủ -- Ngã Kiến (đồng
nhất mình với một cái gì) còn sót lại – đã gây nên khổ
đau, cho đến khi mọi dấu vết của Ngã Kiến hoàn toàn chấm
dứt, chỉ còn lại tự do không bến bờ.
Theo nghĩa này, giáo lý Anatta không phải là chủ thuyết ‘Không
Có Ngã’ mà là một chiến lược (pháp môn) ‘Không Phải
Ngã’ (not-self strategy), cốt làm rơi rụng khổ đau bằng cách
buông bỏ nguyên nhân của Khổ, đưa đến chỗ an lạc tuyệt
vời bất diệt. Đến đây, những câu hỏi về Ngã (self),
Vô Ngã (no-self) và Phi Ngã (not-self) đều rơi rụng. Một khi
đã chứng nghiệm cái tự do tuyệt đối, đâu sẽ là đất
đứng cho những thắc mắc: ai đang chứng nghiệm, có hay không
có Ngã?
(Bản
quyền 1996, Thanissaro Bhikkhu. Nguồn www.accesstoinsight.org version
1996. Có thể sao, in phổ biến bất kỳ ở đâu. Tuy nhiên,
sự phổ biến phải hoàn toàn miễn phí, theo nguyện vọng
của tác giả, các bản dịch và trích dẫn cũng phải được
ghi rõ như vậy.)
(Xin
xem thêm 'Pháp Môn Không-Phải-Ngã)

PHÁP
MÔN KHÔNG-PHẢI-NGÃ
Nguyên
tác: The Not-self Strategy, của Tỳ Khưu Thanissaro
Việt
dịch: TN. Chân Giải Nghiêm
 |
 |
Lời
Người Dịch: Chứng minh qua Kinh Điển
Pali những ngộ nhận phổ thông về giáo lý Vô Ngã để cho
thấy Vô-Ngã là một chiến thuật để hướng hành giả đến
chỗ cứu cánh giải thoát (cái không dùng lời để chỉ được)
chứ không phải là đích đến của sự tu hành. Vô Ngã không
phải là 'kinh nghiệm giải thoát', không phải là 'tuệ giác
tối hậu' của đạo Phật, Vô Ngã chỉ là ngón tay trỏ mặt
trăng.
Các
sách vở Đạo Bụt thường trình bày rằng giáo lý siêu hình
căn bản nhất của đạo Bụt là không có linh hồn hay không
có Ngã. Tuy nhiên, tham cứu một vòng các Kinh điển trong tạng
Pali – văn kiện xưa nhất ghi lại lời dạy của Bụt –
lại đưa ta đến giả thiết Bụt dạy giáo lý Anatta hay thuyết
‘Không Phải Ngã,’ không phải như một xác nhận siêu hình,
mà như là một biện pháp nhắm đến giải thoát khổ đau.
Nếu dùng khái niệm ‘không phải là tôi’ để vô hiệu
hoá sự đồng nhất mình với bất cứ hiện tượng nào, người
ta sẽ vượt ra ngoài vòng của mọi khổ đau và ràng buộc.
Và ‘cái vượt ra ngoài vòng khổ đau & ràng buộc’ ấy
-- Kinh Tạng nói rằng -- tuy có thể chứng nghiệm, nhưng lại
nằm ngoài phạm vi của sự diễn tả, và do đó cả ý niệm
‘Ngã’ lẫn ‘không phải Ngã’ đều không thể áp dụng.
Bằng
chứng cho cách giải thích này tập trung quanh bốn điểm:
1/
Đoạn Kinh khi Bụt được yêu cầu xác định lập trường
trong câu hỏi mang tính bản thể học ‘Có hay Không có Ngã’,
Ngài đã từ chối trả lời.
2/
Những đoạn Kinh khẳng định tuyệt đối rằng không có ngã
chỉ ứng trong phạm vi những thực tại có thể diễn tả
được, chứ không bao gồm hết thảy thực tại có thể chứng
nghiệm được.
3/
Quan niệm không-có-ngã được xếp cùng với quan niệm có-ngã
như những ‘quan niệm gông cùm’ (‘Kiến Phược’) mà một
người hướng đến giải thoát khổ đau phải hết sức tránh.
4/
Người đã đạt được mục đích giải thoát nhìn thực tại
mà tâm không còn bị khống chế bởi bất cứ một ý niệm
nào, kể cả những ý niệm căn bản như Ngã & Vô Ngã,
đúng & Sai.
Tiếp
theo đây là những đoạn Kinh liên hệ, chọn lọc từ tạng
Pali. Những đoạn Kinh này được dẫn với lời cảnh báo
trước rằng: nói cho đến tận cùng thì không thể chứng
minh xác quyết một điều gì bằng sự trích dẫn văn kiện.
Các học giả đã nêu ra những lý lẽ để ngờ vực hầu
như toàn bộ Kinh Tạng – qua việc đưa ra cách dịch mới
cho những từ ngữ cốt lõi, hay đặt vấn đề về tính trung
thực của hầu hết các đoạn Kinh. Và vì vậy, cách kiểm
chứng đúng nhất cho bất kỳ một lối diễn dịch nào là
thực hành theo và xem nó dẫn mình đến đâu trong chiều hướng
giải thoát.
*******
1.
So sánh hai cuộc đối thoại sau đây:
Sau
khi ngồi qua một bên, lãng tử Vacchagotta hỏi bậc đạo Sư:
'Vậy, Sa Môn Gotama, có ngã không?' Khi được hỏi như vậy,
bậc Đạo Sư im lặng.
_ Vậy
thì không có Ngã? Lần thứ hai, bậc Đạo Sư im lặng.
Lãng
tử Vacchagotta bèn đứng dậy bỏ đi.
Sau
khi lãng tử Vacchagotta bỏ đi không bao lâu, tôn giả Ananda
hỏi bậc Đạo Sư: Thế Tôn, vì sao Thầy không trả lời câu
hỏi của lãng tử Vacchagotta?'
_ Ananda,
nếu ta, được lãng tử Vacchagotta hỏi có ngã hay không, mà
trả lời là có ngã thì đồng với các ngoại đạo chủ trương
thuyết Thường (cho rằng có một linh hồn bất diệt.) Và
nếu ta ... trả lời là không có ngã thì đồng với các ngoại
đạo chủ trương thuyết Đoạn (cho rằng sau khi chết thì
không còn gì nữa.) Nếu ta ... trả lời rằng có ngã, thì
đó có phù hợp với kiến giải[1] tất cả mọi hiện tượng
đều không phải Ngã hay không?
_ Bạch
Thế Tôn, không.
_ Và
nếu ta ... trả lời rằng không có Ngã, thì kẻ hoang mang Vacchagotta
sẽ càng hoang mang hơn: ‘Cái Ngã mà ta thường có, bây giờ
lại không có sao?’
------ S XLIV.10
Mogharaja:
_ Nhìn đời như thế nào
để
thần Chết không thấy?
Bụt
đáp: Ngã kiến
đã đoạn trừ;
Luôn
chánh niệm tỉnh giác,
Này
Mogharaja,
Nhìn
đời như không huyễn.
Đó
đường vượt thoát Tử.
Nhìn
cuộc đời như vậy
Thần
Chết không thấy được.
--- Sn v.16
Đoạn
Kinh đầu là một trong những đoạn Kinh được bàn cãi nhiều
nhất. Những người cho rằng Bụt có thái độ xác định
(Có hoặc Không) đối với câu hỏi có ngã hay không phải
giải thích sự im lặng của Bụt, và họ thường tập trung
vào câu nói chót của Bụt với Ananda. Họ nói: nếu người
hỏi là một người có trình độ tâm linh trưởng thành chín
chắn hơn Vacchagotta, thì Bụt sẽ xác định lập trường của
mình.
Nhưng,
cách diễn dịch này đã bỏ qua hai câu nói đầu tiên của
Bụt với Ananda: Bất kỳ ai là người hỏi, trả lời Có hay
Không Có Ngã đều sẽ rơi vào hai triết thuyết (biên kiến)
mà Bụt luôn tránh trong suốt cuộc đời giáo hoá của Ngài.
Trong câu nói thứ ba, Bụt quan tâm đến việc tránh mâu thuẫn
với ‘kiến giải tất cả mọi hiện tượng đều không-phải-Ngã’,
không phải vì Ngài cho rằng tự thân kiến giải này là một
chân lý siêu hình, mà vì Ngài thấy rằng sự phát khởi kiến
giải này có thể dẫn đến giải thoát. (Chúng ta sẽ xem thêm
nội dung của kiến giải này ở điểm 2.)
Điểm
vừa nêu được xác minh khi ta đem so với đoạn Kinh thứ hai.
Điểm khác biệt cơ bản giữa hai cuộc đối thoại nằm ở
những câu hỏi. Trong cuộc đối thoại thứ nhất, Vacchagotta
xin Bụt xác quyết có hay không có Ngã, và Bụt im lặng. Trong
cuộc đối thoại thứ hai, Mogharaja hỏi cách nhìn cuộc đời
để có thể vượt ngoài tầm cái Chết, và Bụt trả lời,
Ngài dạy nhìn cuộc đời mà không dính đến một ý niệm
nào về Ngã. Điều này làm gợi ra giả thiết: giáo lý không-phải-ngã
(Vô Ngã/Phi Ngã), thay vì là một khẳng định rằng không có
ngã, lại là một kỹ thuật nhận thức để đưa đến vượt
thoát sinh tử, đạt được Niết Bàn, – đây là một
cách nhận thức sự vật vắng bóng sự tự đồng nhất, vắng
bóng cảm giác ‘là tôi, có tôi’, và không có sự ái luyến
đối với cái ‘tôi’ và cái ‘của tôi’ xen vào.
Do
đó, có lẽ trung thực hơn cả là đánh giá cuộc đàm thoại
thứ nhất theo nghĩa đen của nó, và nói rằng câu hỏi có
hay không có Ngã là câu hỏi mà Bụt không trả lời, không
xác nhận có hay không, dù người đối thoại là một người
rối loạn tinh thần như Vacchagotta hay một người ưu tú như
Ananda. Với Bụt, giáo lý ‘không-phải-Ngã’ (not-self) là
một kỹ thuật hay một pháp môn hướng đến giải thoát,
và không phải là một lập trường về siêu hình (metaphysical)
hay bản thể (ontological.)
*******
2.
Những đoạn Kinh sau đây, thường được trích dẫn chung như
những chứng cớ hùng hồn nhất rằng Bụt phủ nhận sự
tồn tại của một cái Ngã dựa vào những từ ngữ không
cố định (lỏng lẻo) nhất. Dù sao, hãy lưu ý xem các từ
‘thế giới’ và ‘toàn thể’ được định nghĩa như thế
nào.
Ananda:
Bạch Thế Tôn, nói rằng thế giới là trống rỗng, thế giới
là không. Về phương diện nào mà nói rằng thế giới là
không, là trống rỗng?
Bụt
đáp: Vì trống rỗng, không có
Ngã hay cái gắn liền với Ngã (ngã sở.) Do đó nói rằng
thế giới là không, là trống rỗng. Những gì là trống không,
không có Ngã hay Ngã Sở? Con mắt trống một cái Ngã hay một
cái gì gắn liền với Ngã. Sắc ... nhãn thức ... nhãn xúc
(sự tiếp xúc giữa nhãn căn và sắc trần) trống một cái
ngã hay một cái gì gắn liền với ngã.
Tai
...Mũi ...Lưỡi ...Thân ...
Trí
năng (ý căn) không có ngã hay một cái gì gắn liền với Ngã.
ý niệm (pháp) ... ý thức ... ý xúc (sự tiếp xúc giữa ý
căn và pháp trần) không có ngã hay một cái gì gắn liền
với ngã.
Vì
vậy nói rằng thế giới là không, là trống rỗng.
S.xxxv.85
Cái
gì là Toàn Thể? Mắt & hình sắc, tai & âm thanh, mũi
& mùi hương, lưỡi & vị nếm, thân & xúc chạm,
ý & pháp trần. Này các tì khưu, đó gọi là Toàn Thể.
Người nào nói rằng ‘bỏ cái Toàn Thể này, tôi sẽ diễn
tả một cái khác’, nếu bị hỏi căn cứ vào cái gì mà
nói như vậy, người đó sẽ không giải thích được, và
phải chịu thất bại. Vì sao? Vì vì cái đó nằm ngoài phạm
trù.
S.xxxv.23
Nếu
sáu căn và sáu trần -- có khi được gọi là sáu phạm trù
của xúc (lục xứ, lục nhập) -- thiết lập thế giới hay
cái Toàn Thể, vậy thì có cái gì vượt ra ngoài sáu phạm
trù này không?
MahaKotthita:
Với sự dừng & tắt hẳn của sáu xứ (thấy, nghe, ngửi,
nếm, xúc chạm và tư lượng), có phải là còn có cái gì
khác không?
Sariputta:
Này hiền hữu, đừng nói như vậy.
MahaKotthita:
Với sự dừng & tắt hẳn của sáu xứ, có phải là không
còn gì nữa?
Sariputta:
Này hiền hữu, đừng nói như vậy.
MahaKotthita:
..., có phải là vừa còn vừa không còn không?
Sariputta:
Này hiền hữu, đừng nói như vậy.
MahaKotthita:
..., có phải là vừa không phải còn vừa không phải không
còn?
Sariputta:
Này hiền hữu, đừng nói như vậy.
MahaKotthita:
Hỏi ... còn có cái gì khác không, thầy nói 'Này hiền hữu,
đừng nói như vậy.' Hỏi ... có phải không còn gì nữa, ...
có phải vừa còn vừa không còn, ... có phải vừa không còn
vừa không không còn, thầy (đều) nói: 'Này hiền hữu, đừng
nói như vậy.' Vậy, phải hiểu lời nói đó như thế nào?
Sariputta:
Nói ... còn cái gì khác, ... không còn cái gì khác, ... vừa
còn vừa không còn, ... vừa không còn vừa không không còn,
là phân biệt cái không (thể) phân biệt. Ở đâu có sáu phạm
trù của xúc, ở đó có phân biệt. ở đâu có phân biệt,
ở đó có sáu phạm trù của xúc. Cùng với sự dừng tắt
hẳn, không còn gì sót lại (tận diệt) của sáu phạm trù
của xúc là sự dừng lại, giảm đoạn của phân biệt.
A.iv.173
Bình
diện của Vô phân biệt giới, tuy không thể diễn tả được,
vẫn có thể trực tiếp chứng nghiệm.
Này
các tì khưu, giới xứ đó được chứng nghiệm nơi mà mắt
(tầm nhìn) dừng lại và sắc tưởng (chú giải của tâm ý)
phai nhạt. Giới xứ đó được chứng nghiệm nơi mà tai dừng
lại và thanh tưởng phai nhạt, ... nơi mà mũi dừng lại và
hương tưởng phai nhạt, ... nơi lưỡi dừng lại và vị tưởng
phai nhạt, ... nơi mà thân dừng lại và xúc tưởng phai nhạt,
... nơi ý dừng lại và tư tưởng phai nhạt: Giới xứ đó
cần phải được chứng nghiệm.
S.xxxv.116
Mặc
dầu đoạn Kinh chót chỉ ra rằng có một giới xứ vượt
ra ngoài sáu xúc giới, có thể chứng nghiệm được, giới
xứ ấy cũng không nên bị xem là một ‘cái ngã cao hơn’.
Điểm này đã được nhắc đến trong Đại Kinh Nhân Duyên,
trong đó Bụt phân các chủ thuyết về Ngã ra làm bốn loại
chính, những chủ thuyết diễn tả cái Ngã như là: (a) có
hình sắc (thân) và có giới hạn; (b) có sắc & không giới
hạn; (c) không hình sắc & giới hạn; và (d) không hình
sắc & không giới hạn. Kinh không đưa ví dụ cho từng
loại, nhưng chúng ta có thể cử ra vài thuyết sau đây để
minh hoạ: (a) thuyết phủ nhận linh hồn, và đồng nhất Ngã
với thân; (b) thuyết đồng nhất Ngã với mọi loài hay với
vũ trụ;(c) thuyết các linh hồn là cá thể, riêng biệt; (d)
thuyết một linh hồn nhất thể hay tính đồng nhất nội tại
nơi tất cả mọi sự vật.
Một đoạn Kinh khác thường được dẫn với ý Bụt dạy
rằng không có Ngã là bài kệ sau đây trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada),
đặc biệt đoạn kệ thứ ba, trong đó từ Pháp nhằm chỉ
cho các sự vật hữu vi & vô vi (do & không do nhân duyên
hợp thành.) Nhưng, xin hãy lưu ý, điều mà toàn bài kệ muốn
nói là: những tuệ giác này là một phần của con đường
(Đạo), và không phải là cứu cánh.
‘Chư
hạnh đều vô thường’
Thấy
điều ấy cho minh
Bèn
yểm ly với khổ,
Đó
đường đến thanh tịnh.
‘Chư
hạnh đều là khổ’
Thấy
điều ấy cho minh
Bèn
yểm ly với khổ,
Đó
đường đến thanh tịnh.
‘Chư
Pháp không phải Ngã’ (đều Phi Ngã)
Thấy
điều ấy cho minh
Bèn
yểm ly với khổ
Đó
đường đến thanh tịnh.
Dhp 277-79
Chúng ta sẽ thấy trong đoạn Kinh dưới đây, Bụt nói hành
giả đạt đến giác ngộ do thấy được những giới hạn
của các pháp hữu vi, thấy được cái vượt lên trên chúng,
và không nắm chấp cái nào cả. Trong bài kệ kế tiếp, người
đặt câu hỏi nhắc đến cứu cánh như là một pháp, trong
khi đó, Bụt lại trình bày cứu cánh như là sự cắt bỏ,
chấm dứt tất cả mọi pháp – và do vậy, cứu cánh vượt
lên trên ‘mọi pháp’ và bất kỳ một diễn đạt nào. Một
khi hành giả đã thành tựu cứu cánh thì, đến đây, không
một ngôn từ nào -- hữu, vô, ngã, phi-ngã - có thể áp dụng
được.
Upasiva:
Người
đã đến bến rồi:
Thì không hiện hữu nữa,
hay vïnh viễn thoát phiền?
Bậc trí rõ pháp này
Xin vì tôi chỉ dạy.
Bụt:
Với người đã đến bến
Không một tiêu chuẩn nào
Có thể dùng nói rằng: --
người đó không hiện hữu.
Khi mọi pháp đã diệt
Ngôn ngữ thảy diệt theo.
Sn.v.6
*******
3.
Mặc dầu khái niệm 'không phải Ngã' (Phi Ngã/vô ngã) là một
phương tiện giúp người ta tự tháo gỡ khỏi những tham đắm
& bám víu dẫn đến khổ đau, nhưng quan niệm không có
ngã lại là một trong những quan niệm về siêu hình hay bản
thể trói buộc người ta vào khổ đau.
Có
trường hợp một người phàm phu, không được hướng dẫn
... không phân biện được ý tưởng nào là đáng quan tâm,
ý tưởng nào là không đáng quan tâm. Do vậy, người đó không
để tâm đến những ý tưởng đáng quan tâm, và (thay vào
đó) chú trọng vào những ý tưởng không đáng quan tâm...
Người ấy bận tâm một cách không thích đáng như vầy: ‘Trong
quá khứ tôi đã hiện hữu? Trong quá khứ tôi đã không hiện
hữu? Trong quá khứ tôi đã là gì? Trong quá khứ tôi đã như
thế nào? Đang là một cái gì bây giờ, vậy tôi đã là gì
trong quá khứ? Trong tương lai tôi sẽ hiên hữu? Trong tương
lai tôi sẽ không hiện hữu? Trong tương lai tôi sẽ trở thành
gì? Trong tương lai tôi sẽ như thế nào? Đang là một cái
gì bây giờ, vậy tôi sẽ là gì trong tương lai?’ Hoặc người
ấy hoang mang về chính hiện tại: ‘Tôi đang hiện hữu? Tôi
không hiện hữu? Tôi là cái gì? Tôi như thế nào? Sự hiện
hữu này từ đâu tới? Sự hiện hữu này đi về đâu?’
Bận
tâm một cách không thích đáng như vậy, một trong sáu quan
niệm(Kiến) này khởi lên nơi người ấy:
- Quan
niệm ‘tôi có Ngã’ -- người ấy khởi lên quan niệm
này, cho đó là chân lý chắc chắn.
- hoặc
quan niệm ‘tôi không có Ngã’...
-
hoặc quan niệm ‘Chính là vì có Ngã mà tôi nhận thức được
Ngã’ ...
-
hoặc quan niệm ‘Chính là vì có Ngã mà tôi nhận thức được
phi Ngã’ ...
-
hoặc quan niệm ‘Chính là vì phi ngã mà tôi nhận thức được
Ngã’ ...
- hoặc
người ấy quan niệm rằng : ‘Cái Ngã này của tôi -- chủ
thể đang cảm nhận những nghiệp quả tốt & xấu -- là
cái Ngã của tôi, thường, hằng, vĩnh cửu, không thay đổi,
và sẽ tồn tại mãi mãi.’
Đó
gọi là rừng rậm của kiến, sa mạc của kiến, sự cong quẹo
của kiến, sự quằn quại của kiến, cùm xích của kiến
(kiến phược.) Ràng buộc bởi những kiến phược này, người
thiếu trí, không được dạy dỗ sẽ không thoát khỏi sinh,
già & chết, không tránh khỏi buồn rầu, than khóc, đau
đớn, sầu khổ & tuyệt vọng. Ta nói người đó không
thoát khỏi khổ.
Người
đệ tử ưu tú, được dạy dỗ kỹ... phân biệt được ý
tưởng nào là đáng quan tâm, và ý tưởng nào là không đáng
quan tâm. Và như vậy, người đó không để tâm đến những
ý tưởng không đáng quan tâm, và (thay vào đó) chú trọng
vào những ý tưởng đáng quan tâm... Người ấy để tâm một
cách thích đáng: ‘Đây là khổ ... Đây là nguồn gốc của
khổ ... Đây là sự chấm dứt của khổ ... Đây là con đường
đưa đến sự chấm dứt khổ.’
Chú
tâm một cách thích đáng như vậy, người ấy dứt bỏ được
ba xiềng xích: Ngã Kiến, nghi, và sự cố chấp vào giới &
pháp môn [2].
---- M2
*******
4.
Như vậy, mặc dầu trên đường đi hành giả phải sử dụng
Chính Kiến, nhưng khi đạt đến cứu cánh giải thoát, người
ấy vượt qua mọi quan niệm (kiến.) Với người đã đạt
đến cứu cánh, kinh nghiệm xảy ra mà không có ‘chủ thể’
hay ‘đối tượng’ chồng chất thêm vào, không có sự phân
giải kinh nghiệm (năng tri) hoặc cái được kinh nghiệm (sở
tri.) Chỉ kinh nghiệm, đơn thuần trong tự thân nó.
Này
các tì khưu, trong cõi này -- với những trời, ma & Phạm
Thiên, với các thế hệ Sa Môn & Phạm Chí, vương tử &
thường dân -- bất cứ những gì được thấy, được
nghe, được ngửi, được nhận biết, được đạt tới, được
theo đuổi, được cân nhắc bởi ý căn: Ta đều biết rõ.
Trong cõi này… bất cứ những gì được thấy, được nghe,
được ngửi, được nhận biết, được đạt tới, được
theo đuổi, được cân nhắc bởi ý căn: Ta đều biết một
cách trực tiếp (chánh tri.) Cái ấy được biết bởi Như
Lai, nhưng Như Lai không bị đắm nhiễm bởi nó…
Do
vậy, này các tì khưu, Như Lai, khi nhìn cái được nhìn, không
phân lập (đây là) cái bị thấy. Như Lai không phân lập cái
không-bị-thấy. Như Lai không phân lập (đây là) cái để-thấy.
Như Lai không phân lập người thấy.
Khi
nghe ... Khi ngửi ... Khi nhận biết, Như Lai không phân lập
(đây là) cái bị nhận biết. Như Lai không phân lập ra
cái không-bị-biết. Như Lai không phân lập (đây là) cái để-thấy.
Như Lai không phân lập người nhận biết.
Do
vậy, này các tì khưu, Như Lai là “Như” – như như
đối với tất cả mọi hiện tượng có thể thấy, nghe, ngửi,
& nhận thức. Tôi nói: Không có cái “Như” nào cao hơn
hay tối thắng hơn.
Cái
bị thấy, nghe, ngửi,
bị
người chấp là thật,
Như
Lai không chấp giữ
đó
là thị hay phi
-
giữa những người tự buộc. -
Đã
sớm thấy mũi tên
nơi
mà bao nhiêu đời
bị
đính và ghim chặt
--
‘Tôi biết, và tôi thấy,
Nó
chính là như vậy!’ –
Nơi
tự thân Như Lai
không
có gì bị buộc.
-- A iv.24
Một quan niệm chỉ đúng hay sai khi người ta xét nó đúng
đắn đến đâu so với một tiêu chuẩn nào đó. Nếu chỉ
xem đó đơn thuần là một lời nói, một sự việc như tự
thân nó, thì đúng và sai không còn áp dụng được. Như vậy,
với Như Lai, người không còn gán các ý niệm chủ thể hay
đối tượng vào kinh nghiệm, chỉ xem hình sắc, âm thanh, cảm
thọ & tư tưởng hoàn toàn như chính tự thân chúng, thì
các quan niệm không còn là đúng hay sai, mà chỉ là những
hiện tượng để cảm nghiệm. Không có ý niệm chủ thể
nên không có chỗ đứng cho ‘Tôi biết, tôi thấy’, không
có ý niệm đối tượng nên không có chỗ đứng cho ‘Nó
chính là như vậy!’ Các ý niệm (Kiến) về đúng - sai, Ngã
- Không Có Ngã (hữu - vô), v.v., mất hết quyền năng
nắm giữ của chúng, và tâm được trả về với Chân Như:
không bị động chạm, hay ảnh hưởng bởi bất cứ gì.
Những
gì nương vào đó
thấy
người khác thua mình
cũng
tức là cùm xích,
theo
lời bậc trí tuệ.
---
Sn iv.5
Ai
lập ‘bằng, hơn, thua’
sẽ
phân tranh vì chúng.
Với
người không chấp nhiễm
đối
với ba điều trên,
‘bằng’,
‘hơn’ không xuất hiện.
Căn
cứ vào điều gì
để
Bà La Môn (A La Hán) bảo
là
‘đúng’ hay là ‘sai’,
Tranh
chấp cùng với ai
khi
tự thân vị ấy
chẳng
khởi ‘hơn’, ‘kém’, ‘bằng.
Như
loài sen có gai
không
vấy bởi bùn nhơ,
Bậc
trí giả bình an,
vô
tham, không cấu nhiễm
bởi
dục và thế giới.
Bậc
đã đắc trí tuệ
thì
không thể đo lường
hoặc
làm cho hãnh diện
bởi
Kiến hay tư tưởng,
vì
người ấy không còn
bị
lung lay bởi chúng.
Vị
ấy không bị dẫn
bởi
lễ nghi, tập tục
hay
trích dẫn giáo điều.
Với
người không bị cuốn
(thản
nhiên) đối với tưởng
thì
không có trói buộc;
Với
người đã giải thoát
nhờ
thấy được rõ ràng,
thì
không còn ảo tưởng.
Những
ai còn nắm bắt
vào
kiến và vào tưởng
thì
vẫn còn loay hoay
tranh
chấp trong thế giới.
---
Sn iv.9
_
“Sa Môn Gotama có ‘chỗ trụ’ ( lập trường) nào không?”
“Vaccha,
‘chỗ trụ’ (lập trường) là cái Như Lai đã diệt bỏ
rồi. Điều mà Như Lai thấy là: “Sắc là như vậy, sự sinh
khởi của sắc là như vậy, sự tan biến của sắc là như
vậy; thọ là như vậy, sự sinh khởi của thọ là như vậy,
sự tan biến của thọ là như vậy; tưởng là như vậy…;
ý hành là như vậy…; thức là như vậy, sự sinh khởi của
thức là như vậy, sự tan biến của thức là như vậy.”
Chính vì vậy, ta nói rằng, -- với sự giảm, đoạn, dừng
lại, xả & ly đối với mọi chia chẽ, mọi toan tính, mọi
ngã kiến & ngã sở kiến & ngã ái – Như Lai được
giải thoát, do không còn sự bám víu/thức ăn (cho triền
phược.)
-----
M 72
Này
các tì khưu, cái này, Như Lai biết rõ. Và, Như Lai biết rõ
những chỗ đứng này, nếu bám chấp, sẽ đưa đến những
nẻo về như vậy, những hoàn cảnh như vậy ở đời sau.
Và Như Lai biết rõ cái vượt thắng lên cái này. Dù nhận
biết cái đó, Như Lai không nắm chấp. Và vì không nắm chấp,
sự giải thoát (nibbutti) ngay đó được thể nghiệm. Biết
thật về chúng, sự sinh khởi, sự chấm dứt, những cám dỗ
& chướng ngại của cảm thọ, cùng sự giải phóng khỏi
cảm thọ, Như Lai được giải thoát, này các tì khưu, do không
còn sự bám víu/thức ăn (cho triền phược.)
---- D 1
Cho dù bốn luận điểm trên có phải là lời dạy của Bụt
hay không, điều quan trọng phải nhớ là mục tiêu cơ bản
của Bụt khi trình bày giáo lý không-phải-ngã (Vô Ngã) trước
nhất là: để những ai áp dụng giáo lý này có thể đạt
được giải thoát khỏi mọi khổ đau & bức chế.
-
“Này các tì khưu, các thầy có thấy có sự bám víu/thức
ăn nào dưới dạng ngã thuyết mà khi bám víu vào đó lại
không sinh ra buồn, đau, than khóc, tiếc thương & tuyệt
vọng hay không?
-
“Bạch Thế Tôn không.”
-
“… Ta cũng vậy…Này các tì khưu, các thầy nghĩ sao: Nếu
có ai gom, đốt, hay tùy ý làm gì đó với cỏ, lá, nhánh
cây trong vườn Kỳ Đà này, thì ý tưởng’Chính mình là
cái người ấy đang gom, đốt, hay tùy ý làm gì đó’ có
khởi lên nơi quý thầy không?
-
“Bạch Thế Tôn không. Vì sao vậy? Vì những cái kia không
phải là Ngã, cũng không gắn liền với Ngã.”
-
“Chính như vậy, này các tì khưu, cái gì không phải của
mình: Hãy buông nó ra. Buông nó ra để được lợi lạc lâu
dài. Cái gì không phải là của mình? Sắc không phải là của
mình… Thọ không phải là của mình… Tưởng…Hành…Thức
không phải là của mình. Hãy buông nó ra. Buông nó ra để
được lợi lạc lâu dài.”
---
M 22
Sariputta:
Này các bạn, có tì khưu, đi đến nước khác, được những
vị đa văn trong giới quý tộc & giáo sĩ, xuất gia &
tại gia chất vấn: “Giáo lý của thầy ông là gì? Thầy
ông dạy điều gì?” Nếu được hỏi như vậy, các bạn
nên trả lời rằng: “Thầy tôi dạy điều phục đam mê &
mong cầu.”
-
“... đam mê & mong cầu gì?”
-
“... đam mê & mong cầu sắc, thọ, tưởng, hành, & thức.”
-
“... vì trông thấy những nguy hiểm (hay bất lợi) nào mà
thầy ông dạy điều phục đam mê & mong cầu đối với
sắc, thọ, tưởng, hành, thức?”
-
“... khi một người không có tự do đối với những đam
mê, mong cầu, ưu ái, khát khao, nhiệt não & thèm muốn đối
với hình sắc, v.v..., thì từ bất cứ một thay đổi &
biến dịch nào nơi hình sắc đó, v.v..., buồn, đau, than khóc,
tiếc thương & tuyệt vọng cũng khởi sinh ra.”
-
“... và do thấy được ích lợi gì mà thầy ông dạy sự
điều phục đam mê & mong cầu đối với hình sắc, v.v...?”
-
“... Khi một người có tự do đối với đam mê & mong
cầu, ưu ái, khát khao, nhiệt não & thèm muốn đối với
hình sắc, v.v..., thì từ bất cứ một thay đổi & biến
dịch nào nơi hình sắc đó, v.v..., buồn, đau, than khóc, tiếc
thương & tuyệt vọng cũng đều không khởi sinh ra.”
--- S xxii.2
Từ
trước đến nay, Anuradha, ta chỉ trình bày về Khổ và sự
dừng lại Khổ.
---
S xxii.86
('The
Not-self Strategy' -- Bản quyền 1993, Thanissaro Bhikkhu. Nguồn www.accesstoinsight.org
version 1993. Có thể sao, in, phổ biến bất kỳ ở đâu. Tuy
nhiên, sự phổ biến phải hoàn toàn miễn phí, theo nguyện
vọng của tác giả, các bản dịch và trích dẫn cũng phải
được ghi rõ như vậy.)
(Việt
dịch: TN Chân Giải Nghiêm (tu chỉnh May, 2007))
(Xin
xem thêm 'Không Có Ngã hay Không-Phải-Ngã')
[1]
the arising of knowledge
[2]
Three fetters = ba xiềng xích (Tam Kết): Kiến Kết hoặc Ngã
Kiến, Nghi Kết và Giới Thủ Kết. Trong nguyên bản Ngã Kiến
được gọi là identity-view = tức là cho rằng mình là một
cái gì đó (identity = sự đồng nhất)

GỐC
RỄ CỦA CHỦ NGHĨA LÃNG MẠNG PHẬT GIÁO
Nguyên
tác: 'The Roots of Buddhist Romanticism của Tỳ Khưu Thanissaro
Việt
dịch: TN. Chân Giải Nghiêm
 |
 |
Lời
Người Dịch: Phân tích những ngộ
nhận của Tây Phương và một số hành giả hiện đại về
cứu cánh của đạo Phật, liên quan đến cách diễn dịch
danh từ 'Tương Tức' theo khái niệm triết học & tâm lý
trị liệu ở Tây Phương.
Nhiều
người Tây phương, khi mới biết đạo Phật đã ngạc nhiên
bởi sự quen thuộc kỳ lạ của các khái niệm có vẻ chủ
chốt trong đạo Phật: tính tương tức, tính toàn bộ, vượt
lên trên bản ngã. Nhưng điều mà có lẽ họ không nhận ra
là: những khái niệm này nghe có vẻ quen thuộc bởi vì chúng
thật sự quen thuộc. Trong một chừng mực lớn, chúng đến
không từ giáo nghĩa của Phật mà từ cửa ngõ của tâm lý
học Tây phương, qua đó lời dạy của Phật đã bị sàng
lọc. Chúng tiếp thu rất ít từ nguồn Phật pháp so với từ
những gốc rễ ngầm của văn hoá Tây phương: tư tưởng của
các nhà Lãng Mạn ở Đức.
Các
nhà Lãng Mạn Đức có thể đã qua đời và hầu như bị quên
lãng, nhưng những tư tưởng của họ vẫn đang sống mạnh.
Tư tưởng của họ tồn tại được vì họ là những người
đầu tiên tìm cách giải quyết vấn đề cảm giác cô đơn,
bế tắc của con người lớn lên trong xã hội hiện đại.
Những phân tích của họ về vấn đề này, cùng với giải
pháp họ đưa ra nghe vẫn có lý.
Họ
thấy rằng xã hội hiện đại đang làm mất tính người khi
phủ nhận tính trọn vẹn của con người. Sự chuyên môn hoá
lao động đưa đến những cảm giác tách rời và cô lập;
tình trạng quan liêu đưa đến cảm giác tập đoàn, gò bó.
Phương thuốc duy nhất cho những cảm giác này, như các nhà
Lãng Mạn đề nghị, là hành động sáng tạo nghệ thuật.
Hành động này tái hợp lại cái ngã đã bị phân chia, và
làm cho các ranh giới phân chia kia hoà tan vào một ý thức
đại ngã, liên đới với mọi người và thiên nhiên. Con người
trọn vẹn là con người nhất khi được tự do sáng tạo phát
xuất từ trái tim. Những tác phẩm từ trái tim là phương
tiện cho phép con người ta liên hệ. Mặc dù nhiều nhà
Lãng Mạn đã xem các tổ chức tôn giáo và chủ thuyết tôn
giáo là không nhân bản, một số khác đã xoay sang kinh nghiệm
tôn giáo -- trực cảm hoà nhập với toàn thể thiên nhiên
– như một nguồn chính cho việc trở lại tính người (trở
về nhân bản.)
Khi
tâm lý học và tâm lý trị liệu phát triển như những ngành
học ở Tây phương, chúng hấp thụ nhiều tư tưởng của
các nhà Lãng Mạn và gieo rắc những tư tưởng này vào văn
hoá đại chúng. Kết quả là, các khái niệm như sự hợp
nhất của nhân cách, sự phát triển toàn vẹn bản ngã, và
sự tương liên tương đới, cùng với khả năng trị liệu
của tính toàn thể (wholeness), tính tự phát (spontaneity), tính
khôi hài, và sự linh động từ lâu đã trở thành một phần
không khí chúng ta hít thở. Tương tự, quan niệm cho rằng
tôn giáo cốt yếu là sự tìm kiếm một kinh nghiệm cảm thọ,
còn các chủ thuyết tôn giáo là câu trả lời sáng tạo cho
kinh nghiệm ấy cũng đã lâu ngày trở nên quen thuộc.
Ngoài
việc ảnh hưởng đến ngành tâm lý học, các khái niệm này
đã tác động đến các phái Cơ Đốc cởi mở và Do Thái
cải cách, các phái này đã đưa ra ý kiến cho rằng những
giáo lý truyền thống cần phải được viết lại một cách
sáng tạo để truyền đạt được cho từng thế hệ mới,
hầu giữ cho các kinh nghiệm tôn giáo được bảo tồn và
sống động. Vậy thì chuyện người ta diễn dịch giáo lý
Đức Phật, khi Phật Pháp đến với Tây phương, theo đường
hướng của các quan niệm kia, đó cũng là điều tự
nhiên. Những vị thầy Á châu – không ít người đã thấm
nhuần tư tưởng Lãng Mạn qua nền giáo dục tây phương hoá
trước khi sang đây -- nhận thấy họ có thể liên hệ với
thính chúng Tây phương bằng cách nhấn mạnh các chủ đề
về tính tự phát và linh động đối lập lại ‘sự quan
liêu của bản ngã.’ Những học trò Tây phương nhận ra rằng
họ có thể gần gũi với giáo lý duyên-khởi khi giáo lý này
được diễn dịch như một biến thái của thuyết liên đới;
và họ có thể tiếp nhận giáo lý không-phải-ngã[1] như một
sự khước từ một cái ta riêng biệt để nhắm tới một
bản ngã rộng lớn hơn, bao gồm toàn thể vũ trụ.
Trên
thật tế, quan điểm về đời sống tôn giáo theo khuynh hướng
chủ nghĩa Lãng Mạn đã ép uổng đạo Phật nhiều bề chứ
không giới hạn ở vài giáo lý riêng rẽ. Nó tô lên toàn
bộ Phật Pháp một màu sắc của lăng kính Tây phương
về mục đích của sự tu tập. Những vị thầy Tây phương
từ mọi truyền thống xác nhận rằng mục đích của sự
tu tập trong đạo Phật là để đạt được sự linh động,
vượt thoát những nhị nguyên. Như một tác giả đã trình
bày, Phật dạy rằng ‘việc xoá tan những hàng rào ta dựng
lên giữa ta và cuộc đời là cách sử dụng đời người
hay nhất...[Tính Vô-Ngã] biểu hiện như tính tò mò, tính thích
nghi, sự hài hước, tính khôi hài... khả năng thư thái trước
những điều không lường biết được.’ Hay như một tác
giả khác đã nói rằng ‘Khi bản ngã của chúng ta nới rộng
để ôm chứa tất cả, ta tìm thấy bình an trong vũ điệu
của cuộc đời.’ Tác giả thứ ba thêm vào: ‘Công việc
của ta từ đây cho đến cuối đời là mở lòng ra với cái
mênh mông và biểu hiện nó.’
Giống
như người Trung Hoa đã có Đạo Lão làm cửa ngõ cho Phật
pháp -- truyền thống nội địa cung cấp các khái niệm để
giúp họ hiểu Phật pháp -- ở Tây phương chúng ta có chủ
nghĩa Lãng Mạn như cửa khẩu của chúng ta. Kinh nghiệm của
người Trung Hoa với các cửa khẩu Phật pháp chứa đựng
một bài học quan trọng, nhưng lại thường bị bỏ qua. Sau
ba thế kỷ quan tâm đến giáo lý đạo Phật, họ bắt đầu
nhận ra rằng Phật giáo và Lão giáo đặt những vấn đề
khác nhau. Trong khi thanh lọc để bứng đi tận gốc những
dị biệt này, họ bắt đầu dùng những khái niệm Phật giáo
để đặt lại vấn đề cho các giả định có màu sắc đạo
Lão của họ. Đó là vì sao Đạo Phật, thay vì trở thành
một giọt nước trong biển Lão giáo, đã có thể tiêm vào
văn hoá Trung Hoa một chất liệu thật sự mới. Đến đây,
câu hỏi cho Tây phương là liệu chúng ta có học được từ
tấm gương Trung Hoa, và bắt đầu dùng các khái niệm Phật
giáo để soi lại các cửa nẻo trung gian, để xem xem những
chỗ tương đồng giữa các chủ thuyết trung gian và Phật
Pháp đích thật thực sự ra giống nhau đến mực nào. Nếu
không làm như vậy, ta lao vào nguy cơ nhầm lẫn cánh cửa trung
gian là tự thân Phật Pháp, và không bao giờ đi xuyên qua đó
được để bước vào phía bên kia.
Nhìn
một cách tổng quát, chủ nghĩa Lãng Mạn và Phật Pháp nhìn
đời sống tâm linh dưới cùng một ánh sáng. Cả hai đều
xem tôn giáo như sản phẩm của sinh hoạt loài người, hơn
là sự can thiệp của thần thánh. Cả hai đều xem bản chất
tôn giáo là kinh nghiệm và thực dụng; và vai trò của tôn
giáo là trị liệu, nhắm đến chữa trị những căn bệnh
trong tâm người. Nhưng nếu xét sang những gốc gác lịch sử
của hai truyền thống này, ta sẽ thấy rằng chúng bất đồng
rõ rệt không phải chỉ về bản chất của kinh nghiệm tôn
giáo, mà còn về bản chất của các căn bệnh tâm lý kinh
nghiệm tôn giáo có thể chữa trị, cũng như về bản chất
thế nào là được chữa lành.
Những
khác biệt này không đơn thuần là những tư liệu cổ. Chúng
định hình các giả định thiền giả mang theo vào sự thực
tập. Ngay cả lúc có mặt hoàn toàn, tâm ý vẫn mang theo
những giả định quá khứ, dùng chúng để cân nhắc xem những
kinh nghiệm nào -- nếu có – cần được coi trọng. Đây là
một trong những điều quan hệ mật thiết đến giáo lý về
Nghiệp của đạo Phật. Chừng nào các giả định này còn
chưa được xét nghiệm, chúng vẫn còn nắm giữ một quyền
năng tiềm ẩn. Để phá vỡ tiềm năng ấy, ta cần phải xét
duyệt những gốc rễ của chủ nghĩa Lãng Mạn Phật giáo
– nghĩa là giáo Pháp Đức Phật được nhìn qua cổng ngõ
của chủ nghĩa Lãng Mạn. Và để sự duyệt xét này đi đôi
với khái niệm nhân quả của đạo Phật, ta phải tìm các
gốc rễ này trong hai hướng: hướng quá khứ đối với sự
khởi đầu của các tư tưởng Lãng Mạn, và hướng hiện
tại đối với những điều kiện duy trì cho các tư tưởng
Lãng Mạn này vẫn còn hấp dẫn bây giờ và ở đây.
Các
nhà Lãng Mạn lấy cảm hứng ban đầu từ một xuất xứ không
ngờ: Kant, vị giáo sư già đét có thói quen đi bộ mỗi ngày
rất đúng giờ, cho đến nổi những người hàng xóm có thể
chỉnh đồng hồ theo ông ta. Trong tác phẩm Phê Bình sự Phán
Xét (Critique of Judgment), ông dạy rằng sáng tạo nghệ thuật
và xúc cảm là những sinh hoạt cao nhất của tâm trí con người,
tự thân chúng có thể chữa lành những sự phân đôi của
kinh nghiệm con người. Friedrich Schiller (1759-1805), có lẽ là
triết gia Lãng Mạn gây ảnh hưởng lớn nhất, đã khai triển
thêm thuyết này với khái niệm ‘rong chơi’ nghệ thuật
như thể hiện tuyệt đối của tự do loài người, vượt
lên trên những thúc bách của đời sống động vật và các
quy luật của lý luận, mang cả hai đến sự hoà nhập. Con
người, theo ông, ‘chỉ trọn vẹn là một con người khi anh
ta vui chơi.’
Trong
con mắt của Schiller, sự rong chơi này không chỉ hoà nhập
bản ngã mà còn xoá tan sự ngăn cách giữa mình với người,
và với thiên nhiên nói chung. Một con người với tự do nội
tại cần thiết để hoà nhập bản ngã, theo bản năng, cũng
sẽ mong cho những người khác nếm được sự tự do này.
Sự liên hệ này giải thích chính sách Lãng Mạn ủng hộ
những người bị áp bức trên mọi quốc gia lật đổ những
kẻ áp bức. Trong mắt họ, giá trị của sự hoà hợp nội
tại được chứng minh bằng khả năng tạo ra những mối dây
liên kết trong lĩnh vực hoạt động xã hội và chính trị.
Schiller
thấy tiến trình hoà nhập vào đại thể (integration) là một
tiến trình không bao giờ kết thúc: sự hoàn toàn hợp nhất
chẳng bao giờ có thể đạt tới được. Cuộc sống có ý
nghĩa là một cuộc sống luôn luôn gắn liền với tiến trình
hoà nhập. Con đường là chỗ đến.
Và
con đường ấy cũng hoàn toàn không theo khuôn khổ hay bị
gò bó. Được ban cho tính chất rong chơi không ràng buộc,
con đường đi đến chỗ hoà nhập vào đại thể của mỗi
người là riêng biệt và duy nhất.
Đồng
nghiệp của Schiller, Friedrich Schleiermacher (1768-183), áp dụng
các tư tưởng này vào tôn giáo, kết luận rằng tôn giáo,
giống như bất kỳ một hình thức nghệ thuật nào, là một
sáng tạo của con người, và chức năng lớn nhất của tôn
giáo nằm ở chỗ hàn gắn những vết nứt rạn trong nhân
cách con người và trong xã hội loài người nói chung. Ông
định nghĩa bản chất của tôn giáo là ‘sự nhạy cảm và
sự ưa chuộng cái vô biên,’ và sự nhạy cảm này khởi
đầu trong tâm thái đón nhận, nơi mà sự tỉnh giác mở ra
cho cái vô biên. Sự cảm nhận vô biên này được nối theo
bằng hành động của sức tưởng tượng sáng tạo, móc nối
cảm giác ấy vào cho mình và cho kẻ khác. Bởi vì các hành
động sáng |