|
.
PHÁP LUẬN
 |
 |
CHẲNG ĐẾN CHẰNG
ĐI
Nguyễn
Tường Bách
Trước
những luận đề triết học lớn nhất của con người như
vũ trụ này do đâu mà có, thế giới hiện tượng này do những
gì cấu tạo nên, quy luật vận động của nó là gì..., đạo
Phật cho ta một số lý giải đáng chú ý. Thế nhưng, Đức
Phật cũng như các vị thánh nhân Phật giáo xưa nay chưa bao
giờ khuyên ta dùng đầu óc của tri thức và lý luận để
đi tìm thực tính của thế giới. Các vị đó cho rằng, tự
tính của vạn pháp có thể liễu ngộ được, nhưng thông
qua con đường của tu tập, của thiền quán, của sự thăng
hoa ý thức. Đến một lúc nào đó, con người sẽ đạt một
mức độ chuyển hóa của trí tuệ và tuệ giác sẽ nhận
thức tự tính của thế giới một cách trực tiếp(1).
Đức Phật là người thực chứng điều đó và Ngài được
gọi là bậc “giác ngộ”.
Vì
những lẽ đó, Đức Phật thường im lặng trước những câu
hỏi về vũ trụ, về tự tính của thế giới hiện tượng.
Thậm chí trong nhiều trường phái Phật giáo có quan niệm
cho rằng càng giải thích, càng dùng đầu óc tri thức để
hiểu thực tại thì con ngườt càng xa rời sự thật. Sự
kiện này gây khó khăn cho chúng ta vì không phải ai cũng có
thể (và muốn) tu tập thiền quán. Hơn nữa, chúng ta vẫn
nghĩ rằng, khoa học phải là nhận thức chung của tất cả
mọi người; còn thực chứng riêng của một số người thì
nằm ngoài phạm vi của khoa học. Đây chính là chỗ cách ly
truyền thống giữa đạo Phật và khoa học.
Thế
nhưng, trong thời đại ngày nay, khi nền vật lý đã chạm
tới cánh cửa cuối cùng của thế giới hiện tượng, đã
tìm đến với những “hạt cơ bản” tưởng chừng không
còn gì nhỏ hơn của vật chất, người ta lại trở về và
đứng trước những tiền đề cơ bản nhất của nền vật
lý. Những giả định đó quá cơ bản nên suốt 25 thế kỷ
qua, người ta tưởng nó là sự thật. Những giả định đó
là: thực tại vật lý là một thể khách quan tồn tại độc
lập với con người, không bị ý thức con người ảnh hưởng,
có tự tính riêng và quy luật riêng. Thêm một giả định
nữa là, tuy thế con người vẫn tiếp cận được với thực
tại đó, tìm hiểu và phát biểu những quy luật của thực
tại đó bằng các phương pháp toán học.
Có
thể nói, những giả định nói trên là những giả định
siêu hình vì không ai chứng minh chúng được cả. Người ta
tin như thế thôi. Và chúng thật là đáng tin, cũng như mỗi
người chúng ta đều tin có một cái Tôi làm chủ thể cho
mọi hành động suy tư và cảm giác của mình.
Vì
lòng tin đó–nói một cách chính xác–mà vật lý cũng có
một tính chất siêu hình hẳn hoi. Thế nhưng xưa nay người
ta vẫn thấy vật lý thật là “khoa học” vì những kết
quả của nó là có thể kiểm nhận chung được, nó không
dành cho riêng ai cả, không đòi hỏi bất cứ ai phải tu tập
và “thăng hoa” cả.
Đến
thời đại của thế kỷ XX và sang thế kỷ XXI, tình hình
đã bắt đầu khác. Một mặt con người đi vào những biên
giới cực tiểu và cực đại của vũ trụ và phát hiện ra
nhiều nghịch lý, chúng không thể được mô tả bằng ngôn
ngữ thông thường(2),mặt khác con người thấy nhiều giả
định truyền thống xem ra không thể đứng vững được nữa,
nhất là về một thực tại hoàn toàn độc lập với ý thức
con người. Nhiều lý thuyết được đề ra, trong đó có người
cho rằng thực tại này chỉ là một dạng xuất hiện của
một thực tại khác sâu sắc hơn. Hoặc nhiều quan niệm được
nêu lên, xem mọi lý thuyết của con người chỉ là “công
cụ” mô tả những gì mình cảm nhận, còn liệu chúng có
phù hợp với thực tại hay không là một vấn đề khác Hoặc
nhiều đề nghị xem thế giới là dạng của thực tại hiện
lên theo “tầm ý thức” khi con người đang ngắm nhìn nó.
Nói tóm lại, nội dung chính của vật lý hiện đại đã trở
thành triết học, đã trở về với nền tảng siêu hình học
nguyên thủy. Trong khung cảnh này, vật lý hiện đại bắt
đầu lắng nghe đạo Phật nói lên quan điểm của mình về
thế giới hiện tượng, về tự tính của sự vật.
Như
ta đã biết, vị Phật lịch sử Đức Thích Ca Mâu Ni đã nói
về thuyết Duyên khởi, về Vô thường và Vô ngã. Những luận
đề đó là hết sức hữu ích cho nhà vật lý muốn tìm hiểu
một thế giới quan khác về vũ trụ và con người. Thế nhưng
lịch sử Phật giáo còn liên tục sản sinh nhiều nhà luận
giải và nhiều trường phái triết học khác. Thành tựu của
các vị đó làm tòa nhà triết học Phật giáo ngày càng đồ
sộ và phong phú. Tiểu luận này sẽ không thể trình bày đầy
đủ các hệ tư tưởng đó, dù chỉ một cách sơ lược. Nó
chỉ đề cập tới vài tư tuởng được xem là phù hợp với
nội dung của tiểu luận, đó là tư tưởng Trung quán và Duy
thức.
Khoảng
700 năm sau Đức Thích Ca Mâu Ni, một vị luận sư ra đời
tại Ấn Độ, mang tên Long Thụ. Ông được xem là người
chịu lý luận nhất trong lịch sử Phật giáo.
Long
Thụ là người đầu tiên nêu lên khái niệm “tự tính”(3).
Theo ông, một vật có tự tính hay “tồn tại trên cơ sở
tự tính” khi nó tồn tại độc lập, không nương nhờ bất
cứ một điều kiện nào khác. Một vật như thế mới được
gọi là “thực có”. Một vật có tự tính thì nó không
được sinh ra từ vật khác, nó cũng chẳng hoại diệt, vì
nếu một trong hai trường hợp đó xảy ra thì nó đã phụ
thuộc vào một điều kiện khác rồi. Một vật như thế thì
có sẵn, tồn tại vĩnh viễn và không bao giờ hoại diệt.
Theo
Long Thụ, thế giới hiện tượng thì không như thế, vì nó
được sinh thành, nó bị hoại diệt. Thế nên ta phải kết
luận là thế giới hiện tượng không có tự tính, không tồn
tại trên cơ sở tự tính, nó không “thực có” theo định
nghĩa “thực có” của Long Thụ. Theo Long Thụ, thế giới
“có” nhưng không “thực có”. Tương tự như người đau
mắt, nhìn trong không trung thấy có hình ảnh, màu sắc. Hình
ảnh màu sắc là “có” nhưng không “thực có”. Bởi thế
không thể nói thế giới là có, cũng không thể nói thế giới
là “không có”. Cả hai khái niệm “có” và “không”
đều là hai cực biên. Tự tính của hiện tượng là “không
có tự tính”, sự trống rỗng đó được gọi là “Không”(4).
Cho nên ta cũng có thể nói “Không” là tự tính của mọi
hiện tượng. LongThụ nói: “Chưa từng có một pháp nào mà
không từ nhân duyên sinh. Thế nên hết thảy pháp, không pháp
nào mà chẳng là không”.(5)
Nói
“hiện tượng không có tự tính” hay “tự tính của mọi
hiện tượng là Không” là một cách nói, nhưng đó là cách
nói thụ động. Nói một cách tích cực là, chính nhờ mọi
sự không có tự tính mà chúng có sinh thành, có vận động,
có hoại diệt, chúng tuân thủ luật Duyên khởi(6). Chính nhờ
mọi sự là Không mới có tu tập, có thăng hoa, có chuyển
hóa, có đạt đạo, có thành Phật. Do mọi sự là Không nên
mới có thế giới thiên hình vạn trạng. Từ trong Không lưu
xuất mọi hiện tượng nhưng mọi thứ đó lại không thật
có. “Có” nhưng không “thực có”, đó là nghĩa trung đạo,
là tư tưởng cơ bản của Trung quán luận.
Bởi
thế trong đạo Phật có hai loại “thực tại”, một là
thực tại tương đối hay thực tại quy ước(7), hai là thực
tại tuyệt đối(8). Trong bình diện của thực tại tương
đối thì mọi sự đều được xem là tồn tại, là có thực,
chúng có qui luật vận động của chúng. Chính trong bình diện
này vũ trụ hiện lên như một thể thực tại thiên hình vạn
trạng dựa trên tính chất giả danh, phi tự tính của nó.
Đó chính là thế giới hiện tượng của chúng ta, của các
nhà vật lý. Cũng trong bình diện này có sự vận động tâm
linh, có giác ngộ, có đắc đạo, có Phật, Pháp, Tăng.
Còn
bình diện của thực tại tuyệt đối thì như thế nào? Đây
là câu hỏi xưa nay của nhiều nhà tầm đạo. Phải chăng
lúc hiện tượng không còn tồn tại, lúc hình ảnh và màu
sắc trong không gian đã biến mất thì thế giới sẽ là một
cõi hư vô? Lại nữa, lúc mà cả Sinh Tử và Niết bàn cũng
không còn thì còn gì lạc thú? Đối với câu hỏi này,
Đức Phật cũng như các vị thiền sư đều im lặng.
Long
Thụ thì chịu giảng giải hơn, ông cho rằng Sinh Tử và Niết
bàn không hề khác nhau, thế giới hiện tượng và thế giới
tuyệt đối là một, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc(9).
Đối với Long Thụ, hành giả–con người tu học–cốt đừng
để bị mê hoặc bởi cái muôn hình muôn vẻ của thế giới
hiện tượng, đừng rong ruổi chạy theo nó, như thế con người
sẽ tới với sự “lặng yên”, thì cái Tôi diệt, ái diệt,
Thủ diệt và Vô minh diệt. Quá trình giải thoát sẽ hình
thành và tới một lúc nhất định, hành giả tự trực nhận
thực tại tuyệt đối không thể nghĩ bàn(10). Đây là sự
thực chứng–đặc trưng của Phật giáo–chỉ dành cho những
người chịu tu tập, không dành cho đầu óc lý luận suông(11).
Trong
phạm vi của tập sách này, chúng ta sẽ chỉ dừng lại trên
bình diện của thực tại tương đối. Bình diện này chính
là toàn bộ thế giới tâm lý và vật lý của loài người
và tất cả các loài “hữu tình”(12) khác. Nơi đây ta cần
chú ý đến một khái niệm quan trọng của đạo Phật, khái
niệm “pháp”Trong Phật giáo, “pháp” có nhiều nghĩa mà
một trong những nghĩa là “tất cả những gì có đặc tính
riêng–không khiến ta lầm với cái khác–có khuôn khổ riêng
để phát sinh trong ta một khái niệm về nó(13). Thế nên Pháp
chỉ mọi hiện tượng thuộc tâm lý hay vật lý, bao gồm mọi
dạng xuất hiện thuộc thế giới khách quan, bên ngoài, hay
chủ quan bên trong nếu ta muốn sử dụng từ ngữ của triết
học phương Tây. Pháp bao gồm cả những điều không có thật,
thí dụ “lông rùa, sừng thỏ”, những khái niệm chỉ cái
không hiện hữu; hay “người mẹ chưa bao giờ sinh con”(14),
những khái niệm nói lên tính mâu thuẫn nội tại.
Đạo
Phật thống nhất mọi khái niệm thuộc tâm, thuộc vật trong
một khái niệm chung là Pháp và đa số kết luận của triết
lý Phật giáo đều nói chung về Pháp. Thí dụ khi Long Thụ
nói “thế nên hết thảy pháp, không pháp nào mà chẳng là
không”, ta cần hiểu điều này có giá trị chung cho tất
cả mọi hiện tượng tâm vật(15). Sự đại thống nhất tâm
vật này trong Phật giáo là vô cùng quan trọng, khác hẳn với
sự phân chia tâm-vật trong triết học phương Tây và vì thế
nơi đây cần mở một dấu ngoặc để nói, trong đạo Phật
không hề có khái niệm duy tâm, duy vật theo cách hiểu của
phương Tây.
Vì
lẽ đó , những nhận thức của Phật giáo về “các pháp”
có giá trị cho thực tại vật lý lẫn thế giới tâm lý.
Nội dung tiểu luận này chủ yếu tập trung lý giải thực
tại vật lý, thế thì nó rút được những kết luận gì
từ Trung Quán Luận của Long Thụ?
Như
ta đã biết, xuất phát trên thuyết Duyên khởi của Đức
Phật Thích Ca mà Long Thụ luận giải lý Trung quán. Thuyết
Duyên khởi nêu rõ mọi sự dựa trên nhau mà sinh diệt. Thuyết
Duyên khởi bác bỏ một thực tại tồn tại độc lập, tự
nó. Thuyết này cũng nói đến những dạng tâm lý của con
người nhưng không có một chủ thể sở hữu những dạng
tâm lý đó. Đức Phật đã mở đường cho Trung quán luận
bằng thuyết Duyên khởi, thuyết vô ngã. Ngài cũng là người
đầu tiên chủ trương tránh hai biên kiến nói về thế giới
“có” hay “không” với câu: “Chấp có là một biên kiến,
chấp không là một biên kiến khác. Như Lai lìa hai biên
kiến đó mà thuyết pháp một cách trung đạo”(16).
Long
Thụ nói rõ hơn, mọi pháp không có tự tính, chỉ tồn tại
một cách giả danh. Như ta đã biết, tính giả danh xuất phát
từ hai lý do, hoặc là nó do một tập hợp tạo thành, hoặc
là vì nó nằm trong một thể tương quan. Chiếc xe gồm nhiều
bộ phận là một tập hợp giả danh(17). Bà mẹ sinh ra đứa
con nhưng đứa con cũng “sinh ra” bà mẹ. Bà mẹ và đứa
con nằm trong một mối tương quan, nếu không sinh con thì không
ai gọi người phụ nữ đó là bà mẹ. Hai người bạn giao
thiệp với nhau nhưng nếu một người bán cho người kia một
cái gì thì lập tức xuất hiện một “người mua” và một
“người bán”. Nếu dự định mua bán không thành thì lập
tức người mua và người bán biến mất, dĩ nhiên hai người
bạn đó vẫn còn.
Mọi
pháp, mọi hiện tượng, mọi vật trong thực tại đều là
giả danh. Long Thụ nói như sau về mọi pháp đó: “Chẳng
sinh cũng chẳng diệt, Chẳng thường cũng chẳng đoạn, Chẳng
một cũng chẳng khác, Chẳng đến cũng chẳng đi(18)”. Đó
là bốn câu kệ “bát bất” (tám không) nổi tiếng của
Long Thụ trong chương “Quán về nhân duyên” của Trung luận.
Có nhiều cách hiểu bốn câu kệ này, trong đó có cách hiểu
rằng, thực tính của các pháp là Không mà Không thì phi tính
chất, hoàn toàn đứng trên mọi đối lập nhị nguyên. Ở
đây ta có thể hiểu một cách khác và vận dụng chúng vào
thực tại vật lý để hiểu nội dung cụ thể của chúng.
Hãy
lấy ẩn dụ chiếc xe. Các bộ phận của chiếc xe khi nằm
rải rác vô trật tự thì chiếc xe chưa có. Khi chúng được
lắp đặt lại với nhau thì “chiếc xe” xuất hiện. Chiếc
xe đến từ đâu? Ta phải nói là chiếc xe chẳng đến từ
đâu cả. Nó không có tự tính, nó là một giả hợp nên không
thể nói nó đến từ đâu. Nếu người thợ tháo gỡ chiếc
xe ra, giả hợp đó không còn là chiếc xe nữa, chiếc xe đi
về đâu? Chiếc xe chẳng đi về đâu cả Chiếc xe chẳng đến
cũng chẳng đi.
Khi
việc mua bán không thành, người bán người mua đi về đâu?
Chẳng đi về đâu cả, hai giả danh đó không còn nữa, không
có một vật liệu, một cá nhân nào bị “diệt” cả. Củi
tàn thì lửa tắt, lửa không đến từ đâu, chẳng đi về
đâu. Một đội đá bóng cùng nhau tranh tài trên sân cỏ thì
có đội bóng, sau tiếng còi tan cuộc thì “đội bóng” không
có, chỉ còn những cầu thủ đơn lẻ không thể hỏi đội
bóng đi về đâu. Tương tự như thế, từ câu kệ “Chẳng
đến cũng chẳng đi”, ta có thể suy ra ý nghĩa của các câu
còn lại.
Nhiều
thắc mắc xuất phát từ chỗ một bên Đức Phật nói mọi
pháp “có sinh có diệt”, bên kia Trung Quán lại nói “chẳng
sinh chẳng diệt”, không phải là mâu thuẫn ư? Lại lấy
thí dụ chiếc xe: khi các bộ phận được ráp đầy đủ
thì chiếc xe được sinh ra, nhưng chỉ là một giả danh, không
có một chiếc xe thực. “Có sinh có diệt” là có một giả
danh sinh ra, có một giả danh hoại diệt. Trung quán nói “chẳng
sinh chẳng diệt” vì thực tế không có một chiếc xe đích
thực nào được sinh ra, một chiếc xe đích thực nào bị
hủy hoại. Sinh và Diệt cũng như Đến và Đi, Sinh không từ
đâu lại, Diệt không đi về đâu(19).
Thế
nên, trong cách nhìn của Trung quán thì mọi pháp, mọi sự
vật là một sự trình hiện. Trong quan niệm “trình hiện”
này thì điều đáng nhớ là trình hiện cho một chủ thể,
không có chủ thể thì không có trình hiện, cũng như không
có người mơ thì không có giấc mơ. Trong vũ trụ mọi sự
vật, mọi pháp không có tính chất riêng tư, chúng không đến
không đi, chúng không thật có sinh có diệt... chúng chỉ xuất
hiện như thế trong tương quan với mọi sự xung quanh và với
người đang ngắm nhìn chúng.
Còn
chủ thể con người, khi sinh ra đã tưởng vũ trụ, thế giới
và mọi vật là có sẵn, có tự tính, tồn tại độc lập.
Đó là một sự nhầm lẫn của tri thức. Và sự nhầm lẫn
tai hại nhất là chính mình cũng chỉ là một giả hợp của
các yếu tố tâm lý và thể chất, nhưng lại tưởng là một
cái Tôi riêng biệt nằm sau chúng và điều khiển chúng.
Trong
vật lý hiện đại thì “hạt” là một pháp. Do đó hạt
là một sự trình hiện khi ta nhìn nó và thấy nó có tính
chất của hạt, như khi ta thấy một vật bằng gỗ để ngồi
và gọi nó là “cái ghế”. Cho nên, theo Trung quán, ta không
thể đặt câu hỏi, nếu ta không quan sát hạt thì hạt ở
đâu. Vì hạt chỉ có trong mối tương quan với quan sát viên,
nên khi không ai quan sát hạt cả thì không có hạt. Khi chưa
ai mở lồng xem con mèo của Schrodinger sống chết thế nào
thì không có con mèo đối với ai cả(20). Cũng như khi không
ai mua bán cả thì
không
có người bán lẫn nguời mua.
Hãy
nhớ lại vài phát biểu của những nhà vật lý trong ngành
cơ học lượng tử. Heisenberg từng nói “nguyên tử không
phải là một vật”. Ở đây ông đã thừa nhận nguyên tử
không có chất liệu, và như thể là đã từ bỏ quan niệm
“chất liệu” truyền thống của ngành vật lý khi nghĩ về
thực tại vật lý. Trong quá trình quan sát hạt, khi phải làm
“sụp đổ” phương trình sóng để xác định vị trí hay
xung lượng của hạt, nhiều nhà vật lý băn khoăn, thế thì
khi ta không quan sát hạt thì hạt ở đâu. Heisenberg cho rằng
câu hỏi đó là “vô nghĩa”; và ông đã có một quan niệm
rất gần với của thuyết Trung quán về các pháp.
R.J.
Oppenheimer(21), nhà vật lý xuất sắc người Mỹ, từng viết
về hạt electron: “Thí dụ khi ta hỏi, liệu electron vẫn giữ
nguyên vị trí hay không, ta phải trả lởi “không”; khi ta
hỏi, liệu vị trí electron có thay đổi theo thời gian không,
ta phải trả lời “không”; khi ta hỏi liệu electron nằm
yên, ta phải trả lời “không”; khi ta hỏi liệu nó đang
vận động, ta phải trả lời “không”. Đó là “bốn không”
của Oppenheimer, mới nghe rất giống “tám không” của Long
Thụ. Oppenheimer nói thế vì mỗi lần con người quan sát electron,
ta lại thấy hạt, nhưng không thể biết trước đó nó ở
đâu và sau đó nó ở đâu và chỉ có thể cho nó một tính
chất xác suất. Nếu Long Thụ còn sống, ông sẽ nói, trước
đó và sau đó làm gì có electron mà định nghĩa ở đâu. Không
có electron vì không có người quan sát nó, nó chỉ có trong
tương quan với người quan sát.
Những
gì có giá trị cho electron cũng có giá trị cho mọi “pháp”,
mọi vật trong thế giới thực tại, từ cực vi đến cực
đại. Phải chăng thế giới mà ta đang thấy chỉ là sự trình
hiện đối với chúng ta. “Cái gì” đang diễn ra cho chúng
ta thấy? Và cuối cùng, chúng ta là ai? Nơi đây, câu hỏi của
nhà vật lý chính là câu hỏi về “bản lai diện mục”
của Thiền tông Phật giáo./.
Chú
thích:
(1)
Điều này làm ta nhớ đến “trực giác trí tuệ” của I.
Kant.
(2)
W. Pauli: “Nhà vật lý thực nghiệm phải nói về những thí
nghiệm của mình và vì thế mà anh ta bị buộc phải sử dụng
những khái niệm của vật lý cổ điển, mặc dù anh thấy
quá rõ rằng những khái niệm đó chỉ cho những mô tả không
phù hợp về thiên nhiên. Đó là một vấn nạn căn bản và
là một điều mà anh không thể chối từ”, xem Werner Heisenberg,
Physics and Beyond. (New York: Harper&Row Publishers, 1971. Nơi đây
ta nhớ đến Thiền sư người Nhật D.T.Suzuki, ông viết trong
On Indian Mahayana Buddhism, New York: Harper&Row, 1968, “Cái nghịch
lý, khó hiểu đối với phép tư duy thông thường, xuất phát
từ thực tế là chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ để trao
đổi về những kinh nghiệm nội tại mà tự tính của chúng
thì siêu việt ngôn từ).
(3)
Tiếng Sanskrit: Svabhavah. Theo Long Thụ, tự tính là “cái không
do tạo tác, không phải đợi có các pháp khác mới thành”.
Long Thụ Trung Luận (Madhyamaka-sastra), phẩm thứ 15, bản dịch
của Thích Thiện Siêu. Nhà Xuất bản TP. Hồ Chí Minh, 2001.
(4)Tiếng
Sanskrit: Sunyata.
(5)
Long Thụ Trung Luận (Madhya-maka-sastra), phẩm thứ 24.
(6)
Long Thụ: “Nếu hết thảy các pháp chẳng không thời không
có sinh diệt", sách đã dẫn.
(7)
Tiếng Sanskrit: Samvrtisatyam, cũng gọi “Thế tục đế”. Ta
sẽ còn đề cập
nhiều
đến “thực tại tương đối”. Xin đừng nhầm từ
“tương đối” này với “tương đối” trong thuyết Tương
đối của Einstein.
(8)
Tiếng Sanskrit: Paramar-thasatyam, cũng gọi “Đệ nhất nghĩa
đế”. Long Thụ: “Vì chúng sinh, chư Phật nương theo hai
đế để thuyết pháp: 1. Thế tục đế. 2. Đệ nhất nghĩa
đế. Nếu người đối với hai đế mà không biết, không
phân biệt, thì không biết được nghĩa chơn thật của Phật
pháp sâu xa”. Trung
luận,
phẩm thứ 24.
(9)
Trích Bát nhã Tâm kinh.
(10)
“Bất khả tư nghì”, từ thường gặp trong kinh luận Phật
giáo, chỉ sự thực nằm ngoài phạm vi của lý luận. Ở đây
ta nhớ đến tác phẩm nổi tiếng của I.Kant Phê phán
lý tính thuần túy với quan niệm cho rằng con người không
thể nắm bắt tự tính của sự vật bằng lý tính. Nhan đề
của tác phẩm này có lẽ chính là “Bất khả tư nghì”.
(11)
Long Thụ: “Thật tướng của các pháp thì tuyệt dứt đường
ngôn ngữ và tâm duyên”. Trung luận, phẩm thứ 18.
(12)
Tiếng Sanskrit: Sattva, khái niệm quan trọng của đạo Phật.
“Hữu tình” chỉ tất cả sinh vật có tình, có thức, tức
là tất cả sinh vật sống trong “ba cõi”, trong quan niệm
vũ trụ của đạo Phật. Loài người nằm trong cõi Dục giới
của ba cõi đó.
(13)
Theo Phật học đại từ điển của Đinh Phúc Bảo.
(14)
Vì phải một lần sinh con rồi mới được gọi là “người
mẹ”.
(15)
Có khi “Pháp” được gọi là “Pháp hữu vi”. Thí dụ
câu trong kinh Kim Cương “Tất cả pháp hữu vi / Như mộng,
ảo, bóng, ảnh”.
(16)
Trích Kinh Chánh Kiến, Đức Phật thảo luận với Ca Chiên
Diên, Thích Nhật Từ biên soạn.
(17)
Pabongka Rinpoche: “Mọi sự vật đang tồn tại là sản phẩm
của một cái được gán cho một cái tên và của một cái
đang cho cái kia một cái tên. Không hề có một nguyên tử
nào của một vật nào trong vũ trụ mà không tuân thủ quy
luật này–không có vật gì tồn tại tự nó cả”, xem Tsongkapa,
The Principle Teachings of Buddhism, New York: Mahayana Sutra and Tantra
Press, 1988. Trong ý nghĩa này, ta nhớ câu nói của Max Planck:
“Mỗi sự đo lường có một nội dung vật lý trước hết
là nhờ cái ý nghĩa mà một lý thuyết gán cho nó”. Xem
Where is Science going?, Woodbridge, CT: Ox Bow Press, 1981.
(18)
Trung luận, phẩm thứ nhất.
(19)
Hán Việt: Sinh vô sở tùng lai, Diệt vô sở tùng khứ. Theo
thuật ngữ đạo Phật thì “có sinh có diệt” là “tướng”
của các pháp, “chẳng sinh chẳng diệt” là “tánh” của
các pháp. Về mối tương quan này, Thích Thiện Siêu viết trong
Trung luận, trang 21: “Phật dạy pháp do nhân duyên sinh
là cốt chỉ rõ các pháp không có thực thể không có thật
ngã độc lập ngoài các duyên, chứ không phải do nhân duyên
sinh ra cái gì khác với nó, nằm riêng ngoài nó, mà nó chỉ
hiện có giả tạm trên các duyên, nên nói do duyên sinh mà
kỳ thật không sinh ra cái gì thật có độc lập. Nếu do duyên
sinh ra cái gì độc lập thì đó là hữu ngã, chứ không phải
là duyên sinh vô ngã”. Cụm từ “hiện có giả tạm trên
các duyên” là quan trọng nhất trong đoạn văn này, nội dung
của nó chính là sự “trình hiện” mà ta đã nói đến từ
đầu trong cuốn sách này.
(20)
Giả định trong lồng có một con chuột thì dĩ nhiên có một
con mèo đối với con chuột, nhưng lúc đó con mèo là thần
chết chứ không phải là con mèo đáng thương của chúng ta.
(21)
J.Robert Oppenheimer (1904-1967), Science and The Common Undersranding,
New York, Simon and Schuster, 1954.
(Trích
theo Lưới trời ai dệt của Nguyễn Tường Bách)
(đăng
trong NS Giác Ngộ số 99, 06-2004)
WP;
Mỹ Hồ
|